PDA

View Full Version : Những điển tích trong Truyện Kiều



Lệ Thu
10-07-2007, 07:37 PM
NHỮNG ĐIỂN TÍCH TRONG TRUYỆN KIỀU:

Bể dâu
Hồng nhan, bạc mệnh
Tố Nga
Mai cốt cách
Khuôn trang đầy đặn
Nghiêng nước nghiêng thành
Tường đông
Thuyền t́nh
Châu sa
Suối vàng
Đồng tước
Sen vàng
Đào nguyên, Thiên thai
Đoạn trường
Này mười bài mới…
Tú khẩu cẩm tâm
Hương thừa
Màu hoa lê hăy
Mạch tương, Sông tương
Ba sinh
Hồ cầm, Chiêu Quân
Lam kiều, Quỳnh Tương
Chim xanh, Lá thắm, chỉ hồng
Châu về Hợp phố
Trọng nghĩa khinh tài
Bậc Mây, Thang mây
Trần trần một phận ấp cây
Đá vàng
Tất giao
Tri âm, Chung Kỳ
Nàng Ban, Ả Tạ
Bội Ngọc, Kim môn
Giải kết
Trướng huỳnh
Giấc ḥe
Đỉnh Giáp, Non Thần, Mây Mưa
Chiêm bao
Tay nâng ngang mày, Bố kinh
Tư Mă Phượng Cầu
Kê Khang, Quảng Lăng
Yêu đào
Trên Bộc trong dâu
Thôi, Trương, Mái Tây
Chắp cánh liền cành
Gieo thoi
Trao tơ, gieo cầu
Ông tơ
Băng nhân
Nàng Oanh, Ả Lư, Cơi Xuân, Tuổi Hạc
Trúc Mai
Khối t́nh
Giao loạn
Rụng Cải rơi Kim
Bồ Liễu
Giọt hồng
Lầu xanh, Lầu hồng, Bạc t́nh
Một cười ... ngh́n vàng
Nước vỏ lựu, máu mào gà
Thần mày trắng
Hàn thực, Nguyên tiêu
Tựa cửa, quạt nồng ấp lạnh, sân Lai
Rèm châu, Cách tường
Tháo củi sổ lồng
Lay động bóng cành
Kết cỏ ngậm vành
Vành ngoài bảy chữ...
Lăn lóc đá
Lá gió cành chim, Tống Ngọc, Tràng Khanh
Sân hoè, Cù mộc
Liễu Chương Đài

Lệ Thu
10-07-2007, 07:52 PM
BỂ DÂU

Trải qua một cuộc BỂ DÂU
Những điều trông thấy mà đau đớn ḷng
(Câu 3 và 4, mở đầu)

BỂ DÂU tức là biển xanh ruộng dâu (Thương hải tang điền) ư để chỉ sự hay đổi trong vũ trụ và trong đời sống của đời người.

Sách Thần Tiên truyện của Trung Hoa nói rằng “tam thập niên vi nhất, thương hải biến vi tang điền”. Nghĩa là cứ ba mươi năm một lần; biển xanh lại hóa thành ruộng dâu.

Sách “Tầm Nguyên” kể chuyện có một ông lăo sống đủ một trăm tuổi, thường nói với con cháu rằng:
Ta đă sống đủ một trăm tuổi. Trong đời ta, ta đă thấy biết bao lần có sự thay đổi trong vũ trụ như biển cả sóng vỗ muôn trùng rồi biến thành nơi đất bồi để người ta đem dâu ra trồng. Rồi có nơi ruộng dâu lại biến thành biển cả, nước xanh sóng vỗ.

Sách “Thái B́nh Ngự Lăm” đời Tống lại có kể câu chuyện như sau: Trên biển cả có vị lăo nhân cao tuổi lúc gặp nhau ba vị tuần tự hỏi tuổi của nhau, rồi chuyện văn. Ông lăo thứ nhất bảo rằng thuở c̣n nhỏ ông gặp ông Bàn Cổ.

Ông lăo thứ hai bảo là ông đă nhiều lần thấy biển xanh hóa thành ruộng dâu. Cứ mỗI lần chứng kiến cảnh ấy th́ ông để ra một cái que để nhớ. Bây giờ th́ số que ấy đă chất đầy chật một gian nhà.

Ông lăo thứ ba nói rằng thầy của ông sau khi ăn trái bàn đào, quăng hột ở chân núi Côn Luân, đến bây giờ hột đào ấy đă thành một cây bàn đào cao lớn bằng núi Côn Luân.

Sách Tam Ngôn truyện kể vài câu chuyện sau đây để minh chứng cho sự thay đổi đời người trong cơi nhân gian:

Chuyện 1:
Đặng Thông là tôi thần yêu của vua Hán Văn Đế. Một hôm Đặng Thông nhờ tướng sư Hứa Phục xem tướng. Hứa Phục bảo thế nào rồi Đặng Thông cũng bị chết đói. Hán Văn Đế không cho lời ấy là đúng, phán rằng:
Đặng Thông là triều thần của trẫm, phú quư của Đặng Thông do trẫm định. Trẫm có thể cho Đặng Thông cả một núi đồng để đúc tiền th́ làm sao mà chết đói được.

Về sau khi Hán Văn Đế băng hà, vua Cảnh Đế bắt Đặng Thông hạ ngục, tịch thu hết tài sản. Hán Cảnh Đế c̣n ra lệnh không cho Đặng Thông ăn uống ǵ cả. Thế là Đặng Thông chết đói thật.

Chuyện 2:
Chu Á Phu là quan Thái thú đất Hà Nam, cũng nhờ Hứa Phụ xem tướng cho. Hứa Phụ bảo:
- Ba năm nữa ông được phong hầu. Năm năm nữa ông làm Tể Tướng. Mười năm nữa th́ ông chết đói.
Chu Á Phu cười mà rằng:
- Đă phú quư đến tột đỉnh như thế, sao lại c̣n chết đói ?
Hứa Phụ đáp:
- Ông có tướng “dằng xà nhập khẩu” là tướng chết đói.
Về sau Chu Á Phu làm đến Tể Tướng Triều vua Hán Cảnh đế, nhưng đến lúc chính trị biến động, ông bị giam trong ngục năm ngày không ăn và thổ huyết mà chết….


C̣n nhiều câu chuyện nữa mà tác giả kể trong sách nữa nhưng LT không có thời gian viết tiếp.

Lệ Thu
10-07-2007, 07:55 PM
HỒNG NHAN, BẠC MỆNH

Lạ ǵ bỉ sắc, tư phong
Trời xanh quen thói MÁ HỒNG đánh ghen
(Câu 5,6. Mở đầu truyện Kiều)

"Phận HỒNG NHAN có mong manh
Nửa chừng xuân thoát găy cành thiên hương"
(Câu 65, 66. Vương Quan dẫn giải về Đạm Tiên)

"Phũ phàng chi bấy hoá công
Ngày xanh ṃn mỏi, MÁ HỒNG phôi pha"
(Câu 85, 86. Kiều khóc Đạm Tiên)

Rằng: HỒNG NHAN tự ngàn xưa
Cái điều BẠC MỆNH có chừa ai đâu".
(Câu 107, 108. Kiều trả lời Thuư Vân ở mộ Đạm Tiên)

"Tuồng chi là giống hôi tanh
Thân ngàn vàng để ô danh MÁ HỒNG"
(Câu 853, 854. Kiều nghĩ khi đă bị Mă Giám Sinh phá thân)

"Số c̣n nặng nợ MÁ ĐÀO
Người đà muốn quyết, trời nào đă cho"
(Câu 997, 998. Đạm Tiên nói với Kiều trong mơ)

"PHẬN sao BẠC chẳng vừa thôi
Khăng khăng buộc măi lấy người HỒNG NHAN"
(Câu 1763, 1764. Kiều than thở khi ở nhà Hoạn bà)

Rằng: "Nàng chút phận HỒNG NHAN
Gặp cơn binh cách nhiễu nàn cũng thương"
(Câu 2541, 2542. Hồ Tôn Hiến nói với Kiều)

"Bấy lâu nghe tiếng MÁ ĐÀO
Mắt xanh chẳng để ai vào phải không"
(Câu 2181, 2182. Từ Hải hỏi Kiều)

"Thúy Kiều sắc sảo khôn ngoan
Vô duyên là phận HỒNG NHAN đă đành"
(Câu 2659, 2660. Tam Hợp đạo cô nói với Giác Duyên)

"Nàng đà gieo ngọc trầm châu
Sông Tiền Đường đó ấy mồ HỒNG NHAN"
(Câu 2963, 2964. Kim và Vương được trả lời về Kiều)

"C̣n chi là cái HỒNG NHAN
Đă xong thân thế c̣n toan nỗi nào"
(Câu 3101, 3102. Kiều nói với Kim Trọng)

"Canh khuya bức gấm rũ thao
Dưới đèn tỏ rạng, MÁ ĐÀO thêm xuân"
(Câu 3141, 3142. Kim Kiều hội ngộ)

Lệ Thu
10-07-2007, 08:06 PM
"Khúc nhà tay lựa nên xoang
Một thiên BẠC MỆNH nghĩ càng năo nhân"
(Câu 33, 34. Khúc đàn của Kiều)

"Đau đớn thay phận đàn bà
Lời rằng BẠC MỆNH cũng là lời chung"
(Câu 83, 84. Kiêu tỏ lời thương xót Đạm Tiên)

"Anh hoa phát tiết ra ngoài
Ngàn năm BẠC MỆNH một đời tài hoa"
(Câu 415, 416. Kiều tâm sự với Kim Trọng)

"Dù em nên vợ nên chồng
Xót người MỆNH BẠC ắt ḷng chẳng quên"
(Câu 737, 738. Kiều cậy Thúy Vân gá nghĩa với Kim Trọng)

Sinh rằng: "Thật có như lời
HỒNG NHAN BẠC MỆNH một người nào vay"
(Câu 1095, 1096. Thúc Sinh bào chữa cho Kiều).

Tiểu thư rằng: "Ư trong tờ
Rắp đem MỆNH BẠC xin nhờ cửa Không"
(Câu 1909, 1910. Hoạn Thư nói với Thúc Sinh)

Thưa rằng: "BẠC MỆNH khúc này
Phổ vào đàn ấy những ngày c̣n thơ"
(Câu 2575, 2576. Kiều đàn dưới trướng Hồ Tôn Hiến)

"Cung cầm lựa những ngày xưa
Mà gương BẠC MỆNH bây giờ là đây"
(Câu 2577, 2588. Kiều đàn cho Hồ Tôn Hiến nghe)

HỒNG NHAN, MÁ HỒNG, MÁ ĐÀO cùng một nghĩa để chỉ người phụ nữ có nhan sắc hơn đời.

MỆNH BẠC hay BẠC MỆNH là số phận mỏng manh, không được hưởng sự suông sẻ, hạnh phúc trong đời sống; thường gặp những điều bất trắc, khổ đau tột cùng ...

Bạc mệnh thường đi chung với hồng nhan và đă trở thành một thành ngữ thông dụng. Nhà thơ Tô Đông Pha đời nhà Tống đă bảo "tự cổ hồng nhan đa bạc mệnh" (Từ xưa khách má hồng th́ phần nhiều là phận mỏng). Sách T́nh sử cũng có câu "Tạo vật đố hồng nhan"; nghĩa là tạo hoá hay ghen ghét người đàn bà đẹp.

Hồng nhan mà để trở thành mệnh bạc th́ không phải chỉ cần có sắc đẹp không thôi. Đẹp hơn người đă đành, nhưng phải là người thông minh, tài hoa, mẫn tiệp đa t́nh... Nếu đẹp mà ngu, bất tài th́ chả ai thèm nh́n đến; thế th́ làm sao mang lấy kiếp bạc mệnh được. Cái lư bạc mệnh của hồng nhan là do sự thông tuệ tài t́nh nên mới gây thành sóng gió...

Theo luật "Tài mệnh tương đố" (Tài và mệnh đố kỵ nhau, người đàn bà có được ưu điểm ở phương diện này th́ phải bị khuyết điểm ở phương diện khác (phong vu bỉ, sắc vu thử).
Trong lịch sử những người đẹp trên thế gian này xưa nay, không biết bao nhiêu người sắc nước hương trời, tài hoa tuyệt diệu phải lâm vào cảnh bạc mệnh. Vậy cuộc đời của những khách hồng nhan bạc mệnh như thế nào ? Chết non yểu. Sớm goá buạ. Làm thân nàng hầu, lẻ mọn. Liễu ngơ hoa tường, thanh lâu kỹ viện, bèo dạt hoa trôi ...

Tự sát chết th́ có hai bà Nữ Anh và Nga Hoàng, vợ vua Thuấn; nàng Lục Châu ái thiếp của đại phú thương Thạch Sùng. Uống thuốc độc chết th́ có Vương Chiêu Quân, Triệu Hợp Đức là Chiêu Nghi của Hán Thành Đế; Maryline Moonro nữ tài tử màn bạc Mỹ. Bị giết chết có Dương Quư Phi của vua Đường Huyền Tông ; Triệu Phi Yến chánh cung của Hán Thành Đế; Yên Hậu vợ Tào Phi; Marie Antoinette hoàng hậu của vua Louis 16 nước Pháp. Chết v́ sầu khổ triền miên th́ có Tề Cẩm Vân, Hồng Hồng ca nữ, Vương Ấu Ngọc kỹ nữ. Bèo dạt hoa trôi th́ có Lâm Tứ Nương, Ngư Huyền Cơ, Ngọc Đường Xuân. Làm thân t́ thiếp th́ có Điêu Thuyền đời Tam Quốc (một trong tứ đại mỹ nhân của Trung Quốc), Vương Triều Vân, Hồng Tuyến Nữ. Dâm đăng lăng loàn th́ có Tề Văn Khương, Tây Thái Hậu, Trương Lệ Hoa, Phan Kim Liên.

Các điển tích sau đây cho chúng ta thấy rơ kiếp bạc mệnh của người hồng nhan:

1. Tô Đông Pha, một danh sĩ và là một vị quan lớn của Tống triều, v́ bất đồng chính kiến với Tể Tướng Vương An Thạch nên bị biếm đi Hàng Châu.

Lúc sắp lên đường, nhà thơ được người bạn thân họ Tưởng đến tiễn biệt. Tô Đông Pha sai người thiếp yêu là Xuân Nương thiết tiệc đăi bạn. Trong lúc uống rượu, khách hỏi:
- Chẳng hay quư nhân có đi theo ngày chăng ?
Tô Đông Pha đáp:
- Đường xa xôi vạn dặm, có lẽ Xuân Nương theo không tiện. Tại hạ định cho nàng về với song đường.

Khách nghe thế, ngỏ ư đem con ngựa bạch của ḿnh đổi lấy mỹ nhân. Tô Đông Pha thuận ngay. Xuân Nương nghe thế bèn bước đến sửa áo thưa rằng:
- Thiếp trộm nghe, ngày xưa vua Tề Cảnh Công định chém người con ngựa mà Án Tử c̣n can ngăn. Đức Khổng Tử bị cháy chuồng ngựa, chỉ hỏi đến người chớ không hỏi ngựa. Các điều ấy chứng tỏ người quư hơn vật. Nay Học sĩ đem người đổi lấy ngựa vậy Học sĩ xem vật quí hơn người.

Đoạn, nàng ứng khẩu đọc một bài từ:
"Làm người th́ chớ làm đàn bà
Mọi điều sướng khổ, quyền người ta
Nay mới biết người c̣n kém vật
Oán ai, thôi sống cũng bằng thừa"

Rồi Xuân Nương bước xuống thềm và đập đầu vào thân cây hoè tự tận. Tô Đông Pha hối hận, thương tiếc vô cùng. Nhưng than ôi, Xuân Nương nhan sắc và tài hoa đâu c̣n nữa...

============

2. Ngày xưa đă có nhiều khách má hồng phận bạc như thế. C̣n ngày nay th́ sao ? Thời nào và ở đâu, cái kiếp mệnh bạc vẫn luôn đeo đẳng lấy người hồng nhan.

Trong thập niên 1930 ở tỉnh Quảng Đông Trung Quốc có nàng kỹ nữ Kim Kiều nổi danh tài sắc. Tiếng tăm của Kim Kiều vang dội khắp nơi. Người ta chỉ cần nhớ đến hai tiếng Kim Kiều chớ không cần biết tên họ thật của nàng là ǵ. Vừa có nhan sắc nhạn sa cá lặn mà lại vừa đa t́nh nên ai trông thấy nàng cũng đâm ra mê mẩn ngay. Không biết bao nhiêu trang phong lưu công tử, bao nhiêu đạt quan quư nhân thời bấy giờ điên đảo v́ nàng. Họ sẵn sàng ném tiền qua cửa sổ để mua lấy những "cuộc vui suốt sáng, trận cười thâu đêm" với nàng kỹ nữ tài hoa ấy.

Cuộc đời của nàng Kim Kiều tưởng như luôn luôn được chiều chuộng, thoả măn trong cảnh vàng son. Nào ngờ đâu một đêm kia, hoả hoạn xảy ra thiêu rụi cả xóm yên hoa và Kim Kiều bị chết cháy trong ngọn lửa vô t́nh, với tất cả tài sản của nàng.

Tin Kim Kiều chết được loan truyền đi khắp Trung Hoa. Thật đúng là cái cảnh "nửa chừng xuân thoắt găy cành thiên hương". Không biết bao nhiêu khách tài hoa phong lưu ở khắp nơi đổ xô về Quảng Châu để thương hương tiếc ngọc. Người ta bới trong đóng tro tàn t́m thấy nắm xương của Kim Kiều đem chôn cất và xây cho nàng một ngôi một thật khang trang.


Sau đó, các giới văn nghệ sĩ c̣n sáng tác kịch, bài ca nói về cuộc đời nàng để phổ biến trong dân chúng.

Lệ Thu
10-07-2007, 08:13 PM
TỐ NGA

Đầu ḷng hai ả TỐ NGA
Thúy Kiều là chị em là Thúy Vân
(Câu 15,16. Giới thiệu chị em Kiều)

Tố NGA:Tố là trắng. Nga là đẹp. Bài Nguyệt phú của Tạ Trang có lời chú: "Thường Nga thiết dược bôn nguyệt; nguyệt sắc bạch, cố vân Tố Nga" (Thường Nga lây trộm thuốc tiên, thoát lên cung trăng; mặt trăng sắc trắng cho nên nói là Tố Nga). "Thần Tiên truyện" chép rằng: Thường Nga là vợ Hậu Nghệ. Hậu Nghệ xin thuốc trường sanh của bà Tây Vương Mẫu. Hậu Nghệ là người tính t́nh không tốt, hay làm việc phản bạn, Thường Nga khuyên chồng măi mà không được. Nàng giận thừa cơ uống trộm thuốc tiên và bay lên cung trăng.

Lại có truyền thuyết nói rằng vua Đường Minh Hoàng (tức Đường Huyền Tông) lên chơi nguyệt điện thấy có mười người con gái mặc toàn trắng và cỡi hạc trắng múa hát; cho nên nhà vua dùng chữ Tố Nga để chỉ mặt trăng và cũng để chỉ người con gái đẹp.

Lệ Thu
10-07-2007, 08:19 PM
MAI CỐT CÁCH

MAI CỐT CÁCH tuyết tinh thần
Mỗi người một vẻ mười phân vẹn mười
(Câu 17 và 18. Phẩm chất chị em Kiều)

MAI CỐT CÁCH là thân h́nh mảnh mai, yếu đuối như cây mai. Đây là quan niệm của người xưa, người con gái được coi là đẹp phải có thân ḿnh ẻo lả mảnh mai như thế.

Điển h́nh cho người đẹp "mai cốt cách" là nàng Mai Phi, một người phi sủng ái của vua Đường Huyền Tông khi ông chưa có nàng Dương Quư Phi.

Mai Phi tên thận là Giang Thái Tần, chào đời và lớn lên ở Mai Hoa thôn. Nàng được Thái giám Cao Lực Sĩ tuyển chọn vào cung dâng cho vua Đường Huyền Tông. Nàng có nhan sắc diễm lệ và thân h́nh mảnh dẻ gió thổi cũng bay. Hơn nữa, nàng rất yêu thích hoa mai nên được nhà vua đặt là Mai Phi.

Vào cung, Mai Phi đă được vua Đường Huyền Tông sủng ái rất mực một thời. Đến khi nhà vua có được Dương Quư Phi th́ Mai Phi bị thất sủng. Nàng sầu khổ lâm bệnh và cuối cùng chết đi như một cành hoa mai héo hắt.

Cùng mẫu người "mai cốt cách" như Mai Phi c̣n có Đào Hoa Nữ trong bài thơ của Thôi Hộ, nàng Thôi Oanh Oanh trong Tây Sương Kư và nàng Lâm Đại Ngọc trong Hồng Lâu Mộng.

Loại phụ nữ như thế chỉ là một loại hoa quư để cấm trong b́nh cho người khác thưởng thức chứ không thể là mẫu người làm vợ lư tưởng được. Tại sao ? V́ thân thể họ nhuyễn nhược, mềm yếu quá có làm nên chuyện ǵ đâu. Nhất nhất chuyện ǵ họ cũng đều trông cậy vào người khác mà thôi. Và mẫu người như thế thường là "hồng nhan bạc phận", sớm bị yểu vong chứ không thể trường thọ được.

======
Nhân vật chính trong truyện Hồng Lâu Mộng của Tào Tuyết Cần là Lâm Đại Ngọc, cũng là một mẫu người "mai cốt cách". Lâm Đại Ngọc tự là Tần Khanh, biệt hiệu là Tiêu Sương Phi Tử quê quán ở Tô Châu; xuất thân trong một gia đ́nh quan chức suốt bốn đời.

Ngoài thân h́nh yếu đuối "mai cốt cách", Lâm Đại Ngọc c̣n là một người mang nét "mă diện sầu dung" luôn luôn. Trông phong thái nàng thật là u nhàn, thanh tĩnh như một cành hoa soi bóng nước; lại thêm tính t́nh cũng rất thanh cao trang nhă.

Mồ côi mẹ năm mười tuổi, Lâm Đại Ngọc ở với bà ngoại và rất được bà cưng chiều. Sống chung và chơi đùa chung với nhau bao nhiêu năm trời là Giả Bảo Ngọc, người anh họ của nàng. Do đó, t́nh cảm yêu thương ngày càng nẩy nở giữa Lâm Đại Ngọc và Giả Bảo Ngọc nhưng cả hai chẳng dám thố lộ cho nhau, chỉ nghe ngóng động tĩnh của nhau để vui buồn với nhau mà thôi.

Sau một thời gian chung sống ở vườn Đại quan, Giả Bảo Ngọc dọn về Di Hồng, c̣n Lâm Đại Ngọc th́ đến Tiêu Sương quán. Sự xa cách này khiến hai người thương nhớ nhau và t́m cách trao t́nh cho nhau nên mối t́nh thầm kín của họ bị lộ. Lâm Đại Ngọc ngày càng thêm u sầu, ai oán. Cứ chiều là nàng ra vườn gom những cánh hoa rụng và đem chôn; lại làm hai câu thơ táng hoa rằng:

"Ngă kim táng hoa nhân tiếu si
Tha niên táng ngă tri thị thuỳ"?
(Nay ta chôn hoa, người cười ta dại
Sang năm ta chết, ai người chôn ta)

Sau đó, mẹ Giả Bảo Ngọc cưới Tiết Bảo Thoa cho chàng. Lâm Đại Ngọc thổ huyết chết ngay trong đêm động pḥng hoa chúc của người yêu ...

chieunhatnang
10-07-2007, 09:35 PM
:wow: :applause: Hoan hô Lệ Thu ! Cám ơn Lệ Thu rất nhiều.
Đúng là một sưu tập và truyền bá giá trị :waytogo:

Lệ Thu
10-08-2007, 06:03 PM
:wow: :applause: Hoan hô Lệ Thu ! Cám ơn Lệ Thu rất nhiều.
Đúng là một sưu tập và truyền bá giá trị :waytogo:



Dạ em cám ơn chị Nắng đă ghé qua và đọc những mẫu tạp ghi này.

Lệ Thu
10-08-2007, 06:10 PM
KHUÔN TRANG ĐẦY ĐẶN

Vân xem trang trọng khác vời
KHUÔN TRANG ĐẦY ĐẶN NÉT NGÀI NỞ NANG
(Câu 19 và 20. Nhan sắc Thúy Vân)

Cổ tướng thư nói: "Diện như măn nguyệt, mi nhược ngoạ tàm"; nghĩa là mặt như trăng tṛn, lông mày như con tằm nằm ngang. Đây là một cách tả ước lệ của người xưa về đoan trang của người phụ nữ.

Cũng sách Cổ tướng thư c̣n ghi: "Diện như măn nguyệt, thanh tú nhi thần thái xạ nhân gia vi chi chiêu hà chí diện, nam chủ công hầu tướng, nữ chủ hậu phi phu nhân". (Mặt như trăng rằm thanh tú, tinh thần rực rỡ sáng sủa gọi là cái mặt của ráng trời buổi sớm, con trai công hầu, con gái hậu phi, phu nhân).

Người phụ nữ được cái tướng như thế là tốt, đoan trang hiền thục mà lại phúc hậu; có thể yên tâm là có một cuộc đời an nhàn. Vạn nhất, nếu sống trong một xă hội tao loạn, có v́ gia biến hay một hoàn cảnh đặc biệt nào đó mà phải lưu lạc bèo dạt hoa trôi th́ cũng chỉ là nhất thời mà thôi. Và cuộc sống cũng không quá lao đao lận đận như phần đông ca nhi, kỹ nữ khác.

Câu chuyện sau đây có thể chứng minh được cho điều đó:

Lư Sư Sư là một kỹ nữ danh tiếng ở kinh đô Khai Phong đời vua Tống Huy Tông. Mặt mày đầy đặn phương phi, tánh t́nh ôn nhu hoài thuận. Tuy là kỹ nữ nhưng rất chững chạc đoan trang.

Khách hàng chơi văn mặc thảy đều tỏ ư tiếc cho nàng. Ai ai cũng nghĩ có lẽ nàng xuất thân con nhà đường hoàng nhưng v́ một hoàn cảnh ǵ đó mà phải đem thân vào chốn kỹ viện. Do đó, tuy là kỹ nữ nhưng Lư Sư Sư rất được khách hào hoa tôn trọng.

Tiếng tăm nàng đến tai Huy Tông hoàng đế khiến nhà vua trẻ tuổi, đa t́nh này cũng háo hức muốn gặp nàng. Một hôm Huy Tông Hoàng đế cải dạng thường dân đến kỹ viện t́m nàng.

Lần đầu tiên gặp gỡ, Huy Tông cứ nghĩ rằng Lư Sư Sư cũng chỉ là một kỹ nữ như bao nhiêu kỹ nữ khác nên Hoàng Đế tỏ ra suồng să với nàng. Lư Sư Sư liền bỏ đi, không tiếp. Nhà vua cho thị vệ chạy theo rỉ tai nàng, bảo cho nàng biết ông chính là đương kim Hoàng Đế. Dù biết là Hoàng Đế nhưng Lư Sư Sư cũng mặc, nhất định không thèm tiếp một người thô tục, có cữ chỉ khiếm nhă. Tống Huy Hoàng đế đành phải chiu thua kỹ nữ Lư Sư Sư và ra về.

Về sau nhà vua phải mất một thời gian khá lâu dài mới chinh phục lại được cảm t́nh của nàng kỹ nữ họ Lư ấy. Rồi nhà vua cho triệu nàng vào cung.

Khi nhà Tống bị Mông Cổ xâm lăng, tướng Mông Cổ cho đ̣i Lư Sư Sư đến hầu rượu, nàng cũng nhất định không nghe. Để tránh bị ô nhục, Lư Sư Sư bẻ cây trâm cài đầu nuốt vào cổ để tự tận...

Lệ Thu
10-08-2007, 06:20 PM
NGHIÊNG NƯỚC, NGHIÊNG THÀNH

Một hai NGHIÊNG NƯỚC, NGHIÊNG THÀNH
Sắc đành đ̣i một, tài đành hoạ hai
(Câu 27, 28. Tài sắc Thúy Kiều)

"Ví chăng duyên nợ ba sinh
Làm chi những thói KHUYNH THÀNH trêu ngươi!".
(Câu 257, 258. Kim Trọng than thở)

"Lạ cho cái sóng KHUYNH THÀNH
Làm cho đổ quán, xiêu đ́nh như chơi"
(Câu 1301, 1302. Thúc Sinh đam mê Kiều)

Nh́n một cái xiêu thành người, nh́n một cái đổ nước người. Ư là muốn nói đến cái nhan sắc cực kỳ đẹp khiến người ta say mê đến mất thành mất nước mà cũng không hay.

Câu này Nguyễn Du dịch lời ca của Lư Diên Niên trong tích Hán Vũ Đế tuyển người đẹp.

Năm Nguyên Sóc, Hán Vũ Đế cho xây dựng đền Minh Quang và kén chọn hai ngàn gái đẹp ở vùng Yên, Triệu đưa vào ở trong đó. Những người đẹp được tuyển chọn này chỉ tuổi từ mười lăm trở lên, nhưng quá ba mươi th́ bị thải hồi.

Ngoài Đền Minh Quang, Hán Vũ Đế c̣n nhiều nơi khác để chứa gái đẹp. Tổng cộng số gái đẹp của nhà vua này lên đến một vạn tám ngàn. Ấy mà Hán Vũ Đế vẫn c̣n cho là thiếu.

Một hôm ca nhân Lư Diên Niên hát cho Hán Vũ Đế nghe rằng:

"Bắc phương hữu giai nhân
Tuyệt thế nhi độc lập
Nhất cố khuynh nhân thành
Tái cố khuynh nhân quốc
Ninh bất tri khuynh thành dữ khuynh quốc
Giai nhân nan tái đắc"

(Phương Bắc có người đẹp
Tuyệt vời đứng riêng bậc
Một nh́n, người nghiêng thành
Hai nh́n, người nghiêng nước
Há rằng chẳng biết nước thành nghiêng
Chỉ v́ người đẹp khó t́m được)

Hán Vũ Đế bèn hỏi:
- Thế gian có người đẹp đến thế sao ?

Tả hữu thưa:
- Tâu bệ hạ, người đẹp trong bài ca ấy chính là cô em gái của Lư Diên Niên vậy.

Hán Vũ Đế bèn ra lệnh cho Lư Diên Niên đưa em gái vào cung. Nhà vua rất sủng ái nàng và bắt cả triều thần phải gọi nàng là Lư phu nhân. Vua lại phong cho Lư Diên Niên từ chức Cẩn Giám lên chức Hiệp Đô Uư.

Lư phu nhân ở với Hán Vũ Đế hơn một năm th́ sinh được một con trai, tức là Sương Ấp Vương sau này.

Một thời gian sau Lư phu nhân bị bệnh nặng. Hán Vũ Đế tự đến thăm hỏi nhưng không được nàng tiếp. Nàng trùm chăn kín mít và nói với nhà vua:

- Thiếp bị đau nặng đă lâu, h́nh dung tiều tuỵ lắm, không dám đem cái nhan sắc héo úa ra mắt bệ hạ. Chỉ xin gởi lại bệ hạ một người con trai và mấy người anh em.

Hán Vũ Đế nói:
- Phu nhân bệnh nặng e khó qua, hăy mở chăn nh́n ta mà kư thác con và anh em có phải hơn không?

Lư phu nhân vẫn trùm khăn kín mà nói:
- Theo lễ, đàn bà mặt mũi không sạch, không nên được trông thấy đấng quân phụ.

Nhà vua cố nài nỉ:
- Phu nhân hăy ra mắt trẫm một lần này thôi, trẫm sẽ ban cho phu nhân ngh́n vàng, cho con và anh em của phu nhân làm quan to.

Lư phu nhân vẫn một mực khước từ:
- Cho làm quan là quyền ở nhà vua, không do sự ra mắt của thần thiếp.

Nói đoạn, Lư phu nhân quay vào vách, thở dài rồi nín lặng. Hán Vũ Đế cả giận, đứng phắt dậy bước ra ngay, không nói thêm tiếng nào.

Các người thân thích biết chuyện, đến trách Lư phu nhân rằng:
- Sao quư nhân không mở mặt ra cho đấng quân vương trông thấy, rồi đem con và anh em kư thác có phải hơn không ? Sao làm cho nhà vua tức giận đến thế ?

Lư phu nhân đáp:
- Đàn bà là kẻ lấy nhan sắc thờ người. Nay nhan sắc đă kém tất nhiên t́nh yêu phải phai nhạt. T́nh yêu đă phai nhạt th́ sẽ không c̣n ân huệ ǵ nữa. Bấy lâu nhà vua sủng ái ta là chỉ v́ ta c̣n nhan sắc. Nay ta đă bịnh nặng, nhan sắc tiều tuỵ, nếu để nhà vua trong thấy th́ thử hỏi ngài c̣n yêu ta như trước nữa không. Dĩ nhiên khi t́nh yêu không c̣n th́ làm sao ngài c̣n thương đến anh em ta nữa. Nay ta không ra mắt nhà vua là muốn gởi gấm anh em một cách thiết tha vậy.

Ít hôm sau Lư phu nhân từ trần. Hán Vũ Đế cho chôn cất nàng rất hậu. Nhà vua lại sai hoạ nhân vẽ ảnh nàng treo trong cung Cam Tuyền để ngày ngày nh́n ngắm. Nhà vua cũng phong cho các anh em của Lư phu nhân làm quan cao.

Hán Vũ Đế ngày đêm thương nhớ Lư phu nhân khôn nguôi. Nhà vua sai người đào ao Côn Linh, đóng thuyền h́nh chim phượng để ở ao ấy. Ngài tự chế bài hát, lên thuyền đi chơi bắt các cung nhân hát để giải buồn.

Một hôm, ca nhi hát bài "Lá rụng ve kêu" như sau:
"Xuyên ṿng im bặt tiếng kêu
Thềm son mấy đợt bụi rêu lờ mờ
Pḥng không lạnh ngắt như tờ
Gió đưa lá rụng phất phơ cửa ngoài
Bấy lâu tướng háo mong hoài
Trông ai chẳng thấy bùi ngùi ḷng ta..."

Vũ Đế nghe bài hát càng buồn rầu thêm, sai lấy nến mỡ rồng soi trong khoang thuyền để t́m h́nh ảnh Lư phu nhân. Rồi ngài ôm mặt khóc nức nở như một đứa trẻ con ...

Lệ Thu
10-08-2007, 06:41 PM
TƯỜNG ĐÔNG

Êm đềm trướng rũ màn che
TƯỜNG ĐÔNG ong bướm đi về mặc ai
(Câu 37, 38. Nề nếp của Thúy Kiều và Thúy Vân)

"Sông hồ cửa khép cánh mây
TƯỜNG ĐÔNG hé mắt ngày ngày hằng trông"
(Câu 283, 284. Kim Trọng đi t́m Thúy Kiều)

TƯỜNG ĐÔNG nghĩa đen là bức tường ở phía Đông, nghĩa bóng là nơi có giai nhân cư ngụ.

Sách Mạnh tử có câu: "Du đông lân nhi lâu kỳ xử tử" (Trèo sang nhà láng giềng ở phía Đông để dụ dỗ con gái nhà người ta). Đường thi cũng có câu: "Đông lân Tống Ngọc tường" là để ám chỉ nơi trai gái giao t́nh với nhau v́ chàng Tống Ngọc (1) người nước Sở thời Chiến quốc là một thanh niên đẹp trai, thơ hay phú giỏi và tánh t́nh trăng hoa, ong bướm, đă làm cho bao nhiêu người đẹp phải ôm mối hận t́nh với chàng ta.

Trong một bài phú tự t́nh gởi lên vua nước Sở, Tống Ngọc có viết:

"Thiên hạ chi giai nhân, mạc nhược Sở quốc
Sở quốc chi lệ giá, mạc nhược thần lư
Thần lư chi mỹ giá, mạc nhược thần đông gia chi tứ"

(Người đẹp trong thiên hạ không đâu bằng nước Sở.
Người đẹp trong nước Sở không đâu bằng ở xóm hạ thần.
Người đẹp trong xóm hạ thần không ai bằng nàng con gái láng giềng ở phía tường đông nhà hạ thần).

Nhà thơ Lư Bạch thời Đường cũng có câu:
"Tự cố hữu tự sắc
Tây Thi do đông lân"
(Từ xưa có nhan sắc
Tây Thi ở xóm đông)

Hai chữ Tường Đông đă có một trang t́nh sử lâm ly như sau:

Nước Sở có loạn, nhà vua sai đại thần Vương Trung đem binh dẹp loạn. V́ chậm trễ việc quân, Vương Trung không cứu văn được t́nh thế nên bị vua giáng chức, làm Thiên hộ vệ quân tại Nam Dương. Vương Trung đem cả gia quyến theo ḿnh đến nhiệm sở mới.

Bấy giờ Vương Trung có người con gái rất đẹp, tên Vương Kiều Loan, chẳng những đẹp mà c̣n thông ḿnh và rất giỏi văn mặc, cho nên đă tới tuổi cặp kê mà mắt xanh vẫn chưa để ai vào. Vương Trung có người em gái tên Tào Di sớm bị goá bụa, nên đem về ở chung trong gia đ́nh để sớm hôm bầu bạn với Kiều Loan.

Năm nọ vào tiết Thanh Minh, Kiều Loan cùng Tào Di và thị nữ đi ngoạn cảnh bên ngoài. Khi ra khỏi nhà th́ Kiều Loan phát hiện ở phía tường đông có một chàng trai đang nh́n ḿnh đăm đăm không chớp mắt. Đôi mắt của ai kia sao đầy vẻ t́nh tứ khiến tiểu thư họ Vương không khỏi bối rối trong ḷng, đôi má ửng hồng e thẹn. Kiều Loan vội núp sau lưng người cô và giục Tào Di trở vào, không muốn đi chơi nữa.

Khi Vương Kiều Loan đă trở về nhà, chàng trai kia thở dài ngẩn ngơ tiếc rẻ. Chợt chàng trông thấy dưới một gốc hoa kia có chiếc khăn the của người đẹp đánh rơi lại. Chàng vội bước đến nhặt chiếc khăn lên, mùi hương c̣n thoang thoảng. Bỗng chàng nghe bên trong tường vào Vương phủ có tiếng động, rồi có bóng một thiếu nữ hiện ra. Chàng trai vội vàng núp vào một khóm hoa theo dơi bóng người con gái. Th́ ra cô gái ấy là một cô hầu của tiểu thư Vương Kiều Loan, đi ra ngoài t́m chiếc khăn của tiểu chủ đánh rơi lúc năy. Chàng trai đứng lên và mạnh dạn đánh tiếng:

- Cô nương ơi, đừng t́m kiếm cho mất công. Chiếc khăn của tiểu thư đă vào tay kẻ khác rồi.

Cô gái nh́n chàng trai lạ từ đầu đến chân và nhận thấy chàng có vẻ phong lưu tuấn tú, bèn đến gần kính cẩn hỏi:

- Thưa công tử, nếu quả thật công tử đă nhặt được chiếc khăn của tiểu thư tôi, th́ dám xin công tử vui ḷng cho xin lại. Ơn ấy tiểu thư tôi chắc không quên.

Chàng trai không đáp. Cô gái nói tiếp:
- Xin ân nhân cho biết tôn danh để tiểu thư tôi c̣n tạ ơn.

Chàng trai đáp:
- Tôi họ Tống tên Ngọc, người quận Ngô Châu, hiện cư ngụ ngay phía sau tôn phủ. C̣n tiểu thư của nàng là ai vậy ?

- Dạ tiểu thư tôi tên Vương Kiều Loan, con gái của quan Thiên Hộ

Tống Ngọc cười:
- Tên của tiểu thư nàng thật đẹp, thế c̣n nàng tên ǵ ?

Cô gái e thẹn đáp:
- Dạ, tiện nữ tên gọi Minh Hà.

Tống Ngọc cười, trêu chọc:
- Cả thầy lẫn tṛ đều đẹp cả. Vậy bây giờ tôi nhờ nàng trao cho tiểu thư Kiều Loan một bức thư có được không ?

Minh Hà ư không muốn nhận, nhưng sợ làm phât ḷng Tống Ngọc th́ chàng ta không trả lại chiếc khăn cho chủ ḿnh, nên nói:
- Xin vâng, công tử cứ trao thư cho tôi.

- Vậy nàng ở đây chờ tôi một chút, tôi sẽ quay trở lại ngay.

Tống Ngọc nói xong, quay gót đi liền. Một lúc sau chàng trở lại trao cho Minh Hà một tờ hoa tiên. Minh Hà thấy Tống Ngọc trao thư mà không trả khăn, trong ḷng không vui nên nói:

- Công tử không trả khăn mà chỉ gởi thư, tôi không dám nhận đâu.

Tống Ngọc cười nói:
- Nàng đừng lo. Nếu tiểu thư chịu phúc đáp th́ tức khắc vật sẽ hoàn cố chủ.

Bất đắc dĩ Minh Hà phải nhận tờ hoa tiên của Tống Ngọc và quay vào phủ.

Vương Kiều Loan đang ngồi đợi Minh Hà trong pḥng, cảm thấy ḷng bồn chồn không yên.

Minh Hà vừa vào tới, Kiều Loan vội hỏi ngay:

- Thế nào, có t́m ra chiếc khăn của ta không ?

Minh Hà ấp úng:
- Thưa tiểu thư, chiếc khăn đà lọt vào tay ... chàng công tử nh́n trộm tiểu thư lúc ban chiều rồi.

Kiều Loan nghiêm mặt hỏi:
- Tai sao em không đ̣i lại cho ta ?
- Em có đ̣i nhưng chàng trai lần khân không chịu trả, lại c̣n gởi cho tiểu thư tờ hoa tiên này nữa.

Minh Hà vừa nói vừa lấy tờ hoa tiên trao cho Kiều Loan. Vương tiểu thư vừa nhận tờ hoa tiên vừa nói:
- Chàng trai ấy có xưng tên học và nói quê quán ở đâu không ?

Minh Hà đáp:
- Chàng ta họ Tống, tên Ngọc, người Ngô quận. Hiện chàng ta cư ngụ sát vách sau phủ đường ta.

Kiều Loan có vẻ xúc động, mở tờ giấy ra xem. Trong tờ hoa tiên có bài thơ sau:
"Phạ xuất qui nhân phận ngoại hương
Thiên công giao phó hữu t́nh lang
Ân cần kỳ thú tương tư cú
Nghi xuất hồng ty xuất động pḥng"
(Khăn rơi mỹ nữ đượm mùi hương
Tạo hoá xui chi kẻ vấn vương
Gởi khúc tương tư t́nh tha thiết
Chỉ hồng buộc chặt mối lương duyên)

Kiều Loan xem xong bài thơ tứ tuyệt rồi nói:
- Từ nay em đừng đ̣i chiếc khăn ấy nữa mà sinh lôi thôi. Nếu chàng có nhờ đưa thư nữa th́ em cũng đừng nhận, coi như không có việc ǵ.

Tuy làm ra vẻ b́nh thản như thế nhưng thật ra ḷng Vương Kiều Loan vô cùng xúc động.

Nàng đi nằm để trấn tĩnh ḷng, nhưng chỉ một lúc sau ngồi lên đi quanh quẩn trong pḥng. Rồi cuối cùng nàng lấy tờ hoa tiên ra đề thơ phúc đáp:
"Thiếp thân nhất điểm ngọc vô hà
Linh thị hầu môn tướng tướng gia
T́nh ly hữu thân đồng đối nguyệt
Nhàn trung vô sự độc khán hoa
Biệt ngô chi hứa lai kỳ phượng
Thúy trúc nan dung nhập lăi hoa
Kỳ dữ dị hương cô lănh khách
Mặc tương tâm sự loạn như ma"
(Thân em như khối ngọc trong lành
Khuê các sớm chiều với tuổi xanh
Ngày vắng dạo xem hoa dưới mát
Đem thanh thưởng thức nguyệt bên mành
Cành ngô phượng vĩ chen màu biếc
Khóm trúc ô môn đượm mảnh t́nh
Nhắn nhủ phượng xe người lữ khách
Đừng trao tâm sự rối ren ḷng)

Vương Kiều Loan trao thơ cho Minh Hà, dặn đi ngơ sau trao cho Tống Ngọc và đừng để ai trong thấy. Minh Hà theo lời dặn của chủ, ra ngơ sau và gặp Tống Ngọc. Chàng Tống hỏi:

- Vương tiểu thư có phúc đáp thư tôi chứ ?
Minh Hà gật đầu đáp:
- Có, nhưng công tử phải trả lại chiếc khăn trước đă.

Tống Ngọc cười nói:
- Tiểu thư cô đă phúc đáp thư; th́ thiết tưởng chiếc khăn kia không c̣n cần thiết nữa. Cô hăy đưa thư cho tôi rồi sẽ hay.

Minh Hà đành trao thư cho Tống Ngọc. Chàng Tống xem bài thơ của Vương Kiều Loan, rất khâm phục tài văn chương của nàng. Chàng ta nói:
- Cô hăy đợi tôi ở đây một chúc để tôi viết thư phúc đáp cho tiểu thư.

Rồi chàng ta vào pḥng viết một bài thơ tứ tuyệt đem ra đưa cho Minh Hà nhờ trao lại cho Vương Kiều Loan.

Từ đó, qua sự trung gian của Minh Hà, Vương Kiều Loan và Tống Ngọc thơ qua thơ lại luôn luôn. Và mối t́nh của hai người ngày càng thêm khắng khít.

Một thời gian sau, Kiều Loan gợi ư Tống Ngọc nên tính chuyện mai mối hỏi cưới nàng, nhưng Tống Ngọc cứ lần khân măi, viện cớ song đường bận làm việc không rảnh rang.

Mặt khác, chàng ta lại tỏ ư muốn gần gũi Kiều Loan về thể xác.

Một hôm Tống Ngọc trèo tường vào vườn hoa trong phủ của Kiều Loan gặp nàng và tỏ ư muốn vào pḥng nàng. Kiều Loan từ chối, Tống Ngọc đành ra về. Nhưng sau đó Kiều Loan lại sai Minh Hà đem cho Tống Ngọc một tờ hoa tiên. Chàng mở ra xem:
"Ám tương tế ngữ kư anh tài
Tháng hướng nhân tiên mạc loạn khai
Kim dạ hương khuê xuân bất toá
Nguyệt di hoạ ánh ngọc nhân lai"
(Đôi lời xin ngơ cùng ai
Nỗi riêng chớ để người ngoài thị phi
Pḥng xuân mở rộng đêm nay
Bông hoa rung động gót hài rẽ sang)

Tống Ngọc xem xong ḷng mừng vui như mở cờ. Đêm hôm ấy trời vừa sụp tối Tống Ngọc đă trèo qua tường đông để đến với Kiều Loan. Lúc ấy Vương Kiều Loan đang đi đi lại lại trong pḥng. Khi Minh Hà dẫn Tống Ngọc vào th́ Kiều Loan nghiêm nét mặt sai Minh Hà đi mời cô Tào Di đến để hội kiến. Tống Ngọc ḷng đang rạo rực tưởng nghĩ đến chuyện vu sơn cùng người ngọc, bỗng thấy thái độ Kiều Loan nên đâm ra lo lắng, mặt mày xám ngắt.

Kiều Loan tỏ ư thương hại, mỉm cười nói:
- Thiếp vốn là người đoan chính, mong chàng cũng không phải là kẻ phàm phu. Sở dĩ ngày nay chúng ta yêu nhau là do sắc tài gắn bó. Đă yêu chàng th́ thiếp c̣n tiếc chi nữa, song vườn xuân cánh bướm, biết ḷng kia có giữ được lời nguyện ước cho chăng ?

Vậy chúng ta hăy cùng thề chung thủy với nhau đến đầu bạc răng long. Nếu không thề th́ chàng chỉ là kẻ muốn ân ái mà không nghĩ đến nghĩa đá vàng.

Tào Di vào pḥng, chứng kiến lời thề nguyện của Tống Ngọc và Kiều Loan. Sau đó, rượu và quả được dọn ra, Tào Di, Kiều Loan và Tống Ngọc ăn uống vui vầy say sưa đến khuya. Tào Di cáo biệt. Kiều Loan và Tống Ngọc đưa nhau vào pḥng bày cuộc ái ân.

Trời vừa tảng sáng, Kiều Loan thẹn thùng với t́nh lang.
- Cuộc đời và tấm thân thiếp đă trao cho chàng rồi, chỉ mong chàng giữ lấy lời thề để cành hoa không v́ gió đông mà phai sắc nhạt hương. Từ nay về sau nếu có dịp thiếp sẽ sai Minh Hà đến đón chàng, chúng ta chớ nên phóng túng quá mà sinh ra điều dị nghị.

Rồi Kiều Loan sai Minh Hà đưa Tống Ngọc ra về. Đôi mắt của người tỳ nữ đượm vẻ buồn u ẩn nào ai hiểu được nguyên do.

Từ đó, đôi trai tài gái sắc không c̣n xướng hoạ thi thơ với nhau nữa; mà chỉ trao nhau t́nh yêu xác thịt. Cứ vài hôm Kiều Loan lại sai Minh Hà đi đón Tống Ngọc đến để ái ân.

Khổ thay, Minh Hà là một cô gái cũng đang độ phơi phới xuân t́nh, làm sao chịu đựng nổi cảnh yêu đương, ân ái của cô chủ ḿnh và chàng trai hào hoa phong nhă kia mà Minh Hà đă lén nh́n cảnh hai người đang ân ái mặn nồng. Một ngày kia không cầm ḷng được, Minh Hà đă thố lộ ḷng ḿnh với Tống Ngọc. Thế là chàng trai phóng đăng ấy "cuỗm" luôn cô tớ gái của người t́nh. Cuộc t́nh tay ba vẫn âm thầm diễn ra theo thời gian, không ai hay biết trừ Tao Di.

Rồi một ngày kia, Tống Ngọc ngỏ ư cầu hôn Kiều Loan. Vương Thiên Hộ lâu nay đă từng nghe tiếng Tống Ngọc là một tay trăng hoa ong bướm, một tay đă bẻ biết bao cành thiên hương, nên nhất định không chịu gả Kiều Loan cho chàng. Nhưng Vương Trung có biết đâu rằng trong ba năm qua, tường đông nhà ông đă bị ong bướm quậy tưng bừng. Và chính con gái của ông là Kiều Loan cũng đă góp phần mua vui cho chàng trai đàng điếm Tống Ngọc.

Bị Vương Trung từ hôn, Tống Ngọc cũng buồn nên chàng cất bước giang hồ từ đó, mặc cho Vương Kiều Loan ôm mối tương tư. Rồi Vương Kiều Loan ngă bệnh, ngày càng nặng thêm. H́nh dáng gầy g̣ và sức lực ngày một kiệt dần đến mỗi người con gái đáng thương ấy phải ĺa bỏ cơi đời ...

======================
(1) Tống Ngọc, người nước Sở thời Xuân Thu Chiến Quốc, học tṛ của Khuất Nguyên; lại là học tṛ giỏi nhất.

Tiểu sử của Tống Ngọc rất mơ hồ. Người ta chỉ biết rằng từ khi Khuất Nguyên chết, nước Sở c̣n lại có ba người rất giỏi về Sở từ, đó là Tống Ngọc, Cảnh Sai và Đường Lặc.

Tác phẩm của Tống Ngọc để lại gồm có các thiên Chiêu hồn, Đại Chiêu và Cửu biện cùng nhiều bài phú. Tống Ngọc có tài miêu tả, văn điêu luyện; mở đầu cho thế phú đời Hán về sau.

Lệ Thu
10-08-2007, 06:47 PM
THUYỀN T̀NH

THUYỀN T̀NH vừa ghé đến nơi
Th́ đà trâm găy b́nh rơi bao giờ
(Câu 69, 70. Vương quan nói về Đạm Tiên)

Hai câu này lấy ư từ hai câu thơ cổ:
"Nhất phiến t́nh chu dĩ đáo ngạn
B́nh trâm hoa chiết dĩ đa thời"
(Một chiếc thuyền t́nh vừa mới tới bến
Cái b́nh đă ch́m cành hoa đă găy tự bao giờ)

Hai câu thơ ấy diễn tả t́nh yêu của đôi trai gái không được thoả măn theo ước mong.

THUYỀN T̀NH là chiếc thuyền chở t́nh yêu, có một câu chuyện thương tâm sau đây:

Đào Sư Nhi là một kỹ nữ nổi tiếng đời Đường được chàng lăng tử Vương Sinh yêu thương rất mực. Mẹ Vương Sinh biết con trai ḿnh yêu kỹ nữ không bằng ḷng nên ngăn cấm hai người không được gặp nhau. V́ thế mối t́nh của Vương Sinh và Đào Sư Nhi không được thoả măn.

Ngày kia, Vương Sinh đưa người yêu đi chơi Tây Hồ, chỉ có một tớ trai và một hầu theo cùng. Thông thường mọi người đi chơi thuyền trên Tây Hồ th́ sáng đi chiều về. Nhưng Vương Sinh và Đào Sư Nhi đă có hẹn ước trước nên cứ cho thuyền đi măi đến khi trời tối mịt nới chịu cặp vào bờ. Lúc bấy giờ cổng thành đă đóng nên không thể trở về nhà được. Vương Sinh nói với đứa tớ rằng:
- Đêm nay trăng sáng rất đẹp, ta đi chơi suông thế này th́ thú vị ǵ. Mày đi mua rượu và thức nhắm ngon về đây, chúng ta thả thuyền ra giữa hồ thưởng thức trăng trong.

Tên đày tớ vâng lệnh đi mua rượu thịt về. Vương Sinh cho thuyền đi ngang dọc ra tận giữa hồ, cùng Sư Nhi, đứa tớ và con hầu ăn uống say sưa. Đến khuya, đứa tớ và con hầu mệt mỏi nằm nghỉ. Vương Sinh cho thuyền ghé bến Tĩnh Tự, vào sâu trong đám sen, rồi cùng Sư Nhi ôm nhau nhảy xuống nước tự trầm. Đứa tớ trai và con hầu gái hay ra th́ không c̣n cứu kịp nữa ...

Giới văn nhân ở kinh thành biết chuyện, bèn làm hai bài hát "Trường kiều nguyệt" và "Đoạn kiều nguyệt" phổ biến trong dân chúng. C̣n chiếc thuyền của đôi trai gái ấy trở thành đồ phế bỏ, cột một nơi trơ gan cùng tuế nguyệt, chẳng c̣n ai dám đụng đến nữa.

Một năm vào tiết Hàn thực, trai thanh gái lịch kinh thành rủ nhau đi chơi rất đông, thuyền bè san sát bên trên mặt Tây Hồ. Có một chàng trai trẻ từ phương xa đến, lên lầu Phong Nhạc ngắm nh́n cảnh vật. Rồi chàng ta nổi hứng muốn thuê một chiếc thuyền để du ngoạn trên hồ nhưng lúc ấy chẳng c̣n một chiếc thuyền dư nào cả; ngoài chiếc thuyền của Vương Sinh và Đào Sư Nhi đi trước kia nay bị bỏ phế một chỗ. Chàng trai muốn dùng con thuyền ấy để du ngoạn nhưng có người mách chuyện Vương - Đào trước kia và khuyên chàng không nên dùng chiếc thuyền ấy, e có chuyện không hay xảy ra. Chàng trai cười lớn bảo:
- Thế th́ tuyệt quá đi thôi. Chính tôi cũng muốn được như thế đấy.

Rồi chàng ta mướn ngay chiếc thuyền ấy, mua rượu thịt đem xuống bơi đi chơi khắp mặt hồ và lấy làm thỏa thê lắm. Từ đó dân chúng ở kinh thành càng truyền tụng gai thoại Vương - Đào và tranh nhau thuê chiếc thuyền ấy đi du ngoạn trên mặt hồ; không c̣n ai tỏ ư sợ ǵ cả.

Lệ Thu
10-08-2007, 06:49 PM
CHÂU SA

Ḷng đâu sẵn món thương tâm
Thoắt nghe Kiều đă đầm đầm CHÂU SA
(Câu 81,82. Kiều khóc trước mộ Đạm Tiên)

"Lại càng ủ dột nét hoa
Sầu tuôn đứt nối CHÂU SA ngắn dài"
(Câu 103, 104. Kiều khóc trước mộ Đạm Tiên)

"Ngại ngùng một bước một xa
Một lời trân trọng CHÂU SA mấy hàng"
(Câu 561, 562. Kim Kiều chia tay)

CHÂU SA là nước mắt rơi xuống. Nước mắt của người đẹp được ví như hạt châu theo tích xưa sau đây:

Đời Thượng Cổ dưới bể Nam Hải có một giống người gọi là Giao Nhân. Giống người này hàng năm lên bờ sinh sống, buôn bán với người trần thế, đến cuối năm phải trở về đáy biển để chầu vua Thủy Tề.

Những lần chia tay từ biệt người trần thế, những Giao Nhân thân t́nh với người trần đều khóc lóc thảm thiết, tỏ ra quyến luyến lắm. Những Giao Nhân này khóc bao nhiêu th́ nước mắt rơi ra trở thành ngọc châu hết bấy nhiêu.

Do tích này mà về sau giới văn nhân thi sĩ ví nước mắt như giọt châu mà gọi là Châu Sa.

Lệ Thu
10-08-2007, 06:58 PM
SUỐI VÀNG

"Gọi là gặp gỡ giữa đường
Hoạ là người dưới SUỐI VÀNG biết cho"
(Câu 93,94. Kiều than thở trước mộ Đạm Tiên)

"Nợ t́nh chưa trả cho ai
Khối t́nh mang xuống TUYỀN ĐÀI chưa tan"
(Câu 709, 710. Kiều than thở một ḿnh)

"Chị dầu thịt nát xương ṃn
Ngậm cười CHÍN SUỐI hăy c̣n thơm lây"
(Câu 732, 733. Kiều tâm sự với Thúy Vân)

"DẠ ĐÀI cách mặt khuất lời
Rảy xin chén nước cho người thác oan"
(Câu 747, 748. Kiều nói với Thúy Vân)

"Trên Tam đảo, dưới CỬU TUYỀN
T́m đâu th́ cũng biết tin rơ ràng"
(Câu 1685, 1686. Tài ba của thầy phù thủy)

"Kiếp này duyên đă phụ duyên
DẠ ĐÀI c̣n biết sẽ đền lai sinh"
(Câu 2787, 2788. Vương ông nói với Kim Trọng)

"Minh, dương đôi ngă chắc rồi
Cơi trần mà lại thấy người CỮU NGUYÊN"
(Câu 2999, 3000. Kim Kiều sắp tái họp)

Suối vàng, Huỳnh tuyền (Hoàng tuyền), Tuyền đài, Chín suối, Dạ đài, Cửu tuyền và Cửu nguyên đều cùng một nghĩa; là nơi linh hồn người đă chết cư ngụ.

Sách Đông Châu Liệt Quốc kể rằng:

Trịnh Trang Công chiều ư mẹ là Khương thị phong đất Kinh thành cho em là Cung Thúc Đoạn. Khương thị vốn yêu thương Đoạn hơn Ngộ Sanh (tên húy của Trịnh Trang Công) và từ trước đă có ư muốn Đoạn làm vua nước Trịnh nhưng không được.

Khi Đoạn chào từ biệt mẹ để đi nhận đất phong, Khương thị bày mưu cho Đoạn chiếm lấy nước Trịnh. Sau đó không lâu Đoạn khởi sự nhưng việc không thành, phải chạy về Cung thành là đất phong cũ rồi tự sát.

Trịnh Trang Công xét trong ḿnh Đoạn thấy có bức thư của mẹ hẹn làm nội ứng th́ giận lắm, lấy bút phê vào câu "Bất cập hoàng tuyền, vô tương kiến giả" (Nếu không phải là chốn suối vàng, th́ vĩnh viễn không gặp nhau) rồi gởi trả thư cho mẹ. Nhận được thư, Khương thị xấu hổ bèn rời cung ra ở đất Dĩnh.

Trịnh Trang Công về cung không thấy mẹ, ḷng buồn thầm nghĩ "Ta đă ép ḷng làm hại đứa em, nay nỡ nào làm hại đến mẹ nữa. Nhưng đă lỡ thề rồi, biết làm sao".

Dĩnh Khảo Thúc là quan trấn Dĩnh ấp, nổi tiếng là người con có hiếu; nghe chuyện Trịnh Trang Công từ bỏ mẹ lấy làm bất b́nh than rằng:
- Dù mẹ có lỗi đến đâu, phận làm con cũng không nên bất hiếu. Chúa công làm thế là trái đạo vô cùng...

Ít hôm sau Khảo Thúc nghĩ được kế răn vua, bèn bắt mấy con chim cú đem dâng cho Trịnh Trang Công và nói rằng:

- Đây là giống chim cú, ban ngày dù vật to bằng quả núi nó vẫn không thấy, nhưng đến đêm dù vật nhỏ bằng sợi tóc nó cũng trông rơ. Nó là giống vật chỉ thấy cái nhỏ mà không thấy cái lớn. Thứ đến, lúc c̣n nhỏ nhờ chim mẹ t́m mồi cho ăn nhưng lớn lên th́ lại không biết ǵ đến mẹ; thật là một giống chim bất hiếu nên bắt làm thịt ăn.

Trịnh Trang Công nghe thế ngồi lặng thinh. Ngay lúc ấy thị vệ bưng mâm thịt vào dâng vua nhắm rượu. Trịnh Trang Công cắt một miếng thịt ban cho Dĩnh Khảo Thúc. Khảo Thúc không ăn ngay mà lại cắt ra một phần gói lại vào tay áo. Nhà vua hỏi:
- Khanh làm vậy để chi thế ?

- Tâu chúa công, mẹ tôi già mà lại nghèo khó, ít khi nào được ăn miếng ngon vật lạ. Nay đội ơn Chúa công ban thưởng, tôi phải dành phần cho mẹ th́ mới ăn ngon miệng được.

Trịnh Trang Công thở dài bảo:
- Ngươi thật là con hiếu thảo, tiếc rằng ta không được như ngươi.

Dĩnh Khảo Thúc làm bộ ngạc nhiên hỏi:
- Quốc mẫu vẫn được an khang quư thế, cớ sao Chúa công buồn bă làm vậy ?

Trịnh Trang Công bèn đem việc Cung Thúc Đoạn tạo phản nói cho Dĩnh Khảo Thúc nghe, và tỏ ư hối hận v́ lời thề nên không chăm sóc mẹ được.

Nghe xong, Dĩnh Khảo Thúc tỏ ư buồn mà tâu rằng:
- Cung Thúc Đoạn đă mất, t́nh cốt nhục chia ĺa, nay chỉ c̣n Quốc mẫu mà Chúa công bỏ bề phụng dưỡng e lỗi đạo làm con. Nếu Chúa công lỡ lời thề, tôi xin dâng một kế nhỏ có thể giải lời thề cho Chúa công được.

Trịnh Trang Công tỏ ư mừng rỡ, nói:
- Nhà ngươi có kế hay mau giúp trẫm.
- Chúa công thề khi nào xuống suối vàng mới gặp lại mẹ ?

Trịnh Trang Công gật đầu. Dĩnh Khảo Thúc nói tiếp:

- Vậy bây giờ Chúa công hăy cho đào một con suối sâu tận mạch nước rồi cho làm một cái nhà dưới hầm và coi đó là suối vàng. Chúa công cho rước Quốc mẫu đến đó để hai mẹ con cởi mở tấm ḷng. Thế là Chúa công không phạm lời thề ǵ cả.

Trịnh Trang Công nghe theo, cho Dĩnh Khảo Thúc đem năm trăm tráng dân đến Khúc vị đào một cái hầm dưới chân núi Ngưu Kỳ, cất một cái nhà gỗ trên mặt nước rồi cho rước Khương thị đến. Trịnh Trang Công đến sụp lạy mẹ và nói:
- Ngộ Sanh này bất hiếu, cúi xin mẫu hậu rộng t́nh dung tha.

Khương thị buồn vui lẫn lộn trong ḷng, ứa nước mắt nói:
- Ấy là lỗi của mẹ, con nào có tội ǵ...
Hai mẹ con ôm nhau khóc ṛng...

Lệ Thu
10-08-2007, 07:05 PM
ĐỒNG TƯỚC

"Vẫn nghe thơm nức hương lân
Một nền ĐỒNG TƯỚC khoá xuân hai Kiều"
(Câu 155, 156. Kim Trọng gặp Kiều)

ĐỒNG TƯỚC là tên một cái đài. Câu "Một nền Đồng Tước khoá xuân hai Kiều" là Nguyễn Du dịch từ câu thơ của Đỗ Phủ "Đồng Tước xuân thâm toả nhị Kiều" trong bài Xích Bích hoài cổ của thi nhân họ Đỗ.

Trong thời Tam quốc, Tào Mạnh Đức (Tào Tháo) cho xây trên bờ sông Chương Giang thuộc tỉnh Hà Nam một cái đài và đặt tên là Đồng Tước.

Trong lễ khánh thành đài Đồng Tước, con trai thứ của Tào Tháo là Tào Tử Kiến (Tào Thực) là một người văn chương trác tuyệt, đă làm một bài phú vịnh đền Đồng Tước; trong đó có câu:
"Liên nhị kiều ư đông tây hề
Nhược trường không chi nhuế đống"

(Bắc liền đông tây hai cây cầu nổi lên như cái cầu vồng giữa lưng trời).

Sau đó, khi chiến tranh Ngụy Ngô sắp xảy ra, Thừa Tướng nước Thục là Khổng Minh (Gia Cát Lượng) sang Ngô du thuyết để liên kết Thục, Ngô chống Ngụy. Bấy giờ quyền hành ở Đông Ngô nằm trong tay Đại Đô Đốc Châu Du, mặc dù Tôn Quyền là chúa Đông Ngô.

Khổng Minh biết Châu Du và Tôn Sách (anh Tôn Quyền) là hai anh em bạn rể. Tôn Sách lấy Đại Kiều, Châu Du lấy Tiểu Kiều là hai người con gái của Kiều Công, nổi tiếng đẹp nhất Giang Đông thời bấy giờ.

Để khích Châu Du căm hận Tào Tháo hầu dốc toàn lực liên kết với Thục đánh Ngụy, Khổng Minh kể cho Châu Du nghe việc Tào Tháo cho xây đền Đồng Tước, rồi hỏi:
- Tướng quân có biết Tào Mạnh Đức cho xây đền Đồng Tước với mục đích ǵ chăng ?

Châu Du lắc đầu đáp:
- Du tôi làm sao hiểu được dụng ư của Tào A Man.

Khổng Minh điềm nhiên nói:
- Hiện nay Tào Tháo đang cho luyện tập thủy binh ráo riết để chuẩn bị đánh Đông Ngô
- Điều ấy tôi biết.

Khổng Minh chậm răi nói tiếp.
- Cùng với việc luyện tập thủy binh, ḥ Tào cho xây đài Đồng Tước với mục đích là sau khi thắng Đông Ngô, sẽ bắt Đại Kiều và Tiểu Kiều đem về đài Đồng Tước hưởng lạc.

Nghe đến đây Châu Du nổi giận phừng phừng, hỏi lớn:
- Tiên sinh lấy bằng cớ đâu mà nói như thế ?

Biết Châu Du đă mắc mưu ḿnh, Khổng Minh cười nhẹ nói:
- Đô Đốc hăy b́nh tĩnh nghe tôi đọc bài phú vịnh đài Đồng Tước của Tào Tử Kiến để mà biết rơ thâm ư của Tào Tháo.

Rồi Khổng Minh đọc bài phú vịnh đền Đồng Tước. Đến câu "Liên nhị Kiều ư Đông Tây hề, Nhược trường không chi nhuế đống" th́ vị Thừa tướng nước Thục sửa lại thế này: "Lăm nhị Kiều ư Đông Nam hề, Lạc triêu tịch chi dữ cộng". (Bắt hai nàng Kiều ở Giang Nam về để sớm tối chung vui). (1)

Châu Du v́ không biết rơ bài phú của Tào Thực vịnh đài Đồng Tước nên tin ngay lời Khổng Minh là thật. Ḷng căm hận Tào Tháo dâng cao, Châu Du quyết định liên kết với Thục để cùng đánh Ngụy. Rồi sau đó, trên sông Trường Giang, với sự tham mưu của Khổng Minh Gia Cát Lượng, Châu Du đă chỉ huy quân Đông Ngô đánh tan tám mươi ba vạn quân Tào. Tào Tháo đại bại, tạo cơ hội cho Lưu Bị chiếm lấy Kinh Châu và tiến vào Lưỡng Xuyên.

Trận hoả công trên lửa cháy ngất trời, nung đỏ vách núi nên về sau người ta gọi là núi Xích Bích.

Nhà thơ Đỗ Phủ (2) đời Đường, khi qua chơi Xích Bích có làm bài thơ hoài cổ, có hai câu:

"Đông phong bất dữ Chu lang tiện
Đồng Tước xuân thâm tỏa nhị Kiều"

(Nếu gió đông không giúp phương tiện cho chàng Châu Du th́ đền Đồng Tước sẽ nhốt kín hai nàng Kiều).

========
(1) Chữ "nhị kiều" của Tào Thực dùng trong bài phú là chỉ hai cây cầu. C̣n chữ "nhị Kiều" do Khổng Minh sửa lại là chỉ hai nàng Kiều, tức Đại Kiều và Tiểu Kiều.