PDA

View Full Version : CHIẾN LƯỢC BIỂN ĐÔNG CỦA HOA KỲ-TRUNG QUỐC-VIỆT NAM



việtdươngnhân
04-08-2009, 08:17 AM
CHIẾN LƯỢC BIỂN ĐÔNG CỦA HOA KỲ-TRUNG QUỐC-VIỆT NAM
Phạm Văn Thanh


Khối Cộng Sản Đông Âu và Nga Sô tan ră năm 1991 đă khiến Hoa Kỳ thay đổi chiến lược toàn cầu: Tái phối trí lực lượng quân sự tùy theo “national interest” đáp ứng nhu cầu chiến lược sau thời Chiến Tranh Lạnh là duy tŕ “nền trật tự thế giới mới” (new world order). Từ đó, Hoa Kỳ trở thành siêu cường duy nhất (đơn cực, unilateral superpower); tuy nhiên, h́nh thái chiến tranh thay đổi từ qui ước, trực tiếp đối đầu bằng quân sự nay chuyển sang “lùng và diệt” các nhóm khủng bố và quốc gia chứa chấp, huấn luyện khủng bố. Thêm vào đó, chiến lược “be bờ” (containment) của Hoa Kỳ nhằm “ngăn chận Cộng Sản bành trướng” trước kia nay “khai triển” (enlargement) thành “dân-chủ-hoá toàn cầu.” Chiến lược này giúp Hoa Kỳ tùy tiện trải rộng thế lực bằng cách bung lực lượng ra vừa truy diệt các nhóm khủng bố vừa tạo ảnh hưởng tại khắp nơi trên thế giới. HK đă liên kết chặt chẽ với Ấn Độ, Nhật Bản, Úc Châu đến hiện diện tại những vùng trước kia họ chưa có ảnh hưởng như Afghanistan, Pakistan ở Trung Á.

Hành động quân sự đôi khi cũng gây thiệt hại cho người dân vô tội nên HK đă gặp những chống đối từ một số quốc gia độc tài, quân chủ chuyên chế v́ muốn bảo vệ quyền lực và nội trị của ḿnh. Mặt khác, một số cường quốc không muốn bị lép vế, đă gây trở ngại cho Hoa Kỳ khi t́m đủ cách giới hạn hoạt động nhằm quân b́nh lực quá mạnh của Hoa Kỳ nhằm tạo một thế giới “đa cực, multipolars.” Điển h́nh là Pháp, Đức, Nga ở Âu Châu; Trung Quốc ở Á Châu; Iran ở Trung Đông, v.v. mà dù HK có hảo ư đến đâu, họ cũng t́m cách chế ngự _ họ khó chấp nhận một thế giới đơn cực (unilateral) làm chủ bởi siêu cường Hoa Kỳ có hay không mang ư đồ độc chiếm thế giới “aggressive unilateralism” [1]. Ví dụ, trong thập niên 1990s, lo ngại HK và khối NATO dùng quân sự can thiệp vào nội bộ các nước trong vùng Balkans và thắt chặt liên minh, mở rộng tầm ảnh hưởng tại Á Châu, TQ và Nga Sô đă đồng ư hợp tác chiến lược song phương (strategic cooperative partnership) vào năm 1996. Từ đó, hai nước này ngày càng phát triển mối liên hệ và hợp tác chặt chẽ hơn để chế ngự Hoa Kỳ. Năm 2000, TC và Nga Sô lên tiếng phản đối HK dự định thiết lập Hệ Thống Lá Chắn Hỏa Tiễn (missile defense system) và băi bỏ Hiệp Ước Cấm Hỏa Tiễn Liên Lục Địa (Anti Ballistic Mislles Treaty) [2]. Năm 1999, hai nước kư Hiệp Ước Giao Hảo và Hợp Tác (Treaty of Good-Neighborliness and Friendly Cooperation). Năm 2005, TQ và Nga Sô đă tổ chức cùng thao diễn quân đội một cách qui mô gồm 10,000 không, hải và lục quân với quân cụ, vũ khí tham dự. Một phân tích gia chiến lược cho hay: “Liên hệ an ninh tốt hơn với Nga Sô sẽ giúp TQ quân b́nh thế lực với ảnh hưởng Hoa Kỳ trong vùng” [3]. Tuy nhiên, khi Nga Sô c̣n đang t́m cách phục hồi kinh tế và thế đứng và Trung Quốc vẫn c̣n kém xa Hoa Kỳ về mọi mặt th́ họ cố tránh xung đột, đối đầu quân sự trực tiếp với Hoa Kỳ.

Nói chung, TQ cố gắng quân b́nh thế lực với Hoa Kỳ qua nỗ lực song phương và vận dụng ngoại giao trên trường quốc tế; một mặt xử dụng lợi nhuận kinh tế để thẩm nhập và chi phối các nước họ nhắm đến; mặt khác, dùng các phương thức mềm mỏng ngoại giao kéo bè cánh (formation) chống Hoa Kỳ. TQ thiết lập liên hệ sâu đậm với Khối Liên Âu (EU, European Union) đặc biệt với Pháp, Anh và Đức [4] và thường mở những hội nghị thượng đỉnh với Liên Âu và cả hai đang trở nên đối tác kinh tế thương măi lớn nhất của nhau. Về hải quân, TQ cũng đă hợp tác thao dượt t́m kiếm và cấp cứu ngoài biển và trong tương lai sẽ trao đổi quân sự nhiều hơn với chiến hạm của Pháp và Anh. Mối liên hệ tốt đẹp này khiến Liên Âu quyết định tháo gỡ cấm vận vũ khí áp đặt lên TQ kể từ sau biến cố Thiên An Môn tháng 6 năm 1989 sẽ giúp TQ mua vũ khí tối tân nhất cho quân đội của họ. Các nhà phân tích Hoa Kỳ tin rằng: “TQ và Liên Âu đang t́m cách chế ngự sức mạnh và vị thế Hoa Kỳ, hoặc qua việc tạo nên một thế giới đa cực (multipolars) hay qua một thế lực gồm nhiều cường quốc” [5].

Ngoài việc hợp tác với các tổ chức lớn như EU, ASEAN và SCO (Shanghai Cooperation Organization), TQ cũng chú trọng vào chủ điểm thứ hai là trực tiếp thảo luận trong liên hệ song phương với Hoa Kỳ. TQ chọn cách hợp tác xây dựng chiến lược (contructive strategic partnership) với HK dưới thời Tổng Thống Bill Clinton năm 1997 thay v́ theo đuổi chính sách đối kháng như một số tướng lănh quân đội diều hâu đề nghị. Trong tư thế yếu, TQ cũng đạt được một thỏa thuận tương đối tốt nhất với siêu cường HK [6]. Với sự đồng thuận của các doanh thương Mỹ t́m thị trường khổng lồ tại Hoa lục, HK đă ban qui chế “tối huệ quốc” cho TQ mặc dù biến cố Thiên An Môn xảy ra năm 1989. Năm 2000, HK nới rộng b́nh thường hóa giao thương với TQ (PNTR, permanent normal trade relation) lót đường đưa TQ trở thành hội viên của WTO (World Trade Organization) khiến nền kinh tế TQ càng phát triển nhanh nhất thế giới trong suốt thập niên 1990s qua thập niên 2000s.

http://i702.photobucket.com/albums/ww22/binhchanh/BienDong_VN.jpg

việtdươngnhân
04-08-2009, 08:19 AM
CHIẾN LƯỢC BIỂN ĐÔNG CỦA HOA KỲ

Hoa Kỳ biết rằng TQ cần gây dựng thực lực quân sự hỗ trợ bởi nền kinh tế bền vững nên TQ đă nỗ lực t́m liên minh và hâụ thuẫn chính trị trên trường quốc tế qua chính sách ngoại giao khôn khéo. Nhưng HK cũng nhận thức rằng một khi TQ trở nên hùng cường, thịnh vượng, họ sẽ từ bỏ “thế thủ” mà thực hiện tham vọng bá chủ Á Châu che dấu từ lâu. TQ sẽ chuyển sang chiến lược tấn công bằng cách bành trướng về mọi lănh vực chính trị, kinh tế và quân sự để thiết lập ảnh hưởng tại Á Châu và trên thế giới [7]. Tất nhiên, TQ sẽ xử dụng vũ lực để giải quyết những tranh chấp hay tiến chiếm những cứ điểm trọng yếu nhằm bảo vệ cho quyền lực của họ và chuẩn bị đối đầu với HK trong tương lai.

Giá trị Biển Đông đối với HK ra sao?

Sự quan trọng của biển Đông đối với Hoa Kỳ chính là hải đạo huyết mạch vận chuyển không những cho các tàu dầu và thương thuyền từ Trung Đông, Ấn Độ Dương và Đông Nam Á tới Nhật Bản, Đại Hàn và Trung Quốc qua eo biển Malacca. Hơn nữa, HK c̣n dùng biển Đông như điểm chuyển vận và vùng hoạt động cho Hải Quân, Không Quân HK nối liền các căn cứ quân sự của họ ở Á Châu, Ấn Độ Dương và Vùng Vịnh Ba Tư. Hoa Kỳ cần duy tŕ sự tự do và an toàn cho hành lang chiến lược quan yếu gồm hải đạo, đường hàng không và liên lạc giữa các vùng quân sự này. Hơn nữa, HK cũng cần bảo vệ cương vị siêu cường và bảo đảm an ninh cho các đồng minh của ḿnh tại Á Châu, nên Hoa Kỳ sẽ xử dụng sức mạnh Hải Quân và Không Quân tầm xa để thực hiện mục tiêu chiến lược của ḿnh trong thế kỷ 21. Với sức mạnh của Hải và Không Quân hiện nay, trong vòng một thời gian ngắn, Hoa Kỳ có thể phá hủy hoặc làm tê liệt hai bàn đạp Trường Sa và Hoàng Sa trong trục Tam Á-Hoàng Sa-Trường Sa của TQ một cách tương đối dễ dàng! V́ thế, quyền lợi sinh tử của Mỹ không nằm trực tiếp trong vùng Biển Đông! Tuy nhiên, tại Á Châu, TQ ngày càng mạnh, dù bề ngoài tỏ ra ôn ḥa và tuyên bố việc tân trang quân đội chỉ nhắm mục tiêu pḥng thủ nhưng tham vọng bá chủ Á Châu của TQ tỏ rơ khi tích cực tranh chấp vùng biển Đông. V́ thế, Robert Ross, một chiến lược gia Ngũ Giác Đài đă nói: “Nếu HK cho TQ cơ hội hất cẳng ḿnh ra khỏi Á Châu, TQ sẽ nắm lấy. HK không nên ảo tưởng rằng TQ sẽ giữ nguyên vị khi thế lực của họ tăng thêm” [8].

Chiến lược Biển Đông của HK thế nào?

HK áp dụng hai chiến lược “ngăn chặn” (containment) và “kèm giữ” (engagement). Trong chiến lược “kèm giữ,” HK sẽ dẫn dụ TQ giao tiếp b́nh thường hợp với lối hành xử của thế giới tiến bộ và giúp TQ dân-chủ-hóa đất nước qua các quan hệ chặt chẽ trong nhiều lănh vực khác nhau. Mục tiêu lâu dài là giúp TQ trở thành một quốc gia tự do, dân chủ và thịnh vượng để TQ có thể tự túc, tự cường và liên hệ thuận thảo với thế giới mà không đe dọa các nước dân chủ khác. Trái lại, với chiến lược “ngăn chận” HK sẽ t́m cách ngăn trở TQ bành trướng quân sự qua việc làm chậm độ phát triển kinh tế và tŕ trệ chương tŕnh hiện-đại-hóa quân đội. Cả hai chiến lược của HK đều có độ rủi ro và trở lực v́ chiến lược “kèm giữ” có cơ nguy tạo nên một nước TQ hùng mạnh nuôi nhiều tham vọng; trong khi đó, chiến lược “ngăn chận” cũng khó thể thực hiện thành công [9]. Bởi lẽ, khó thuyết phục dân chúng HK đổ tài sản lớn lao ra để ngăn chận TQ bây giờ v́ nguy cơ của TQ chưa lộ ra rơ ràng. Hơn nữa, v́ tiềm năng quân sự của Hoa Kỳ vượt trội hơn bất cứ cường quốc nào trên thê giới hiện nay đến ít nhất là hơn một thập kỷ; do đó, chính sách và chiến lược lớn đối đầu với TQ của HK hiện nay trên thực tế kết hợp cả hai chiến lược nhằm hướng dẫn TQ trở thành một “cường quốc có trách nhiệm” (responsible stakeholder”); đồng thời, HK tăng cường thế liên minh của ḿnh và tái phối trí quân lực để tăng hiệu năng quân sự và giảm thiểu sự thiệt hại khi chiến tranh xảy ra [10]. Đây là lư do HK đă thắt chặt hợp tác an ninh với Nhật Bản, Ấn Độ và tăng sức mạnh quân sự tại Trung Á và Á Châu - Thái B́nh Dương. Với tiềm lực vượt trội đó, Hoa Kỳ có thể áp dụng chiến thuật “chờ xem” (wait and see) ư định và khả năng thật sự của TQ tiến triển ra sao để đối phó một cách thích hợp theo từng giai đoạn. Đây chính là ư định của HK hiện nay; cho nên ta sẽ không ngạc nhiên khi thấy HK có thể áp dụng “chiến tranh kinh tế” nhằm triệt tiêu hoặc giảm thiểu độ phát triển kinh tế của TQ hoặc nếu nhận thấy TQ sắp trở thành một siêu cường Á Châu có hành động trực tiếp đồi đầu với ḿnh, HK sẽ thay đổi chiến lược để đáp ứng với t́nh thế mới.

V́ chú trọng vào việc xây dựng “trật tự thế giới mới trong thế chiến lược toàn cầu,” HK muốn giữ vị thế trung ḥa về vấn đề tranh chấp giữa các quốc gia trong vùng biển Đông, nên khuyến cáo các nước liên hệ t́m một giải pháp ḥa b́nh lâu dài đặt căn bản trên Luật Quốc Tế về Biển như Hội Nghị LHQ Về Luật Biển (UN Convention on the Law of the Sea). Mục tiêu chính của Hoa Kỳ trong vùng Biển Đông chỉ nhằm duy tŕ sự an toàn và tự do di chuyển trong hải phận quốc tế; đặc biệt, cho hải đạo huyết mạch vận chuyển của các tàu dầu, chiến hạm và thương thuyền từ Trung Đông và Ân Độ Dương qua eo biển Malacca tới Á Châu. Bất cứ một cuộc xung đột nào xảy ra trong vùng Biển Đông mà có thể đe dọa đến hành lang quân sự chiến lược này hoặc sự an ninh và quyền lợi kinh tế của Hoa Kỳ hay Nhật Bản sẽ được coi như xáo trộn đủ để HK đơn phương quyết định can thiệp. V́ thế, Hoa Kỳ có thể vĩnh viễn đứng ngoài vòng tranh chấp, nhưng cũng có thể nhảy vào vòng tranh chấp bất kỳ lúc nào tùy theo áp lực bên ngoài trên quyền lợi của họ trong vùng [11]. Điều này hoàn toàn tùy thuộc vào t́nh trạng thông thương của thủy đạo qua eo biển Malacca hoặc cách ứng xử của Trung Cộng, và do đó, người Việt Nam không nên trông chờ Hoa Kỳ “cứu nguy” khi có xung đột với TQ. V́ vậy, qua những hoạt động từ khi rút lui khỏi Việt Nam năm 1973 đến nay, chúng ta nhận thấy Hoa Kỳ, bề ngoài, h́nh như chỉ chú trọng đến chiến lược toàn cầu của họ mà thiếu một chiến lược rơ rệt cho Vùng Biển Đông. Tuy nhiên, từ năm 2000, Hoa Kỳ đă chú ư nhiều đến sự gia tăng ngân sách quốc pḥng nhằm phát triển và hiện đại hóa quân lực Trung Quốc, đặc biệt về Hải Quân. Các hoạt động của Hạm Đội Nam Hải tại Căn Cứ Hải Quân Tam Á đang trở thành mối lo ngại không những cho các quốc gia ASEAN trong vùng Biển Đông mà c̣n cho cả Hoa Kỳ khi càng ngày TQ càng tỏ ra hung hăng và nguy hiểm cho nền hoà b́nh thế giới.

việtdươngnhân
04-08-2009, 08:22 AM
CHIẾN LƯỢC BIỂN ĐÔNG CỦA TRUNG QUỐC


TQ áp dụng chính sách “hợp tác” (partnership) với quốc gia khác bằng cách tôn trọng văn hóa, ư thức hệ và interests khác biệt và t́m cách thuyết phục họ giúp TQ hóa giải những vấn đề mâu thuẫn hoặc tranh chấp. Việc này giúp TQ kéo thêm đồng minh, giúp nước hợp tác được thêm lợi nhuận kinh tế khi liên hệ song phương với TQ làm giảm ảnh hưởng mà tránh đụng độ trực tiếp với Hoa Kỳ. Với tư cách thành viên thường trực Hội Đồng Bảo An Liên Hiệp Quốc, năm 1999, TQ hợp tác với Nga Sô bỏ phiếu chống lại quyết định LHQ cho HK dẫn lực lượng LHQ can thiệp vào Kosovo. Năm 2003, TQ hợp với Nga Sô, Pháp và Đức phủ quyết LHQ cho phép HK đưa quân vào Iraq và TQ cũng phủ quyết đề nghị phong tỏa Bắc Hàn về vũ khí nguyên tử của HK [12]. Tại Trung Á, khi Hoa Kỳ đem quân vào lật đổ chế độ Taliban tại Afghanistan và đóng đồn tại đây th́ TQ và Nga Sô cảm thấy bị đe dọa sườn phía Tây [13]. TQ mời Nga Sô và mấy nước Trung Á như Kazakhstan, Kyrgyzstan, Tajikistan và Uzbekistan lập nên Shanghai Cooperation Organization (SCO) vào năm 2001 để đánh “3 ác quỷ” là sự phân rẽ, khủng bố và tôn giáo cực đoan. Chính SCO và các nước Trung Á này đă giúp tăng ảnh hưởng của TQ, bảo đảm nguồn tiếp tế năng lượng và ngăn chận những hoạt động chia rẽ trong vùng Hồi Giáo tỉnh Xinjiang của TQ và nhất là không để Hoa Kỳ tự do khống chế mọi hoạt động trong vùng hay trên thế giới [14]. Năm 2002, Chù Tịch Giang Trạch Dân (Jiang Zemin) khi thăm Iran đă công khai chống đối việc đóng quân Hoa Kỳ tại vùng Trung Á [29] và mời Iran gia nhập SCO. Trong cuộc họp thượng đỉnh vào tháng 7 năm 2005, SCO đă tuyên bố đ̣i HK đưa ra dự tŕnh rút quân khỏi lănh thổ các nước thành viên SCO [15].

Đối với Đài Loan, TQ đă áp dụng chiến thuật ôn ḥa “chậm mà chắc” từng bước thay đổi mối liên hệ thân t́nh với Đài Loan qua ngoại giao và giao thương. Trong khi đó, TQ vẫn phô trương sức mạnh quân sự tại eo biển Đài Loan (Taiwan Strait) như một đe dọa để “vừa dọa đánh vừa đàm” và họ đă thành công đáng kể trong việc thay đổi dần tư duy và chủ trương “đ̣i độc lập” của đảo quốc này. Đối với quốc tế, TQ có thể thuyết phục và tái khẳng định với hầu hết các quốc gia về ư thức “một nước Trung Hoa” (one-China) bất-khả-phân và tạo Đài Loan như một kẻ gây sự bất cứ khi nào t́nh trạng căng thẳng lại xảy ra giữa TQ và Đài Loan về eo biển Taiwan Straits [16]. Về vấn đề nguyên tử của Bắc Hàn, TQ cũng đóng một vai tṛ quan trọng khi bắt ép Bắc Hàn tham dự cuộc thương thuyết đa phương với HK nhằm giải giới vũ khí nguyên tử của BH để giảm thiểu cơ nguy một cuộc chiến toàn diện xảy ra tại biên giới TQ. Tháng 9 năm 2005, 6 thành viên trong cuộc thương thuyết đạt được quyết định chung; trong đó, BH đồng ư chấm dứt chương tŕnh nguyên tử đổi lại bằng những quyền lợi về kinh tế, an ninh và năng lượng.

Như ta nhận thấy, TQ biết ḿnh chưa phải là địch thủ của siêu cường HK, nên tạm thời dùng chiến lược “câu giờ” tránh đụng độ mà dồn nỗ lực phát triển kinh tế, hiện-đại-hóa quân đội; trong khi vẫn kéo vây cánh với các quốc gia khác nhằm chế ngự siêu cường Hoa Kỳ. Nghĩa là, TQ đang áp dụng chiến lược mà Đặng Tiểu B́nh (Deng Xiaoping) gọi là: “vặn đèn xuống và chúng ta làm giàu trong bóng mờ” (“dim our lights and thrive in the shadow”), dịch rơ nghĩa hơn là “dấu khả năng của chúng ta và chờ thời” (“hide our capabilities and bide our time”) [17]. Trên thực tế, TQ đă tạo cho ḿnh thế đứng khá vững và uy tín khá thuận lợi trên trường quốc tế với việc liên minh với Nga Sô, nguồn cung cấp 85% vũ khí hiện đại, với Iran, Venezuela nguồn cung cấp dầu hỏa dài hạn. Do đó, TQ tuy nuôi nhiều tham vọng nhưng tỏ ra rất dè dặt trong hành động đối với HK; dĩ nhiên, họ chẳng ngại ngùng chèn ép các nước nhược tiểu như VN để chiếm đoạt lănh thổ, lănh hải và tài nguyên của ta khi họ có thể làm được.

Giá trị Biển Đông đối với TQ ra sao?

Biển Đông được TQ coi như là một “ao nhà” một vùng biển có giá trị chiến lược về quân sự, kinh tế và năng lượng. TQ tuyên bố chủ quyền của họ trên hơn 75% diện tích biển Đông. TC đă chiếm toàn bộ Quần Đảo Hoàng Sa từ tay VNCH năm 1974. Năm 1988 đến nay, TQ chiếm thêm 8 đảo và băi đá ngầm của VN và Đá Vành Khăn (Mischief Reef) của Philippines và đang lăm le chiếm đoạt toàn bộ Trường Sa, thiết lập trục Tam Á- Hoàng Sa-Trường Sa không những kiểm soát toàn vùng biển Đông, làm căn cứ bàn đạp tiến đến các quốc gia quanh vùng mà c̣n kiểm soát trung tâm khai thác dầu khí trong vùng biển Đông nữa. Trên b́nh diện quốc tế, các nhà chiến lược thế giới đều hiểu rằng hải tŕnh chuyên chở dầu qua eo biển Malacca ( Strait of Malacca ) rất quan yếu và ngày càng trở nên một vùng căng thẳng. Mỗi năm, hơn 50,000 tàu chuyên chở dầu từ Trung Đông qua eo biển này để chuyển đến các quốc gia trên ṿng đai Thái B́nh Dương ( Pacific Rim ). Theo US Energy Information Administration, nếu eo biển Malacca bị phong tỏa tại khoảng giữa Singapore và Indonesia sẽ gây cho gần nửa số tàu dầu của thế giới phải thay đổi hải tŕnh và đe dọa gịng cung cấp dầu hơn 15 triệu barrels mỗi ngày [18]. Do đó, sự hiện diện của Đệ Thất Hạm Đội Hoa Kỳ rất cần thiết cho vùng Biển Đông nhằm duy tŕ an ninh, gịng cung cấp dầu hỏa và giúp kinh tế tăng trưởng cho các quốc gia trong vùng và Ṿng Đai Thái B́nh Dương. Nhiều nhà chiến lược Trung Quốc tin rằng nếu Đệ Thất Hạm Đội HK kiểm soát Biển Đông hoặc phong tỏa eo biển Malacca th́ sẽ gây nên vấn đề lớn cho Trung Quốc, không những đe dọa khả năng chiến đấu v́ thiếu nhiên liệu mà c̣n phá hỏng chiến lược trở thành bá chủ Á Châu của họ. Thế nên, thật dễ hiểu, Trung Quốc đang lăm le chiếm đoạt và kiểm soát toàn vùng biển Đông phong phú tài nguyên dầu hỏa này v́ thuận tiện mọi bề cho nhu cầu quân sự và năng lượng của họ. Chiếm dụng vùng dầu khí nằm ngay sát lục địa, không phải di chuyển qua eo biển yết hầu Malacca c̣n ǵ tốt hơn cho TQ?

Chiến lược Biển Đông của Trung Quốc thế nào?

Tập trung vào 5 lănh vực sau :

Thứ 1: Phát Triển Hạm Đội Nam Hải Để Dùng Sức Mạnh Trấn Át Biển Đông

Năm 2000, TC đă hoàn tất xây dựng một căn cứ Hải Quân tối tân tại Tam Á (Sanya) tọa lạc ở mỏm cực Nam đảo Hải Nam . Tam Á là căn cứ hải quân thứ nh́ của Trung Quốc cho tàu ngầm nguyên tử và là điểm xuất phát của Hạm Đội Nam Hải có khả năng đối đầu với Hải Quân Hoa Kỳ và các quốc gia ASEAN trong vùng. Hiện nay (2009) hạm đội này bao gồm 2 hải đội tiềm thủy đĩnh, 2 hải đội khu trục hạm và nhiều hộ tống hạm với tổng số lên đến 50 tàu chiến. Theo các nguồn tin t́nh báo, Hạm Đội Nam Hải là hạm đội có nhiều tàu chiến nhất và được trang bị các chiến hạm hiện đại như loại khu trục hạm Ḱnh Ngư 311 và tàu ngầm nguyên tử loại 094 đầu tiên của Hải Quân Trung Quốc. Hơn nữa, tất cả lực lượng thủy quân lục chiến và phần lớn tàu đổ bộ của Trung Quốc trực thuộc hạm đội này; có nghĩa là TQ dự trù nhu cầu lớn nhất cho lực lượng đổ bộ chính là vùng Biển Đông, giáp với đất liền Việt Nam và các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa có quân đội Việt Nam đồn trú. Năm 2005, TC đă mua chiến đấu cơ Sukhoi Su-33 của Nga để trang bị trên hàng không mẫu hạm Variag, 67 ngàn tấn mua lại của Ukraine (có thể chở được 18 Su-33 hay 25 Mig 29) cho nhu cầu huấn luyện và tăng cường kế hoạch “tiến ra đại dương” của Hải Quân. Tam Á sẽ trở thành căn cứ tiền phương nối trục Tam Á-Hoàng Sa-Trường Sa của Hạm Đội Nam Hải nhằm kiểm soát toàn vùng biển Đông.

Thứ 2: Kiểm Soát Toàn Vùng Biển Đông - Bảo Vệ Yếu Huyệt Malacca

Tăng trưởng kinh tế tại Trung Quốc đă dẫn đến chương tŕnh hiện-đại-hóa quân đội, đồng thời gia tăng các nhu cầu về tài nguyên, lương thực, và thể diện quốc gia. Trung Quốc thành lập nhiều căn cứ hải quân để triển dương sức mạnh, từ bờ phía Nam của Miến Điện, đến đá Vành Khăn tại Trường Sa, rồi Đảo Phú Lâm (Woody Island) tại Hoàng Sa, và Tam Á tại Hải Nam. Hiện nay, Trung Quốc ngày càng phụ thuộc vào nguồn năng lượng nhập cảng, khoảng 75% số lượng dầu nhập cảng của Trung Quốc là từ những vùng chính trị bất ổn ở Trung Đông và Phi Châu. Họ phải vận chuyển bằng tàu thủy đến Trung Quốc qua nhiều hải tŕnh xa xôi, mà hải tŕnh huyết mạch qua eo biển Malacca có thể bị cắt đứt trong một cuộc khủng hoảng nào đó. Hồ Cẩm Đào nhiều lần nhắc tới mối quan tâm chiến lược của Trung Quốc đối với Biển Đông liên quan tới an ninh năng lượng chuyện vận qua "yếu huyệt Malacca.”

Thứ 3: Áp Đặt Chủ Quyền Bằng Sức Mạnh Quân Sự

Trung Quốc hiện đang dùng sức mạnh quân sự để áp đặt chủ quyền lănh thổ của ḿnh trong toàn vùng Biển Đông trên các đối phương trong khu vực bằng chiến thuật “cả vú lấp miệng em” để vừa đánh trống vừa ăn cướp” phân bua với thế giới. Sự chênh lệch về sức mạnh kinh tế và quân sự, kèm theo các phản ứng rất chừng mực và đơn lẻ, từ các đối thủ ASEAN như Việt Nam, Phillipine hay Malaysia đă khiến Trung Quốc “tự tung tự tác” bất chấp luật pháp quốc tế, tùy tiện vẽ lại bản đồ có lưỡi Rồng bao gọn toàn vùng Biển Đông. TQ đă bắn giết dằn mặt ngư dân các nước láng giềng cũng như áp lực các công ty dầu khí quốc tế phải rút khỏi Biển Đông nhằm phô trương sức mạnh cùng khả năng bảo vệ chủ quyền “áp đặt” của họ.

Thứ 4: Âm Thầm Xé Lẻ Và Triệt Tiêu Đối Kháng

Trung Quốc đang xử dụng chiến thuật “lấy thịt đè người” để lấn áp Việt Nam và các nước ASEAN. Thái độ và hành động nói trên của Trung Quốc đă gây thiệt hại cho kinh tế và đe doạ nền độc lập và sự vẹn toàn lănh thổ của Việt Nam . Thái độ và hành động ngang ngược đó chỉ dựa vào sức mạnh quân sự mà lại không dựa trên một cơ sở pháp lư nào của luật biển quốc tế và nguy hiểm hơn nữa, TQ đang thực hiện giấc mộng bá quyền, khi nhu khi cương từng bước theo lối “tầm ăn dâu” chiếm đoạt Biển Đông. Đầu tiên, TQ đă mở những cuộc tấn công quân sự quy mô nhỏ để lấn chiếm dần lănh thổ và lănh hải trong vùng Biển Đông như chiếm Hoàng Sa năm 1974, một số đảo thuộc Trường Sa của Việt Nam vào năm 1988; hoặc đoạt Mischief Reef từ tay Philippine năm 1995. TQ cũng loại dần đối kháng từ các nước thuộc khối ASEAN liên hệ đến cuộc tranh chấp biển Đông bằng kinh tế và ngoại giao như tăng viện trợ, hợp tác kinh tế, tha nợ, v.v. Tuy nhiên, TQ khôn hơn, không cần xử dụng quân sự để bị mang tiếng là kẻ hiếu chiến mà dùng quyền lợi dẫn dụ với chiêu bài “hợp tác song phương” áp dụng “diễn biến ḥa b́nh” để từng bước lấy được Biển Đông. Đây chính là lư do TQ kêu gọi “hợp tác khai thác Biển Đông” với Phi Luật Tân năm 1999 rồi với tay sai CSVN năm 2008 qua dự án 29 tỉ Mỹ kim; từ đó, Bắc Kinh mới có thể xé lẻ từng nước, gây nghi kỵ mất t́nh đoàn kết giữa các nước ASEAN để thủ lợi.

Thứ 5: Độc Quyền Thăm Ḍ và Khai Thác Dầu Khí Trong Vùng Biển Đông.

Đối với chính phủ Trung Quốc, th́ chính sách năng lượng đă trở thành một bộ phận của chính sách đối ngoại. Hiện nay khoảng một nửa lượng dầu và khí đốt cần dùng của Trung Quốc phải lệ thuộc vào các nguồn cung cấp ở nước ngoài. V́ lư do bảo toàn năng lượng, Trung Quốc đă đặt ưu tiên cao cho việc dự trữ càng nhiều dầu hỏa và khí đốt mà họ có thể lấy được trong phạm vi lănh thổ trên đất liền, các vùng biển ngoài khơi, hoặc càng gần nội địa càng tốt, bao gồm cả Nga Sô và miền Trung Á. Thế nên, bằng mọi cách, kể cả cấm nhập thị trường Hoa Lục, TQ sẽ không để các hăng dầu ngoại quốc ḍ t́m hoặc khai thác dầu trong vùng biển Đông. Năm 1994, Trung Quốc phản đối hợp đồng dầu khí giữa Việt Nam và ExxonMobil ở vùng Thanh Long với lư do vùng này thuộc Quần Đảo Trường Sa. Năm 2007, Trung Quốc gây áp lực buộc British Petrolium ngưng hoạt động trong dự án dầu khí có vốn đầu tư 2 tỉ $ US với Việt Nam ở hai vùng Mộc Tinh, Hải Thạch. Các vùng Thanh Long, Mộc Tinh, Hải Thạch nằm trong bồn trũng Nam Côn Sơn [19]. Việc áp lực 3 công ty BP của Anh, ONGC của Ấn Độ và ExxonMobil của Hoa Kỳ trong thời gian vừa qua đă nói lên ư định độc chiếm biển Đông của TQ.

việtdươngnhân
04-08-2009, 08:27 AM
CHIẾN LƯỢC BIỂN ĐÔNG CỦA VIỆT NAM


Có lẽ giải pháp cho những người Việt Nam yêu nước nằm trong các bài học ngàn đời của lịch sử: Trung Quốc là nước lớn nằm sát nách Việt Nam luôn nḥm ngó và muốn sát nhập nước ta vào lănh thổ của họ. Khi Việt Nam hùng cường th́ TQ hoà hoăn, khi VN suy yếu th́ TC không ngần ngại thôn tính nước ta và TQ đă từng chiếm đoạt lănh thổ và đô hộ Việt Nam gần 1000 năm.

Giá trị Biển Đông đối với Việt Nam ra sao?

Biển Đông là vùng biển chiến lược của VN, không những là vùng chứa nguồn lợi hải sản, dầu khí mà c̣n là vùng đệm cho an ninh quốc pḥng về mặt phía Đông. Do đó, muốn bảo vệ Biển Đông, VN phải có một hải lực hùng hậu và hệ thống pḥng thủ mà tầm ngắn nhất cũng phải là ṿng cung phía Đông của trục Hoàng Sa-Trường Sa xuống đến Nam Côn Sơn. Mặt phía Tây của VN là hai nước yếu Lào và Cam Bốt, muốn tăng khả năng pḥng thủ, VN phải liên kết với hai nước Đông Dương này; nếu không, TQ sẽ chẳng bỏ qua cơ hội chuyển một lộ quân xuống trấn dọc theo biên giới giữa ba nước Việt-Miên-Lào để vửa lợi dụng vùng biên giới làm căn cứ hậu cần an toàn, bao vây VN, hoặc từ đó, dễ dàng thọc nhưng mũi dùi đánh vào bất cứ cạnh sườn nào của nước ta rồi rút hoặc cắt nước ta thành nhiều đoạn nếu chiến tranh giữa TQ-VN xảy ra.

VN có căn bản pháp lư vững vàng về chủ quyền trên các hải đảo và thềm lục địa

Hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam mà theo luật quốc tế do Hội Nghị Liên Hiệp Quốc 1982 Về Biển quy định rơ rệt là những tài nguyên và hải sản "thuộc quốc gia ngay bên cạnh thềm lục địa đó." Trong khi Việt Nam trưng ra đủ chứng từ và tài liệu thuyết phục về quyền sở hữu trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa th́ Trung Quốc chỉ dựa vào một tấm bản đồ do họ tự vẽ lại để đ̣i tất cả Biển Đông thuộc về nước họ bất chấp luật Biển và đề nghị thương lượng tay đôi với các quốc gia nhỏ bé ở Đông Nam Á để dễ bắt nạt.

Quyền lợi về dầu lửa ở Biển Đông. Những ḥn đảo nhỏ không có giá trị nhiều nhưng v́ có thể tàng trữ lượng dầu lửa lớn lao, giúp đất nước phồn vinh; cho nên, VN phải bảo vệ quyền lợi đó. Trữ lượng dầu hỏa nằm ở trong không những thềm lục địa mà c̣n ở vùng biển trên thềm lục địa gọi là vùng kinh tế đặc quyền, từ bờ lục địa ra đến 200 hải lư. Trước năm 1975, các hăng dầu ngoại quốc thăm ḍ tiềm năng dầu khí cho biết rằng ngoài khơi Việt Nam , nhiều nhất là vùng Trường Sa có trữ lượng dầu và khí đốt rất lớn. Cuộc thăm ḍ bởi Viện Nghiên Cứu Địa Dư Của Các Nước Ngoài của Nga Sô năm 1995 ước lượng có khoảng 6 tỉ barrel dầu trong đó có 70% là khí đốt trong vùng Trường Sa. Trong khi đó, TQ tuyên bố, biển Đông là “Vịnh Ba Tư thứ nh́” (the second Persian Gulf ” và một số nhà chuyên môn của họ đă quả quyết rằng biển Đông có thể chứa đến 210 tỉ barrels dầu hỏa và hơi đốt [20].

Chiến lược hiện nay của CSVN thế nào?

Đối phó với cường quốc nhiều tham vọng phía Bắc, trên thực tế, v́ VN quá yếu về cả quân sự, lẫn kinh tế, không dựa vào Nga Sô được nữa th́ chỉ c̣n hai đường: dựa vào HK để cương quyết chống TQ th́ phải thay đổi thể chế hoặc đi với TQ th́ phải chịu phục tùng họ để bám quyền. Trong nước th́ Đảng CSVN bị đaị khối dân tộc bất măn chống đối, bên ngoài th́ bị áp lực quốc tế, nên tập đoàn lănh đạo CSVN t́m đủ cách kéo dài thời gian bám quyền bất kể đến quyền lợi quốc gia và sự tồn vong của dân Việt. Áp lực của Tây Phương th́ CSVN chẳng sợ bao nhiêu v́ c̣n có TQ chống lưng đàng sau. Thế nên, Đảng CSVN luôn chọn cách “đu giây” với cà TQ và HK để “nín thở qua sông” hưởng lợi; nhưng khổ nỗi, chính áp lực của TQ trên VN mới là nỗi lo triền miên của tập đoàn lănh đạo. V́ HK th́ ở xa mà TQ lại ở ngay bên cạnh, nên chúng ta thấy rằng VN do v́ nhu nhược và v́ cô độc nên hiện nay tỏ ra quy phục TQ để hầu được yên thân, nắm quyền càng lâu càng tôt. Do đó, trên mặt nổi, chúng ta nhận thấy chiến lược của VN có thể tóm gọn như sau:

1. Đu giây với TQ và HK chứ không thật tâm ngả về bên nào

Tập đoàn lănh đạo CSVN không tin TQ nhưng sợ bị TQ thôn tính th́ “mất cả ch́ lẫn chài” nên “bắt cá hai tay” nhằm hưởng lợi từ cả TQ và HK. Mặt khác, VN chỉ muốn lợi dụng HK và Tây Phương để tránh bị tẩy chay, mất nguồn đầu tư vào VN, mất lợi nhuận riêng của họ và quan trọng hơn, để làm đối trọng với TQ và họ ở giữa yên thân hơn, làm “ngư ông hưởng lợi.” Nhưng chắc chắn là VN không thể qua mặt được TQ và cả HK; nên chi, cả 2 nước này cũng chỉ đăi bôi, giao thương với VN để cùng có lợi và “play games” với nhau mà thôi. Nghĩa là, TQ đă nắm được thóp VN nên điều khiển con rối VN dễ dàng theo ư họ. TQ cho phép VN đi với HK một phần để lấy lợi nhuận mà họ cũng được hưởng lây, một phần để mở “van an toàn” cho dân bớt chống đối Nhà Nước CSVN, phần nữa TQ làm bộ hiếu ḥa, thân hữu để chứng tỏ VN c̣n tự chủ dưới mắt người dân sẽ giúp CSVN tồn tại hầu tiếp tục làm tay sai cho TQ.

2. Tránh Đụng Độ và Chịu Lép Vế Với TQ Để Tồn Tại

V́ quá yếu, VN cảm thấy khó thể đương cự nổi TQ khi họ ra tay chiếm đoạt nước ta nên đành nhắm mắt đưa chân, cố tránh đụng độ trực tiếp về quân sự, để giảm thiểu thiệt hại, mất mát, hi sinh nhiều hơn. CSVN biết rằng HK không nuôi dă tâm chiếm đoạt VN; nhưng ngược lại, nguy cơ VN bị TQ nuốt gọn rất cao. V́ vậy, thế đu giây của CSVN đành nghiêng hơn 60% về TQ để an thân, làm giàu nương theo lời chỉ đạo của TQ, đàn áp dân Việt để củng cố địa vị, bám quyền hưởng thụ càng lâu càng tôt. Đây là lư do mà TQ ngày càng lấn lướt và chiếm đoạt lănh hải, lănh thổ và uy hiếp nước ta về mọi mặt từ quân sự, chính trị đến văn hoá, kinh tế. Thế nên, mặc dù HK có thật ḷng muốn giúp đỡ VN chăng nữa mà với thái độ “khiếp nhược” đó th́ khi gặp nạn, bị TQ xâm lăng chẳng hạn, VN cũng đừng mong HK sẽ tận t́nh can thiệp, yểm trợ hoặc nhập cuộc đánh TQ giùm họ khi hai nước chưa tạo được mối liên minh quân sự để có thể tin cậy nhau.

3. Dựa Vào TQ, Bám Quyền Bằng Bạo Lực

Về mặt công luận quốc tế, Trung Quốc tích cực tuyên truyền cho chủ quyền của họ ở Biển Đông, mặc dù VN có chính nghĩa và vững vàng về mặt pháp lư, nhưng Việt Nam và các nước ASEAN tranh chấp ở Biển Đông không được quốc tế ủng hộ nhiều v́ thiếu đoàn kết và yếu nỗ lực ngoại vận. VN sợ cứng rắn quá với TQ th́ sẽ gẫy nên chấp nhận chính sách “chịu bẻ cong để không bị gẫy” chẳng dám phản kháng để tồn tại dưới áp lực TQ. V́ vậy, riêng Đảng CSVN th́ họ chẳng sợ áp lực quốc tế bao nhiêu mà cũng chẳng ngại bị dân chúng lật đổ v́ có TQ chống lưng và hệ thống công an bảo vệ. Tuy nhiên, với một cộng đồng hải ngoại đoàn kết, gây dựng được thực lực, tạo được uy tín đối với quốc tế và yểm trợ hữu hiệu cho quốc nội th́ một cuộc cách mạng phế bỏ chế độ CSVN có cơ thành tựu.

Chiến lược hiện nay của CSVN có hữu hiệu, hoá giải được nguy cơ và tham vọng của TQ hay không? Chắc chắn là KHÔNG! Nó chỉ giúp tập đoàn lănh đạo CSVN bám quyền mà thôi mà nguy hai cho cơ đồ VN khôn lường; v́ rằng, càng ngày VN càng bị suy yếu, càng bị lệ thuộc nhiều hơn vào TQ về mọi mặt th́ TQ sẽ chiếm VN chỉ là vấn đề thời gian, nếu toàn dân Việt chưa nhận thức được nguy cơ mất nước này...

Chiến lược thích hợp mà VN nên áp dụng để bảo vệ đất nước thế nào?

Thứ 1: Việt Nam Phải Có Tự Do, Dân Chủ Để Tạo T́nh Đoàn Kết Dân tộc

Nếu các nhà lănh đạo Việt Nam thật sự “yêu nước, thương dân” th́ có thể áp dụng chính chiến lược của TQ “che dấu khả năng của ḿnh và chờ thời” để dùng “gậy ông đập lưng ông;” bên trong th́ âm thầm xây dựng nội lực, thuận ḷng dân, hợp mệnh Trời và bên ngoài th́ theo đuổi chính sách đối ngoại mềm mỏng, sáng suốt, đặt quyền lợi đất nước trên hết. Nghĩa là ổn định xă hội bằng chính sách an dân hợp vương đạo, phát triển kinh tế để có đủ phương tiện hiện-đại-hoá quân lực, khôn khéo trên trường ngoại giao để tạo thế và lực thật sự của dân tộc nhờ vào ḷng dân, sức người và sự yểm trợ của quốc tế.

Chúng ta dễ dàng nhận thấy lư do thất bại của quân Nguyên trong kế hoạch dùng hải, lục quân xâm lăng Việt Nam vào cuối thế kỷ 13. Lúc bấy giờ, mặc dù quân Nguyên đă chiếm toàn Châu Á, cộng với nửa Châu Âu, nhưng đánh Việt Nam th́ thất bại cả 3 lần v́ nhà Trần phát huy tinh thần Diên Hồng để vận dụng được sức mạnh dân tộc một ḷng chống giặc. Như vậy, chỉ một chính quyền thật sự “của dân, do dân, v́ dân” và được ḷng dân trong và ngoài nước mới có thể huy động đại-đoàn-kết dân tộc và tạo điều kiện xây dựng cho dân giầu, nước mạnh, đủ khả năng tự túc tự cường và bảo vệ đất nước mà thôi.

Thứ 2: Việt Nam Phải Xây Dựng Khả Năng Quốc Pḥng

Trong nhiều năm qua, chính quyền Hà Nội đă duy tŕ quân đội theo mục tiêu chính trị để bảo vệ chế độ thay v́ có khả năng bảo vệ đất nước. Việt Nam nên chú trọng vào những kế hoạch bảo vệ lănh thổ và lănh hải một cách thực tế thích hợp với nhu cầu và khả năng quốc pḥng. Việc phát triển quân đội mà Hải Quân Việt Nam tương lai, trước tiên, nên chú trọng vào xây dựng một hạm đội gồm nhiều chiến hạm hiện đại hạng nhẹ, hỏa lực mạnh, vận tốc nhanh, dễ xoay sở. Chống lại cuộc tấn công từ ngoài biển Đông vào th́ HQVN nên tập trung vào các lănh vực pḥng thủ nhiều lớp: pḥng thủ cận duyên, pḥng thủ viễn duyên và pḥng thủ chiến lược .

Hiện nay, các quốc gia đồng minh trong vùng từ Nhật Bản, Đại Hàn, Đài Loan, không nhiều th́ ít, đều phát triển quốc gia của ḿnh với sự bảo vệ của Hoa Kỳ. Để tạo thế gián chỉ (deterence) nhằm giảm thiểu rủi ro xung đột quân sự với Trung Quốc, Việt Nam cần tạo thực lực và có liên minh quân sự tốt đẹp với Hoa Kỳ và các nước ASEAN. Trong tương lai gần, viễn tượng thành lập các Hải Đoàn Đặc Nhiệm gồm Hàng Không Mẫu Hạm với các chiến hạm của Hoa Kỳ, Nhật Bản, Ấn Độ, Úc Đại Lợi, Tân Tây Lan tuần tiễu biển Đông chung với Việt Nam và ASEAN đặt căn cứ tại Cam Ranh là điều thực tế trước hành động bá quyền của TQ.

Trung Quốc chỉ dám bắt nạt những nước nhỏ yếu với cấp lănh đạo nhu nhược mà thôi. Trong cuộc tranh chấp ở Biển Đông Trung Hoa (East China Sea) với Nhật Bản, Trung Quốc đơn phương tiến hành thăm ḍ, khai thác dầu trên vùng biển tranh chấp bất chấp sự phản đối quyết liệt của Nhật. Từ tháng 8, 2003, chính phủ Trung Quốc đă kư các thỏa thuận khai thác với các công ty dầu khí Trung Quốc và nước ngoài như Royal Dutch Shell và Unocal với trị giá lên tới nhiều tỉ Mỹ kim. Nhật lên tiếng phản đối viện cớ rằng hoạt động khai thác này sẽ hút cạn nguồn dầu khí nằm sâu trong ḷng biển thuộc về hải phận của Nhật. Trung Quốc bỏ ngoài tai phản ứng của đối phương và thường xuyên đưa tàu chiến và tàu ngầm tới vùng biển này để dằn mặt Hải Quân Nhật Bản. Trước hành động lấn át của Trung Quốc, Nhật đă quyết định đưa tàu thăm ḍ tới vùng biển tranh chấp vào tháng 7, 2004 để chuẩn bị thăm ḍ và khai thác cho phần ḿnh. Đương nhiên, Trung Quốc quyết liệt phản đối và coi hoạt động này là vi phạm chủ quyền. Tuy nhiên, các phản ứng chỉ dừng lại ở mức ngoại giao và kinh tế. Căng thẳng lên cao độ từ khoảng cuối 2003 - đầu 2004, tới mức chiến tranh tưởng như đă cận kề [22]. Khi cả hai bên tỏ thái độ sẵn sàng đối đầu, nếu không muốn chiến tranh th́ lối thoát duy nhất chỉ có thể là hợp tác khai thác. Sau nhiều ṿng đàm phán, tới tháng 6, 2008, Nhật Bản và Trung Quốc đă đạt được thỏa thuận khai thác chung. Các khu vực khai thác chung đều nằm trên vùng giáp ranh giữa hải giới của hai nước, nhưng theo quan điểm của Nhật chứ không phải theo quan điểm của Trung Quốc (bản đồ). Rơ ràng là trong thỏa thuận này, đường ranh giới do Trung Quốc vẽ không có chút giá trị nào. Nhật Bản có thể phải nhượng bộ ít nhiều đứng từ lập trường của họ (thí dụ về quy tắc phân chia trong hợp tác khai thác) nhưng lập trường của họ về ranh giới trên biển Đông Trung Hoa đă được giữ vững .

Thứ 3: Việt Nam Cần Dựa Thế Liên Minh Quân Sự Để Đối Trọng Với TQ

Năm 1994, Trung Quốc khoán cho hăng Creston Energy Corporation của Hoa Kỳ thăm ḍ các lô khoan dầu Tư Chính 133, 134, 135 thuộc khu vực Huangan Bay . Những lời tuyên bố cứng rắn của Việt Nam nhằm bảo vệ chủ quyền dựa vào căn bản pháp lư kèm theo các hành động cương quyết đă khiến TQ phần nào chùn bước. Tuy nhiên, v́ nhu cầu nhiên liệu và cậy vào sức mạnh, TQ sẽ chẳng dễ ǵ bỏ qua mà đang t́m mọi cách chiếm đoạt hoặc thủ lợi. Các nước thuộc khối ASEAN phải nhận thức được rằng sự an ninh của mỗi nước thành viện cũng như sự an ninh trong toàn vùng chỉ tốt hơn nếu mọi nước trong vùng Đông Nam Á cùng tham gia ASEAN và đoàn kết với nhau chống lại tham vọng bành trướng và ư đồ muốn nuốt gọn Biển Đông của TQ [21]. Điều này chưa xảy ra; nhưng trên thực tế, TQ đă thành công trong mục tiêu xé lẻ các nước ASEAN liên hệ đến tranh chấp trong biển Động. Thí dụ như Phillipine đă dễ dàng bị mua đứt để đồng ư kư thỏa thuận hợp tác song phương với Trung Quốc năm 1999 trong khi bỏ mặc Việt Nam sang một bên. Sau đó, vào cuối năm 2008, VN xé lẻ hợp tác với TQ kư hợp đồng 29 tỉ $ US cho TQ thăm ḍ và khai thác dầu khí, áp lực các công ty dầu khí của Anh, HK, Ấn Độ phải rút lui.

Thứ 4: Đưa Vấn Đề Biển Đông Ra LHQ để Giải Quyết:

Tận dụng phương tiện truyền thông và đường lối ngoại giao, VN nên vận động sự quan tâm và ủng hộ của dư luận quốc tế cho một giải pháp công bằng và hoà b́nh cho các tranh chấp chủ quyền ở Biển Đông. Vấn đề chủ quyền lănh thổ và lănh hải của các nước liên hệ trong vùng Biển Đông phải được đưa ra LHQ giải quyết càng sớm càng tốt cho VN. Đương nhiên, TQ sẽ bất-hợp-tác hoặc ngăn cản và với tư thế mạnh của TQ hiện nay, LHQ cũng vô hiệu. Trong thỏa thuận hợp tác khai thác dầu khí giữa Nhật Bản và Trung Quốc, hai bên đă cùng viện dẫn Công Ứơc Quốc Tế về Luật Biển, trong khi Nhật Bản cho rằng phải xử dụng đường trung tuyến làm ranh giới th́ Trung Quốc muốn dùng giới hạn thềm lục địa của nước này làm ranh giới [23].

Cách giải thích của TQ hay của Nhật Bản đều đă có tiền lệ, v́ thế tuyên bố chủ quyền của Trung Quốc cũng đặt trên cơ sở vững vàng. Tuy nhiên, trong cuộc tranh chấp ở Biển Đông, TQ hoàn toàn tự tiện tuyên bố chủ quyền với bản đồ chủ quyền gồm đường viền “lưỡi Rồng” bao phủ gần trọn Biển Đông mà không có cơ sở pháp lư ǵ chứng thực. Bất kể đến Công Ứơc Geneva về Thềm Lục Địa 1958 và Công Ứơc Quốc Tế về Luật Biển 1982, Trung Quốc vẫn không sửa lại bản đồ xác định chủ quyền của họ và ư đồ bá chủ biển Đông ngày càng lộ rơ. Dù thế nào, VN cũng phải cương quyết bảo vệ sự vẹn toàn lănh thổ, khẳng định rơ ràng chủ quyền trên vùng lănh thổ và lănh hải trong vùng Biển Đông gồm cả vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa trước ngày 13 tháng 5 năm 2009. VN có lẽ sẽ đệ tŕnh tài liệu xác định chủ quyền và thềm lục địa lên Liên Hiệp Quốc vào phút cuối để giảm thiểu phản ứng phẫn nộ của TQ. Nếu v́ điều này mà gây nên tranh tụng với TQ, VN phải chủ động tạo nên một “case tố cáo TQ vi phạm chủ quyền, chiếm đoạt lănh thổ lănh hải của VN” th́ đó là một điều tốt, và VN nên liên tục tố cáo để giữ vấn đề tranh chấp này sôi sục và trong ṿng xử lư của LHQ.

Phạm Văn Thanh

(Xin xem tiếp Phần III: Biển Đông Nổi Sóng?)

lytranlenguyen75@yahoo.fr

việtdươngnhân
04-09-2009, 01:07 AM
TRUNG CỘNG LẠI DÙNG KHỔNG GIÁO TÁI LẬP TÂN ĐẾ QUỐC ĐẠI HÁN

LƯ ĐẠI NGUYÊN


Sau đợt bọn Man cộng Hà nội hiến đất, dâng biển, quay lưng lại với 2 quần đảo Hoàng sa, Trường sa của Tổ Quốc, rước quân, dân Tầu vào chiếm lĩnh địa bàn chiến lược Cao Nguyên Trung Phần, qua việc cho họ độc quyền khai thác bauxite, cho trúng thầu các công tŕnh xây dựng trọng điểm, nhưng không phải để thâu dụng công nhân Việtnam, mà là hợp pháp hóa cho dân Trunghoa sang làm chủ toàn diện kinh tế Việtnam, màn chót là đem Văn Hóa Trung Hoa vào thay thế cho Văn Hóa Truyền Thống của Dân Tộc, dù đă bị Việtcộng tiêu hủy gần tàn, rồi từ năm này qua năm khác, ngày này qua ngày khác, bắt con dân Việtnam phải nuốt những món ăn tinh thần thối rữa, nào là “Chủ nghĩa Mác Lê Hồ” chết tiệt, nào là toàn dân, toàn quân, toàn thanh niên phải học tập theo “gương Bác Hồ”. Kết quả, học từ “gương Bác”, các con, cháu của “Bác” toàn trở thành ăn cắp. V́ chính bác cũng đă đánh cắp danh ngôn “mười năm trồng cây, trăm năm trồng người” của ông Quản Trọng, tể tướng nước Tề, thời nhà Chu, để đàn em của bác ca tụng đó là tư tưởng vĩ đại của bác, bắt toàn đảng phải học tập để thành, “lớn tham nhũng lớn”, “nhỏ tham nhũng nhỏ”, không có quyền, mà có cơ hội ra nước ngoài “nghiên cứu” cũng nhất định thành lập các băng trộm cắp, như đă diễn ra ở bên Nhậtbản.

Theo báo trong nước đưa tin “Văn pḥng chính phủ vừa có công văn số 1992/VPCP-QHQT gửi các bộ Giáo Dục và Đào Tạo, Ngoại Giao, Công An, và văn pḥng Trung Ương Đảng Cộng Sản thông báo ư kiến của thủ tướng chính phủ cho phép thí điểm thành lập một Học Viện Khổng Tử tại Việtnam”… “với mục tiêu cuối cùng là mở rộng ảnh hưởng của nền văn hoá Trungquốc trên phạm vi toàn cầu”. “Viện Khổng Tử trung tâm được đặt tại thủ đô Bắckinh”. “Học viện Khổng Tử là cơ quan truyền bá văn hoá của Trungquốc ở nước ngoài, do chính phủ Bắckinh tài trợ”. “Khổng Tử là một triết gia nổi tiếng nhất, thời Trunghoa cổ đại. Đạo Khổng bị vùi dập thời Cách Mạng Văn Hoá, nhưng nay đang hồi sinh và được giới lănh đạo Trungquốc cổ súy như một trong các nền tảng tinh thần của “xă hội hài ḥa” thời hiện đại” (BBC).

Như thế, nước Tầu đă dứt khoát loại bỏ thứ “chủ nghĩa xă hội vô dụng” ra khỏi tư tưởng của họ, để quay về với Văn Hoá Truyền Thống Trung Hoa. Việc này hoàn toàn đúng với người Trunghoa, nhưng không đúng với người Việtnam, khi ḿnh c̣n ư thức ḿnh vẫn là người Việtnam, vốn có một Truyền Thống Văn Hóa Độc Lập Cá Biệt với Văn Hoá Trung Hoa. Nên dù đă hơn một ngàn năm Bắc Thuộc vẫn không bị Trunghoa đồng hóa. Khi Trungcộng dùng Đạo Khổng làm chiêu bài văn hóa để mở rộng ảnh hưởng trên thế giới th́ phải hiểu đó là họ đang tái lập Tân Đế Quốc Đại Hán Bành Trướng. Trong quá khứ lịch sử, Hán Vơ Đế -140 đến – 87 trước Tây lịch tại Trunghoa. Ông đă loại Đạo Lăo ra khỏi cung đ́nh, tận dụng chủ trương cai trị của phái Pháp Gia, xây dựng nền Quân Chủ độc tôn, bạo trị, với nguyên tắc chỉ đạo: “Trung Quân là Ái Quốc”. “Trung Thần bất sự nhị Quân” “Quân xử Thần tử, Thần bất tử bất trung”. Thi tuyển người tài ra làm quan, cắt giảm chế độ phong hầu, kiến địa. Tạo lập chế độ Trung Ương Tập Quyền. Biến nước Tầu thành một Đế Quốc thôn tính các nước chung quanh. Năm 111 trước Tây lịch đánh chiếm nước Nam Việt của Họ Triệu, sát nhập Việtnam vào thành Quận Huyện của Đế Quốc Đại Hán.

Nhằm tạo lập một Đế Quốc Văn Hóa Đại Hán, nêu cao danh nghĩa ThiênTriều, chế phục tâm lư đối kháng của các dân nước bị trị, Đổng Trọng Thư xin Vơ Đế phong Nho Giáo làm Quốc Giáo, lấy chủ thuyết Khổng Tử về Vũ Trụ Quan là “Tam Tài: Thiên, Địa, Nhân”. Nhân Sinh Quan là “Tam Cương: Quân, Sư, Phụ”. “Ngũ Thường: Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín” và dùng phương pháp Nhân Trị của Khổng Tử làm nền tảng cho Văn Hóa hữu vi Trunghoa, làm chiếc b́nh phong văn hóa để Hán Vơ Đế thực hiện chủ trương Đế Quốc. Dù Khổng Tử là nhà Đạo Học lấy Đạo Đức làm đầu, lấy Nhân Trị để giáo hóa thiên hạ. Nhưng khi trật tự đẳng cấp chính trị, ông cho Quân là Vua, tức là Thế Quyền đứng trên Sư là Thầy, tức là Giáo Quyền, rồi tới Phụ là Cha, tức là Dân Quyền sắp hạng chót. Thế nên học thuyết chính trị của Khổng Tử mới bị gọi là chủ thuyết Tôn Quân, phủ hợp với chế độ Độc Tôn Trung Ương Tập Quyền của Pháp Gia. Ngược hẳn với chủ thuyết của Mạnh Tử: “Dân vi quư, Xă Tắc thứ chi, Quân vi khinh” là chủ thuyết Dân Chủ. Để nhà Hán mới có thể dùng làm b́nh phong cho Đế Quốc, để ngày nay bọn cộng sản độc đảng, độc tài, toàn trị mới mượn tạm thay thế cho Xă Hội Chủ Nghĩa Bạo Trị Mác Lê, mang đặc tính Trunghoa. Người Trunghoa v́ nước Trunghoa là đúng. Thế nhưng bọn Mancộng là người Việt lại cũng v́ nước Trunghoa mà xiển dương cho Văn Hoá Trung hoa th́ thật là đau đớn!

Chỉ có ngu dốt, không c̣n tính Việt, không c̣n là người Việt như bọn Mancộng Hànội ngày nay, mới ngoan ngoăn theo lệnh Trungcộng để xiển dương Văn Hóa Khổng Giáo Độc Tôn, mà ngay từ thời Tống Nho đă đẩy học thuyết đó sang Việtnam, nhằm tiêu diệt nền Văn Hóa Truyền Thống Dung Hóa, Đa Nguyên, Phân Nhiệm. Điều Hợp của nền Văn Hiến Độc Lập Thịnh Trị Lư Trần, mà thời đó Dân Tộc Việt chỉ có thắng, chứ chưa bao giờ thua bọn Bành Trướng xâm lược Trunghoa. Chính Nho Giáo độc tôn đă khiến từ thời Chúa Trịnh ngoài Bắc, Chúa Nguyễn trong Nam khi gặp Kitô Giáo Tây Phuơng truyền vào là coi như kẻ địch. Nhất là dưới Triều Nguyễn lại rập khuôn đúng như Thanh Triều, coi Tây Phương là dị chủng. Coi Kitô Giáo là tà giáo cần phải tàn sát. Khiến cho Thưc Dân Tây Phương có cớ bảo vệ Tôn Giáo của họ, đem quân vào chiếm đóng đặt ách đô hộ lên Việtnam. Nếu thời ấy,c̣n có tinh thần truyền thống Việtnam, sẵn sàng viên dung đa tôn giáo, coi tất cả các tôn giáo như là chất liệu, sắc hương, tinh túy cho công cuộc dung hóa làm đẹp, sáng, tốt, mới cho Văn Hóa Việtnam, như thời Phật-Lăo-Khổng du nhập vào Việtnam để rồi người Việtnam t́m được nguyên lư “Tam Giáo Đồng Nguyên”, đều lấy Con Người làm Cứu Cánh, đều tích cực đóng góp cho tinh thần Tự Chủ Dân Tộc, Độc Lập Quốc Gia th́ Việtnam đâu c̣n khổ như giờ này. Nay đứng trước trào lưu Toàn Cầu Hóa khắp mặt. Văn Hoá Đa Nguyên. Quốc Gia Đa Chủng. Chính Trị Đa Đảng. Xă Hội Đa Cấp. Kinh Tế Đa Diện. Giáo Dục Đa Khoa…trong các chế độ Dân Chủ Trọng Pháp Điều Hợp của thời đại Nhân Chủ Nhân Văn, mà Trungcộng vẩn ôm giấc mơ Đế Quốc Đại Hán, Văn Hóa Bá Quyền. Việtcộng vẫn muốn giữ ghế độc đảng, độc tài, toàn trị, đành ôm chân Trungcộng để bán nước. C̣n linh hồn, con cái, tiền của th́ gửi qua Mỹ để bảo đảm cho tương lai lâu dài. Dân chết, mặc dân, nước mất, mặc nước, miễn là chính quyền c̣n trong tay ngày nào, c̣n tích cực tham nhũng ngày ấy. Nhưng cũng nên nhớ rằng: “Quan nhất thời, Dân vạn đại” đó.

LƯ ĐẠI NGUYÊN
Little Saigon 07/04/2009.
VN-News@yahoogroups.com