PDA

View Full Version : Điển Hay Tích Lạ



ướt mi
10-07-2007, 09:50 PM
- Tác Giả : Nguyễn Tử Quang

- Hằng Nga và Hậu Nghệ

Trong "Bích Câu kỳ ngộ" của Vô Danh có câu:

Hay là lỗi sổ Hằng Nga,
Đêm đông ṿ vơ, bóng tà sao thưa.
Nghĩ t́nh nên những ngẩn ngơ ...

Trong "Cung oán ngâm khúc" của Nguyễn Gia Thiều, đoạn ca tụng sắc đẹp của nàng cung nữ, có câu:

Hương trời đắm nguyệt say hoa,
Tây Thi mất vía, Hằng Nga giật ḿnh.

Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn đời nhà Trần (1225-1400) kêu gọi tướng sĩ, trong một bài hịch có đoạn "Nay ta bảo thật các ngươi nên cẩn thận như củi lửa, nên giữ ǵn như kẻ húp canh, dạy bảo quân sĩ, luyện tập cung tên, khiến cho người nào cũng có sức khỏe như Bàng Mông và Hậu Nghệ, th́ mới có thể dẹp tan được quân giặc, mà lập nên được công danh."

Hằng Nga và Hậu Nghệ là hai nhân vật thần thoại được dùng trong Cổ văn Trung Hoa và Việt Nam.

Hằng Nga trong cung trăng: Theo sách của Hoài Nam Tử, Hậu Nghệ xin thuốc trường sinh của bà Tây Vương Mẫu, Hằng Nga là vợcủa Hậu Nghệ uống trộm, chạy lên cung trăng.

Người chặt cây quế trong cung trăng: Theo sách "Dậu dương tạp trở", trong mặt trăng có cây quế cao 500 trượng, dưới gốc cây có một người ngồi chặt măi, nhưng chặt xong, dấu chặt lại liền như cũ. Người ấy tên Ngô Cương, quê ở Tây Hà, tu tiên có lỗi bị phạt chặt cây.

Con thỏ trong mặt trăng: Theo sách "Ngũ thông kinh nghĩa", trong mặt trăng có con thỏ hay con cóc.

Ông già dưới trăng: Sách "Tục U quái lục" có chép: đời nhà Đường, Vi Cố đến Nam Điện ở Tống thành, thấy ông già xem sách dưới trăng. Vi Cố hỏi sách ǵ? Ông già đáp: Sổ hôn nhân thiên hạ. Vi Cố hỏi hôn nhân của ḿnh th́ ông lăo bảo: ở chợ có bà già chột mắt bồng đứa bé 3 tuổi; đứa bé ấy sau là vợ. Vi Cố ra chợ bắt gặp người đàn bà như lời ông lăo nên tức giận mướn người giết con bé ấy. May mắn, người đàn bà bồng đứa bé chạy thoát. Đứa bé chỉ bị thương xoàng. Mười bốn năm sau, Thứ Sử đất Dương Châu là Vương Thái gả con cho Vi Cố. Thiếu nữ ấy rất đẹp, nhưng cuối mày có một vết thẹo nhỏ. Cố hỏi nguyên cớ. Nàng trả lời: hồi lên 3 tuổi, người vú họ Trần bồng đi chợ bị một tên côn đồ đâm trúng. Cố hỏi người vú họ Trần có chột mắt không. Nàng nói có rồi kể lại chuyện cũ.

Tích Hậu Nghệ: Theo "Sơn hải kinh", trên hang Dương phía bắc nước Răng Đen có cây Phù tang to lớn sống ở dưới nước, 9 mặt trời ở cành dưới; 1 mặt trời ở cành trên. Theo sách của Hoài Nam Tử, đời vua Nghiêu, 10 mặt trời cùng mọc một lần làm cây cỏ khô héo, vua Nghiêu sai Hậu Nghệ bắn 10 mặt trời, có 9 con quạ rớt lông cánh xuống.

Theo kinh Thư, vua nước Hữu Cùng là Hậu Nghệ v́ dân không phục, nổi lên kháng cự tại sông Hà. Sách "Tả Truyện" có chép: khi nhà Hạ suy, Hậu Nghệ nhờ sức ủng hộ của dân chúng được lên làm vua thay thế nhà Hạ. Về sau, Nghệ ỷ ḿnh bắn giỏi, không lo chính sự, dâm bạo hơn thú dữ, dân oán ghét nổi lên giết chết, lại lóc thịt bắt con của Nghệ ăn. Không nỡ ăn thịt cha, con của Nghệ cũng bị giết luôn.

Trong bản dịch thần thoại "Lên cung trăng" của nhà văn hào Trung Hoa là Ngô Tổ Quang có chép:

Một thời đại rất xa xưa ...

Lúc bấy giờ con người được tự do, không bị áp bức chiến tranh, người hiếp bức người. Ai làm nấy ăn. Mặt trời mọc, đi làm; mặt trời lặn, về nghỉ. Đói có hoa quả; khát có nước suối.

Con người bấy giờ không có họa người, chỉ có họa trờị Để tránh gió mưa, rét mướt, loài người đốn cây làm nhà, dệt vải may áo ... Ngày tháng trôi qua, con người dùng kinh nghiệm và lao lực để cải thiện đời sống, mưu lấy sự hạnh phúc thanh b́nh.

Nhưng, một hôm th́nh ĺnh xảy ra một thiên tai dữ dội. Khắp dưới gầm trời đâu đâu cũng bị đại hạn. Nắng như lửa thiêu, đốt cháy tất cả làm cho sinh linh dậm đất kêu trời. Trên đường, thây người, thây thú chồng chất dẫy đầy.

Nguyên ở g̣ Đất cuối biển Đông có hang Dương. Nơi đây 10 con quạ vàng vâng lệnh Thượng Đế thay nhau ban ánh sáng cho vạn vật. Trên hang có cây Phù tang cao vút tận trời. Chín con quạ ở cành dưới, một con quạ ở cành trên. Từ ngàn xưa chỉ có một con ra khỏi biển hóa thành mặt trời, ngày ngày tháng tháng chiếu ánh sáng xuống mặt đất làm cho mưa ḥa, gió thuận, vạn vật sinh hóa. Nhưng bất ngờ, một hôm bốn biển chuyển động, đất lở núi rung, cây Phù tang quay cuồng, v́ 10 con quạ vàng tranh nhau xuất hiện một lượt.

Thế là nắng như lửa thiêu, đốt cháy cả vạn vật. Ban đầu, người ta c̣n ngâm ḿnh dưới nước, núp trong hang núi ... nhưng rồi, đầm nước, ḍng suối đều hóa thành những vạc nước sôi. Đất bằng bỗng chốc lửa dậy làm cho nhân dân điêu đứng, đời người biến thành địa ngục.

Đương lúc tiếng khóc, tiếng kêu gào kinh khủng của nhân dân, bỗng có một vị anh hùng xuất hiện.

Vị anh hùng đó có tên Hậu Nghệ, sinh ở biển Đông, nước Hữu Cùng. Người vơ nghệ phi thường, sức người có thể bạt núi lấp sông, giỏi nghề kỵ xạ. Hậu Nghệ có lại hai người học tṛ tên Phùng Mông và Ngô Cương đều có tài xuất chúng.

Trông thấy 10 con quạ vàng hoành hành dữ tợn làm cho nhà cửa tiêu tan, đồng ruộng khô cháy, Nghệ vừa hoảng kinh vừa tức giận, đem ḷng thương xót sinh linh, và nghĩ đến mối liên hệ với thân mạng ḿnh nên mang 10 mũi tên thần, giương cung 10 tạ lên quyết bắn 10 con quạ vàng cho tiêu ra tro bụi.

Nhưng ánh sáng rạng chói làm cho mắt đổ hào quang, không thể nh́n lên được. Nghệ bực tức, đứng tựa góc biển chân trời không do dự bắn luôn mấy phát. Những nơi có tên của Nghệ bắn tới th́ nóng cháy nguội dần, ánh sáng êm dịu. Những lông cánh sắc màu của lũ quạ đua nhau rớt xuống. Một làn không khí mát mẻ bắt đầu.

Trông thấy chín con quạ chết, Nghệ lại muốn giương cung bắn nữa, nhưng Phùng Mông ngăn lại:

- Thưa thầy! Nếu thầy bắn chết cả th́ vũ trụ sẽ trở nên đen tối mất.

Nghệ "à" một tiếng, hạ cung xuống.

Bấy giờ núi sông trở lại như xưa, cây cỏ tươi tốt. Đâu đâu cũng vang dậy tiếng ḥ reo hoan lạc. Nhân dân ca tụng công ơn vĩ đại của Hậu Nghệ, tôn thờ Nghệ là một vị cứu tinh, trọng quư Nghệ hơn mẹ cha. Sơn hào hải vị, họ đem dâng cho Nghệ dùng.

Hậu Nghệ lên làm Hoàng đế.

Mười năm sau.

Nhân dân trước kia bị tai ách của 10 con quạ vàng th́ nay lại mang phải tai ách do Hậu Nghệ gieo rắc.

Nghệ ỷ ḿnh có tài, tự kiêu là cứu dân, vậy dân phải làm tôi mọi mới xứng đáng đền đáp công ơn ấy. Nghệ chiếm hết thịt rừng, tài sản của nhân dân. Cả đến một con gà, một miếng bánh... cũng không thoát qua tay cướp đoạt của Nghệ.

Nghệ lại tự hào là ḿnh sẽ sống măi v́ có Linh chi dược thảo do ông tiên ban cho.

Nhân dân bấy giờ sống trong t́nh trạng cực kỳ thảm khốc. Từng đám dân nghèo đói, quần áo rách nát, thân trụi ḿnh trần, mặt mũi hốc hác vàng hoe, gục đầu vào đất kiếm rễ cây ăn. Vài xác người thắt cổ lơ lửng trên cành cây làm mồi cho đàn quạ đương đảo qua lượn lại.

Bấy giờ núi rừng hoang vu xơ xác, cành khô lá úa, năm ba gốc cây c̣n lại nhưng trơ trọi, cằn cỗi.

Ngày trước, Nghệ được bá tánh hoan hô vang dậy. Ai ai cũng tŕu mến vâng theọ Nghệ đi ra, cả ngàn người chạy theo quỳ lạy chúc tụng. Ngày nay, nhân dân oán ghét căm thù. Nghệ đi đến đâu, bá tánh bỏ chạy đến đó. Nghệ nhục nhă, tức giận ra lịnh cho học tṛ là Ngô Cương tàn sát hàng triệu sinh linh. Bị đói rách, bị giết chóc, nhân dân đau khổ, nỗi uất hận căm hờn ngùn ngụt cao mấy từng mây.

Phùng Mông can gián không được, bỏ Nghệ theo đám dân nghèo vơ trang đánh lại thầy.

Vợ của Hậu Nghệ là Hằng Nga.

Nàng là con nhà nghèo ở một cánh đồng hoang phương Bắc. Nhưng nàng là con chim phượng hoàng, là đóa hoa khôi sắc đẹp tuyệt vời.

Ngô Cương vâng lịnh thầy đi t́m người làm hoàng hậu. Đến phương Bắc, Ngô Cương bắt Hằng Nga về dâng cho Nghệ Hằng Nga được Nghệ sủng ái, giao giữ cỏ Linh chi.

Hằng Nga v́ bị bắt, bỏ cha xa mẹ, quyết liệt đ̣i về. Nghệ sợ Hằng Nga trốn trong khi Nghệ đi săn t́m thịt nên truyền cho Ngô Cương canh gác, không cho Hằng Nga rời khỏi cung. Hằng Nga buồn tủi, ngày ngày chỉ làm bạn cùng con Ngọc thỏ trong cung lạnh.

Trước sự tàn bạo của chồng, Hằng Nga không khuyên ngăn được; và biết rằng nếu chồng sống măi th́ càng làm nhiều tội ác, nhân dân đau khổ càng nhiều nên nàng nuốt cỏ Linh chi, để Nghệ không c̣n dùng cỏ tiên mà trường sinh nữa.

Nuốt xong, Hằng Nga mặt mày xây xẩm một lúc, rồi thấy ḿnh nhẹ bổng như không. Một đám mây ngũ sắc dưới chân Hằng Nga từ từ đưa Hằng Nga bay lên, Ngọc thỏ chồm nhảy theo. Hằng Nga đưa tay dắt rồi từ từ bay qua cửa sổ thẳng lên cung trăng.

Hậu Nghệ đi săn thịt trở về, thấy mất Hằng Nga, tức giận Ngô Cương v́ để Hằng Nga trốn thoát, nên bóp cổ Ngô Cương cho đến chết.

Nghệ chạy lại cửa sổ trông lên mặt trăng.

Ánh trăng sáng vằng vặc chiếu vào mặt. H́nh bóng của vợ thấy thấp thoáng trong trăng. Nghệ giương đôi mắt tṛn xoe nh́n. Thốt nhiên, Nghệ thét bọn vệ sĩ mang cung tên lại. Chúng khệ nệ khiêng chiếc cung và ba mũi tên lớn trên tường xuống. Nghệ đứng thẳng người như một trụ đá to, râu tóc dựng ngược, đôi mắt sáng quắc, không khác cảnh ngày xưa Nghệ bắn mặt trờị Nghệ lắp tên căng thẳng dây cung bắn lên.

Hai phát tên bay ra, mặt trăng lung lay.

Nhưng mũi tên thứ ba bật khỏi dây cung, mặt trăng vẫn sáng chói như trước, không hề hấn ǵ. Nghệ hạ cung xuống, mặt mày buồn nghiến, im lặng, đau khổ.

Bỗng một cụ già hiện xuống.

Hậu Nghệ giựt ḿnh, nh́n ra là ông lăo đă cho ḿnh Linh chi thảo cách mười năm về trước.

Cụ già liệng 3 mũi tên xuống đất, điềm đạm nói:

- Già xin hỏi cố nhân. Ngày trước hạnh ngộ, già có nhắn nhủ cố nhân việc trị đời không khó. Phải thực hành nhân chính, quên ḿnh để lo cho người. Ḿnh phải lo trước người lo và chỉ vui sau khi người vui. Dân quư nhứt, nước thứ nh́, vua sau hết. Cố nhân sẵn sàng vâng nghe, nên già thể theo lời yêu cầu tha thiết của cố nhân là muốn sống măi để hoàn thành sự nghiệp, v́ đời sống con người th́ hữu hạn mà sự nghiệp th́ vô cùng, mới cho Linh chi thảo. Vậy mà khi cầm lấy quyền, cố nhân lại quên mất lời. Dân không sợ chết, sao lấy sự chết chóc trị thiên hạ. Bao nhiêu năm trời loạn lạc đau thương, giờ đây ḷng người ly tán, sự nghiệp tan hoang, cố nhân c̣n chưa tỉnh hay saỏ Ḱa, nghĩa quân đă ḥ reo tứ phía, cố nhân đă nghe chưa?

Hậu Nghệ hai tay ôm đầu, giọng nói thiểu năo:

- Nghệ ăn năn, xin cụ chỉ giáo.

- Việc đă qua rồi, ăn năn không kịp. Chỉ có cách cố nhân bỏ sắc phục hoàng đế, ăn năn hối lỗi th́ mới có cơ cứu văn.

Hậu Nghệ cả giận, quắc mắt, quát:

- Lăo già khốn! Thừa lúc hiểm nguy của ta mà sỉ nhục ta sao?

Vừa nói vừa rút gươm chém ông lăo.

Cụ già b́nh thản đưa tay hất gươm rạ Hậu Nghệ rùng ḿnh lui lại ngồi xuống. Cụ già mỉm cười:

- Cố nhân đến nước cùng mà c̣n hiếu sát. Ḱa, cố nhân hăy nh́n xem.

Giữa lúc ấy ...

Bên ngoài có tiếng chém giết lẫn tiếng ḥ reo vang dậy. Nghĩa quân bao vây tứ phía dưới sự chỉ huy của Phùng Mông.

Bóng trăng khuất dần. Cụ già biến mất.

Lửa cháy khắp nơi.

Tiếng la vang:

- Tiến! Tiến!

Nghệ rút gươm xông tới, Phùng Mông đưa gươm ngăn. Cả hai đánh nhau. Nghĩa quân ào đến. Hậu Nghệ kiệt sức bỏ chạy. Đám dân đói rách cầm hèo gậy chận lạị Nh́n qua tứ phía, nơi nào cũng có nghĩa quân. Phùng Mông kêu lên:

- Hậu Nghệ! Hậu Nghệ! Thầy làm việc bất nghĩa, ngày nay tự xử lấy, đừng để bọn ta ra tay.

Hậu Nghệ đứng dậy, dậm chân, cất tiếng cười đau đớn rồi đưa gươm đâm mạnh vào cổ. Xác Nghệ ngă xuống giữa tiếng reo ḥ của nghĩa quân.

Trong cung trăng, bên cây quế cao trăm trượng, sắc vàng, mùi thơm bát ngát, Ngô Cương cầm búa chặt măi cây quế nhưng cây quế không sứt mẻ mà vẫn càng cao càng lớn, càng tươi. Hắn bị đọa v́ tính hiếu sát theo thầy. Cây quế bị chặt nhưng không hề hấn, nhân dân bị tàn sát nhưng nhân dân làm sao hết được.

Bên cạnh, Hằng Nga ngồi xem Ngọc thỏ tán thuốc. Thỉnh thoảng, nàng lại thở dài, sa nước mắt. Nàng c̣n luyến tiếc cảnh trần gian. V́ trần gian đă chịu bao tai nạn: lụt lội, hạn hán, nắng lửa mưa dầu, binh đao chém giết, máu chảy thành sông, xương người thành núi; ngày nay nhân dân đă khắc phục được mọi tai ách rồi. Ḱa từng đám người nô nức đương cày cấy, ca hát vui mừng; và xa xa làn khói lam chiều vẩn vơ quyện trên những mái nhà nhỏ ấm cúng, Hằng Nga tưởng nơi đây có lẽ là phương Bắc, quê hương yêu dấu của nàng.

Ở đây, quanh năm vắng lạnh, chẳng có bốn mùa Xuân, Hạ, Thu, Đông. Muôn vật không sinh, không hóa. Trăm hoa không nở không tàn. Chán chường cảnh lẻ loi, hiu quạnh quá, Hằng Nga muốn trở về trần thế. Nhưng v́ đă ăn cỏ Linh chi, nàng không bao giờ chết, lại trẻ đẹp măi và muôn năm vẫn sống hoang liêu trong cung Quảng Hàn này.

Nh́n ra ngoài không thấy thế gian đâu nữa, tư bề lạnh lẽo âm u, Hằng Nga bất giác xót xa đau đớn, nước mắt chảy ṛng.

Sau tấm b́nh phong bóng đuốc xa,
Sao mai lặn hết, vắng Ngân Hà.
Hằng Nga hối cắp Linh chi thảo,
Sống măi nh́n trời dạ xót xa.

ướt mi
10-07-2007, 09:52 PM
Tác Giả : Nguyễn Tử Quang

- Cưỡi rồng, bói phượng

Đời Chu Tương Vương (651-617 trước D.L.), Tần Mục Công làm bá chủ các nước ở tây phương. Nhà vua có một người con gái. Lúc mới sinh, gặp có kẻ dâng viên ngọc phác, Tần Mục Công sai thợ giũa, thành một viên ngọc sắc biếc và đẹp lắm.

Đến khi cô gái đầy tuổi tôi, trong cung bày đồ toái bàn, nàng nhặt ngay viên ngọc, rồi ngắm nghía măi, mới đặt tên nàng là Lộng Ngọc.

Lớn lên, Lộng Ngọc nhan sắc đẹp tuyệt trần. Tính trời thông minh, nàng có tài thổi ống sinh hay lắm, không học ai mà thành âm điệu. Tần Mục Công sai thợ làm ống sinh bằng ngọc để cho nàng thổị Nàng thổi ống sinh ấy, tiếng trong như tiếng chim phượng.

Tần Mục Công cưng lắm, lập cái lầu để cho nàng ở, tên là Phượng Lâu. Trước lầu có xây một đài gọi là Phượng Đài. Năm Lộng Ngọc lên 15, Tần Mục Công muốn t́m một người giai tế, Lộng Ngọc thề: nếu có người nào có tài thổi ống sinh họa được với nàng th́ mới chịu lấy làm chồng.

Tần Mục Công sai sứ đi t́m, nhưng không có ai cả.

Một hôm, Lộng Ngọc ngồi trên lầu, vén rèm ngắm cảnh. Bấy giờ trời quang mây tạnh, vừng trăng sáng tỏ như gương, nàng truyền cho thị nữ đốt một ḷ hương rồi đem ống sinh ra thổi. Bỗng nghe tiếng tiêu từ đâu họa lại, lúc gần lúc xa. Lộng Ngọc lấy làm lạ, dừng ống sinh lại không thổi nữa, lắng tai nghe giọng tiêu ấy chỉ c̣n dư âm văng vẳng. Lộng Ngọc ngẩn ngơ, lưỡng lự thao thức canh chầy, đoạn đặt ống sinh ở đầu giường rồi nằm ngủ.

Giữa lúc ấy, nàng bỗng thấy trên trời về phía tây nam, cửa mở rộng, hào quang ngũ sắc rực rỡ như ban ngày, có một chàng thiếu niên, mũ lông áo bạc, cưỡi con chim phượng từ trên trời sa xuống, đứng trước Phượng Đài. Chàng bảo nàng:

- Ta đây là chủ núi Họa Sơn, Ngọc Hoàng Thượng Đế cho ta kết duyên với nàng. Đến ngày Trung Thu này th́ đôi ta gặp nhau. Ấy là duyên số đă định sẵn như vậy.

Nói xong, chàng đưa tay rút ống ngọc tiêu bên ḿnh, rồi đứng tựa lan can mà thổi. Con chim phượng đứng bên cũng giương cánh ra vừa hót vừa múa. Tiếng phượng hót cùng với tiếng tiêu xướng họa ḥa nhau như một theo điệu cung thương, nghe rất thâm trầm. Lộng Ngọc mê mẩn tâm thần hỏi: Khúc tiêu này là khúc tiêu ǵ? Chàng thiếu niên đáp: Đây là khúc "Họa sơn ngâm". Nàng lại hỏi: Khúc này có học được không? Chàng đáp: Khi cả hai kết duyên rồi th́ có ǵ không học được. Đoạn chàng bước đến gần đưa tay cầm lấy tay nàng...

Lộng Ngọc giật ḿnh tỉnh dậy. Sáng lại, nàng thuật lại điềm chiêm bao cho cha nghe. Tần Mục Công liền sai người cứ theo h́nh dáng người trong mộng đó ḍ t́m đến núi Họa Sơn. Có người nông phu chỉ rằng: Từ rằm tháng bảy vừa qua, có một chàng trẻ tuổi lạ mặt đến làm nhà ở đỉnh núi, hằng ngày thường xuống chợ mua rượu uống, chiều lại thổi chơi một khúc ngọc tiêu, ai nghe cũng rất lấy làm thích.

Người của Tần Mục Công mừng rỡ t́m đến, trông thấy chàng thiếu niên mũ lông áo bạc, cốt cách thần tiên, vái chào hỏi tên họ. Chàng xưng là Tiêu Sử. Người của nhà vua thuật lại sự t́nh và yêu cầu Tiêu Sử về triềụ Sau mấy lần từ chối không được, Tiêu Sử cùng theo về triều ra mắt Tần Mục Công. Tần Mục Công thấy Tiêu Sử dung mạo thanh nhă, có vẻ bằng ḷng, cho ngồi bên cạnh, hỏi:

- Ta nghe nhà ngươi có tài thổi ống tiêu tất có tài thổi ống sinh nữa.

Tiêu Sử đáp:

- Tôi chỉ biết thổi ống tiêu, chứ không biết thổi ống sinh.

Vua bảo:

- Ta định t́m một người có tài thổi ống sinh, nay nhà ngươi chỉ biết thổi ống tiêu, vậy không thể làm rể ta được.

Đoạn bảo người đưa Tiêu Sử ra.

Lộng Ngọc sai nội thị tâu với Tần Mục Công: Tiêu với sinh cũng là một loài, người ta có tài thổi ống tiêu th́ sao không bảo dạo chơi một khúc để cho người ta được phô tài.

Tần Mục Công lấy làm phải, truyền Tiêu Sử thổi nghe.

Tiêu Sử mới thổi qua một khúc th́ thấy có gió mát hây hẩy. Đến khúc thứ nh́ th́ mây che bốn mặt. Đến khúc thứ ba th́ có đôi bạch hạc múa lượn trên không, đồng thời có đôi khổng tước bay đến rồi các giống chim đua nhau kêu hót..., một lúc mới tan. Tần Mục Công rất lấy làm bằng ḷng. Lộng Ngọc đứng bên rèm trông thấy vui tương nói: "Người ấy thật đáng làm chồng ta!"

Tần Mục Công lại hỏi Tiêu Sử:

- Nhà ngươi có biết ống sinh và ống tiêu có từ đời nào không?

Tiêu Sử thưa:

- Ống sinh làm ra từ đời Nữ Oa; ống tiêu làm ra từ đời Phục Hi.

Tần Mục Công bảo kể rơ nguyên ủỵ Tiêu Sử nói:

- Nghề tôi vốn ở ống tiêu, vậy tôi xin kể nguồn gốc ống tiêu. Ngày xưa vua Phục Hi ghép ống trúc làm ống tiêu, chế theo h́nh chim phượng. Tiếng thổi cũng giống tiếng chim phượng. Thứ lớn ghép liền 23 ống, dài 1 thước 4 tấc gọi là Nhă Tiêu; thứ nhỏ ghép liền 16 ống, dài 2 thước 1 tấc gọi là Tụng Tiêu. Cả hai thứ gọi chung là Tiêu Quản. C̣n một thứ không đáy gọi là Đổng Tiêu. Về sau vua Huỳnh Đế sai Linh Luân lấy trúc ở Côn Khê chế làm ống địch, ống này có 7 lỗ, cầm ngang mà thổi, tiếng cũng giống chim phượng, trông rất giản tiện. Người đời sau thấy ống Tiêu Quản phiền phức quá nên chỉ dùng ống địch. Thứ dài gọi là tiêu, thứ ngắn gọi là địch. Bởi vậy, ống tiêu ngày nay không giống ống tiêu ngày xưa.

Tần Mục Công lại hỏi:

- Sao nhà ngươi thổi ống tiêu mà lại có các giống chim bay đến?

Tiêu Sử thưa:

- Ống tiêu dẫu mỗi đời mỗi khác nhưng tiếng thổi bao giờ cũng giống tiếng chim phượng. Chim phượng là chúa các giống chim, vậy khi nghe tiếng chim phượng tất nhiên các giống chim đều kéo nhau đến cả. Ngày xưa vua Thuấn chế ra khúc nhạc tiêu thiều mà chim phượng c̣n bay đến, huống chi là các giống chim khác.

Tiêu Sử ứng đối lưu loát. Tần Mục Công rất lấy làm bằng ḷng, sai quan Thái Sử chọn ngày để làm lễ thành hôn.

Tiêu Sử kết hôn cùng Lộng Ngọc, được phong làm Trung Đại Phu. Tuy làm quan nhưng Tiêu Sử không dự ǵ đến quyền chính, ngày ngày vui chơi ở Phượng Lâụ Lại không ăn cơm, chỉ thỉnh thoảng uống mấy chén rượu. Lộng Ngọc học được phép tiên của chồng cũng không ăn cơm. Tiêu Sử lại dạy vợ thổi tiêu.

Ở nhau được non nửa năm, nhân một đêm trăng sáng vằng vặc, vợ chồng đem tiêu ra thổi. Bỗng thấy một con phượng xuống đậu bên tả, và một con rồng xuống phủ phục bên hữu. Tiêu Sử bảo Lộng Ngọc:

- Ta vốn là tiên ở thượng giới, Ngọc Hoàng Thượng Đế thấy sử sách trần gian nhiều chỗ tán loạn, vậy nên giáng sinh ta xuống họ Tiêu ở nhà Chu để san định lại. Người nhà Chu thấy ta có công về việc sử sách mới gọi ta là Tiêu Sử, đến nay đă hơn trăm năm rồi. Ngọc Hoàng cho ta làm chủ ở núi Họa Sơn, v́ ta cùng nàng có tiền duyên nhau, nhờ khúc ngọc tiêu mà được cùng nhau tác hợp, nhưng cũng không nên ở măi chốn trần gian này. Nay rồng và phượng đă đến đón, vậy chúng ta cùng nhau đi.

Lộng Ngọc định vào từ biệt cha. Tiêu Sử ngăn:

- Không nên! Đă là thần tiên th́ chớ nên v́ chút t́nh riêng mà quyến luyến.

Đoạn Tiêu Sử cưỡi rồng, Lộng Ngọc cưỡi phượng cùng bay lên trời.

Trong "Đoạn trường tân thanh" của cụ Nguyễn Du, lúc Từ Hải cùng Kiều gặp gỡ, có câu:

Trai anh hùng, gái thuyền quyên,
Phỉ nguyền bói phượng, đẹp duyên cưỡi rồng.

"Đẹp duyên cưỡi rồng" là do điển tích trên.

"Bói phượng có nghĩa là kén được chồng tốt.

Sách Tả Truyện có chép: Trần Trọng Kính sang nước Tề, được vua nước này cho coi việc công chính. Quan Đại Phu nước Tề có ư muốn gả con gái cho Trọng Kính. Người vợ liền bói một quẻ, bảo rất nên. V́ quẻ bói nói:

"Phượng hoàng vu phi, ḥa minh tương tương" nghĩa là phượng hoàng cùng bay, cùng hót vang vang.

Phượng là tên một giống chim. Theo sách cổ, đó là một trong 4 con thú linh thiêng: Long, Lân, Qui, Phượng, đem lại điềm lành, và chỉ khi nào có đời thái b́nh hay thánh nhân ra đời th́ mới xuất hiện.

Phượng là chúa loài chim. Con trống là phượng; con mái là hoàng. Loan là một giống chim cùng loại với phượng hoàng. V́ là đồng loại nên người ta hay dùng để ví với vợ chồng. Ca dao có câu:

Ước ǵ anh được vô pḥng,
Loan ôm lấy phượng, phượng bồng lấy loan.

"Bói phượng", "Cưỡi rồng" đều cũng có nghĩa là kén được chồng xứng đáng.

ướt mi
10-07-2007, 09:54 PM
- Tác Giả : Nguyễn Tử Quang


- Đằng Vương Các Tự


Vương Bột tự Tử An, người đất Long Môn. Sáu tuổi đă biết làm văn. Mười sáu, mười bảy tuổi nổi danh hạ bút nên vần.

Vương có thói quen, mỗi khi làm văn, mài mực sửa soạn nghiên bút rồi nằm đắp chăn ngủ. Khi tỉnh dậy, cầm ngay bút viết. Vương nổi tiếng là một thi sĩ cao danh thời Sơ Đường (618-713).

Con của vua Cao Tông nhà Đường bấy giờ làm Thái Sử ở Hồng Châu, được phong là Đằng Vương, có dựng một cái gác bên sông Tầm Dương gọi là "Đằng Vương Các". Lúc Diêm Bá Dư ra giữ chức Đô Đốc Hàng Châu, đặt tiệc tại gác Đằng Vương để thết tân khách. Muốn khoe tài chàng rể, bảo làm trước một bài tự, rồi mời tất cả các nhà quyền quư, các mặc khách tao nhân xa gần đến dự; và yêu cầu mỗi người làm một bài tự ngay bữa tiệc.

Vương Bột lúc bấy giờ, tuổi vừa 15, 16. Hay tin ấy, nhưng v́ đường xá xa xôi có mấy trăm dặm, không đến họp được, lấy làm tiếc. Một ông già khuyên chàng cứ sửa soạn thuyền buồm, tự nhiên sẽ có gió thổi. Quả nhiên đêm đó có gió lớn. Vương cho thuyền khởi hành, và hôm sau tới Đằng Vương các vừa kịp lúc vào tiệc (*).

Thấy Vương Bột, viên Đô Đốc họ Diêm khinh là con nít, miễn cưỡng cấp giấy bút. Nhưng cho người đứng bên cạnh Vương, hễ Vương viết được câu nào th́ chép lại cho ông xem.

Mới đọc hàng đầu, họ Diêm đă ngạc nhiên v́ lời già giặn. Đến câu:

Lạc hà dữ cô vụ tề phi,
Thu thủy cộng tràng thiên nhất sắc

Nghĩa:

Ráng chiều với c̣ lẻ cùng bay,
Nước thu cùng trời dài một sắc

th́ ông vô cùng khâm phục.

Bài của họ Vương đặc sắc hơn tất cả. Từ đó, danh càng vang dậy khắp nơi.

Bài phú "Đằng Vương các" viết theo thể biền ngẫu, dùng nhiều chữ cầu kỳ, nhiều điển khó hiểu nhưng lời th́ cực đẹp nên rất khó dịch. Trong bài, Vương Bột nhắc qua địa lư và nhân vật ở quận, nơi xây gác Đằng Vương, rồi tả chủ khách trong tiệc, phong cảnh chung quanh khi ngồi trong gác trông ra, sau cùng kể cảm tưởng của chính ḿnh.

Cuối bài thơ, có 8 câu tuyệt diệu, nhất là 4 câu cuối:

Nhàn vân đàm ảnh nhật du du,

Vật hoán tinh di, không độ thu?
Các trung đế tử kim hà tại?
Hạm ngoại trường giang không tự lưu.

Nghĩa:

Đầm chiếu mây bay, trời lửng lơ,
Sao dời vật đổi, mấy thu rồi.
Con vua trong gác nào đâu nhỉ?
Ḍng nước ngoài hiên vẫn tự trôi.

Nhưng người có tài như thế mà mạng yểu. Nhân khi đi thăm cha làm quan ở Giao Chỉ, Vương bị đắm thuyền, chết ở giữa biển giữa 29 xuân xanh.

Tương truyền rằng hai câu thơ:

Lạc hà dữ cô vụ tề phi,
Thu thủy cộng tràng thiên nhất sắc.

tuyệt diệu như thế mà có người cho Vương Bột c̣n dốt, nhưng không chỉ dốt chỗ nào. V́ thế khi chết, hồn c̣n uất ức nên trong đêm khuya thanh vắng thường hiện h́nh trên băi bể, níu áo những văn nhân sĩ tử qua đường, miệng ngâm nga hai câu thơ trên và hỏi dốt chỗ nào, xin chỉ giúp. Nhưng ai nấy đều khen hay. Hồn Vương không bằng ḷng, cho rằng sĩ tử kia c̣n dốt, thi khoa này không thể đậu. Quả thật như thế.

Rồi, cũng từ đó, giọng ngâm hai câu thơ kia vẫn c̣n văng vẳng bi ai theo h́nh bóng họ Vương thơ thẩn, dật dờ trên băi biển.

Nhưng một hôm có một văn nhân đi ngang qua đấy, hồn Vương hiện h́nh níu lại hỏi, th́ chàng văn nhân ấy cười bảo:

- Hai câu thơ ấy không phải sai nhưng nhà ngươi c̣n dốt thật. Đă bao năm có tiếng là tứ kiệt Sơ Đường mà không nhận biết được cái dốt của ḿnh trong hai câu thơ ấy ư?

Nói xong dứt áo ra đi. Vương tha thiết yêu cầu giải thích. Khách không phụ ḷng, nên bảo:

- Hai câu thơ thừa chữ "dữ" và chữ "cộng". Nếu bỏ hai chữ th́ thật tuyệt, vừa gọn vừa thanh thoát, lại nhất khí:

Lạc hà cô vụ tề phi,
Thu thủy tràng thiên nhất sắc.

Vương Bột nhận ra, quả c̣n dốt thật, mới bái tạ lănh lời chỉ giáo.

Từ đó, trong đêm khuya thanh vắng, trên băi biển không c̣n h́nh bóng của nhà thơ tài danh trẻ tuổi hiện ra nữa. Và giọng ngâm hai câu thơ bất hủ bi ai, năo ruột kia cũng ch́m mất trong không gian cao rộng, mịt mờ. Đây là một câu chuyện hoang đường.

Do câu chuyện gió đưa thuyền Vương Bột đến Đằng Vương các làm cho Vương nổi tiếng tài danh, nên cổ thi có câu: "Thời lai, phong tống Đằng Vương các" (Thời tới th́ gió đưa đến Đằng Vương) để chỉ sự may mắn của kẻ gặp thời. Những từ ngữ: "duyên Đằng", "gió đưa Đằng các" đều có ư nghĩa như thế.

Trong "Đoạn trường tân thanh" của Nguyễn Du có câu: "Duyên Đằng thuận nẻo gió đưa" là do điển tích trên.

ướt mi
10-07-2007, 09:55 PM
- Tác Giả : Nguyễn Tử Quang

Khúc đàn Thủy Tiên


Đất Kim Lăng bên Trung Quốc là nơi phồn hoa đô hội, thường dùng làm kinh đô cho các triều đại lâu đời. Ở đây có nhiều nơi danh thắng, khiến cho mặc khách tao nhân không ai là không muốn lưu liên thưởng ngoạn. Nhất là trên sông Tần Hoài, bên hồ Mặc Sầu, vào khoảng mùa xuân mát mẻ, những cành cây xanh, nước biếc, núi lam cũng đủ cung ngoạn cho các mặt tài tử giai nhân.

Có một chàng tên Giang Thu San, quê ở An Huy, vốn người phong nhă, tính ưu ngao du sơn thủy. Gặp buổi ngày xuân, chàng liền rủ bạn sang Kim Lăng thưởng xuân. Đến nơi nghe đồn trong vùng có một tuyệt thế giai nhân tên Thủy Tiên Tử, nổi tiếng danh cầm, gần xa ai cũng bái phục. Động ḷng hâm mộ, họ Giang cùng bạn cố t́nh t́m hỏi cho được đến nơi.

Buổi đầu gặp gỡ, để xin nghe tiếng đàn, Thu San hết sức van nài, mới được nàng chấp thuận. Đoạn, nàng ung dung vặn trục dạo tiếng cho nghe.

Thoạt khi tay tiên đặt đến tơ đồng, chỉ nghe khoan khoan nhè nhẹ, vẳng xa như có như không. Dần dần thi thấy vẻ người trầm lặng, hai tay thoăn thoắt nhanh nhanh. Rồi tiếng đàn chuyển sang giọng dồn dập sôi nổi như gió gào gió thét, như chen với tiếng muôn quân ngh́n ngựa x́nh xịch đổ tới. Kế đó, lại nổi giọng nỉ non réo rắt như oán, như than, khiến người ngồi nghe mê mẩn tâm thần như phiêu diêu chốn non Bồng, nước Nhược.

Thật là:

Trong như tiếng hạc bay qua,
Đục như tiếng suối mới sa nửa vời.
Tiếng khoan như gió thoảng ngoài,
Tiếng mau sầm sập như trời đổ mưa.
("Đoạn trường tân thanh" của Nguyễn Du)

Một lúc đàn im, Thu San từ từ định tỉnh và hỏi khúc đàn ǵ? Thủy Tiên Tử đáp:

- Đây là khúc "Thủy Tiên", tiện thiếp phỏng theo khúc "Thủy Tiên Tháo" của tay danh cầm ngày xưa là Bá Nha mà sáng tạo nên.

Thu San hỏi nguồn gốc, nàng ung dung kể lại rằng: "Ngày xưa, Bá Nha học đàn của ông Thành Liên. Được ba năm th́ đàn đă hay như chưa nhập điệu. Thành Liên bảo: "Thầy ta là Tử Xuân ở ngoài biển cả, có thể dùng đàn làm thay đổi ḷng người. Vậy ta cho ngươi ra đó để học thêm."

Đoạn dẫn Bá Nha xuống thuyền ra một ḥn đảo giữa biển khơi, bảo Bá Nha ở đợi, ông sẽ đón thầy đến. Rồi dong thuyền đi thẳng, không thấy trở lại. Bá Nha một ḿnh ở giữa đảo, chỉ thấy núi rừng mờ mịt, tiếng nước biển vỗ dồn dập, réo rắt chung quanh, chim chóc kêu rên bi thiết. Bá Nha cảm thấy buồn lạnh cả người, bất giác thở dài than: "Thầy ta muốn làm thay đổi tính t́nh ta đây ..."

Đoạn cầm đàn trổi lên một khúc. Vừa dứt khúc, đă thấy Thành Liên quày thuyền trở lại đón. Từ đấy, Bá Nha nổi tiếng là bực danh cầm; và khúc đàn ấy đặt tên là "Thủy Tiên Tháo". Tiện thiếp rất say mê khúc đàn đó nên mới mượn để đặt làm tên".

Thu San nghe xong, thán phục. Đoạn thở dài, nói với nàng:

- Trong "Tỳ Bà Hành" của Bạch Cư Dị có câu:

Đại huyền tao tao như cấp vũ,
Tiểu huyền thiết thiết như tư ngữ.
Tao tao thiết thiết thác tạp đàn,
Đại châu tiểu châu lạc ngọc bàn" ... (*)

Xưa nay, tôi vẫn cho lời thơ ấy diễn tả quá đáng. Nhưng hôm nay, diễm phúc nghe được điệu đàn của quư nương mới nhận thấy lời cổ nhân thật bức thiết chân t́nh.

Thủy Tiên Tử khiêm tốn từ tạ, đoạn sai thị nữ pha trà thủy tiên ra thết khách.

Bọn Thu San nâng chén nước uống, nghe thoang thoảng mùi thơm thanh nhă, khác hẳn với các vị hương trà quư thường dùng hằng ngày. Bất giác, ai cũng cảm thấy khoan khoái tinh thần như hiện thân như tiên cảnh.

Từ tạ ra về nhưng ḷng khách vẫn quyến luyến, nao nao tưởng nhớ. Nơi quê hương, không lúc nào không nhắc nhở đến Thủy Tiên.

Mùa xuân năm sau, Thu San chạnh ḷng nhớ người năm cũ, lần ṃ t́m đến Kim Lăng, mong lại được nghe tiếng đàn tuyệt diệu của con người ngọc. Nhưng đến nơi th́ khách giai nhân ngày xưa vắng bặt, chỉ thấy cây xanh nước biếc một màu!

ướt mi
10-07-2007, 09:57 PM
- Tác Giả : Nguyễn Tử Quang

- Vạn lư t́m chồng


Nhà Tần (306-209 trước D.L.), đời vua Tần Thủy Hoàng (221-209 trước D.L.) có người con gái họ Hứa tên Mạnh Khương. Chồng của nàng họ Phạm tên Thực, người ở miền Quan Trung nước Sở. Vốn con nhà danh giáo, từ nhỏ đă hấp thụ đạo đức, thư hương theo tinh thần gia phiệt.

Mạnh Khương kết hôn được ít lâu th́ nhằm lúc vua Tần mưu tính một công cuộc kiến trúc vĩ đại. Nguyên sau khi thôn tính xong sáu nước: Yên, Triệu, Hàn, Ngụy, Tề, Sở, Thủy Hoàng muốn bảo vệ ngai vàng và pḥng ngừa cuộc xâm lăng của bọn Hung Nô ở miền Bắc, mới truyền xây Vạn Lư Trường Thành để làm biên giới từ Lũng Tây ở mạn tây đến Liêu Đông ở mạn đông. Thành cao từ 15 đến 30 thước, chân rộng 25 thước, dài 3600 cây số. Cứ từng quăng lại có cửa ải đồ sộ.

Thủy Hoàng đặt công tŕnh lớn lao ấy dưới quyền chỉ huy của đại tướng Mông Điềm và dưới sự kiểm soát của Thái Tử Pḥ Tô. Nhà vua truyền huy động đến 30 vạn nông dân để xây trường thành, lại dùng đến 50 vạn người bắt làm binh pḥng giữ miền Lĩnh Nam. Ngoài ra hơn 70 vạn người bị cung h́nh (bị cắt sinh thực khí) chia đi làm cung A Pḥng, hoặc xây lăng ở Ly Sơn.

Vua truyền huy động đến hàng triệu thanh niên từ 18 đến 45 tuổi đi sưu dịch. Những người này không biết bao giờ mới trở về hay không chắc có ngày trở về nữa. V́ thế, trong nhân dân, vợ khóc chồng, mẹ khóc con vô cùng thảm năo.

Chồng nàng Mạnh Khương phải tuân lịnh nhà vua. Cha chồng đă mất để lại mẹ chồng, Mạnh Khương phải thay thế chồng phụng dưỡng mẹ và dưỡng dục con thơ. Nhà ngày suy sụp, nàng phải giă gạo, quay tơ để mưu sinh. Đối với mẹ chồng, nàng vẫn làm tṛn nhiệm vụ của một người dâu thảo.

Phần nỗi già, phần thương nhớ con, bà mẹ phát bịnh nặng rồi qua đời. Mạnh Khương phải lo cư tang báo hiếu. Đằng đẵng mấy năm trường trông đợi chồng nhưng bặt vô âm tín. Nghe được tin đồn ở miền bắc, v́ tuyết sương lạnh lẽo, v́ công việc quá khó nhọc nên có nhiều người ốm chết, Mạnh Khương thương chồng nên nhất định đến tận ải quan, mong t́m chồng để an ủi, giúp đỡ, san xẻ gánh nặng. Nàng gởi con cho người thân rồi ra đi.

Nàng theo đường vạn lư. Từ miền hộ Động Đ́nh nước Sở lên phía bắc đến kinh đô Hàm Dương. Nàng lại nghe đồn: bọn người sưu dịch đă lên vùng tây bắc, nên lại đi từ miền sông Hán Thủy đến dăy núi Tần Lĩnh về hướng tây, đoạn theo ḍng sông Tất Xuyên mà đi thẳng lên phía bắc. Trải qua bao cảnh nắng mưa, sương gió, tuyết, nhưng nàng vẫn không nản ḷng. Đến sông Hắc Thủy và bến Mă Lan, bị bùn lầy quá nhiều làm chậm bước tiến. Nàng lại men theo mé trường thành, thẳng về hướng đông. Hỏi han từng người, nhưng nàng vẫn thất vọng, v́ chẳng ai biết được tin chồng của nàng.

Cuối cùng, Mạnh Khương đến một băi sa mạc ở miền đông. Giữa lúc ấy, bỗng mây đen vần vũ phủ nhuộm u ám cả bầu trời. Gió bắc thổi giật giọng từng cơn vô cùng lạnh lẽo. Ngựa từ đâu lại cất tiếng hí vang những giọng thảm thê bi đát. Trước mặt nàng lại bày ra một đống xương trắng ngổn ngang, ghê rợn.

Trước cảnh tượng, nàng hỏi: "Có lẽ chồng ta đă thác mất rồi mà thác ở đây chăng?" Và, nàng lại, nghĩ thêm: "Có lẽ phần anh linh của chồng báo điềm lạ cho nàng". Nàng bèn khấn vái vong linh của chồng và cầu Hoàng Thiên pḥ hộ: nếu chồng nàng thác rồi th́ xin cho một biểu hiệu để biết. Đoạn, nàng cắn móng tay, rỏ máu vào những đống xương.

Từ đống xương này cho đến đống xương khác, măi đến khi nàng rỏ một giọt máu vào chiếc đầu lâu nọ, th́ chiếc đầu lâu lại thấm máu và đỏ rực lên. Nàng hiểu ngay đấy là dấu hiệu Trời cho biết đây là hài cốt của chồng. Nàng liền ôm chầm lấy ngay bộ xương, khóc lóc thê thảm suốt cả ba ngày đêm.

Câu chuyện này thấu đến tai thái tử Pḥ Tô, con trưởng của Tần Thủy Hoàng và đại tướng Mông Điềm, lúc bấy giờ đương đóng đại bản doanh tại đất Lư Long, một ải quan trong tỉnh Hà Bắc ngày nay. Rồi cả hai cấp tốc sai người đánh xe đến Trác Lộc, chỗ của nàng Mạnh Khương đương khóc. Thái tử Pḥ Tô gọi nàng hỏi chuyện và t́m hiểu căn do nỗi oan ức của nàng. Nàng bây giờ đă kiệt sức, phều phào thưa:

- V́ chồng tôi đă chết nơi biên thùy, tôi cũng xin chết theo để được cùng nhau họp mặt ở suối vàng!

Nói xong, nàng nghẹn ngào, hấp hối, ngă quỵ rồi tắt thở. Đồng thời một dăy tường mới xây sụp đổ theo!

Nghe chuyện bi thảm và xem cảnh hăi hùng, hai người nao nao cảm động. Cả đến tướng sĩ và dân phu đều thương xót mà rưng rưng nước mắt.

Thái tử Pḥ Tô hạ lịnh hành lễ mai táng. Lễ truy tặng phẩm hàm Tả Tướng quân cho Phạm Thực và truy phong tước hiệu Trinh Phu Nhân cho Mạnh Khương. Pḥ Tô truyền chôn hai cỗ săng vào một cánh cửa Sơ Hải quan chừng 8 dặm, cách ven Bột Hải chừng một dặm (dặm: 576m).

Thấy việc hiển linh lạ lùng, người ta lập gần nơi nầy một miếu đá gọi là "Khương Nữ Tử". Đời sau, tại Cổ Bắc khẩu, tỉnh Hà Bắc và ở Lộ An, tỉnh Sơn Tây, người ta cũng có dựng miếu đặt cùng một tên ấy. V́ sùng mộ nhân đức của nàng, những bá tính xa gần thường đến chiêm bái.

Đời nhà Tây Hán (206-25), nhà Đông Hán (25 trước D.L.-220 sau D.L.), nhà Ngụy (220-265), mộ nàng Mạnh Khương được triều đ́nh lập cho nhiều bia đá. Sang đời nhà Minh (1368-1644), miếu của nàng được trùng tu vẻ vang.

ướt mi
10-07-2007, 09:57 PM
THIẾU PHỤ NAM XƯƠNG

Vũ Nương có chồng là chàng Trương. Hai đàng ăn ở với nhau thật thuận ḥa vui vẻ và sanh đặng một đứa con trai đặt tên là Đản.

Gặp phải lúc trong nước có giặc giă, chàng Trương phải ra đi làm nhiệm vụ của người nam nhi, Vũ Nương ở nhà lo làm lụng để nuôi mẹ chồng và đứa con thơ.

Chẳng bao lâu mẹ chồng qua đời. Cảnh nhà càng hiu quạnh. Đứa con càng lớn lên, trông càng dễ thương. Lắm khi nó bập bẹ hỏi cha nó ở đâu, Vũ Nương bảo rằng cha nó đi làm ăn xa cũng sắp sửa trở về.

Có đêm, thằng bé Đản nhớ cha, kêu khốc om ṣm, dỗ hoài không nín. Vũ Nương ôm con vào ḷng mà nghẹn ngào thương cảm. Nhơn nh́n lên vách, thấy bóng ḿnh rọi lên đó, mới nghĩ cách vỗ về con. Nàng kêu Đản, trỏ lên vách mà nói rằng:
- Đó, ba con về rồi kia.

Thằng Đản lấy làm vui mừng không khóc nữa. Đêm nào nó cũng đùa với cái bóng trên vách mà nó gọi bằng ba rồi ngủ rất ngon.
Thời gian thấm thoát trôi qua. Giặc giă đă yên. Chàng Trương khăn gói trở về Nam Xương là nơi quê hương để gặp vợ và con. Vợ chồng mừng mừng tủi tủi trong phút sum vầy. Chàng Trương không khỏi cảm thương cho vợ ḿnh cố gắng nuôi con rày đă lớn khôn.

Lúc bấy giờ, Vũ Nương xách rổ đi chợ mua thức ăn về để làm cỗ đăi chồng. Nàng trao bé Đản cho chồng ẩm. Khi nàng đi rồi, thằng bé giẫy nẩy lên kêu khóc không chịu cho chàng Trương bồng, nó nói rằng chàng Trương không phải là cha của nó.

Chàng Trương lấy làm lạ, vừa dỗ dành ngon ngọt, vừa hỏi Đản:
- Nếu ta không phải là cha của Đản. Vậy chớ cha của Đản là ai?
Đản thỏ thẻ nói:
- Cha của Đản đến đây thường lắm. Đêm nào, cha của Đản cũng đến đây nô đùa với Đản, tới khuya Đản buồn ngủ mới thôi.
Chàng Trương nghi ngờ ngay vợ ḿnh ngoại t́nh trong lúc ḿnh vắng nhà, v́ vậy đêm đêm mới có người đàn ông đến đây nô đùa với Đản.
Vũ Nương đi chợ về, thấy khí sắc chồng không vui th́ hỏi han. Chàng Trương mới tức giận mắng nhiếc vợ thậm tệ và toan đuổi đi. Vũ Nương đoán hiểu chồng nghi ngờ ḿnh có t́nh riêng trong lúc vắng nhà.

Nàng nghĩ rằng thân phận đàn bà chữ trung trinh tiết liệt làm đầu, thế mà nàng không khéo giữ ǵn cho trọn vẹn th́ xấu hổ biết bao nhiêu. Chỉ c̣n có cái chết mới tỏ được nỗi oan t́nh.

Nghĩ vầy, nên nàng đi ra bờ sông gieo ḿnh tự vận.

Cả làng hay tin, t́m vớt xác của nàng lên , ai cũng lấy làm thương tiếc.

Một đêm, Đản đang ngồi trong ḷng cha, vùng trỏ lên vách, kêu to:
- Ḱa, cha của Đản đến kia ḱa.

Chàng Trương nh́n lên vách, thấy bóng ḿnh phản chiếu ánh đèn dầu in lên đó. Bấy giờ chàng mới hiểu rơ nguồn cơn, ḷng vô cùng hối hận v́ đă nghi oan cho vợ ḿnh.
Mọi việc đă lỡ rồi c̣n biết làm sao? Chàng Trương mới đem con ra bờ sông bày lễ cúng tế để giải oan cho người vợ trung trinh tiết liệt.
Dân làng cảm gương tiết nghĩa nên lập miếu thờ Vũ Nương ở bờ sông, tục gọi là miếu "Người thiếu phụ Nam Xương."

st

ướt mi
10-07-2007, 09:58 PM
Tác Giả : Nguyễn Tử Quang

- Động Bích Đào

Ở xă Trị Nội, huyện Nga Sơn, phía hữu núi Thần Phù có "Bích Đào động" cũng gọi là "Từ Thức động", trong trải rộng răi mà lại thanh hư, cây cối xinh tốt. Trong động có bàn đá, có những viên đá nhỏ la liệt h́nh như con cờ. Những thạch nhũ rũ xuống h́nh như trống chuông, khẽ đánh có tiếng kêu. Lại có những thứ như màn trướng, lọng dù trông rất kỳ xảo, cảnh trí rất xinh đẹp.

Muốn vào trong hang động, phải nối đuốc mà đi. Nhưng cũng chưa ai đi cùng đến đáy.

Tương truyền trong niên hiệu Quang Thái (1388-1398) đời nhà Trần nước ta có ông Từ Thức là quan huyện Tiên Du (tỉnh Bắc Ninh). Bên cạnh huyện có một ngôi chùa có trồng một cây hoa mẫu đơn. Mỗi khi nở hoa th́ người người các nơi đổ đến, xe ngựa dập d́u làm thắng hội thưởng hoa.

Trong khi mọi người nh́n ngắm hoa đẹp th́ bỗng có một thiếu nữ tuổi độ mười lăm, mười sáu, dung nhan diễm lệ bước đến đưa tay vuốt lấy hoa. Nhưng chẳng may khi vịn lấy một cành th́ cành gịn bị gẫy. Người giữ hoa giữ lại, bắt đền. Nàng không đền mà măi đến tối cũng không có người thân quen đến nhận. Từ Thức thấy vậy động ḷng thương xót, bèn cởi áo bạch cẩm cừu đưa cho nàng chuộc tội để được tha về.

Một thời gian sau, v́ không muốn ràng buộc bởi lợi danh, Từ Thức bỏ ấn từ quan về ở huyện Tống Sơn. Rồi ngày ngày, Từ với một bầu rượu, túi thơ, chu du khắp chốn danh lam thắng cảnh. Một hôm nh́n thấy cửa biển Thần Phù có đám mây ngũ sắc kết lại h́nh như hoa sen, Từ vội chèo thuyền đến thấy một ḥn núi rất đẹp, Từ sinh cảm khái, nhân đề một bài thơ:

Thiên chương bích thụ quải triêu đôn,

Hoa thảo nghinh nhân nhập động môn.

Bạng giản dĩ vô tăng thái dược,

Lâm lưu thặng hữu khách tầm nguyên.

Lữ du tư vị cầm tam lộng,

Điếu đỉnh sinh nhai nhất tửu tôn.

Nghĩ hướng Vũ Lăng ngư phủ vấn,

Tiền lai viễn cận thực đào thôn.



Bản nôm:

Đầu cành thấp thoáng bóng kim ô,

Hoa động vui mừng đón khách vô.

Cạnh suối nào là người hái thuốc?

Quanh nguồn chỉ có gă bơi đ̣.

Xênh xang ghế mát đàn ba khúc,

Đủng đỉnh thuyền câu rượu một ṿ.

Ướm hỏi Vũ Lăng chàng đánh cá,

Làng Đào đâu đó cách chừng mô.



Từ đề xong nhưng bỡ ngỡ chưa biết đường nào đi, thoạt thấy vách đá tách mở ra một chỗ tṛn độ một thước. Từ chui vào chưa được vài bước th́ vách đá khép kín lại. Đi được vài dặm, thấy sườn đá đứng cao như vách tường. Lần leo lên, mỗi bước lại thấy càng rộng. Đến chót núi th́ có ánh mặt trời chiếu sáng, nh́n quanh bốn phía thấy một dăy lầu đài thiên nhiên cực kỳ xinh tốt như tranh vẽ.

Từ đương lấy làm ngạc nhiên, bỗng thấy có thanh y đồng nữ đến bảo:

- Phu nhân tôi xin mời tướng công vào.

Từ vâng lời. Thẳng vào th́ thấy một tiên nga đương ngồi trên giường chạm thất bảo, bên cạnh có đặt một chiếc tháp nhỏ bằng đàn hương. Tiên nga mời Từ ngồi, đoạn ung dung bảo:

- Đây là hang động thứ sáu torng số 36 động ở Phù Lai. Thiếp đây là Ngụy phu nhân địa tiên Nam Nhạc, nghe nhà ngươi có cao nghĩa hay cứu trợ người khốn đốn, nên mới phiền bước đến đây.

Đoạn, phu nhân gọi A Nương đến.

Từ liếc nh́n, nhận ra là cô gái làm găy hoa ngày trước. Phu nhân chỉ A Nương mà bảo Từ:

- Đó là con ta, tên Giáng Hương, khi trước nhờ người cứu việc làm găy hoa, ơn ấy không quên nên ta muốn kết làm giai ngẫu để trả.

Lẽ cố nhiên, Từ rất vui ḷng.

Ngay trong đêm ấy, phu nhân truyền thắp đèn mỡ phụng, trải chiếu vũ rồng, làm lễ giao bôi.

Thấm thoát đă được một năm.

Nhưng cảnh tiên không khuây khỏa được ḷng trần. Từ bỗng động ḷng nhớ cố hương nên ngỏ ư với Giáng Hương. Biết không giữ được, nàng đành thưa với mẹ. Phu nhân biết Từ c̣n nặng ḷng trần tục nên bằng ḷng cho chàng một chiếc cẩm vân xa để đi về. Riêng Giáng Hương th́ giao cho chàng một phong thư, dặn về đến nhà hăy mở ra xem.

Đến nhà, cảnh cũ không c̣n như xưa, vật đổi sao dời, thành quách, nhân dân hoàn toàn khác trước; duy cảnh núi sông là c̣n như thuở độ nào. Từ đem tên họ ḿnh mà hỏi thăm người già cả, th́ có người nói:

- Thuở tôi nghe nói ông cụ tam đại nhà tôi cũng cùng tên họ như ông, đi vào núi mất đến nay đă hơn 60 năm.

Từ bấy giờ mới hậm hục bùi ngùi, muốn lên xe mây để về lối cũ, nhưng xe đă hóa ra con tường loan bay mất rồi. Từ mở thư của Giáng Hương xem th́ thấy có câu: "Kiết loan lữ ư vân trung, tiền duyên dĩ đoạn; phỏng tiên sơn ư hải thượng, hậu hội vô nhân" (Kết bạn loan ở trong mây, duyên trước đă dứt; t́m núi tiên ở trên biển, hội sau khôn cầu). Ư nói: duyên trước kết đôi loan phụng cùng nhau nay đă đoạn tuyệt rồi; ngày sau muốn t́m lại núi tiên cũng không được.

Về sau, Từ Thức mặc áo khinh cừu, đội nón lá, vào núi Hoàng Sơn ở huyện Nông Cống (Thanh Hóa) rồi đi mất.

Lê Quí Đôn, đời Hậu Lê, có vịnh bài thơ:

Câu chuyện thần tiên rất khó lường,

Bích Đào động nọ đă hoang lương.

Áo bông gió bụi: thân Từ Thức,

Mày liễu xuân tàn: sắc Giáng Hương.

Trống đá ngày qua nghe tiếng động,

Nhủ diêm sương nhuộm mất mùi thường.

Thiên thai mộng tưởng cho thêm khổ,

Ai biết thiên thai cũng hí trường.



Nguyên văn:

Hải thượng quần tiên sự diếu mang,

Bích Đào động khẩu thái hoang lương.

Kiều khôn nhất cát cùng Từ Thức,

Vân thủy song nga lăo Giáng Hương.

Thạch cổ hữu thanh xao hiểu nhật,

Sa diêm vô vị niết thu xương.

Thế nhân khổ tác Thiên thai mộng.

Thùy thức Thiên thai diệc hí trường.

ướt mi
10-07-2007, 09:59 PM
- Tác Giả : Nguyễn Tử Quang
- Duyên nợ ba sinh


"Ba sinh" do chữ "Tam sinh" nghĩa là ba kiếp luân chuyển: kiếp này sang kiếp khác. Duyên nợ ba sinh là duyên nợ từ ba kiếp với nhau. Ư nói duyên nợ phải làm vợ chồng với nhau do số kiếp tiền định.

Trong bài thơ "Khóc ông phủ Vĩnh Tường" của Hồ Xuân Hương có câu:

Trăm năm ông phủ Vĩnh Tường ôi,

Cái nợ ba sinh đă trả rồi!

Trong "Đoạn trường tân thanh" của cụ Nguyễn Du cũng có câu:

Ví chăng duyên nợ ba sinh,

Th́ chi đem giống khuynh thành trêu ngươi.

Sách "Truyền đăng lục" và sách "Quần ngọc chú" có chép:

Xưa có chàng Tỉnh Lang, một hôm đến chùa Nam Huệ tự, nằm chơi, bỗng ngủ quên, chiêm bao thấy ḿnh đi chơi non Bồng. Tỉnh Lang nh́n thấy một nhà sư ngồi niệm kinh, trước mặt có một cây nhang đương cháy. Tỉnh Lang thấy lạ, hỏi. Nhà sư đáp:

- Khi trước có một người đi cúng chùa, thắp cây nhang này, khấn nguyện. Nhang hăy c̣n cháy mà người ấy đă sinh ba kiếp rồi. Kiếp đầu nhà Đường, đời vua Huyền Tông, làm quan Phủ sứ ở đất Kiến Nam. Kiếp thứ hai cũng đời Đường, đời vua Hiến Tông, làm quan đất Tây Thục. Kiếp thứ ba, sinh ra tên Tỉnh Lang.

Tỉnh Lang nghe đến tên ḿnh bỗng giựt ḿnh tỉnh dậy, nhưng ḷng nửa tin nửa ngờ.

Lại có một điển tích khác.

Đời nhà Đường (618-907), có nhà sư tên Viên Trạch, một hôm cùng bạn là Lư Nguyên Thiện đi chơi. Gặp một mụ đàn bà gánh nước, Viên Trạch nói:

- Người đàn bàn này đă có mang ba năm đợi tôi vào làm con. Nay đă gặp đây, không thể nào trốn được. Hẹn ba ngày nữa, bạn đến, ta lấy nụ cười làm tin. Mười ba năm sau, ta lại sẽ gặp nhau tại chùa Thiên Trúc ở Hàng Châu, vào đêm Trung Thu trăng sáng.

Chiều đó, sư Viên Trạch mất.

Người đàn bà nọ sinh con trai. Ba hôm sau, Lư đến thăm. Quả nhiên đứa bé thấy Lư th́ cười, đúng như lời hẹn. Mười ba năm sau, Lư đến chùa Thiên Trúc ở Hàng Châu, thấy một cậu chăn trâu hát rằng:

Tam sinh thạch thượng cựu tinh hồn,

Thưởng nguyệt ngâm phong bất yếu luân,

Tàm qui t́nh nhân viễn tương phỏng

Thử thân tuy dị, tính thường đồng.

Nghĩa:

Là tinh hồn cũ đă ba sinh,

Trăng gió làm chi để bận ḿnh.

Thẹn với người quen xa viếng hỏi,

Thân này tuy khác, tính nguyên lành.

"Ba sinh" có nghĩa là số kiếp tiền định. "Nợ ba sinh" là nợ số kiếp tiền định, duyên số với nhau từ kiếp trước.

ướt mi
10-07-2007, 10:00 PM
Chắp cánh, liền cành

- Nguyễn Tử Quang


"Chắp cánh, liền cành" tức là "Chim chắp cánh, cây liền cành".

Sách Nhĩ Nhă chép: Chim Kiêm giống chim le le, lông màu xanh, chỉ có một cánh và một mắt, thường ở phương Nam. Mỗi khi muốn bay th́ hai con phải chắp cánh với nhau mới bay được.

Chim này gọi là tỷ dực điểu, cũng gọi là Kiêm Kiêm.

Cây liền cành là cành của hai cây giao nhau.

Nguyên đời Chiến Quốc (479-221 trước D.L.) vua nước Tống tên Yển vốn người hiếu sắc, dâm bạo. Một hôm đến chơi ở g̣ Phong Phụ, bắt gặp một phụ nữ hái dâu rất đẹp. Vua dọ hỏi biết là vợ của nho sĩ Hàn Phùng, người họ Tức. Vua liền cho đ̣i Hàn, bảo đem vợ lại hiến ḿnh. Hàn sợ uy quyền, về thuật cho vợ nghe và khóc hỏi có bằng ḷng không? Tức Thị làm thơ để tỏ ư ḿnh:

Núi nam có con chim

Núi bắc giăng lưới bắt.

Chim mặc sức bay cao,

Lưới kia đành quăng vất.

Vua Tống say mê sắc đẹp của nàng, theo đuổi không thôi. Liền sai người đến tận nhà Hàn, cướp lấy người ngọc. Hàn thấy vợ bị bắt đưa lên xe đi, ḷng như dao cắt, biết không phương giải cứu, kiếp này khó họp, đau đớn quá mà tự tử.

Vua Tống đem Tức Thị lên đài Thanh Lăng, cưỡng bách, bảo nàng:

- Ta đây là vua một nước, có đủ uy quyền sinh sát trong tay. Muốn phúc, ta cho phúc. Muốn họa, ta cho họa. Phương chi chồng nàng đă chết, nàng c̣n ở với ai. Nếu bằng thờ quả nhân, cùng tay bắt mặt kề th́ sẽ được phong hoàng hậu.

Tức Thị nổi giận làm thơ tỏ ư ḿnh:

Chim có trống mái,

Chẳng theo phượng hoàng.

Thiếp là thứ dân,

Chẳng thích Tống Vương.

Vua Tống tức quá, bảo:

- Nàng đến đây rồi, dẫu không muốn thờ ta cũng không thể được.

Tức Thị thấy thế cùng, nói:

- Để thiếp tắm gội, thay áo, lạy linh hồn chồng cũ rồi sẽ xin hầu đại vương.

Vua Tống bằng ḷng cho.

Tức Thị tắm gội, thay áo xong, ngửa trông lên không, chắp tay vái hai vái rồi từ trên lầu đâm đầu xuống. Vua Tống hoảng hốt, vội níu lại nhưng không kịp, trông nàng đă tắt thở rồi. Khám xem trong ḿnh nàng có một bức thư. Đại ư nói: sau khi chết xin cho đem thi thể cùng chôn một mộ với chồng, dưới suối vàng sẽ đội ân sâu.

Vua Tống cả giận, cho người chôn riêng một nơi, làm hai mộ cách xa nhau. Được ba hôm, bỗng một đêm có giống cây Văn Tử mọc ở cạnh hai ngôi mộ. Chỉ trong tuần nhật, cây ấy dài hơn ba thước, những cành quấn quít lấy nhau như một. Thỉnh thoảng có một đôi chim uyên ương đậu ở trên cành, giao đầu kêu nhau một giọng bi thương. Người trong xóm thương xót, cho đó là oan hồn của vợ chồng Hàn Phùng hóa sinh; và gọi thứ cây ấy là "Cây tương tư".

Trong tác phẩm "Đoạn trường tân thanh" của Nguyễn Du có câu:

Trong khi chắp cánh liền cành,

Mà ḷng rẻ rúng đă dành một bên.

"Chắp cánh liền cành" ư nói: vợ chồng gắn bó.

Trong "Chinh phụ ngâm" của Đặng Trần Côn, có câu:

An đắc tại thiên vị tỷ dực điểu,

Tại địa vị liên lư chi.

Bà Đoàn Thị Điểm diễn nôm:

Thiếp xin về kiếp sau này,

Như chim liền cánh, như cây liền cành.

Trong "Trường hận ca" của Bạch Cư Dị đời nhà Đường bên Tàu, đoạn thuật lời thề giữa đêm thất tịch của Đường Minh Hoàng cùng Dương Quí Phi tại điện Trường Sinh, có câu:

Tại thiên nguyệt tác tỷ dực điểu,

Tại địa nguyện vi liên lư chi.

Nghĩa là:

Trên trời nguyện hóa chim liền cánh,

Dưới đất làm cây nhánh dính liền

để nói ư: vợ chồng gắn bó chung thủy đời đời, không bao giờ xa rời nhau.

ướt mi
10-07-2007, 10:02 PM
Lá thắm đưa duyên


NTQ

Triều vua nào cũng vậy, nhiều giai nhân tuyệt sắc trong nước được tuyển vào cung để làm cung nữ. Họ là những giai nhân bạc mạng, đi chẳng có về, suốt đời chịu cảnh lạnh lùng, buồn tủi, sầu đau trong chốn thâm cung.

Nhà vua có cả tam cung, lục viện, hàng ngàn cung nữ phi tần toàn bực diễm kiều, tài sắc cả. Mỗi đêm ngủ ở cung nào, nhà vua phải nhờ xe dê đưa đến. Xe dừng trước cung nào th́ nhà vua vào cung ấy. Có những nàng hằng năm không được đoái hoài, đành chịu cảnh cô pḥng giá lạnh.

Đời Đường (618-907), đời vua Hy Tông có nàng cung nữ tuyệt sắc tên Hàn Thúy Tần sống cảnh lẻ loi buồn bực trong thâm cung, nên thường nhặt những chiếc lá đỏ (hồng diệp) rồi đề thơ lên trên lá, thả xuống ng̣i nước:

Nước chảy sao mà vội?

Cung sâu suốt buổi nhàn.

Ân cần nhờ lá thắm

Trôi tuốt đến nhân gian.

Nguyên văn:

Lưu thủy hà thái cấp

Cung trung tận nhật nhàn.

Ân cần tạ hồng diệp.

Hảo khứ đáo nhân gian.

Chiếc lá chở bài thơ theo ḍng nước chảy xuôi ra ngoài ṿng cấm lũy. Lúc bấy giờ có người môn khách của quan Tể Tướng Hàn Vinh tên Vưu Hựu vốn kẻ phong lưu tài tử, thơ hay, chữ tốt, chỉ hiềm một nỗi vận chưa đạt nên đành chịu sống nhờ nơi quan Tể Tướng họ Hàn. Đương thơ thẩn ngắm ḍng nước chảy, Hàn bỗng nh́n thấy chiếc lá có bài thơ, lấy làm lạ mới vớt lên xem. Cảm t́nh chan chứa với người gởi thơ lạ mặt, chàng cũng bẻ một chiếc lá, viết một bài thơ vào đấy, đợi ḍng nước xuôi mới thả lá xuống cho trôi trở vào cung.

Nghe oanh thấy liễu chạnh ḷng thương,

Thương kẻ trong cung lúc đoạn trường.

Chiếc lá đề thơ trôi mặt nước,

Gởi cho ai đó nói không tường.

(Bản dịch của Phan Như Xuyên)

Người cung nữ họ Hàn thường ngồi nh́n ḍng nước chảy, bỗng bắt được chiếc lá trở vào của người không quen biết, mới đem cất vào rương son phấn.

Ba năm sau, nhà vua sa thải một số cung nữ, trong đó có Thúy Tần. Nàng đến ở tạm dinh quan Tể Tướng họ Hàn để chờ thuyền trở về quê cũ, bỗng gặp Vưu Hựu. Hai người tṛ chuyện, ư hợp tâm đầu. Tể Tướng họ Hàn thấy cả hai đều xứng đôi vừa lứa nên làm mối thành duyên giai ngẫu.

Đêm tân hôn, Hựu chợt mở rương của vợ thấy chiếc lá của ḿnh ngày xưa. Lấy làm lạ lùng, chàng cũng đem chiếc lá của ḿnh vớt được cho vợ xem. Th́ ra cả hai lại giữ hai chiếc lá của nhau. Cho là thật duyên trời định.

Cổ thi có bài: (*)

Một đôi thi cú theo ḍng nước

Mười mấy năm qua nhớ dẫy đầy.

Mừng bấy ngày nay loan sánh phụng

Cũng nhờ lá thắm khéo làm mai.

Nguyên văn:

Nhất liên giai cú tùy lưu thủy,

Thập tải ưu tư măn tố hoài.

Kim nhật khước thành loan phượng lữ,

Phương tri hồng diệp thị lương môi.

Trong "Đoạn trường tân thanh" của cụ Nguyễn Du, có câu:

Thâm nghiêm kín cổng cao tường,

Cạn ḍng lá thắm, dứt đường chim xanh.

hay:

Dù khi lá thắm chỉ hồng,

và:

Nàng rằng hồng diệp xích thằng,

Nên chăng th́ cũng tại ḷng mẹ cha.

"Lá thắm", "Hồng diệp" đều do điển tích trên.

ướt mi
10-07-2007, 10:03 PM
- Tác Giả : Nguyễn Tử Quang

- Nằm gai, nếm mật


"Nằm gai nếm mật" do chữ "Ngọa tân thường đảm".

Đời Xuân Thu (722-479 trước D.L.), hai nước Ngô và Việt đánh nhau. Sau trận đại bại tại Cối Kê, vua Việt là Câu Tiễn phải ḿnh trần sang lạy vua Ngô là Phù Sai xin hàng. Ngô vương bắt vợ chồng Câu Tiễn phải sang Ngô làm con tin, có quan Tướng Quốc là Phạm Lăi theo hầu. Cả ba đều bị giam trong ngục đá.

Hằng ngày vợ chồng Câu Tiễn và Phạm Lăi phải cắt cỏ, hốt phân ngựa, gánh nước rửa dọn chuồng ngựa, kiếm củi nấu cơm... Suốt thời gian ba năm, chúa tôi sống một cách vô cùng vất vả cực nhọc, những vẫn bền chí đợi thời.

Một hôm vua Ngô đau, Câu Tiễn nghe theo lời của Phạm Lăi là chịu nếm phẩn của vua Ngô để được vua Ngô tin kẻ hàng giữ dạ trung thành. Nhờ đó mà cả ba được phóng thích về nước.

Được trở về cố quốc, nhớ đến nỗi thất bại nhục nhă và bị giam cầm làm nô lệ, Câu Tiễn vô cùng căm uất, ḷng canh cánh mưu toan báo thù. Tướng quốc Phạm Lăi nói:

- Chúa công chớ lúc nào quên cái nhục ở ngục đá th́ mới có cơ báo thù được nước Ngô.

Câu Tiễn đáp:

- Xin vâng lời dạy bảo!

Bấy giờ giao quốc chính cho Văn Chủng, giao quân chính cho Phạm Lăi, nhà vua tôn hiền đăi sĩ, kính người già, thương kẻ nghèo, đối xử trăm họ như anh em nên được mọi người mến phục.

Đến mùa làm ruộng, Câu Tiễn cũng vác cày đi càỵ Vương phi Câu Tiễn cũng chăm việc dệt cửi. Cùng đám dân chia sự lao khổ, ăn mặc rất tiết kiệm.

Muốn gấp báo thù, Câu Tiễn cố sức chăm chỉ làm việc suốt ngày đêm. Khi nào buồn ngủ th́ lấy cỏ lục (rau răm) xoa vào mắt cho cay làm mắt phải mở. Chân lạnh muốn co th́ dầm nước lạnh. Mùa đông lạnh th́ ôm giá. Mùa hè nóng nực th́ ngồi bên lửa. Bỏ cả giường nệm, lấy gai lấy củi lót nằm. Quả mật luôn luôn treo ở chỗ ngồi, chỗ nằm, thỉnh thoảng lại nếm một ít như để nhắc lại nỗi tủi nhục, khổ đau. Đêm nào cũng sùi sụt khóc. Khóc chán lại thở dài. Hai chữ "Cối Kê" lúc nào cũng lẩm nhẩm ở miệng.

Theo 7 kế phá Ngô của Văn Chủng, mới thi hành được 3 th́ nước Việt hưng thịnh, nước Ngô suy. Cuối cùng nước Việt báo được thù, thôn tính nước Ngô, và vua Ngô tự tử.

Trong bài "Văn tế trận vong tướng sĩ" của Nguyễn Văn Thành đời vua Gia Long, có câu: "Nằm gai nếm mật chung nỗi ân ưu; mở suối bắc cầu riêng phần lao khổ".

"Nằm gai nếm mật" có nghĩa chịu những việc lao khổ để trả thù cho kỳ được là do điển tích trên.

ướt mi
10-07-2007, 10:04 PM
- Tác Giả : Nguyễn Tử Quang

- Nghiêng nước nghiêng thành

Đời Vũ Đế nhà Hán (140-86 trước D.L.), có một người phường chèo tên Lư Diên Niên múa hát rất giỏi. Được hầu trong nội điện, cung vi của nhà vua, Lư Diên Niên được nghe vua thường than thở:

- Trẫm lập đền Minh Quang, kén hai ngàn mỹ nhân ở vùng Yên Triệu. Nhỏ nhất 15 tuổi, quá 30 tuổi sa thải cho lấy chồng. Thế mà, trong chốn dịch đ́nh có trên 10 ngàn mỹ nhân vẫn chưa thấy ai đẹp cho vừa ḷng trẫm. Thật là thiên hạ thiếu giai nhân tuyệt sắc.

Lư Diên Niên có một em gái sắc đẹp tuyệt trần, thường ra vào hầu hạ B́nh Dương công chúa. Một hôm, nhân dịp múa hát chầu Vũ Đế, Lư Diên Niên hát:

Phương bắc có giai nhân

Tuyệt vời đứng riêng bực,

Một liếc, người nghiêng thành.

Hai liếc, người nghiêng nước.

Lẽ nào không biết được

Người đẹp thành nước nghiêng,

Người đẹp khó t́m gặp.

Nguyên văn:

Bắc phương hữu giai nhân

Tuyệt thế nhi độc lập.

Nhất cố khuynh nhân thành;

Tái cố khuynh nhân quốc

Khởi bất tri

Khuynh thành dữ khuynh quốc

Giai nhân nan tái đắc.

Nghe hát, Hán Vũ Đế thở dài, than:

- Thế gian lại có người đẹp đến thế chăng?

B́nh Dương công chúa nhân đứng hầu bên cạnh nhà vua liền tâu:

- Diên Niên có người em gái đẹp tuyệt trần, c̣n hơn người trong bài hát ấy nữa.

Nhà vua truyền đ̣i người đẹp vào cung, xem mặt. Quả là một bực giai nhân tuyệt sắc, lại giỏi nghề múa hát, làm cho nhà vua càng mê mẩn tâm thần, liền phong làm phu nhân. Từ ấy, nhà vua chỉ say sưa đắm đuối bên ḿnh nàng, không c̣n tha thiết đến một ai nữa. Năm sau, nàng hạ sinh được một con trai.

Một hôm, nàng lâm bịnh nặng, Hán Đế đến tận giường bịnh thăm hỏi. Nàng kéo chăn che kín mặt, tâu:

- Thiếp đau từ lâu, h́nh dung tiều tụy, không dám đem cái nhan sắc ủ dột tàn phai ra mắt đấng quân vương. Thiếp chỉ xin gởi lại nhà vua một đứa con bé nhỏ và mấy người anh em của thiếp.

Hán Đế ngậm ngùi bảo:

- Phu nhân bịnh nặng không thể qua khỏi được th́ hăy giở chăn cho ta nh́n mặt, há chẳng làm cho ta được thỏa ḷng sao?

Nàng vẫn che kín mặt, từ tạ:

- Theo lẽ quân thần, phu phụ, đàn bà mặt không sạch, không được ra mắt quân phụ. Vậy thiếp xin nhà vua tha thứ cho.

Nhà vua cố nài nỉ. Nàng vẫn thở dài úp mặt vào trong, không nói năng ǵ, vẫn giữ chặt lấy chăn.

Vũ Đế tức quá, đứng phắt dậy ra về.

Nhiều người sợ nhà vua giận, nên có ư trách nàng. Nàng trả lời:

- Đàn bà là kẻ chỉ hay lấy nhan sắc thờ chồng. Nhan sắc kém, t́nh duyên sẽ phai nhạt, và t́nh yêu sẽ kém. Nhà vua quyến luyến ta chỉ v́ nhan sắc xinh đẹp lúc mạnh. Nay ta đau, nhan sắc suy kém, so với thiên hạ ta là kẻ xấu xa. Nh́n mặt ta, nhà vua sẽ chán th́ khi nào c̣n tưởng nhớ đến ta mà ban ân huệ cho anh em ta nữa.

Sau đó nàng chết. Vua Vũ Đế chôn cất nàng rất hậu, lại truyền họa sĩ vẽ h́nh nàng treo ở cung Cam Tuyền, phong cho anh em nàng quan tước cao.

Ngày tháng qua nhưng h́nh bóng người đẹp vẫn lởn vởn trước mắt, và mối t́nh thương nhớ vẫn canh cánh bên ḷng... mà nhà vua không t́m thấy thú vui, người đẹp nào bằng người đă khuất.

Đời nhà Đường (618-907), vua Đường Minh Hoàng dắt Dương Quí Phi thưởng hoa mẫu đơn ở đ́nh Cẩm Hương, sai người vời Lư Bạch đến bắt dâng ngay ba bài "Thanh B́nh điệu". Lư c̣n say rượu nhưng cầm bút viết luôn ba bài. Bài thứ ba có câu:

Danh hoa khuynh quốc lưỡng tương hoan,

Thường đắc quân vương đới tiếu khan.

Nghĩa:

Danh hoa nghiêng nước sánh đôi vui,

Để xứng quân vương một nụ cười.

Chữ "khuynh quốc" để chỉ cái đẹp tuyệt với của Dương Quí Phi.

Trong "Đoạn trường tân thanh", thi hào Nguyễn Du tả sắc đẹp nàng Kiều cũng có câu:

Một hai nghiêng nước nghiêng thành,

Sắc đành đ̣i một, tài đành họa hai.

"Nghiêng nước, nghiêng thành" xuất sứ ở bài hát của Lư Diên Niên.

chieunhatnang
10-07-2007, 10:06 PM
Mèn, hổm rày nhỏ Nắng không thấy cái góc này a -
Thiệt là thiếu sót - hihihi -
Chị Ướt Miiiiii :waytogo: :rose:

ướt mi
10-07-2007, 10:15 PM
- Hà Đông sư tử

NTQ

Trần Tạo tự Quư Thường, người đời nhà Tống, quê ở Vĩnh Gia. Vợ của Trần họ Liễu vốn có tính ghen dữ ghê gớm. Quư Thường rất sợ vợ nhưng rất có ḷng tôn sùng đạo Phật. Hằng ngày ngồi đọc kinh, vợ lấy làm bực, la hét om ṣm, nhưng Trần vẫn điềm nhiên, không dám cự một tiếng.

Tính của Trần cũng hào hoa, bằng hữu nhiều, nên ở nhà thường có yến tiệc. Để tăng phần hứng thú, long trọng của buổi tiệc, Trần chiều khách, mời kỹ nữ xướng ca. Liễu Thị trong pḥng mượn điều này, điều nọ, quát tháo om ṣm. Trần có lúc hốt hoảng, cầm gậy nơi tay bỏ rơi mất gậy. Bạn thân của Trần là Tô Đông Pha, nhân đó làm một bài thơ đùa cợt:

Thùy tự Long Khâu cư sĩ hiền,

Đàm không thuyết pháp dạ bất miên.

Hốt văn Hà Đông sư tử hống,

Trụ trượng lạc thủ tâm mang nhiên.



Tạm dịch:

Ai hiền bằng thầy đồ Long Khâu,

Đọc kinh thuyết pháp suốt đêm thâu,

Bỗng nghe sư tử Hà Đông rống,

Kinh hoàng bỏ gậy rớt nơi đâu.

"Hà Đông sư tử" chỉ người đàn bà ghen dữ tợn.

Tô Đông Pha dùng hai tiếng "Hà Đông" là mượn câu thơ của Đỗ Phủ: "Hà Đông nữ nhi thân tính Liễu" (cô gái Hà Đông người họ Liễu) v́ vợ của Quư Thường cũng họ Liễu. Và tiếng "Sư tử" do lời trong kinh Phật: sư tử là chúa loài thú, mỗi khi rống lên th́ các thú vật đều khiếp đảm để vừa chỉ tính ghen dữ của Liễu Thị, vừa chỉ Quư Thường là một tín đồ đạo Phật.

Tú Xương trong bài thơ vịnh cảnh lấy lẽ, có câu:

Hậu hạ đă cam phiền cát lũy,

Nhặt khoan c̣n ỏi tiếng Hà Đông.

ướt mi
10-07-2007, 10:18 PM
ĐỘNG ĐÀO NGUYÊN

Đào Nguyên c̣n gọi là động Bích.
Đây là chỗ tiên ở.

NTQ

Tương truyền đời nhà Tấn (265-419), có người chài cá ở huyện Vũ Lăng, một hôm chèo thuyền đi ngược ven theo bờ suối. Càng đi xa chừng nào th́ thấy có nhiều hoa đào trôi theo ḍng nước đổ xuống. Đến một quăng, bỗng thấy trước mặt hiện ra một rừng đào. Hoa đào đỏ rực rỡ làm cho ngư phủ càng thấy say sưa thích thú. Định co người ở gần đấy nên bỏ thuyền, lên bờ. Vượt qua rừng đào, đến một ngọn núi. Dưới chân núi có một cửa hang nhỏ hẹp, vừa chui được một người. Bên trong thấp thoáng có ánh sáng.

Gợi tính ṭ ṃ, chàng lách ḿnh vào cửa hang. Lúc đầu, cửa hang c̣n hẹp, sau rộng dần, rồi cả một thế giới hiện ra: ruộng vườn tươi tốt, nhà cửa thôn ấp liên tiếp nhau; tiếng gà, tiếng chó nghe rơ mồn một; thanh niên thiếu nữ đều say sưa công việc đồng áng. Trên mặt mọi người hiện nét vui tươi chất phác hồn nhiên. Người già, con trẻ đều có vẻ ung dung thanh thản.

Những người ở đây thấy chàng ngư phủ th́ lấy làm kinh ngạc hỏi: làm sao đến được chốn này? Ngư phủ tŕnh bày sự thực. Các bực phụ lăo đem vợ con ra chào mừng khách lạ, dọn cơm rượu đăi khách. Ngư phủ ăn uống lấy làm ngon lạ, v́ tuy cơm rượu mà tính chất khác thường.

Những bực phụ lăo lại nói:

- Tổ tiên chúng tôi tránh loạn đời Tần, đem cả gia đ́nh vào ở đây, từ đó cách biệt với bên ngoài. Hiện nay, chúng tôi không c̣n biết nhà Hán, huống hồ là nhà Ngụy, và nhà Tấn.

Cuối cùng, họ lại dặn ngư phủ: sau khi ra khỏi chốn này, xin đừng cho ai biết có họ ở đây.

Người đánh cá ở chơi một hôm rồi xin cáo biệt.

Từ đời nhà Tần (221 trước D.L.) đến nhà Tấn (419 sau Dương lịch) mà họ đến đây tránh nạn kể ra có trên sáu trăm năm. Người đánh cá cho ḿnh may mắn đă được gặp tiên. Nên khi trở về, nhiều người đến thăm hỏi, trước c̣n t́m cách giấu nhưng cuối cùng chuyện thấu đến quan Thái Thú sở tại, ngư phủ đành phải thuật cả việc lại.

Có tính hiếu kỳ, viên Thái Thú sai người đi theo chàng ngư phủ t́m lại động Đào Nguyên, nhưng hai người bị lạc đường đành phải trở về.

Trong truyện "Hoa tiên" của Nguyễn Huy Tự có câu: "Nào hay là khách Đào Nguyên đă về".

Trong "Đoạn trường tân thanh" của Nguyễn Du đoạn thuật lại lời Thúy Kiều nói với Kim Trọng trong khi nhà vắng, nàng lén sang chỗ ở của chàng, có câu: "Xắn tay mở khóa động Đào".

"Động Đào" là động Đào Nguyên, Kiều dùng lối thậm xưng, đề cao chỗ ở của t́nh nhân như một cơi tiên; và nàng cũng vinh hạnh được vào... cơi tiên ấy.

Trong "Tần cung nữ oán Bái Công văn" của Nguyễn Hữu Chỉnh (?) có câu: "Nếu tuổi xanh chẳng nhuốm bụi hồng, chiếc ngư phủ đă đưa vào động Bích".

"Động Đào", "Đào Nguyên", "động Bích" đều do điển tích trên.

ướt mi
10-07-2007, 10:21 PM
Gương vỡ lại lành


NTQ
Trung Quốc, đời nhà Trần, người hầu cận Thái Tử là Từ Đức Ngôn có t́nh với Nhạc Xương công chúa.

Khi nhà Trần suy loạn, Từ bảo công chúa:

- Nước mất, nàng tất lọt vào nhà quyền quư. Nếu t́nh duyên chưa dứt th́ c̣n có ngày được gặp nhau.

Đoạn, bẻ tấm gương làm đôi, mỗi người giữ một mảnh hẹn nhau đến ngày thượng nguyên sẽ đem gương đến kinh đô bán để t́m nhau.

Bấy giờ, giặc đánh vào đế đô. Từ chạy thoát, c̣n công chúa bị tướng giặc là Việt Công bắt ép làm vợ. Đến ngày rằm tháng giêng, Từ đem mảnh gương ra chợ bán, thấy có người cùng bán một mảnh gương giống của ḿnh. Lấy hai mảnh gương ghép lại th́ liền nhau như một. Từ bèn gởi cho người bán gương, nhờ đem về cho chủ mảnh gương ấy và kèm theo một bài thơ:

Người đi gương cũng đi,

Gương về người chưa về.

Chị Hằng đâu chẳng thấy,

Chỉ thấy ánh trăng ḷe.

Nguyên văn:

Cảnh dữ nhơn câu khứ,

Cảnh quy nhơn vị quy

Vô phục Hằng Nga ảnh,

Không lưu minh nguyệt huy.

Nhạc Xương công chúa đọc thơ khóc rống lên. Việt Công hỏi, công chúa thuật lại cả. Việt công lấy làm cảm động, thương t́nh bèn cho cả hai người tái hợp.

Trong tác phẩm "Đoạn trường tân thanh" của cụ Nguyễn Du có câu:

Bây giờ gương vỡ lại lành,

Khuôn thiêng lừa lọc đă dành có nơi.

ướt mi
10-07-2007, 10:27 PM
Khối t́nh mang xuống tuyền đài chưa tan

NTQ

Bên Trung Hoa, tại vùng Trúc Giang có một chàng lái buôn tên Quan Diệp Nhược yêu một nàng thôn nữ tên Tần Thúy Hải. Cả hai yêu nhau thắm thiết, nguyện cùng kết tóc, se tơ cho đến ngày răng long tóc bạc.

Quan Diệp Nhược thường đi buôn bán nơi xạ Mỗi chuyến đi có cả hàng tháng. Và, mỗi chuyến đi như thế, chàng đều có hẹn ngày về với nàng. Đúng ngày, nàng Tần Thúy Hải đến đón người yêu. Lần nào cũng đúng hẹn cả.

Thời gian xa nhau không lâu nhưng họ đều cảm thấy dài đăng đẳng. Nỗi nhớ thương vẫn canh cánh bên ḷng. Nhưng v́ sự nghiệp, họ đành phải chịu đựng và cầu mong ngày tái ngộ.

Mùa thu năm ấy, ngô đồng vừa rụng lá, Quan Diệp Nhược lại phải từ giă, tạm chia tay cùng người yêu, lên đường sang Hồ Bắc buôn châu báu với mấy người bạn. Cũng như thường lệ, nàng Tần ra tiễn Quan hẹn ngày này tháng sau sẽ trở về.

Nhưng chuyến này lại khác.

Đến ngày hẹn, nàng Tần trang điểm, hớn hở vui tươi để ra đón người yêu. Nàng mỏi mắt trông chờ suốt ngày đêm mà không thấy bóng chàng trở về. Rồi ngày này sang ngày khác, mấy lần thu qua đông đến nàng mỏi ṃn chờ đợi, nhưng người yêu xưa lại chẳng thấy về, tin tức cũng vắng bặt. Hay là chàng đă bỏ ḿnh nơi đất khách quê người? Nàng quằn quại sống trong cảnh sầu thương, mong nhớ.

Rồi, một ngày đông lạnh lẽo, tuyết rơi phủ trắng cả ṿm trời, nàng Tần trút hơi thở trên giường bịnh.

Theo tục lệ ở địa phương, những gái tiết trinh chết được hỏa táng thi hài. Lửa đă đốt cháy người trinh nữ, xương thịt nàng Tần đă trở thành tro bụi, nhưng khi người ta bới đám tro tàn lạnh lẽo ấy bắt gặp một quả tim đóng thành một khối long lanh như ngọc. Lửa không sao đốt cháy, búa đập cũng không tan. Ai cũng lấy làm lạ, cho đó là khối t́nh u uất của nàng v́ tương tư thương nhớ người yêu, v́ quá đau khổ nỗi duyên phận bẽ bàng... Tuy thân xác đă tiêu tan mà khối t́nh vẫn c̣n măi măi.

Nhưng rồi, một hôm Quan Diệp Nhược lại trở về. Sở dĩ chàng sai lời hẹn ước v́ chàng gặp phải tai nạn bất ngờ. Ngày về giữa đường chàng bị giặc cướp cả tiền bạc, thuyền bè, làm chàng phải lênh đênh phiêu bạt, lại lâm trọng bịnh, tưởng là bỏ xương nơi đất khách.

Cảm thương người yêu v́ quá thương nhớ ḿnh mà chết, Quan Diệp Nhược lấy làm đau đớn vô cùng. Chàng cầm lấy quả tim thành ngọc của người yêu mà khóc nức nở. Lạ thay, nước mắt của chàng rỏ xuống th́ viên ngọc ấy lại tan ra ḥa theo giọt nước mắt của chàng.

Bên Việt Nam ta cũng có một truyện giống như trên.

Trương Chi làm nghề lái đ̣. Một con thuyền bềnh bồng trên mặt nước, hằng ngày đưa khách sang sông. Chàng Trương vốn có tâm hồn nghệ sĩ. Những khi hoàng hôn vừa tắt sau dăy đồi xa, bóng đêm bao phủ khắp không gian, lửa cháy lốm đốm nổi theo ḍng nước, th́ chàng lại cất tiếng hát vang lên. Giọng chàng trong trẻo, thánh thót như giọng hót của sơn ca vào buổi b́nh minh.

Tiếng hát của Trương lại đồng vọng rót vào lầu tây của một quan Tể tướng, làm động ḷng của nàng trinh nữ Mỵ Nương. Mỗi đêm, nàng đứng tựa bên lầu chờ nghe tiếng hát của chàng Trương. Một mối t́nh thầm kín, sâu xa giữa nàng tiểu thư, con quan Tể tướng với anh lái đ̣ ngày càng thắm thiết, mặn nồng.

Vắng tiếng hát của Trương Chi, Mỵ Nương bàng hoàng, nhớ thương, đau khổ. Nàng mang nặng một mốt t́nh câm. Rồi từ ấy, nàng mắc phải bịnh tương tư ngày càng trầm trọng, thuốc thang không chữa được. Chỉ mỗi lần có tiếng hát ngoài sông văng vẳng đưa vào th́ bịnh của nàng mới đỡ được đôi phần.

Biết con gái say mê tiếng hát anh lái đ̣, quan Tể tướng cho đ̣i Trương Chi đến. Nhưng thảm thay, diện mạo của Trương Chi quá xấu xí, Mỵ Nương trông thấy chán nản, bịnh tương tư lại khỏi hẳn.

Tưởng rằng đ̣i đến sẽ được hàn thuyên cùng người ngọc, không ngờ lại chán chường nỗi tủi nhục, Trương Chi lấy làm đau đớn. Về nhà, h́nh bóng yêu kiều của Mỵ Nương ám ảnh măi. Trương lâm bịnh tương tư, thuốc thang chạy chữa không khỏi. Cuối cùng Trương chết trong tủi hận sầu đau v́ mối t́nh tuyệt vọng.

Ba năm cải táng, xương thịt của Trương đều tan ră, chỉ nguyên có quả tim c̣n lại đóng thành khối ngọc rất đẹp. Có người đem dâng ngọc quả tim của Trương cho quan Tể tướng. Thấy ngọc lớn và đẹp, Tể tướng cho tiện thành chén uống nước trà.

Mỵ Nương lấy chén ngọc rót nước uống. Vừa nâng chén lên th́ trong chénlại hiện ra một chàng lái đ̣ vừa chèo đ̣ vừa hát, giọng văng vẳng năo nùng như phảng phất đâu đây. Nàng nh́n kỹ là h́nh bóng của Trương Chi đương hát trên sông vắng.

Cảm mối t́nh tha thiết của Trương Chi, Mỵ Nương đau đớn, ôm chén ngọc, khóc nức nở. Nước mắt của nàng rỏ xuống chén ngọc làm chén ngọc vỡ tan ḥa theo nước mắt của nàng.

Sử ta cũng có chép:

Nhà Hậu Lê (1533-1788), vua Tây Sơn là Nguyễn Huệ đem quân sang đánh Bắc Hà, vua cuối cùng nhà Hậu Lê là Lê Chiêu Thống bỏ chạy sang Tàu cùng một số quan ṭng vong. Chiêu Thống mong cầu viện vua nhà Thanh đem binh sang giúp ḿnh mong dựng lại cơ đồ.

Nhưng quân nhà Thanh vừa bị vua Quang Trung Nguyễn Huệ đánh bại tại trận Đống Đa, vua Càng Long nhà Thanh vỡ tan mộng xâm lược nên bằng ḷng chịu ḥa với Tây Sơn, do đó sự cầu viện của vua Lê bất thành. Vua nhà Thanh lại c̣n bạc đăi, sỉ nhục vua Lê đến điều, bắt các quan lại ṭng vong như Lê Quỳnh, Trịnh Hiến cả thảy 10 người phải đổi áo gióc bím như dân nhà Thanh và c̣n đày họ mỗi người ở mỗi nơi.

Vua Chiêu Thống lấy làm tủi nhục. Hoàng tử lên đậu chết, nhà vua càng buồn bă rầu rĩ hơn nữa nên lâm phải bịnh ngày thêm trầm trọng, rồi mất (1793).

Khi vua Gia Long lên ngôi, năm 1802, sai sứ sang Tàu cầu phong, các quan nhà Lê nhân dịp dâng biểu xin đem hài cốt vua và hoàng hậu về nước. Vua Gia Khánh nhà Thanh bằng ḷng.

Trong lúc đào đất lên để cải táng mả vua Lê th́ thấy da thịt đă tiêu cả, chỉ c̣n có quả tim không nát, vẫn đỏ như thường. Ai trông thấy cũng động ḷng thương xót. Ông Trần Trọng Kim, soạn giả quyển "Việt Nam sử lược" chép đến đoạn này có lời phê: "Dẫu chuyện đó thực hư thế nào mặc ḷng, nhưng tưởng đến t́nh cảnh vua Chiêu Thống lúc bấy giờ, th́ ai cũng ái ngại thay cho ông vua một nước phải đày đọa đến nỗi như thế, có thể làm một bài bi kịch thảm xót muôn đời. Tuy rằng tại vua tôi nhà Lê vụng tính cho nên bị người ta đánh lừa, nhưng cũng nên trách vua quan nhà Thanh xử tệ bạc đăi một ông vua vong quốc, đem thân đến nương nhờ nước ḿnh. Ấy cũng là một thời dă man về đời áp chế, khiến cho cái oan khổ của người ta muôn đời về sau không tiêu thoát đi được."

Trong tác phẩm "Đoạn trường tân thanh" của cụ Nguyễn Du, đoạn Kiều bán ḿnh cho Mă Giám Sinh trước khi theo về Lâm Truy, nàng ngồi đối bóng với ngọn đèn khuya, nhớ đến mối t́nh đầu giữa nàng và Kim Trọng v́ gia biến mà phải dang dở, bẽ bàng nên than thở:

Biết bao duyên nợ thề bồi,

Kiếp này thôi thế th́ thôi c̣n ǵ.

Tái sinh chưa dứt hương thề,

Làm thân trâu ngựa đền ngh́ trúc mai.

Nợ t́nh chưa trả cho ai,

Khối t́nh mang xuống tuyền đài chưa tan.

ướt mi
10-07-2007, 10:30 PM
- Tết Trung Thu


Tết Trung ThuTết Trung Thu ăn vào ngày rằm tháng 8. Nguyên cuối đời nhà Tây Hán (206 trước 23 sau D.L.), Vương Măng nhân được cầm giữ chính quyền, thiện tiện phế lập và cuối cùng cướp được ngôi vua, đặt quốc hiệu là Tân.

Bấy giờ có người tông thất về chi xa của nhà Hán là Lưu Tú nổi lên chống lại Vương Măng, chiếm được thành tŕ. Nhưng thế lực Măng c̣n thời mạnh mẽ, nên Lưu Tú bị bao vây, phải chờ binh cứu viện.

Trong thời gian chờ đợi, trong thành đă hết lương thực. Quân sĩ phải đào củ chuối mà ăn. Rốt cuộc củ chuối, củ vỏ cũng không c̣n nữạ Và, binh cứu viện cũng chưa thấy đến. Lưu Tú lấy làm lo lắng, mới đặt bàn hương án cầu trời: "Nếu có thể khôi phục được Hán triều, ḍng Hán chưa tuyệt th́ xin Thượng Đế ban phép mầu cho mọc vật chi để cầm cự đỡ ḷng mà chờ viện binh đến".

Lời của Lưu Tú động đến thiên đ́nh.

Sáng hôm sau, giữa lúc quân lịnh đào đất để t́m vật ăn th́ bỗng đào được một thứ khoai. Họ mừng rỡ, đem về nấu ăn. Đó là một thứ khoai môn, vị rất bùi, ăn rất ngon. Nhưng quân lính ăn nhiều quá mang chứng śnh bụng, không tiêu được. Lưu Tú đâm hốt hoảng, lại đặt bàn hương án cầu trời.

Ba hôm sau, quân lính trong thành đi t́m thức ăn bỗng bắt gặp một thứ cây bưởi có trái. Họ hái trái ấy ăn thấy ngon nên ăn nhiều quá; và cũng nhờ đó mà đi tiêu được, không c̣n mắc phải chứng bịnh śnh bụng nữạ Cầm cự một thời gian như thế, viện binh đến, dùng cách ngoại công nội ứng nên giải được vây.

Ngày mà Lưu Tú cầu trời nhằm ngày rằm tháng 8.

Truyền thuyết như thế.

Sau Vương Măng bị giết. Hai năm sau, Lưu Tú b́nh định được toàn quốc, lên ngôi vua tức là Quang Vơ Đế nhà Hậu Hán. Nhân Quang Vơ đóng đô ở Lạc Dương thuộc về miền đông nước Tàu nên gọi là Đông Hán.

V́ muốn kỷ niệm lại những vật nuôi sống trong thời kỳ bị vây là khoai môn và bưởi, nên đến ngày rằm tháng 8, nhà vua làm lễ tạ trời đất, lại thưởng trăng bằng hai vật là bưởi và khoai môn. Rồi được truyền khắp dân gian.

Hai vật này là hai vật chính mà người Tàu dùng để cúng trăng. Sau lần lần, người ta mới bày thêm bánh in, có đề chữ "Trung thu nguyệt bỉnh", tổ chức thành một ngày lễ long trọng gọi là Tết Trung Thu.

V́ ngày rằm 8 tháng 8 đúng vào giữa mùa Thu, theo luật âm dương tuần hoàn, trong một năm được phân định bốn kỳ: Xuân phân, Hạ chí, Thu phân và Đông chí. Rằm tháng 8 vào thời kỳ Thu phân (giữa mùa thu) lại giữa tháng 8 nên gọi là tiết Trung Thu.

Tiết Trung Thu đọc trại là Tết Trung Thu.

Khi nói đến Tết Trung Thu là nói đến trăng tṛn, trăng sáng, trăng đẹp. Thế nên người Tàu c̣n kêu tết Trung Thu là "Lễ trông trăng".

Lễ này có mục đích là trông mặt trăng để đoán định vận mạng quốc gia, tiên liệu mùa màng... và trông trăng để gợi nguồn cảm hứng cho thi tứ của tao nhân mặc khách.

Theo cổ học Đông phương th́ trăng thuộc về Thủy trong 5 ngũ hành (Kim, Một, Thủy, Hỏa, Thổ) mà Thủy (nước) là một yếu tố quyết định nghề nông... Cho nên, vào đêm rằm Trung Thu, nhân dân kéo ra sân mà quan sát mặt trăng. Nếu trăng vàng th́ năm tới sẽ trúng mùa tằm tợ Nếu trăng có màu xanh, màu lục th́ thiên hạ sẽ lâm cảnh thất mùa cơ hàn do thiên tai: hạn hán, lụt lội. Nếu trăng trong sáng màu cam la, biểu lộ một cảnh thạnh trị thái b́nh...

Ấy là ngắm trăng thu để tiên tri thời cuộc, mùa màng, c̣n tao nhân mặc khách ngắm trăng thu để gợi nguồn cảm hứng. Những nhà thơ VN cũng như những nhà thơ Trung Hoa có rất nhiều thơ về trăng thu và về mùa thụ Nhưng mỗi người có một tính cáh; cũng như thơ có nhiều sắc thái do t́nh cảm buồn sầu v́ thu hay vui vẻ v́ thu chẳng hạn.

Đỗ Phủ, một thi hào danh tiếng thời thịnh Đường (715-766), nhân lênh đênh phiêu bạt đất khách có 2 năm trời, ḷng hoài vọng cố hương nên gởi ḷng trong một bài "Thu hứng" rất lâm ly, áo năo:

Ngọc lộ điêu thương phong thụy lâm,

Vu sơn, Vu giáp khí tiêu sâm.

Giang gian ba lăng kiêm thiên dũng,

Tái thượng phong vân tiếp địa âm.

Tùng cúc lưỡng khai; tha nhật lệ,

Cô chu nhất lệ: cố viên tâm.

Hàn y xứ xứ thôi đao xích,

Bạch Đế thành cao cấp mộ châm.

Dưới đây là hai bản dịch: một của cụ Nguyễn Công Trứ và một của ông Ngô Tất Tố:

Lác đác rừng phong hạt móc sa,

Ngàn lau hiu hắt khí thu mờ.

Ngút trời sóng dậy ḷng sông thẳm,

Rợp đất mây ùn mặt ải xa.

Khóm trúc tuôn hai hàng lệ cũ

Con thuyền buộc một mối t́nh nhà.

Lạnh lùng giục kẻ tay đao thước,

Thành quạnh dồn chân buổi ác tà.

(Nguyễn Công Trứ)

Vàng úa rừng phong, hạt móc bay,

Non Vu hiu hắt phủ hơi may.

Ḍng sông cồn cộn, trời tung sóng,

Ngọn ải mờ mờ, đấy rợp mây,

Lệ tủi: sợ coi cḥm cúc nở,

Ḷng quê: mong buộc chiếc thuyền đầy.

Giục ai kéo thước lo đồ lạnh,

Đập vải trời hôm rộn tiếng chày.

(Ngô Tất Tố)

ướt mi
10-07-2007, 10:33 PM
- Mật lịnh trong nhưn bánh Trung Thu


Năm 1279, Nguyên Thế Tổ là Hốt Tất Liệt - vua Mông Cổ - đem quân đánh nhà Nam Tống ở Trung Quốc. Nam Tống đại bại bị diệt. Nhà Nguyên làm chủ toàn bộ Trung Quốc. Lần thứ nhứt, Trung Quốc bị ngoại tộc thống trị.

Đối với Trung Quốc, nhà Nguyên vẫn giữ quan niệm kỳ thị chủng tộc. Trong nước bấy giờ chia làm bốn đẳng cấp: người Mông Cổ, người Sắc Mục (chỉ người Tây Vực và Châu Âu), người Hán (chỉ người nước Liêu và nước Kim c̣n sót lại). Giữa người Mông Cổ và người Hán có một chế độ chênh lệch. Những chức vụ quan trọng về chính trị và quân sự đều tập trung vào tay người Mông Cổ. Người Hán và người Nam chỉ được giữ những địa vị phụ thuộc.

Hạng nho sĩ được người Trung Quốc quư trọng th́ bị người Mông Cổ khinh miệt. Họ thường có câu nói ví: "Thứ tám là đĩ, thứ chín là nho, thứ mười là ăn mày".

Muốn đề pḥng nội loạn, nhà Nguyên cấm chỉ dân Giang Nam cầm binh khí. Trong ṿng 10 nhà th́ đặt giáp trưởng để giữ người Nam. Các vương công và quan lại Mông Cổ tự do cướp ruộng đất của nông dân để làm mục trường và nô tỳ.

Sự bức bách khắc nghiệt đó chính là một yếu tố quan trọng, tạo thành một động lực cho phong trào nông dân bạo độc và dân tộc tranh đấu đ̣i giải phóng.

Năm 1337, đời Thuận Đế nhà Nguyên, Châu Quang Khanh nổi dậy ở Quảng Châu, Bạng Hồ ở Tín Dương Châu. Tiếp theo đó nông dân quật khởi ở nhiều nơi khắp miền nam và miền bắc.

Năm 1351, cha con Hàn Sơn Đồng lập Bạch Liên Hội, lợi dụng tôn giáo để tổ hợp nông dân. Đây là một giáo hội bí mật, tuyên truyền rằng: "Hoa sen trắng (Bạch liên) nở có Phật Di Lặc giáng thế", đồng thời viết kinh sách và phù chú để truyền bá trong dân gian. Phong trào này gây nhiều ảnh hưởng ở Hà Nam và Giang Hoài.

Hàn Sơn Đồng bị bắt. Con là Hàn Lâm Nhi nối lấy nghiệp cha và xưng đế. Đồng thời, Trương Sĩ Thành chiếm cứ đất Ngô; Trần Hữu Lương chiếm cứ Giang Châu; Châu Nguyên Chương chiếm cứ Tập Khánh (thành Nam Kinh bây giờ).

Châu Nguyên Chương xuất thân là một thầy tu. Bên cạnh lại có vị quân sư là Lưu Bá Ôn vốn người đa mưu túc trí. Năm 1367, Châu Nguyên Chương xưng vương tuyên bố tranh đấu giải phóng dân tộc, thành lập chánh quyền của người Trung Hoa, chiếm cứ vùng Giang Hoài, thống nhất phương Nam. Năm 1368, Châu Nguyên Chương sai tướng Từ Đạt và Thường Ngộ Xuân đem binh lên miền bắc đánh vua Nguyên Thuận Đế.

Mùa thu tháng 8 năm 1368.

Tướng Từ Đạt và Thường Ngộ Xuân điều động quân đội mở cuộc bắc tiến với mật kế của quân sư Lưu Bá Ôn.

Nhân dân Bắc kinh đang tổ chức cúng rằm Trung thu. Họ chuẩn bị bánh, bưởi, khoai môn... Nhưng khi cắt bánh ra, dân chúng trong thành rất đỗi ngạc nhiên thấy trong nhưn bánh có một mảnh giấy vàng con đề một ḍng chữ nhỏ son đỏ vắn tắt: "Khuya ngày rằm Phật Di Lặc giáng thế, cầm đèn lồng đi rước".

Cho là thần linh báo trước, mọi người mừng rỡ. Ai ai cũng vâng lịnh thần linh. V́ họ tin rằng: khi Phật Di Lặc giáng thế là lúc họ sẽ được thoát khỏi cảnh lầm than mà bước đến đài hạnh phúc.

Trước kia, khi đặt nền thống trị Trung Hoa, người Mông Cổ muốn bắt người Hán theo văn hóa du mục của họ. Nhưng văn hóa ḥa nhă tinh tế của người Hán lần lần cảm hóa được tính chất của người Mông Cổ, có ảnh hưởng sâu xa tinh thần người Mông Cổ, thành ra dân tộc bị chinh phục trở lại đồng hóa kẻ thống trị ḿnh. Do đó vua Thuận Đế chẳng những bằng ḷng cuộc tổ chức lễ nghi của dân Trung Hoa mà c̣n sẵn sàng bày những cuộc vui chơi trong đêm rằm Trung Thu để thưởng nguyệt nữa.

Nhà vua cùng quần thần mặc say sưa chè chén.

Dân chúng trong thành mặc tự do đi đi lại lại. Ai ai cũng cầm trong tay một chiếc đèn lồng. Cả bầu trời sáng rực. Thật là một hội hoa đăng tưng bừng, náo nhiệt.

Cửa thành mở toát

Người đi lại tấp nập.

Trên vườn Thượng Uyển, Thuận Đế tay nâng cốc rượu say sưa ngắm chị Hằng, bên cạnh bao vây một hàng vũ nữ, nàng nào cũng lộng lẫy xinh tươi.

Dưới đường, dân chúng cầm lồng đen cũng say sưa chờ đợi để đón rước Phật Di Lặc giáng thế.

Canh hai, canh ba ... không thấy ǵ. Nhưng ...

Bỗng một tiếng pháo lịnh nổ.

Một số người cầm đèn bấy giờ buông đen, tay đổi cầm khí giới.

Th́ ra, một số quân lính của Từ Đạt và Thường Ngộ Xuân giả làm dân chúng, cầm đen trà trộn đột nhập vào thành để làm nội ứng.

Quân lính bên ngoài lại xông vào hợp với quân trong thành tấn công dữ dội.

Tiếng ḥ hét vang dậy.

Chúa tôi nhà Nguyên giữa lúc say sưa chè chén bên cạnh bọn vũ nữ quay cuồng với khúc Nghê Thường vũ y, bị đánh th́nh ĺnh, không phương chống cự nên cuống cuồng bỏ chạy.

Quân của Từ Đạt chiếm lấy thành.

Vua Thuận Đế nhà Nguyên bị đuổi chạy về Mông Cổ.

Châu Nguyên Chương thâu lại toàn bộ Trung Quốc, lên ngôi hoàng đế, định đô tại Tập Khánh (Nam kinh), đổi quốc hiệu là Minh. Ấy là vua Minh Thái Tổ.

Nước Trung Hoa vào tay người Mông Cổ trong 89 năm (1279-1386), trải qua mười đời vua, nay lại trở về người Hán.

Xiềng xích đô hộ tan vỡ. Nhân dân hoan lạc âu ca.

Một "nhưn bánh" ... lịch sử.

ướt mi
10-07-2007, 10:39 PM
Mèn, hổm rày nhỏ Nắng không thấy cái góc này a -
Thiệt là thiếu sót - hihihi -
Chị Ướt Miiiiii :waytogo: :rose:

Tội nhỏ nắng chạy tưng bừng...!:applause:

ướt mi
10-08-2007, 08:25 PM
Tri kỷ

NTQ


Đời Xuân Thu, Quản Di Ngô tự là Trọng, vốn người có tài kinh bang tế thế. ngày c̣n hàn vi, chưa gặp thời thường cùng bạn là Bảo Thúc Nha đi buôn chung. Lúc chia lời, Quản Trọng thường lấy phần hơn. Người ngoài thấy thế bất b́nh, nhưng Bảo Thúc Nha vui vẻ nói:

- Quản Trọng không phải tham mà lấy tiền ấy, chỉ v́ gặp cảnh quẫn bách bất đắc dĩ nên ta cũng bằng ḷng nhường cho hắn.

Quản Trọng ở chỗ thị tứ thường bị lắm kẻ nạt dọa, hà hiếp mà không một lời phản kháng. Mọi người cười cho là hèn mạt, nhu nhược, nhưng Bảo Thúc Nha cho bạn là người khoan dung.

Quản Trọng thường đàm luận cùng Bảo Thúc Nha nói nhiều điều sai lầm. Bảo nói:

- Đó là con người chưa gặp vận. Chớ lúc gặp thời th́ trăm việc không hỏng việc nào.

Lúc theo việc quân, mỗi khi ra trận th́ Quản Trọng đi sau; khi thu qua6n về th́ Quản Trọng đi trước. Mọi người đều chế giễu cho là nhát. Bảo Thúc Nha nói:

- Quản Di Ngô nào phải nhát gan, chỉ v́ người c̣n mẹ già nên phải giữ thân thể để phụng dưỡng mẹ.

Quản Trọng ba lần ra làm quan, ba lần bị băi, người người đều khinh. Nhưng Thúc Nha nói:

- Di Ngô không phải là kẻ bất tiếu, v́ chưa gặp thời, chưa gặp được vua hiền mà thôi.

Về sau, Quản Trọng pḥ công tử Củ; Bảo Thúc Nha pḥ công tử Tiểu Bạch. Công tử Củ và công tử Tiểu Bạch vốn anh em khác mẹ tranh ngôi nhau. Công tử Củ thất bại ở nhà nước Lỗ, bị vua nước Lỗ giết chết. Vua Lỗ lại bắt Quản Trọng và Thiệu Hốt là người pḥ công tử Củ nộp cho Tiểu Bạch tức Tề Hoàn công đương làm chúa nước Tề.

Thiệu Hốt tự tử. C̣n Quản Trọng th́ chịu làm tên tù, và chịu tội với Tiểu Bạch v́ trước kia đă bắn nhằm đai bụng của Tiểu Bạch. Mến tài của Quản Trọng và do Thúc Nha tiến cử, Tiểu Bạch dùng Quản Trọng làm tướng quốc.

Người ta chê Quản Trọng không giữ được khí tiết như Thiệu Hốt. Nhưng Thúc Nha lại bảo:

- Di Ngô nhẫn nhục thờ Hoàn công không phải vô sỉ mà là người không câu chấp những tiểu tiết thường t́nh. Đó chính là kẻ có chí làm lợi cho cả thiên hạ.

Quản Trọng nghe được lời phê phán của Bảo Thúc Nha, thường thở dài nói:

- Sinh ra ta là cha mẹ nhưng hiểu biết ta ở đời chỉ có một Bảo Thúc Nha mà thôi.

"Tri kỷ" nghĩa là biết ḿnh. Người thật biết được ḿnh là tri kỷ.

Cổ văn có câu: "Đắc nhất tri kỷ, khả dĩ bất hận", nghĩa là: "Ở đời có được một người tri kỷ th́ không c̣n ân hận ǵ nữa".

Ông Tchya (Đái Đức Tuấn), một nhà thơ hiện đại cũng có câu:

Tri kỷ t́m nhau mắt đă mờ.

Trong tác phẩm "Đoạn trường tân thanh" của cụ Nguyễn Du, đoạn diễn tả lúc Từ Hải gặp Thúy Kiều ở thanh lâu, Kiều đề cao Từ Hải, Từ lấy làm thống khoái, có câu:

Nghe lời vừa ư gật đầu,

Cười rằng: "Tri kỷ trước sau mấy người".

ướt mi
10-08-2007, 08:27 PM
Nợ như chúa Chổm


Nước Việt, năm Đinh Hợi (1527), Mạc Đăng Dung cướp ngôi nhà Lê lên làm vua. Vua Lê Chiêu Tông bị họ Mạc bắt nhốt định giết chết.

Trong ngục lạnh tại Đông Hà, nhà vua nhờ người đàn bà bán cơm hàng ngày được phép mang cơm đến cho ăn. Dù mỗi ngày một gầy g̣ héo hắt v́ bị giam cầm nhưng nhà vua cũng cảm thấy ḷng ḿnh đỡ u buồn tẻ lạnh bên cạnh một người đàn bà có một ít sắc đẹp nẩy nở về chiều, ngoan ngoăn chăm nom, săn sóc. Rồi cả hai lại nồng nhiệt yêu nhau.

Một hôm, nàng cho nhà vua biết là nàng đă có thai, đồng thời lại báo tin là họ Mạc định bức tử nhà vua. Vua vẫn b́nh thản trao cho nàng một ngọc ấn mà từ lâu đă giấu kín trong đai áo, đoạn buồn bă dặn:

- Nếu đứa con của chúng ta sau này là trai th́ đây là một chứng vật, không ai chối căi được nó là ḍng dơi đế vương. C̣n nếu nó là gái th́ nàng hăy liệng ngọc ấn giữa ḍng, đừng để cho một kẻ nào lợi dụng!

Chiêu Tông bị giết chết. Người đàn bà bán cơm may mắn sinh được một trai đặt tên là Duy Ninh. Sợ tung tích bại lộ, nàng bỏ nghề cũ, đem Duy Ninh trốn về thôn quê, kiếm củi đổi gạo nuôi thân.

Ninh lớn lên, vẻ người tuấn tú khác thường. Ai cũng tấm tắc khen. Nhưng Ninh mắc phải cái tật ăn chơi ngông nghênh, nợ nần nhiều, mẹ con thiếu thốn vất vả. Có lắm khi phải nhịn đói, uống nước lă cầm hơi. Tương truyền người nào được Ninh mua mở hàng cho th́ bán rất đắt. Người bán hàng gặp Ninh th́ đổ nhau mời bảo mua cho kỳ được. Ninh bảo không tiền và hẹn chừng nào Ninh làm ăn khá giả sẽ trả. Họ rất đồng ư. Do đó, Ninh thiếu nợ càng nhiều.

Khi Mạc cướp ngôi nhà Lê, các bề tôi nhà Lê kẻ chạy theo tân triều, kẻ tuẫn tiết, kẻ nổi lên chống Mạc. Trong số những bực trung thần có ông Nguyễn Kim trốn sang Sầm Châu, nơi biên giới Việt Lào, nhờ quốc vương Lào giúp đỡ để gây thanh thế chống Mạc.

Muốn nắm được chính nghĩa, Nguyễn Kim quyết định phải t́m cho được một người ḍng dơi nhà Lê. Nhưng đă lâu ngày, v́ sự đàn áp thẳng tay của họ Mạc, ḍng Lê đâu mất cả, Kim không t́m thấy một ai.

Năm Quí tị (1532), thế lực của Nguyễn Kim khá mạnh, mà ḍng Lê vẫn chưa t́m được, ông rất nóng ḷng khôi phục cơ đồ, mới nhờ một bốc sư suy đoán việc tiền tŕnh. Bốc sư trịnh trọng tuyên bố:

- Ḍng Lê nào đă hết đâu! Hiện nay Chiêu Tông vẫn c̣n một hoàng tử cuối cùng và vẫn sống lang thang khắp xứ. Nếu có ư muốn t́m, thật chẳng khó. Cứ thấy một thanh niên có tiếng tốt, đầu đội mũ sắt, ḿnh ngồi kiệu cối xay th́ hẳn là đúng đó. Người ấy sẽ đem nhà Lê và non sông trở về với phong thái cũ.

Nguyễn Kim mừng lắm, hạ lịnh cho nha lại đi t́m.

Bấy giờ Nguyễn Kim đóng binh ở biên giới Việt Lào để chống với Mạc Đăng Dung, cũng là lúc Duy Ninh đương lang bạt ở đấy. Một hôm, Ninh vừa trong một quán rượu đi ra bỗng gặp một trận mưa rào đổ xuống. Ninh không dù không nón, nhân t́m thấy một cái chảo bỏ không, liền chụp ngay đội lên đầu che mưa. Tiếng náo động của trận mưa làm con chó đương ngủ bên đường thức dậy. Nó lại thấy Ninh lạ kỳ quá nên sủa vang lên và đuổi theo cắn. Ninh đâm hoảng, chạy bổ vào nhà người, nhảy ngay lên một cái cối xay lúa ở hàng ba mà tránh.

Quân sĩ của Nguyễn Kim vừa từ trên đường đi tập trận về, xa xa trông thấy dáng Ninh th́ la lớn:

- Vị hoàng tử mà tướng công ta t́m kiếm, chắc là người đội chảo sắt và ngồi kiệu cối xay kia!

Duy Ninh nghe được, tưởng là quân Mạc đuổi bắt ḿnh nên hoảng hốt, ù té chạy. Từ đấy, mẹ con Ninh thấp thỏm lo âu, đem nhau sang đất Lào, tạm sống bằng nghề thợ nhuộm Tuy cuộc sống không sung túc ǵ, nhưng ở đây xa lạ, không ai biết được tông tích nên mẹ con Ninh tự thấy đỡ khổ đôi phần.

Một hôm, nhân bại trận, Nguyễn Kim rút binh sang Lào. Ông rất ngạc nhiên khi đi ngang qua một căn nhà nhỏ, vách đất cột tre, trước cửa có dán một câu đối bằng chữ Hán:

Thiên hạ thanh hoàng giai ngă thủ,

Triều đ́nh chu tử tận ngô môn (*)

Đọc sơ qua, ư nghĩ tuy biểu lộ được chủ nhân làm nghề thợ nhuộm, nhưng suy ngẫm kỹ th́ bên trong c̣n hàm súc một khí phách phi thường làm cho Nguyễn Kim chú ư. Ông liền ghé vào nhà ân cần gạn hỏi và nói thật nguyện vọng của ḿnh.

Quả thật Nguyễn Kim không lầm. Người mà ông mơ ước từ lâu bỗng nhiên xuất hiện. Mẹ con Duy Ninh kể lại đoạn đời đau khổ vừa qua và trao ngọc ấn làm tin.

Nguyễn Kim rước Duy Ninh về Thanh Hóa, cử đại binh đánh Mạc. Duy Ninh được suy tôn đế vị, tức là Lê Trang Tông.

Tương truyền lúc Duy Ninh được Nguyễn Kim xe giá rước về Thanh Hóa, khi ngang qua làng cũ, chỗ mẹ con Duy Ninh lánh nạn, một số người bán chịu cho Ninh ngày xưa đổ lại đ̣i tiền. Họ không biết Duy Ninh làm ông ǵ nhưng thấy được đi xe giá, quân lính hộ vệ th́ chắc là Ninh đă thành đạt, nên họ nhắc lại lời hứa của Ninh. Có nhiều người không phải là chủ nợ nhưng thừa nước đục thả câu, cũng đổ xô lại yêu cầu, đ̣i hỏi. Người người tấp nập đầy đường.

Nhà vua không biết ai và cũng không biết làm sao mà trả cho hết nên truyền miễn thuế một năm cho dân cả làng để trừ.

"Nợ như chúa Chổm" trở thành một thành ngữ chỉ những người thiếu nợ quá nhiều.

ướt mi
10-08-2007, 08:29 PM
Tam bành, lục tặc

NTQ

Đạo gia (tức Đạo giáo, theo học thuyết của Lăo Tử) cho rằng cái Thần (tinh thần) của con người ở vào ba nơi. Một ở óc, hai ở minh đường (quả tim), ba ở dạ dày. Theo sách "Chư chân huyền ảo" th́ cái Thần ấy có thể làm hại người. Ba nơi chư Thần ấy, Đạo giáo gọi là Tam thi.

Theo sách "Thái thượng tam thi trung kính" th́: thượng thi tên Bành Cứ vốn ở đầu con người; trung thi tên Bành Chất vốn ở bụng người; hạ thi tên Bành Kiêu ở chân người. Ba thần này gọi là thần Tam Bành hay xúi giục người làm bậy. Đến ngày Canh Thân, ba vị thần này lén tâu với Ngọc Hoàng Thượng Đế cho người mau chết để khỏi phải theo dơi nữa. Người ta tin rằng những sự giận dữ, nóng nảy là do thần Tam Bành xúi giục gây ra để cho người dễ làm bậy. V́ giận dữ, nóng nảy dễ làm cho người làm những điều sai lầm. Nhiều việc không thành, đổ vỡ v́ giận giỗi, nóng nảy.

Cũng như tục ngữ ta có câu: "No mất ngon, giận mất khôn".

Trong tác phẩm "Đoạn trường tân thanh" của cụ Nguyễn Du, đoạn Tú Bà nghe Kiều đă lấy Mă Giám Sinh (chồng b́nh phong của mụ), mụ ghen tức, có câu:

Mụ nghe nàng nói hay t́nh

Bấy giờ mới nổi tam bành mụ lên.

Nghĩa là mụ nghe Kiều nói rơ sự t́nh (t́nh h́nh, t́nh trạng về việc nàng đă thất thân với Mă Giám Sinh, coi Giám Sinh là chồng rồi) tức th́ mụ mới nổi giận lên đùng đùng.

"Lục tặc" là sáu thứ hại.

Theo Phật giáo th́ sáu thứ hại cho sự tu hành là: sắc, thinh, hương, vị, xúc, pháp. Sắc đẹp, tiếng thanh tao, mùi thơm, vị ngọt, ấm áp, êm ái dễ làm ḷng người giao động xao xuyến. Chúng như có một ma lực huyền bí để quyế rũ, hấp dẫn lôi cuốn người vào bến mê, đọa lạc. Bởi vậy, người tu hành mắt không xem sắc đẹp, tai không nghe tiếng thanh, mũi không ngửi mùi thơm, miệng không nếm vị ngọt, thân thể xa kẻ khác, ḷng không tưởng điều tà vậy.

Con người, một khi để Tam Bành, Lục Tặc dậy lên th́ tất nguy khốn cho thân mạng, cho cuộc đời. Người nào diết được Tam Bành, Lục Tặc tức là một vị chân tu vậy.

ướt mi
10-08-2007, 08:32 PM
Kết cỏ ngậm vành

NTQ

Đời Xuân Thu (551-479 trước D.L.), tướng nước Tần là Đỗ Hồi, đem quân sang đánh nước Tấn.

Hồi vốn là một lực sĩ, răng nhọn hoắc, mắt tṛn xoe, tay cứng như đồng, mặt đen tựa sắt, râu xồm tóc quăn, thân cao to lớn, chuyên sử dụng cây Khai Sơn đại phủ (búa to) nặng 120 cân, người giống Bạch Địch. Đă có lần ở Thanh Mi Sơn, Đỗ đâm chết luôn 5 con hổ, lột da đem về. Và, cũng có lần, Đỗ chỉ huy 300 quân mà phá vỡ được hơn 10 ngàn quân giặc ở Sa Nga Sơn. Uy danh càng lừng lẫy.

Tướng của nước Tấn là Ngụy Khỏa đem binh ra nghinh chiến. Đỗ Hồi dẫn 300 quân xông vào mặt trận, múa cây Khai Sơn đại phủ tung hoành chém giết. Búa đến đâu là đầu rơi long lóc. Quân Tấn chết nằm ngổn ngang như rạ.

Ngụy Khỏa vội vàng rút quân, đóng chặt cửa thành, giữ lấy thế thủ. Mặc cho Đỗ Hồi đến khiêu chiến, chửi rủa thậm tệ suốt cả mấy ngày. Vừa lúc ấy có em của Ngụy Khỏa là Ngụy Kỳ vâng lịnh vua Tấn đem binh tiếp ứng. Khỏa thuật cả việc lại. Kỳ không tin, hôm sau đem quân ra nghinh chiến.

Đỗ Hồi lại múa búa, tả xông hữu đột, chém giết quân Tấn tơi bời, máu chảy tợ suối. Ngụy Kỳ thua to. May nhờ có Khỏa liều thân đem quân tiếp cứu mới về được thành.

Đêm hôm ấy, Ngụy Khỏa ngồi buồn rầu, nghĩ quanh nghĩ quẩn, không biết dùng mưu kế ǵ để phá địch. Đương mơ màng, bỗng nghe có tiếng người văng vẳng bên tai: "Thanh Thảo Pha! Thanh Thảo Pha!" Đến lúc tỉnh dậy, không hiểu nghĩa là sao, mà chợp mắt ngủ lại nghe như trước. Khỏa thuật lại cho Kỳ biết. Kỳ nói:

- Cách đây độ mười dặm (1 dặm bằng 576 thước tây), có một băi cỏ tên "Thanh Thảo Pha", có lẽ thần minh mách bảo quân Tần sẽ bị bại tại đó. Vậy tôi xin đem một toán quân mai phục sẵn, rồi anh lập kế dụ quân giặc đến. Bấy giờ hai bên đổ ra cùng đánh, chắc chắn sẽ thắng.

Khỏa bằng ḷng.

Sáng ra, Ngụy Khỏa giả cách truyền lịnh rút quân. Quả nhiên, Đỗ Hồi đem quân đuổi theo. Khỏa giao chiến qua loa một lúc rồi bỏ chạy, dụ Hồi đến Thanh Thảo Pha. Quân mai phục của Ngụy Kỳ ở hai bên, bất thần đổ ra hợp với quân của Khỏa vây chặt lấy Đỗ Hồi. Hồi chẳng nao núng, múa búa tung hoành như vào chỗ không người. Nhưng bỗng nhiên, Đỗ Hồi đi mỗi bước lại ngă chút một cái, như người bị trượt chỗ nước băng. Quân Tấn lấy làm ngạc nhiên, reo ầm cả lên.

Ngụy Khỏa ngẩng trông thấy một lăo già, mặc áo vải chân đi thảo hài, đương kết cỏ lại làm vướng chân Đỗ Hồi. Bấy giờ, Khỏa và Kỳ xông lại bắt sống. Quân Tần mất tướng chỉ huy nên bỏ chạy tán loạn, bị quân Tấn đuổi bắt giết gần hết.

Đem Đỗ Hồi về dinh, Ngụy Khỏa hỏi:

- Mầy cậy có sức khỏe, nhưng nay sao để bị bắt?

Hồi uất hận, trả lời:

- Ta đương đánh, không biết có vật ǵ trói lấy chân làm cho ta ngă. Đó là trời hại ta, chớ không phải ta thua.

Ngụy Khỏa nghe nói lấy làm lạ. Thấy Hồi có sức mạnh phi thường, sợ thoát thân được nên Khỏa và Kỳ đồng ư đem giết chết, cắt lấy đầu đem về dâng vua Tấn.

Đêm hôm ấy, Ngụy Khỏa nằm ngủ, mơ màng thấy ông lăo kết cỏ ở Thanh Thảo Pha hiện đến, vái chào và nói:

- Tướng quân có biết tại sao Đỗ Hồi bị bắt hay không? V́ tôi kết cỏ lại để làm cho Đỗ Hồi vướng chân mà ngă đó.

Ngụy Khỏa kinh sợ, chấp tay đáp lễ, nói:

- Tôi chưa được biết cụ bao giờ, sao cụ lại có ḷng tốt quư giúp tôi như vậỷ Tôi biết lấy ǵ mà trả ơn cụ!

Ông lăo nói:

- Tôi là cha của nàng Tố Cơ. Tướng quân theo lời trị mệnh của tiền nhân không chôn sống con tôi, mà c̣n t́m chỗ xứng đáng gả cho con tôi lấy chồng. Vậy tôi cảm ơn ấy mà giúp tướng quân. Sau này con cháu tướng quân vẫn được đời đời vinh hiển.

Nói xong biến mất.

Nguyên xưa, thân phụ của Ngụy Khỏa là Ngụy Thù có một người thiếp yêu tên Tố Cơ. Mỗi khi Ngụy Thù đi đánh giặc th́ thường dặn ḍ Ngụy Khỏa: "Nếu cha chẳng may chết ở chiến trường, con nên t́m chỗ tử tế mà gả Tố Cơ để nàng khỏi phải khổ sở tấm thân. Cha dẫu chết cũng được yên ḷng!"

Nhưng đến lúc Ngụy Thù đau nặng, trước phút lâm chung, lại bảo Khỏa:

- Tố Cơ là người thiếp yêu của cha. Khi cha chết rồi, con phải đem nàng mà chôn theo cha để cho cha ở suối vàng có người làm bạn.

Ngụy Thù chết. Ngụy Khỏa an táng cho cha nhưng không bắt Tố Cơ chôn theo. Ngụy Kỳ hỏi tại sao không vâng lời cha trối lúc lâm chung th́ Khỏa đáp:

- Thân phụ lúc nào cũng dặn ta sau này nên gả Tố Cơ lấy chồng. Nhưng đến lúc gần mất, lại dặn phải đem chôn theo. Bởi vậy, kẻ hiếu tử nên theo trị mệnh, chớ không theo loạn mệnh.

Sau, Ngụy Khỏa gả Tố Cơ cho một danh sĩ. V́ có ân đức ấy, nên linh hồn của thân phụ Tố Cơ hiện lên để kết cỏ báo ơn.

"Ngậm vành" do chữ "Hoàng tước hàm hoàn" nghĩa là chim hoàng tước ngậm ṿng.

Đời nhà Thương (1733-1154 trước D.L.), triều vua Thái Mậu (1637-1562 trước D.L.), có một chư hầu đem dâng cho nhà vua một con chim hoàng tước trống.

Được chim quư, nhà vua truyền làm một chiếc lồng bằng vàng, chén ăn bằng ngọc và bắt thái giám cho lo săn sóc cực kỳ cẩn thận. Nhưng chim ngày ngày vẫn ủ rũ, không chịu nhảy nhót, kêu hót, vui đùa. Hằng ngày, ngoài vườn, lại có một con chim hoàng tước mái cất tiếng kêu thật bi đát, giọng mỗi lúc càng thảm thiết năo nùng. Chim hoàng tước trống ở trong lồng nghe tiếng chim mái ở bên ngoài kêu th́ lại càng ủ dột, buồn bă, bỏ ăn bỏ uống. Thỉnh thoảng lại kêu lên một giọng bi thảm.

Thấy chim trống buồn, chim mái kêu bi thương, vua Thái Mậu động ḷng thương xót, truyền thả chim hoàng tước trống ra. Được thoát khỏi lồng, trống mái xum họp. Đôi chim bay lượn ba ṿng chung quanh đền, cất tiếng hót véo von, giọng trong trẻo lảnh lót.

Một thời gian, nhà vua đương ngự trên đền, bỗng thấy con chim hoàng tước trống bay đến, miệng ngậm một chiếc ṿng. Chim lại sà trước mặt nhà vua, nhả chiếc ṿng ngọc quư rồi vỗ cánh múa, tỏ vẻ tạ ơn.

Cũng tích "Ngậm vành":

Đời Hậu Hán (25-219) có cậu bé tên Dương Bảo, một hôm đi chơi bên cạnh một khu rừng, thấy một con chim sẻ vàng óng ánh bị chim cắt đánh rơi xuống đất. Chim sẻ què chân, găy cánh, giăy giụa, kêu la thảm thiết. Bảo đem về chăm sóc, nuôi nấng. Đến khi chim mạnh, lành th́ cho bay đi.

Một hôm, có một chàng tuấn tú khôi ngô, mặc áo vàng đến, nói với Bảo:

- Tôi là sứ giả của bà Tây Vương Mẫu, chẳng may gặp nạn, may nhờ ông cứu, ơn ấy chẳng quên. Vậy xin dâng ông 4 ṿng ngọc quư, chúng sẽ làm cho bốn đời nhà ông được hưởng phú quư, sang làm đến tước Tam Công.

Dương Bảo vừa nhận lấy ṿng, chưa kịp tạ ơn th́ chàng trai áo vàng biến mất. Quả nhiên về sau, bốn đời họ Dương đều sang cả đúng như lời.

Trong "Đoạn trường tân thanh" của cụ Nguyễn Du, lúc nàng Kiều ở lầu Ngưng Bích, nhờ Sở Khanh dắt đi trốn mong thoát khỏi nanh vuốt của Tú Bà, nàng có lời tha thiết nói với họ Sở:

Rằng "Tôi bèo bọt chút thân,

Lạc đàn mang lấy nợ nần yến oanh.

Dám nhờ cốt nhục tử sinh,

C̣n nhiều kết cỏ ngậm vành về sau.

"Kết cỏ ngậm vành" là do những điển tích trên, ư nói thọ ơn bao giờ cũng đền đáp.