PDA

View Full Version : Tản mạn về nước ta, nước Tầu



Ô QUY
08-19-2009, 03:52 PM
Tản mạn về nước ta, nước Tầu (I)


Nguyễn Văn Lục - Tạp ghi số 2




Mao Trạch Đông dùng Cách mạng để nhuộm đỏ nước Tầu
Khổng Tử dùng Trật tự để ổn định xă hội nước Tầu
Người Việt Nam lấy ǵ để đương đầu với cộng sản Việt Nam?


Mối quan hệ nước ta‒nước Tầu

Chữ nước ta‒nước Tầu dùng ở đây để chỉ một thói quen về mối quan hệ lâu đời đặc biệt giữa Việt Nam‒Trung Quốc. V́ vậy người ta không nói nước ta‒nước Mỹ hay nước ta‒nước Nhật. Điều đó cho thấy đó là một mối quan hệ địa lư như láng giềng và quan hệ lịch sử với nhiều giai đoạn thăng trầm kéo dài hơn 20 thế kỷ.

Mối quan hệ láng giềng ấy cho thấy có những ảnh hưởng xă hội không tránh được trong tiến tŕnh Thích Ứng, Hội Nhập và Đồng Hóa. (Adaptation, Integration & Assimilation) khi người Tầu sang xâm lăng nước ta. Một điều khó có thể tránh khỏi.

Cho nên nói đến nước Tầu là nói đến nước ta giống nước Tầu về nhiều mặt như phong tục, ngôn ngữ, chữ viết, tập quán, tín ngưỡng và cách sinh hoạt làm ăn.

Mặc dầu nh́n nhận là giống nhau, nhưng ai giống ai ? Ai bắt chước ai ? Hỏi có nghĩa là gián tiếp thừa nhận nước Tầu là tiêu chuẩm mẫu mực của người Việt Nam?

Ngày nay, sự bắt chước theo Tầu càng rơ rệt, nhất là trong đường lối cai trị bằng trấn áp bạo lực người dân như nước Tầu đă làm.

Chẳng hạn, trong nội bộ Đảng Cộng sản Việt Nam, từ xưa đến nay, nhiều chính sách về chính trị xă hội, kinh tế đều noi theo Tầu.

Cải cách ruộng đất là một trong nhiều thí dụ.

Ngay cả khi có tranh căi trong nội bộ đảng với nhau, trong trường hợp chưa có ḥa giải, chưa có một quyết định chung, nếu có một người đưa ra ư kiến là bên Tầu người ta cũng làm như vậy. Ư kiến dựa trên kinh nghiệm nước Tầu có nhiều thuận lợi được mọi người tuân theo.

Nhận xét này là do những người trong nội bộ Đảng tiết lộ ra bên ngoài.

Ngay cả trong t́nh huống có lúc chiến tranh giữa hai bên, chống Tầu mà vẫn theo Tầu. Đó là hoàn cảnh nghịch lư của Việt Nam trong mối giao thiệp với Tầu.

Và hơn thế nữa cái ǵ xảy ra bên Tầu th́ ít nhiều ǵ cũng ảnh hưởng đến Việt Nam. Nhất là trong những vấn đề chính trị, những chính sách đường lối. Mối liên hệ ấy lên hay xuống, thuận hảo hay căng thẳng theo cái ấm lạnh của Trung Quốc đối với nước ta, Có thể nói nếu nước Tầu nó cảm th́ ta không thể không sổ mũi.

Và lịch sử hai nước trong hơn 2000 năm cho thấy không mấy lúc chúng ta được yên ổn. Kẻ láng giềng nào của Trung Hoa cũng có thể nằm trong tầm bắn của họ. V́ vậy, Việt Nam hiện nay nằm trong chiến lược của Trung Quốc nên luôn luôn phải thủ thế, mặc dù t́nh thế đôi khi bắt buộc phải ḥa dịu.

Bài viết sau đây, dựa trên những chứng cớ lịch sử cho thấy tương quan bạn‒thù là có thật. Bạn khi cần, không bạn khi không cần, đổi thù thành bạn, đổi bạn thành thù như trong cuộc xâm lăng ngày 17 tháng 2, năm 1979. Nhưng đồng thời giữa hai nước, nước Tầu nó mạnh ta cũng khổ v́ nó sẽ chèn ép lấn lướt. Ta phải nương theo họ, nhưng nương theo họ th́ ta rơi vào t́nh trạng lệ thuộc.

Trước sau ǵ cũng phải t́m một lối thoát ra thôi và lối thoát như thế nào tùy vào sự quyết định đường lối của đại hội Đảng sắp tới. Sự tranh chấp nội bộ sẽ trở lại cái mô thức cũ mèm là thân Tầu hay không thânTầu. Và sau đó phe nào sẽ thắng?

Hiện nay, nếu chỉ nh́n vào thực tế trước mặt th́ thấy rằng cho đến năm 2009, cả Việt Nam và Trung Quốc đều là những nước theo chủ nghĩa xă hội nên có những đặc tính chung về những khó khăn, những vướng mắc của một nước vừa thoát ra khỏi t́nh trạng đói nghèo. Họ có những điểm tương đồng đến ngạc nhiên như sẽ tŕnh bày sau này. Đồng thời t́nh thế cho thấy cái xu hướng thân Tầu xem ra có ưu thế.

Nhưng muốn t́m con đường ra cho Việt Nam, ta không thể nào không t́m hiểu quá khứ, t́m hiểu lịch sử nước Tầu trong mỗi chặng đường lịch sử bang giao với nước ta.

Chính những mấu chốt lịch sử trong quá khứ định h́nh cho những chính sách, quyết định bây giờ.

Lịch sử, địa lư nước Tầu dưới mắt một người Việt Nam

Về mặt địa lư

Nước Tầu rộng mênh mông bát ngát, lại cộng thêm các khu biên trấn như Tây Tạng, Mông Cổ và Tân Cương. Tây Tạng với 2.000.000 km2. Tân Cương với 1.500.000 km2. Với rừng, núi, sông ng̣i, sa mạc mênh mông. Có những hồ ở Vân Nam lớn 50 lần Hồ Tây Hà Nội.

http://www.dcvonline.net/php/images/082009/holymountain.jpg <= Đỉnh núi thiêng ở Tibet cao 6714 m, Nguồn: chinaculture.org

Đó là một xứ sở với không gian bạt ngàn với 56 dân tộc khác nhau, với 30 khu tự trị. Với ba ḍng sông lớn Hoàng Hà, Dương Tử và Mê Kông. Nếu làm một cuộc hành tŕnh lên cao nguyên Tây Tạng th́ chúng ta đang làm một cuộc hành tŕnh trên Thông Thiên lộ, đường lên Trời để lên mái nhà của thế giới.

Ví von đó rất là hiện thực.

Với tầm nh́n ra thiên nhiên bát ngát. Với thiên nhiên cực cao, cực sâu, nhưng cũng rất đe doạ và nguy hiểm. Đó là những công tŕnh tuyệt đẹp như những kỳ công của tạo hóa.

Với thiên nhiên trải dài vô tận. Thay đổi và biến dạng. Bất ngờ và kỳ diệu.Thinh lặng đến tuyệt đối. Ngây ngất đến choáng váng. Huyền bí và phơi mở.

Đó là tất cả những tính chất đa dạng và biến thiên của thiên nhiên đất nước Tầu. Và chính cái thiên nhiên hùng vĩ ấy làm nên đất nước ấy.

Ở nơi đó, không phải chỉ có không gian ba chiều của thiên nhiên mà c̣n có thêm một chiều kích thứ tư: Chiều kích của tín ngưỡng, linh thiêng, u uẩn và huyền bí lồng vào cái thiên nhiên ấy. Đó là một kinh nghiệm siêu h́nh hiếm hoi, cảm nghiệm được với đất trời, với con người trong cái thế tam tài: Trời, đất, con người. Chính những miền đất địa lư ấy đă khuôn đúc nên tính cách đa dạng trong sinh hoạt đời sống người Tầu.

Nhưng hiện nay Đảng Cộng sản Tầu đang làm phá vỡ cái chiều kích thứ tư đó đă có hàng ngàn năm cổ kính nguyên sơ của nguời Tây Tạng, người Mông Cổ, người Tân Cương. Họ đă thế tục hóa cái chiều kích thứ tư với du lịch, giải trí, với xây cất và phát triển. Bài học phát triển và xâm lăng bằng đồng hóa có nguy cơ phá sập các các nền văn minh ấy, các giá trị tôn giáo cổ truyền ấy.

Đó là mối tai hại cho cả nhân loại chứ không riêng ǵ các vùng đất biên ải.

Đó là thứ tội phạm xúc phạm đến thiên nhiên, đến con người, phá hủy tính cách nguyên sơ huyền bí cũng như phá hủy môi sinh, môi trường.

Người Tầu đang hy sinh chính cái tương lai của đất nước họ.

Con người, thiên nhiên như cây cỏ, rừng núi, sông nước đều là nạn nhân của đà phát triển nhằm mối lợi trước mắt.

Có những thứ tội phạm đến con người như chiến tranh th́ cũng có thứ tội phạm đối với thiên nhiên như phá hủy môi trường.

Cho nên, Hồ Cẩm Đào trước đây có trùng tu, tu bổ mấy đi nữa các chùa chiền, đền thờ, di tích lịch sử, người dân Tây Tạng không bao giờ biết cái ơn đó. Bởi v́ họ biết rằng họ mất tất cả mà cái nhận th́ chẳng được bao nhiêu.

Nghĩ đến đó, tôi nghĩ đến Phật giáo Việt Nam cũng đang bị chính trị hóa và thế tục hóa với sự phát triển bề mặt với xây cất, với lễ hội đ́nh đám như hiện tại ở Huế.

Chính quyền và một số sư săi thế tục đă có tham vọng biến Huế thành một thủ đô Phật Giáo với cái vỏ bọc cộng sản.

Nó thiếu hẳn chiều kích tâm linh, tôn giáo. Nhiều trí thức Huế chắc cũng nhận thức được điều đó, nhưng không dám nói ra.

Lịch sử văn minh nước Tầu

Ngoài phần địa lư ra, nước Tầu lại có một nền văn minh cổ đại có một không hai trên hành tinh này.

Mới đây, tôi đọc được một bộ sách sử vĩ đại, dày hơn 5000 trang, chia làm 4 tập có nhan đề: Kinh điển văn hóa, 5000 năm Trung Hoa của nữ giáo sư Trung Quốc, giáo sư Dương Lực. Để dịch bộ sách sử này ra tiếng Việt, Hà Nội đă cần đến 20 nhà dịch thuật trong nước chia nhau dịch bộ sách này với lời đề tựa như sau:
"Ngày nay giao lưu giữa các quốc gia trên hành tinh ngày càng được mở rộng. Việc t́m hiểu, nghiên cứu nền văn hóa lâu đời, rực rỡ của Trung Quốc, một nền văn hóa vĩ đại và là một trong những cái nôi của văn hóa thế giới, đă và đang được các nước trên thế giới và Việt Nam quan tâm." (Trích Kinh điển văn hóa, 5000 năm Trung Hoa, Dương Lực, trang 7)

Cái văn hóa lịch sử ấy bao trùm cả thế giới và là một trong những cái nôi văn hóa của nhân loại.

Cách đây hơn 2000 năm th́ người Tầu đă trội vượt lên trên cả văn minh Hy-La. Chưa kể sau đó đế quốc La Mă cuối cùng đi đến chỗ hoang tàn, đổ nát. Trong khi văn minh Trung Hoa vẫn tiềm tàng có mặt, nay lại có tiềm năng báo hiệu lịch sử có cơ tái diễn lại một lần nữa cái thời đại hoàng kim của nhân loại. Người ta thường bảo rằng không ai tắm hai lần trên cùng một ḍng sông, phải chăng câu nói ấy đă đến lúc cần phải được chữa lại trong trường hợp nước Tầu?

Như một lời tiên tri cách đây 18 thế kỷ khi mà hoàng đế Lưu Bang đă làm chủ ngai vàng vào năm 202, ông đă tuyên bố là:

Kể từ nay, cả thế giới đă thuộc về ta.

Cái tâm trạng cao ngạo và đầy tham vọng ấy c̣n lưu truyền và tồn tại cho đến ngày nay. Mao Trạch Đông, trong Hội nghị quân ủy, tháng 9, 1959 đă nói: Chúng ta phải chinh phục trái đất. Đó là mục tiêu của chúng ta.

Trong suốt 20 thế kỷ tiếp theo, dấu vết của một nền văn minh Hán tộc cổ đại với nhiều bí mật vẫn c̣n có sức thu hút đến say mê các thế hệ.

Cách nấu kim loại, pha chế để luyện thép rồi từ đó để đúc những thanh kiếm tốt là một trong những tiêu biểu về sức mạnh của nước Tầu. Áo giáp, kiếm thép xưa có thể được coi như là những xe tăng, tầu chiến bây giờ. Nhiều ḍng họ đă nổi tiếng một thời trong lịch sử Trung Hoa nay c̣n lưu truyền cho đến bây giờ. Có những ḍng họ quen thuộc như Yang, Zhang, Li và Wang. Chỉ riêng ḍng họ Wang hiện nay đă có đến 93 triệu người Trung Hoa mang ḍng họ này.

Nước ta cũng có nhiều người mang họ Wang như trường hợp cụ Vương Hồng Sển, gốc gác từ Phước Kiến chạy qua Việt Nam. Mà ông nội của cụ Vương Hồng Sển th́ c̣n đặc máu Tầu "c̣n ăn cơm Việt mà ḷng c̣n tưởng nhớ Tầu."

Giả dụ bây giờ có thể dùng ADN để phân tích máu cụ Sển th́ có đến 3/4 là máu Tầu, phần c̣n lại là máu Nam Kỳ. Thêm 1% là máu tếu, máu nghệ sĩ.

Chúng ta chỉ cần nh́n cái đám dân hàng triệu người như một biển người tụ tập tại quảng trường Thiên An Môn, người ta mới cảm thức sâu sa được sức mạnh của người Tầu.

Người Tầu mạnh trước hết là dựa trên dân số, dựa trên sức người.

Cũng cái biển người đó nếu chẳng may có bớt đi một triệu người th́ cũng chẳng thấm thía ǵ. Chẳng hạn vào năm 1851, sông Hoàng Hà từ hướng Đông Bắc Kai-fong (Ho Nam), cao hơn mặt biển 5.000 thước, tiến xuống phía Đông Nam đă phá hủy từ 2000-3000 làng trên đường đi của nó.

Ở vùng Chan-Tong, vào năm 1887, nước sông Hoàng Hà đă gây lụt làm chết hàng triệu người.

Năm 1921, lại hàng triệu người nữa là nạn nhân của thủy thần (Trích tóm lược trong Canadiens en Chine, Édouard Lafortune), trang 49-51, xuất bản năm 1930)

Chưa kể nạn đói và các tai ương dịch hạch. Ngay vào những năm, 1930, linh mục Thừa sai Édouard Lafortune, người Gia Nă Đại đă nhận xét như sau:

"S'il n'est certainement pas exagéré de dire que qua la somme des restes de repas aux États-Unis et au Canada suffirait à nourrir tout le Siu-Tcheou fou, je crois qu 'il n'est pas moins vrai de dire que les restes de repas de tout le Siu-Cheou fou suffirait pas à nourrir le plus miniscule village"(Trích như trên, trang 169)
Nếu không nói một cách quá đáng th́ người ta nghĩ rằng những đồ ăn dư thừa trong các bữa ăn của người Mỹ hay người Gia Nă Đại đủ để nuôi sống toàn bộ dân cư vùng Siu-tcheou fou, tôi cũng tin rằng thật đúng như thế tất cả đồ ăn dư thừa của toàn dân vùng Siu-tchou fou sẽ không đủ dù chỉ để nuôi một làng nhỏ bé nhất trong vùng.

Họ khốn khổ như thế như cụ già Du Chengian, năm nay 82 tuổi đă thú nhận: "J’ai eu faim presque toute ma vie".Tôi hầu như bị đói suốt cả đời tôi. (Trích National Géographic, trang 119, số 5, 2008)

Theo Nguyễn Hiến Lê: "Trong 2300 năm, kể từ thế kỷ thứ VIII trước Tây lịch, tới cuối đời Minh, chỉ có 729 năm là Trung Hoa không bị thiên tai, c̣n những năm khác, trước sau họ bị 1057 cơn nắng hạn và 1030 cơn lụt, ấy là chưa kể nạn chiến tranh." (Trích Sử Trung Quốc, tập 2, Nguyễn Hiến Lê, trang 43)

Trong khi đó, nghĩ đến những trận lụt lội ở Việt Nam th́ mức độ thiệt hại không đáng kể ǵ. Thật vậy, khi Phạm Duy Tốn viết truyện vỡ đê trong Sống chết mặc bay th́ ông nhằm tố cáo tinh thần vô trách nhiệm của bọn lư trưởng và viên chức ở xă thôn hơn là chính việc việc vỡ đê lụt lội.

Cũng vậy, khi Khái Hưng viết truyện ngắn Anh phải sống, ông muốn nói tới sự hy sinh cao cả của người mẹ buông lơi tay ra để chồng có thể bơi vào bờ chăm lo cho những Thằng Ḅ, Cái Nhớn, Cái Bé hơn là cảnh vỡ đê sông Hồng Hà đang đe doạ..

Thứ đến, tôi cũng có một cảm thức sâu xa là nước Tầu có một tiềm năng và đồng thời một tham vọng, một giấc mơ của con người mong đạt tới đến cái "giới hạn cuối cùng" đến vượt sức con người. Chỉ cần nh́n Vạn Lư Trường Thành được coi là kỳ quan thế giới đ̣i hỏi hàng triệu sức người với đôi cánh tay trần mà chỉ nghĩ tới đă rùng ḿnh.

Từ Vạn Lư trường Thanh đến Vạn Lư trường Chinh và nghĩ đên Con đường Trường Sơn của Việt Nam.

Vạn lư Trường Thành

Tham vọng của một ông vua và sự hy sinh của con người đứng về mặt nhân bản th́ Vạn Lư Trường Thành chỉ là vết nhơ của nhân loại. Vạn Lư Trường Thành ở về phía bắc của Bắc Kinh thật ra chỉ là biểu tượng của sự sợ hăi của người Tầu trước giặc hung nô hay các dân tộc biên trấn đe doạ từ phía Tây Bắc. Họ sợ nên mới xây những bức trường thành ấy. Thật vậy, người Măn Châu đă thống trị người Tầu trong suốt 276 năm. Người Hán cũng đă nhục nhằn nằm ép ḿnh dưới vó ngựa Mông Cổ của Thành Cát Tư Hăn trong suốt một thế kỷ. Hốt Tất Liệt đă có lúc bỏ kinh đô cũ của Mông Cổ là Karakorum mà dời xuống đại đô, tức Bắc Kinh ngày nay. Nhưng khi nào trời Bắc Kinh nóng quá, chịu không nổi th́ Hốt Tất Liệt và người Mông Cổ về "nghỉ mát" ở Mông Cổ.

http://www.dcvonline.net/php/images/082009/truongthanh.jpgVạn lư trường thành, Nguồn: chinareview.com Chuyện đi nghỉ mát này là một nỗi nhục cho Đại Hán.=>

Khi người Hán bị giặc Kim quấy phá, Nguyễn Hiến Lê nhận xét: "Chưa bao giờ dân tộc Trung Hoa bị nhục như vậy. Đời Bắc Tông tới đây chấm dứt" (Trích Sử Trung Quốc, Nguyễn Hiến Lê, trang 27, tập 2).

Nhưng họ từ những nỗi nhục đó mà vươn lên.

Vạn Lư Trường Chinh

Nh́n lại vạn lư trường thành từ đó nghĩ đến cuộc vạn lư trường chinh vô tiền khoáng hậu của MaoTrạch Đông mà lạnh gáy. Từ đó, chúng ta mới thấy được sức chịu đựng của con người hầu như vô hạn. 200.000 Hồng quân Trung Quốc chạy trốn sự bao vây của Tưởng Giới Thạch bắt đầu từ 16/10/1934 để cuối cùng một năm sau chỉ c̣n 40.000 người sống sót. Giai đoạn vô cùng cực nhọc nhất là đi qua Tibet có tuyết phủ với độ cao 5000 mét như lời kể lại của bà Han Suyn trong Le déluge du matin như sau:
"Ils franchiront la Montagne de Neige, à près de cinq mille mètres d’altitude et beaucoup mourront de froid. Des centaines tombent et ne se relèvent plus. Certains meurent dans la neige, d’autres d’épuisement ou de troubles cardiaques. Une femme qui a mis au monde un bébé et l’a posé dans une corbeille sur le dos d’un mulet, voit la corbeille basculer tandis que le mulet glisse; le bébé tombe dans le précipice, il s’engloutit dans la neige profonde. On ne le retrouvera jamais." (Trích Le déluge du matin, Han suyin, trang 326)
Họ sẽ phải vượt qua rặng Núi Tuyết, ở độ cao 5000 mét và rất nhiều người sẽ chết v́ lạnh. Hàng trăm người đă ngă xuống và không bao giờ trỗi dạy lại được. Có những người chết chôn vùi trong tuyết phủ, người khác chết v́ kiệt sức hay bị tim mạch. Một người đàn bà đă sinh con và đặt trong một cái giỏ để trên lưng một con lừa. Con lừa bị trượt chân và hất cái giỏ có đứa bé rơi xuống vực thẳm, Nó bị chôn vùi trong tuyết ở dưới sâu và người ta sẽ không bao giờ t́m thấy đứa trẻ nữa.


http://www.dcvonline.net/php/images/082009/longmarch.jpg <= Vạn lư trường chinh , Nguồn: unimaps.comMao Trạch Đông đă vượt qua được tất cả những thử thách đó và dành lại chiến thắng cho ḿnh.

Mao Trạch Đông đă chiến thắng, nhưng có thể con người đă thua cuộc.

Sau chiến thắng đó, Mao Trạch Đông đă thực sự đọ sức với siêu cường Mỹ trong trận chiến Nam Bắc Hàn và trận chiến Đông Dương và chiến thắng 1954-1975. Biết bao nhiêu mối liên hệ, sự việc liên quan đến nhiều người, nhiều phía trong hai cuộc chiến này giữa nước ta và nước Tầu? Chúng ta đă có nhiều dịp cũng như nhiều người đă nói về nó rồi.

Nhất là mới đây Trung Quốc đă tung ra những tài liệu liên quan đến trận chiến Điện Biên Phủ và Hiệp định Geneva. Nhiều ngườitự nhận là "tiến sĩ sử gia" như các ông Vũ Ngự Chiêu hay Nguyễn Mạnh Quang chắc hẳn phải ngồi viết lại về những điều họ đă viết về Điện Biên Phủ và nhất là những nhận định bôi bác về miền Nam Việt Nam thời đệ nhất và đệ nhị cộng ḥa.

Viết sử triều Nguyễn hay về Điện Biên Phủ mà thiếu khả năng thông thạo chữ Hán và thiếu tiếp cận trực tiếp tài liệu gốc th́ hăy khoan, đừng viết vội.

Về phía chính quyền cộng sản, những đại tướng như Vơ Nguyên Giáp dù tuổi đă cao, nhưng ông vẫn c̣n đủ sáng suốt, ông có trách nhiệm phải nh́n nhận trận chiến ấy không có Tầu cộng sản th́ sẽ không bao giờ có thể có chiến thắng ấy. Lên tiếng nh́n nhận không có điều ǵ là xấu hổ cả. Im lặng mới đáng xấu hổ.

Tôi chỉ nêu ra một kỹ thuật tác chiến trong trận Điện Biên Phủ để chứng minh rằng Tầu Cộng sản là cha đẻ ra tất cả các kỹ thuật tác chiến trong trận Điện Biên Phủ.

Chẳng hạn chiến thuật đào giao thông hào.

Xin đọc: "Au cours du printemps et de l’été, la guerre de mouvement fait place à une guerre de positions:On creuse des tranchées, on s’accroche au terrain, on utilise un réseau de tunnels pour réduire l’effet des bombardements aériens, enfin on lance des vagues d’assaut du type de la Seconde guerre mondiale." (Trích Le déluge du matin, Han Suyin, trang 584.) Thời gian từ mùa xuân đến mùa hạ, trận chiến di động nhường chỗ cho trận chiến vị trí: Người ta đào những giao thông hào, người ta bám vào những vị trí chiến đấu, người ta xử dụng một hệ thống đường hầm để giảm bớt khả năng tổn thất do các cuộc bỏ bom từ trên không, rồi cuối cùng, người ta mở ra những cuộc tấn công giống như trong thời kỳ thế chiến thứ hai.

Phần tướng Vơ Nguyên Giáp cứ mặc nhiên coi chiến thuật đó là của ḿnh.

Từ Vạn Lư trường chinh nghĩ tới đường ṃn Hồ Chí Minh

Đường ṃn Hồ Chí Minh là một trong những yếu tố đưa tới chiến thắng quyết định của cộng sản trong chiến dịch Hồ Chí Minh. Họ tỏ ra hănh diện. Họ đúng chứ không sai.

Tuy nhiên, niềm hănh diện của đảng cộng sản thật ra th́ chỉ là một tủi nhục cho thân phận con người. Ít lắm th́ ta cũng biết rằng trong cuộc vạn lư trường chinh cũng c̣n 40.000 người sống sót. Nào ai trong chúng ta biết được có bao nhiêu chiến binh cộng sản trong bộ đội Bắc Việt đă bỏ ḿnh trên đường Trường Sơn? Ai c̣n, ai mất ? Không ai biết được? Ai được chôn vùi trên mảnh đất quê nhà hay làm mồi cho thú rừng hay hiu quạnh bên một khe đá, một bờ suối? Ai c̣n nghĩ đến họ?

Và đó là điều tàn bạo nhất của chế độ cộng sản Việt Nam trong đó cái chết không được nh́n nhận, v́ chỉ là những vật hy sinh mà người ta muốn quên.

Lịch sử cuối cùng thuộc về họ.

Quay trở lại mối tương giao nước Tầu, nước ta, người ta thấy rằng hễ cứ bao giờ "bên Tầu có loạn" là bên ngoài các biên trấn như Mông Cổ, Tây Tạng và ngay cả Việt Nam thừa dịp nổi lên chống lại.

Cho nên, lịch sử Trung Hoa trong suốt 2000 năm sau Tây lịch chỉ là một thứ lịch sử tranh đấu sống c̣n với các giống dân ít người.

Nhưng cái điều quan trọng là họ đă sống c̣n, đă chiến thắng, đă cưỡng chế được các biên trấn biến thành những phiên thuộc, phục tùng Đại Hán.

Lịch sử cuối cùng đă thuộc về họ.

Nay chính họ đă làm nên lịch sử nước Tầu. Họ c̣n chứng tỏ cho thế giới biết rằng họ cũng đă từng mở các cuộc chinh phạt các giống ít người. Họ cũng đă từng nhiều lần mở các cuộc chinh phạt xuống đến cực phía Nam vốn xa xôi với trung tâm quyền lực.

Về phía Bắc, họ đă mở ra con đường tơ lụa nổi tiếng, đi xuyên qua Tân Cương hay tên Hán gọi là Duy Ngô Nhĩ để giao thương buôn bán với các nước Trung Á mà phần đông theo Hồi giáo. Đây là cái gai mà bây giờ họ tính phải nhổ một lần cho xong.

Nhưng phải nói là mặc dù phải tranh đấu để sống c̣n, người Trung Hoa đă làm nên một thứ lịch sử vĩ đại và một nền văn minh rất sớm trước Tây lịch mà không đâu sánh bằng. Triều đại La Mă xuất hiện 27 năm trước Tây lịch và kéo dài măi đến 476 năm sau Tây lịch rồi cũng tự đi vào chỗ suy tàn.

Lịch sử nước Tầu có thời thịnh, thời suy nhưng chưa bao giờ đi vào sự suy tàn hay suy vong như đế quốc La Mă.

Ngọn đuốc văn minh đă từng thắp sáng bằng nền văn minh Hy-La và cũng đă từng dừng chân trên xứ Trung Hoa và phải chăng đây là lúc ngọn đuốc ấy quay lại Trung Hoa một lần nữa?

Trên nhiều lănh vực, thời trước Tây lịch, người Hán chiếm ưu thế hơn mọi sắc tộc v́ đă biết dùng kỹ thuật đẩy xe cút kít để chuyên chở, hay dùng ṛng rọc để đưa hàng hóa lên cao, biết dùng bể ḷ để thổi không khí vào ḷ, tạo ra kỹ nghệ luyện kim.

Nhưng quan trọng hơn cả, trên nhiều lănh vực, người Hán đă sáng chế ra Kim địa bàn, tượng trưng cho sức mạnh giao thông buôn bán. Cũng như thuốc súng, biểu tượng cho sức mạnh quân sự, giấy và máy in biểu tượng cho truyền thống văn hóa.

Tóm lại, họ đă nắm bắt được những tinh hoa kiến thức của nhân loại ngay từ vài thế kỷ trước Tây lịch.

http://www.dcvonline.net/php/images/082009/phuongdong.jpgViệt Nam Suối Nguồn Văn Minh Phương Đông, Nguồn: anviettoancau.net =>

Trong lúc ấy th́ triều đại nước ta với các vua Hùng làm được những kỳ tích ǵ? Thật khó mà so sánh giữa họ và ta v́ không có một điểm chuẩn nào để dựa vào đó mà so sánh. Mới đây có một nhà báo viết một cuốn sách Việt Nam suối nguồn Văn minh phương Đông tự khoe là đă chứng minh được rằng, Khổng Tử đă mượn ca dao, tục ngữ từ Việt Nam để đưa vào Kinh Thi? Đây là một lối diễn giải thiếu bằng chứng và thô kệch.

Và phải chăng sự phô diễn sức mạnh trên vùng Biển Đông bây giờ trải rộng ra hàng triệu ki lô mét chỉ là tiếp nối truyền thống của kim địa bàn thời trước? Về phía Việt Nam th́ h́nh như chưa có khả năng để thích ứng kịp.

Nhưng điểm sáng chói nhất như đỉnh điểm là điểm hẹn lịch sử giữa những vị ngôn sứ của nhân loại trong đó có sự có mặt của người Tầu. Người Tầu, người Ấn Độ cũng như Hy Lạp đều có những vĩ nhân mà họ đă có mặt trên cùng một trục thời gian mà triết gia J. Karspers gọi là Thời Trục (Période axiale) Thời trục là một ư niệm thời gian, trong đó cho rằng có thời điểm xuất hiện gần như đồng thời các đại vĩ nhân thế giới. Xuất hiện sớm nhất ở Ấn Độ với Buddha rồi đến Khổng Tử thế kỷ thứ 6 trước tây lịch ở Trung Hoa tiếp theo đến Socrates, ở Hy Lạp và chấm dứt là Jesus ở đầu thế kỷ. Sự xuất hiện của các vị trên như cái trục thời gian làm điểm tựa, điểm chính làm quy chiếu cho bất cứ thời gian nào. Ở vào cái thời trục ấy, người ta thấy xuất hiện những ngôn sứ, những vị tiên tri, những bậc đại hiền triết như Phật Thích Ca, dùng ngón tay để chỉ mặt trời, chỉ cho nhân loại con đường giải thoát, Người thứ hai là vị tiên tri của thời đại mới mang tin mừng cứu độ cho con người như Jesus. Hai vị trên rao giảng con đường giải thoát, con đường giải thoát ở đời này mà biện chứng là biết ra khỏi đời này.

Đó là những thứ "Thần Học giải phóng" giải thoát con người ra khỏi tham sâm, si hoặc giải thoát con người ra khỏi tội lỗi.

Khổng Tử, một thách thức cho các chế độ cộng sản

Trái lại Khổng Tử đem đến một giải pháp nhằm đem lại trật tự cho xă hội mà căn bản là tề gia, trị quốc và b́nh thiên hạ.

Đạo Nho trước sau vẫn được coi là Quốc giáo của Trung Hoa. Nó đă có hơn 2000 lịch sử. Chủ nghĩa cộng sản Trung Hoa mới có 60 năm, lấy ǵ để bảo đảm nó sẽ tồn tại ?

Lịch sử trong tương lai sẽ cho biết Khổng Tử hay chủ nghĩa xă hội cộng sản sẽ là nền tảng của xă hội Trung Hoa?

Đó là một thách đố mang ư nghĩa lịch sử.

Chính Mao Trạch Đông từng viết: "Từ Khổng Tử đên Tôn Trung Sơn, chúng ta nên tổng kết và kế thừa những phần di sản quư báu, điều này là rất quan trọng và có tác dụng lớn tới sự chỉ đạo phong trào vĩ đại ngày nay của chúng ta" (Tuyển tập Mao Trạch Đông, Quyển 2, trang 499).

Tôi nêu ra đây như một điểm nh́n gợi ư là trong tương lai, tư tưởng của Khổng Tử và lư thuyết Chu dịch với nhóm bách gia chư tử phải chăng là những tư tưởng chỉ dạo cho đất nước có 6000 năm văn minh này?

Chỗ đứng của Khổng Tử chẳng những như một ngọn hải đăng mà c̣n ảnh hưởng trực tiếp trên 20 thế kỷ xă hội Trung Hoa. Và Ngày nay, người ta nghĩ đến một giải pháp Khổng Tử như một giải pháp chính trị nhằm cải thiện xă hội Trung Hoa như một thách thức cho 60 năm chủ nghĩa cộng sản Trung Hoa?

Phải chăng rồi Việt Nam cũng sẽ đi vào quỹ đạo đó? Cần có một giải pháp chính trị cho một giai đoạn hậu cộng sản?

(C̣n tiếp)

© DCVOnline

Ô QUY
08-19-2009, 04:01 PM
Tản mạn về nước ta, nước Tầu (Kết)

Nguyễn Văn Lục ‒ Tạp ghi số 2

Trong bài viết Thành phố quan lại, A. Bonhomme cho rằng

"Học thuyết Khổng Tử mặc dầu chứa đựng một sự giáo dục đạo lư, nhưng chủ yếu mang tính chất chính trị.

Mục đích chính là để cai trị thiên hạ.

V́ vậy mà sự tổ chức chính trị, xă hội ở Trung Hoa và Việt Nam đều dựa trên một nguyên lư là luôn cải thiện bản thân và cải thiện người khác" (Trích trong Những người bạn cố đô Huế, trang 185)

Nước ta trong suốt 20 thế kỷ đă thấm đậm tư tưởng nho giáo với tầng lớp nho sĩ. Chẳng hạn như dưới thời Lê "Nhà nước phong kiến đời Lê đă được xây dựng một cách chặt chẽ hơn trước. Nho giáo dần trở thành tư tưởng chính thống, nhà nho được trọng dụng, việc học hành thi cử được tổ chức theo một quy mô ngày một lớn hơn" (Trích Tinh tuyển văn học Việt Nam, tập 4, Trần Thị Băng Thanh, trang 17.)

Để kết luận phần này cho thấy có một mối liên hệ hữu cơ giữa xă hội Trung Hoa và xă hội Việt Nam về phương diện địa lư và lịch sử.

Hiểu địa lư lịch sử giữa hai nước để t́m ra con đường thoát hiểm của Việt Nam bây giờ?

Dấu vết người Hoa trên nước ta

Trong suốt hơn hai mươi thế kỷ, đă bao nhiêu lần, người Tầu mang quân sang chinh phạt nước ta? Suốt những năm dài của thời kỳ Bắc thuộc và cả thời kỳ tự chủ, tự hỏi có lúc nào chúng ta được yên? Mỗi cuộc chinh phạt, dù chỉ là để biểu dương thanh thế đi nữa th́ đương nhiên có gươm gíáo đi hàng đầu, nhưng tiếp nối là đạo quân "chiến tranh tâm lư chiến" mang theo tất cả thứ văn hóa, văn minh ngoại thuộc ấy để truyền thụ lại cho người Annam.

Và họ, những kẻ đi xâm lược chẳng những đem đến áp lực quân sự mà về lâu về dài, những áp lực xă hội văn hóa.

Và một cách nào đó, họ trở thành những nhà truyền giáo bất đắc dĩ cho một thứ văn hóa ngoại lai.

Và trong đạo quân ấy, có những người Tầu ră ngũ thay v́ quay về bên Tầu, họ đă chọn ở lại và cuộc sống hằng ngày của họ sẽ tác động gián tiếp cũng như trực tiếp lên con người Việt Nam.

Thêm vào đó, kể từ thời kỳ tự chủ vào thế kỷ 10, chính quyền Trung ương ở bên Trung Quốc hầu như tan ră do những biến động quân sự và chính trị gây ra. Trong đó, không thiếu nhừng biến động chính trị và những kẻ phản thần trở thành những kẻ thất cơ lỡ vận đành phải đào tẩu. Bọn người lưu vong này bắt buộc đi t́m chỗ ẩn náu ở phía Việt Nam.

Chính những người này sau lập nghiệp trên xứ tạm dung là nước ta. Họ lấy vợ người bản xứ và một cách vô t́nh, họ truyền bá một cách gián tiếp các giá trị đạo đức và tôn giáo, các tư tưởng chính quy có hệ thống và phi hệ thống và rất có thể tạo dựng ra các ḍng giao lưu của chủ nghĩa phiếm thần.

Những giá trị đạo đức và tôn giáo ấy cứ như mưa dầm thấm đất, reo giắc tư tưởng triết học thấm nhập một cách êm dịu (en douceur) vào nước ta. Sự thấm nhập ấy vô t́nh biến những người Việt Nam trở thành "lai Hán" một cách vô ư thức, trở thành "lối sống Tầu" lúc nào không hay.

Và giả dụ, ta ngủ quên đi hơn một ngàn năm lịch sử. Khi ngủ dậy, ta sẽ thấy ngay ở vùng đất mới Gia Định cũng đă có sự hiện diện của đám di thần bài Măn, phục Thanh đến xứ Đồng Nai, Gia Định và vùng Hà Tiên rồi. Họ đến và phô trương khí thế mạnh của họ trong việc làm ăn, lập chợ, giao thông bằng thuyền bè tấp nập như đă ghi lại trong sách Đất Gia Định xưa của Sơn Nam như sau:
"Trần Thắng Tài và Dương Ngạn Địch đem binh lính và quyến thuộc trên 3000 người và 50 chiến thuyền đến Cù Lao Phố (Biên Ḥa) và Mỹ Tho để khai khẩn, nhưng cụ thể ra sao th́ chưa biết. Gia Định Thành Thông Chí ghi rằng nhóm Trần Thắng Tài yểm trợ việc lập trợ buôn bán, giao thông với người Tầu, người Nhật, người Tây Dương, Đồ Bà, tụ tập đông đảo ở Cù Lao."

Nhưng người Hoa thời ấy sang Việt Nam đại đa số là đàn ông, con trai. Họ cưới hỏi người địa phương, rồi làm ăn, trở thành người Minh Hương, họ tự nhận là con dân nhà Minh .

Chỉ trong vài thế hệ, họ đă thành người Việt Nam.

http://www.dcvonline.net/php/images/082009/macthientich.jpg <= Mạc Thiên Tích: Mạc Thiên Tứ; tự: Sĩ Lân; 1706 - 1780, Nguồn: otosaigon.com

Điển h́nh là trường hợp Mạc Thiên Tứ, con của Mạc Cửu, lập Chiêu An Các, làm thơ chữ Hán, chữ Nôm, ca ngợi 10 cảnh đẹp Việt Nam ở Hà Tiên. Mẹ Mạc Thiên Tứ, vợ Mạc Cửu là người Việt. Mạc Thiên Tứ cũng cưới vợ người Việt" (Trích Đất Gia Định xưa, Sơn Nam, trang 28‒29).


Cũng xem thêm câu truyện Mặc Cửu trong sách Nửa đời hư của cụ Vương Hồng Sển trang 32‒33.

Và sau này, con số người Hoa tại Việt Nam lên đến khoảng gần 2 triệu người, không kể những người đă đồng hóa thành người Việt Nam.

Phải chăng chính sách xâm lược ngày nay của Trung Quốc bắt nguồn từ chính sách xâm lăng và đồng hóa bằng dân số trước đây?

Dấu vết nước Tàu trong văn hóa, chính trị ở nước ta

Phải nh́n nhận rằng dấu vết văn hóa Tầu trên văn hóa Việt là đậm đặc. Các vua chúa triều Nguyễn làm việc ǵ, dù rất nhỏ cũng quy chiếu xem sách Tầu dạy ra làm sao. Ta hăy đọc để hiểu cho rơ:
"Vua tôn trọng đạo Nho, rất chú ư việc lễ nhạc, từng hỏi Lễ bộ rằng: Thiên tử thân tế văn miếu, sau ba tuần hiến rượu có tiết "ẩm phước thụ tộ" (Uống rượu và ăn thịt để tỏ ra được thần ban phúc) th́ ở trong sách Lễ có không? "Nguyễn Gia Cát thưa rằng: "Không có. Thần xem Hội điển nhà Minh nhà Thanh th́ tiết này là chỉ đặt ra cho quan đứng để thay vua mà thôi". Vua khen phải (Trích Đại Nam Thực Lực, Quốc Sử quán triều Nguyễn, trang 724, nxb Giáo Dục,)


Vua khen phải v́ đă theo đúng sách vở, thói tục của người Tầu.

Sau 1954, các nhà cầm quyền miền Nam đều có ư thức rơ rệt về "hiểm họa Tầu" trong việc thương mại. Và mỗi thời kỳ đă đưa ra những giải pháp ngăn chặn.

Thời 1945‒1954

Sau thế chiến thứ hai, Trung Hoa Dân Quốc được vinh dự chỉ định sang Việt Nam tiếp thu và giải giới quân Nhật tại Đông Dương, tính từ vĩ tuyến 16 trở ra. Tướng Lư Hán là người cầm đầu đoàn binh này. Ông dự định lập bộ chỉ huy Việt Nam với ư đồ đóng lâu dài ở Việt Nam. Bộ chỉ huy của ông với khoảng 800 người đóng tại Đại Chủng Viện Xuân Bích Hà Nội. Lúc bấy giờ v́ t́nh h́nh chiến sự có nguy cơ chiến tranh Việt Pháp bùng nổ nên đại chủng viện đă bị giải tán và bỏ trống vào năm 1946. Xin trích dẫn lời linh mục bề trên Đại Chủng Viện Xuân Bích, Lm. Gastine viết lại thời kỳ đó:
"Jusqqu‘au mois d’aout 1946, les 6 Sulpiciens vécurent avec 800 chinois appartenant aux troupes du Yunnam, très peu cultivés, à tel point que certains attrapèrent le choléra par manque d’hygiène. Pendant cette année, rien de spécial ne se passa dans le séminaire. À l‘éxtérieur se produisaient de grands changements. Ainsi le 6 mars, Leclerc entrait à Ha Noi et éait recu par Ho Chi Minh et ils signaient un accord provisoire au terme duquel le gouvernement Vietnamien gardait le pouvoir. Mais les troupes chinoises devaient laisser la place aux troupes francaises. (Trích Les catholiquies Vietnamiens pendant la guerre d’inđépenance 1945‒1954, Tran Thi Lien, trang 133).
Cho đến tháng 6‒1946, Lm. giáo sư Xuân Bích đă sống chung với 800 người Trung Hoa thuộc binh đội tỉnh Hoa Nam mà phần đông ít học lại ăn ở dơ dáy đến độ mắc bịnh dịch tả v́ thiếu vệ sinh. Trong năm đó, không có điều ǵ đặc biệt xảy ra ở Xuân Bích cả. Nhưng ở bên ngoài đại chủng viện th́ xảy ra rất nhiều thay đổi lớn. Vào ngày 6 tháng 3, tướng Leclerc ra Hà Nội và được Hồ Chí Minh đón tiếp và họ đă kư chung một ḥa ước tạm trong đó phía chính phủ Việt Minh vẫn nắm chính quyền. Phần binh đội Trung Hoa th́ phải trao quyền lại cho binh đội Pháp .

Đây là lần đầu tiên, quân đội Tầu được mời đến Việt Nam một cách chính thức mà không có danh nghĩa đi xâm lược.

Tuy nhiên, đăc điểm lối sống của người Tầu là ăn ở rất dơ dáy đến như đ̣ là một nét đặc thù văn hóa của Tầu.

Trong thời kỳ này, có nhiều câu hát chế diễu quân Tầu ở Hà Nội phản ánh đúng điều nhận xét của Lm. Gastine như: Đoàn quân Tầu ô đi, sao mà ốm thế, gót chân phù lang thang trên đường Việt Nam.

Trong cuốn Canadiens en Chine, xuất bản năm 1930, Édouard Lafortune đă dành hẳn một chương nói về cái ăn ở lễ phép "quá mức" của người Tầu, nhưng ông cũng không quên nói đến sự dơ bẩn của người Tầu như không giặt quần áo, không tắm rửa và nhổ bậy. V́ thế, các vị thừa sai thời năm 1930 ở nước Tầu đă để th́ giờ dạy dỗ cho họ cách phải tắm rửa, chỉ vẽ cách giặt giũ quần áo và cấm nhổ bậy trước khi rao giảng lời Chúa. Nhớ lại lúc mà Nixon và Kissinger ngồi đàm đạo với Mao Trạch Đông th́ ở ngay dưới chân chỗ bàn Mao Trạch Đông ngồi có để một ống nhổ bằng đồng. Không biết Nixon có được hân hạnh chứng kiến Mao Trạch Đông nhổ vào ống nhổ không và nhất là chịu đựng mùi hôi thối từ miệng Mao Trạch Đông, v́ ông này không hề biết đánh răng bao giờ cũng không hề biết tắm. Ông chỉ có thói quen lau ḿnh bằng khăn nước nóng mà thôi và không bao giờ rửa ráy sinh thực khí của ông.

Bẩn đến như Mao Trạch Đông là hết cỡ rồi. Phần người Việt Nam, cái búi tóc củ hành, để móng tay dài chỉ chấm dứt vào khoảng 1930. Nhưng cái b́nh phóng bằng đồng để nhổ c̣n hiện diện ở nhiều gia đ́nh những thập niên 1950 ở ngoài Bắc.

Dù sao th́ phải nh́n nhận người Việt Nam cũng thua cái bẩn của người Tầu một bậc.

Có một chi tiết cần được viết lại ra đây là trên tờ Chính Luận, số ngày 19/05/1974, trong bản tin có viết là Hồ Chí Minh, trong dịp này đă hối lộ một tượng vàng ṛng cho tướng Lư Hán. Hối lộ tướng Lư Hán để ông này làm áp lực với các đảng phải quốc gia ủng hộ chính quyền Việt Minh lúc bấy giờ.

Bệnh hối lộ là bệnh kinh niên của người Tầu và đặc biệt đây là một hối lộ chính trị của Hồ Chí Minh. Điều này cho thấy sự khôn ngoan và giảo quyệt của Hồ Chí Minh như thế nào?

Sau đó tướng Lư Hán được gọi về nhận chức thống đốc Vân Nam. Tháng 12, 1949, ông đầu hàng Trung Cộng và giữ chức chủ tịch Vân Nam đến tháng 4, 1950; sau đó ông nhường chức cho tướng Trần Canh. Trung Cộng giam lỏng ông tại tư dinh và ông đă tự tử ba lần không chết v́ vẫn được Trung Cộng cứu sống. Ông chết ngày 13/05/1974, thọ 79 tuổi. (Trích báo Chính Luận, ngày 19/05/1974, Trích lại trên Người Việt Online, ngày 18/05/2009)

Sự trở cờ của tướng Lư Hán cuối cùng th́ vẫn không cứu thoát được ông khỏi bị cộng sản trù dập.

Phần Việt Nam, một lần nữa chịu sự hống hách và đồng thời sự dơ bẩu của đoàn quân ô hợp của tướng Lư Hán.


Thời ông Ngô Đ́nh Diệm

Khi ông Ngô Đ́nh Diệm lên nắm chính quyền, ông đă ra sắc lệnh vào tháng 9, 1956 ngăn cấm không cho người Tàu gốc Việt không được làm một số ngành nghề như thóc gạo, điền địa, than đá, dầu lửa, thu mua sắt vụn, v.v... đồng thời sẽ trục xuất người Hoa nếu không chịu nhập Việt tịch. Cho đến năm 1961, con số 1.000.000 Hoa Kiều ở miền Nam chỉ c̣n lại 2000 người c̣n giữ quốc tịch Trung Hoa. Vậy mà đến lúc lâm nguy đến tính mạng, người ông tin cậy không phải là Tôn Thất Đính, cũng không hẳn là Cao Xuân Vỹ, càng không phải Nguyễn Đ́nh Thuần hay Đỗ Mậu mà là Mă Tuyên, một người Tầu Chợ Lớn. Mă Tuyên đă ra tận cửa đón ông Diệm, ông Nhu và Đại úy Đỗ Thọ để đưa họ lên lầu trong một t́nh huống thật bi kịch mà chỉ những kẻ trung thành tuyệt đối mới có thể làm được.

http://www.dcvonline.net/php/images/082009/matuyen.jpg <= Mă Tuyên , Nguồn: namuctuanbao.net

Điều này có thể cắt nghĩa được. Người Tầu thấm nhuần "văn hóa Khổng Tử", ứng xử theo chữ Tín làm đầu nên khi cần vẫn cứu giá ông Diệm. Nhưng người Tầu dù trọng chữ Tín th́ ngược lại họ lại có một thứ "Văn hóa nuôi thù" nếu cần. Thù truyền kiếp, truyền từ đời cha đến đời con. Trả thù trở thành một nghĩa vụ chữ Hiếu và đạo đức.

Hiểu như thế, ta sẽ hiểu tại sao người Tầu chơi Việt Nam sát ván như hiện nay.

Những biện pháp ông Diệm đưa ra sau này chỉ có giá trị trên giấy tờ c̣n thực tế việc phân phối, giao dịch xuất nhập cảng sau này ở miền Nam đều do người Tầu Chợ Lớn nắm giữ.

Nghệ thuật làm giàu từ buôn bán phải học người Tầu thôi. Thời trước đă vậy, thời nay có khác ǵ?

Thời Tướng Nguyễn Cao Kỳ

Khi lên nắm chính quyền, ông Kỳ đă đề ra chính sách chống tham nhũng. Lúc đó giá gạo lên vùn vụt do đầu cơ tích trữ. Giá gạo 3 ngàn đồng một kí lô, gấp ba lần giá chính thức. Người trách nhiệm bộ kinh tế lúc bấy giờ là Trương Thái Tôn hoàn toàn bó tay. Ông Kỳ triệu tập mốt số thương gia Tầu có máu mặt, bắt mỗi người ghi tên tuổi vào một phiếu, bỏ vào phong b́ và nói: liệu về giải quyết với nhau, tuần sau giá gạo không trở lại b́nh thường th́ ông sẽ lấy phong b́ ra rút thăm, trúng ai th́ người đó ra pháp trường cát. Ông không cho biết rơ giá gạo tuần sau có xuống không? Chỉ biết, ông đă t́m ra được một con dê tế thần là một thương gia trẻ tuổi, lúc đó chừng 40 tuổi, chẳng liên quan ǵ đến thị trường lúa gạo và đem ra xử bắn, mặc dầu có sự khuyên can của rất nhiều người, ngay cả người Mỹ

Tạ Vinh chết oan. Pháp trường cát dựng lên vội vă, xử dụng một lần, sau đó để mặc cho sương gió tàn tạ. Ông Kỳ than đêm đó ông mất ngủ.

Sau này, tướng Kỳ nổi tiếng nhiều mặt, nhưng có một mặt không ai bằng. Đó là ông có rất nhiều đàn em, sát cánh với đại bàng. Nhưng theo sự hiểu biết củangười viết, người suốt cuộc đời trung thành, theo sát ông và giúp đỡ ông không ai khác hơn là cận vệ Lư Huỳnh. Một người Tầu gốc Chợ Lớn.

Ông Lư Huỳnh cũng ứng xử đúng văn hóa Khổng Tử, không trở mặt, trung thành với chủ, dù chủ có không ra ǵ, dù chủ đă thất thế.

Ta cần áp dụng những bài học này trong việc đối phó với Tầu Trung Cộng, mặc dầu mọi việc xem ra quá trễ.

Thời kỳ TT Nguyễn Văn Thiệu

Thời ông Nguyễn Văn Thiệu là giai đoạn bết bát nhất trong 21 năm miền Nam v́ tham nhũng, hối lộ trong đó người Tầu Chợ Lớn giữ vai tṛ không nhỏ. Người Tầu Chợ Lớn có thể coi là sắc dân đặc biệt mà số người thanh niên đi lính kể là ít ỏi. Không có con số rơ rệt, nhưng nhiều bằng cớ cho thấy, v́ có tiền, họ trở thành lính ma, lính kiểng. Tiền lương lính của họ th́ do các vị sĩ quan nắm giữ. Họ c̣n tổ chức đường giây đưa Hoa Kiều sang Hồng Kông.

Có hàng trăm ngàn thanh niên người Việt gốc Hoa, đă có bao nhiêu t́nh nguyện ṭng quân trong các đơn vị tác chiến như nhảy dù, Thủy quân lục chiến hay lực lượng đặc biệt? Dù không có thống kê, chắc chắn con số người Việt gốc Hoa trốn lính phải rât cao so với người Việt. Điều đó nói lên điều ǵ?

Chẳng hạn, đă có lần Hồng Kông đă gửi trả lại 119 Hoa Kiều, chợ Lớn được lén lút đưa sang Hồng Kông để trốn quân dịch.

Đường giây lính Việt gốc Hoa đào ngũ là có cả một hệ thống ăn chịu với nhau mà một giấy tờ giả mạo tốn kém từ vài trăm ngàn đến một triệu đồng. Cụ thể là hai nhân viên ty Cảnh Sát quốc Gia Thừa Thiên là Quang N, trưởng pḥng cảnh sát, và Huỳnh Văn K. trưởng ban cảnh sát tư pháp đă bao che cho người Việt gốc Hoa tên Châu Cần, lính thuộc Lực lượng đặc biệt, thuộc sư đoàn 1. BB Sq 121.072 Châu Cần dùng một tên giả tên Phan Phiêm, dùng máy bay Boeing 727 từ Sài G̣n ra Huế và được hai nhân viên cảnh sát nêu trên ra đón tại phi trường Phú Bài.

Nhưng quân cảnh vẫn phát giác ra được và Châu Cần đă bị bắt và khai ra tất cả đường giây làm giấy tờ giả đào ngũ. (Trích báo Chính Luận, ngày 25/07/1971, trích lại trên NguoiViet online ngày 25/07/2009)

Và c̣n nhiêu vụ như thế nừa như vụ giả giất tờ cán bộ xây dưng nông thôn như trường hợp Huỳnh Ngọc M. và Huỳnh Tô A, v.v...

Vào năm 1971, người ta c̣n nhớ, một nghệ sĩ Đài Loan tên Bạch Lệ Oanh, 17 tuổi sang tŕnh diễn ở Việt Nam. Người Tầu Chợ Lớn đă đổ xô nhau đi coi chật rạp. 600 chỗ ngồi ở rạp Lệ Thanh không c̣n một chỗ trống. Sự mến mộ ấy cũng là điều tự nhiên không có ǵ đáng nói.

Tuy nhiên sự có mặt của người Việt gốc Hoa ở Việt Nam có một tác dụng tiêu cực về mặt xă hội, kinh tế, văn hóa và chính trị. Họ không thật sự coi mảnh đất đó, dù đă ở qua nhiều đời là mảnh đất quê hương của họ. Có thể họ c̣n thiếu cả trách nhiệm xă hội và thiếu trách nhiệm công dân, ấy là chưa kể tính lợi dụng cơ hội chủ nghĩa và rất có thể c̣n đi đến chỗ phản bội mảnh đất đă dung dưỡng họ khi cần.

Họ mang hai tổ quốc và tùy từng t́nh huống, họ có thể ngả bên này hay ngả phía bên kia.

Nhưng cũng có một điều tích cực và khích lệ là nếu phải chọn lựa giữa chế độ cộng sản và chế độ miền Nam Việt Nam trước 1975 th́ đa số người Việt gốc Hoa đều chọn phần đất của thế giới tự do.

Cuộc di tản và cuộc chạy trốn của Boat poeple cho thấy rơ điều đó. Họ cũng là nạn nhân của cộng sản Việt Nam như bất cứ người tỵ nạn nào khác.

Họ cùng đứng chung với chúng ta trong một chiến tuyến.

Nhưng giả dụ, nếu có tranh chấp đi đến chiến tranh giữa Việt Nam và Trung Cộng xảy ra, những người Việt gốc Hoa sẽ ngả về phía nào? Đó là một chọn lựa cũng không dễ cho họ.

Dù sao, sự có mặt của người Việt gốc Hoa có gây ra một số trở ngại ở miền Nam, nhưng nó không trở thành vấn đề lớn lao đến nỗi tạo thành một áp lực chính trị có thể làm lung lay chế độ như trong trường hợp Nam Dương, Mă Lai Á, hay Miến Điện. Đó là những vấn đề lớn cho các nước ấy.

http://www.dcvonline.net/php/images/082009/sukarno.jpg
Tổng thống Nam Dương Sukarno và Marilyn Monroe (1956), Nguồn: © Bettmann/CORBIS/Photographer: George Snow =>

Tại Nam Dương, Sukarno đă thành công ngoài sự mong đợi của nhiều người. Ông chỉ dựa trên chủ nghĩa quốc gia dân tộc, niềm tự hào dân tộc đă có thể chẳng những dành được độc lập, dành lại cái được gọi là Merdeka, xóa bỏ chế độ thực dân Ḥa Lan ra khỏi Nam Dương, đồng thời tiêu diệt các lực lượng cộng sản Nam Dương. Ông trở thành người hùng của Nam Dương giống như một Nasser của Ai Cập hay Nkrouna của Ghana.

Bài học Nam Dương cũng như Mă Lai Á cho thấy, các dân tộc ấy có thể dành độc lập và rằng có những con đường khác để dành lại độc lập cho xứ sở mà không cần kinh qua con đường XHCN, nhất là sự cầu viện nước ngoài như việc cầu viện Mao Trạch Đông của Việt Nam.

Cũng v́ không lệ thuộc vào Tầu mà nay Nam Dương có thể ngang nhiên bắt tầu đánh cá Trung Cộng mà phía Trung Cộng đă không có một phản ứng mạnh mẽ hay đe dọa ǵ cả.

Trong khi đó, Việt Nam XHCN ngày nay bị ràng buộc vào trong cái gọng ḱm lịch sử của vũng lầy quá khứ với hai cuộc chiến tranh đi cầu viện và nhờ vả, nay há miệng mắc quai.

Cái trớ trêu lịch sử là lại một lần nữa Khi ông Thiệu phải bỏ nước năm 1975, Người Mỹ không phải người Tầu nên đă cho người đến khuyến cáo ông Thiệu không nên vào Mỹ. Nhưng c̣n Đại Hàn, Phi Luật Tân, Thái Lan, Pháp, Úc Đại Lợi, Nhật Bản‒ những nước từng hưởng lợi do cuộc chiến 54‒75‒? Họ đă giúp ǵ cho ông Nguyễn Văn Thiệu trong lúc khống cùng? Cuối cùng, ông đă chọn Đài Loan, mặc dầu người bạn tốt bụng là Tưởng Giới Thạch đă chẳng may qua đời trước đó không bao lâu.

Tại sao nhất thiết phải chọn Đài Loan mà không phải nước khác?

Những việc vừa tŕnh bày trên cho thấy rằng phải hiểu người Tầu để đối phó với người Tầu. Người Tầu cũng nhiều mà xấu cũng không ít. Hiểu lịch sử và văn hóa của họ và hiểu tại sao Tầu Cộng bây giờ không phải thứ người Tầu chính hiệu, bởi v́ nó lây nhiễm căn bệnh cộng sản mất rồi.

Chỉ có thể đối phó với người Tầu, nếu ta thấm nhuần văn hóa Khổng Tử và t́m cách loại trừ thứ văn hóa ngoại lai cộng sản Tầu từ 60 năm nay bằng cách tiên quyết loại trừ cộng sản Việt Nam như một tiền đề.

Từ bỏ con đường chủ nghĩa cộng sản là lối thoát cho Việt Nam hiện nay.

Thời kỳ sau 1975

http://www.dcvonline.net/php/images/082009/cholon.jpg <= Chợ Lớn

Nguồn: Khi Sai G̣n được "giải phóng" xong, Ủy Ban quân quản có chiến dịch đánh tư sản mại bản mà chủ yếu nhằm vào người Tầu Chợ Lớn. Theo ông Lu Hsing‒Ying, chủ tịch các bang hội người Hoa, một người Tầu có thế lực ở Chợ Lớn có cho bà Brigitte Friang, một kư giả Pháp biết: Họ cấm không cho treo cờ Tầu cộng, cố t́nh diệt tư sản người Tầu Chợ Lớn. 127 người Tầu ở Chợ Lớn có thế lực đă bị bắt giam trong ṿng 2 ngày. Một dân biểu người gốc Tầu bị ám sát. Một chủ vựa lúa có hằng trăm nhà máy say lúa bị bắt giam ở Bạc Liêu. Hai thương gia Tầu ở Thủ Đức bị kết án tử h́nh. Ba người khác bị ṭa án quân sự ở Long Xuyên kết án tử h́nh v́ tội phản cách mạng, tay sai đế quốc Mỹ.

Để phản đối chính quyền về chính sách đối với người Hoa, một buổi họp kín tụ họp tất cả những thương gia gốc Hoa tại một nhà thương ở Chợ Lớn và đi đến quyết định sau đây. Gây một quỹ hành động dự trù là 4 tỉ đồng Việt Nam, đồng thời gửi tới các cộng đồng người Hoa ở các nước Đông Nam Á tẩy chay Việt Nam cũng đồng thời thông báo cho Bắc Kinh.

Và theo ông Lu, Hà Nội cũng biết sợ cái bóng Bắc Kinh. On craint les foudres de Pékin. Người ta sợ sự trừng phạt của Bắc Kinh.

Lư do ǵ mà Sài G̣n có thể rơi vào t́nh trạng gạo khan hiếm đến có thể đói ăn, mặc dầu đă diệt đầu mối tư sản mại bản Tầu?

Người ta c̣n biết rằng vào những năm chót của Việt Nam Công Ḥa, Mỹ và Việt Nam dự trù Sài G̣n có thể bị bao vây và bị phong tỏa nên đă chở sang mỗi năm khoảng 300.000 tấn gạo dự trữ tồn kho ở Sài G̣n. Số gạo này vần nằm trong các kho dự trữ. Theo kư giả Friang, thay v́ cung cấp cho dân Sài G̣n có gạo ăn để khỏi chết đói, chính quyền do Ủy ban quân quản đă lén chở tất cả số gạo đó bán sang Singapore dể thu về số ngoại tệ mà họ đang cần.

Họ có cần biết ǵ đến dân chúng đang đói không?

Nói tóm lại, theo kư giả Brigitte Briang: "Autrement dit, pour se procurer des devises, le Nord serre la ceinture du Sud." Nói cách khác, để kiếm ra ngoại tệ, miền Bắc đă xiết cổ miền Nam (Trích tóm lược trong La mousson de la liberté, từ trang 158‒159)

Từ sau chiến dịch cải tạo thương nghiệp, thành phố Sài G̣n đâm thiếu gạo. Từ nay phải ăn gạo tem phiếu vừa mối mọt, vừa ẩm mốc. Sài G̣n từ trước tới nay chưa từng bao giờ thiếu gạo. Người dân phải ăn độn Bo Bo là điều không thể tưởng tượng nổi. Bí thư Thành Uỷ TPHCM lúc bấy giờ là Vơ Văn Kiệt. Ông Kiệt tuyên bố là không để dân thành phố đói ăn. Bằng mọi cách phải mua được gạo. Gạo th́ không thiếu, vấn đề là không mua được theo giá thỏa thuận của nhà nước. Ông Kiệt túng kế nghĩ cách đă đến lúc phải "phá rào", phá cơ chế. Gạo có mà không mua được v́ dân không bán với "giá ép", giá giựt, giá nghĩa vụ v́ bị thiệt tḥi nhiều quá.

Giá nghĩa vụ bán cho nhà nước là 0.52 đồng/1 kí lô. Ông Sáu Dân bằng ḷng mua với giá 2.5/1kí lô. Sau đó cộng thêm chi phí vận tải, chi phí xay xát và thặng số thương nghiệp.

Việc TPHCM mua với giá đó đẩy giá mua chính thức khắp nơi lên 2 đ 50/ I kí lô, vô hiệu hóa giá chính thức 0đ25. Chẳng bao lâu giá 2.5/I kí lô dần dần lan ra cả nước và không lùi được nữa.

Giải pháp phá rào của ông Kiệt có cơ cứu cho TPHCM thoát nạn đón và sau đó giá cả được ổn định ở mức 2đ50/kí lô trên địa bàn cả nước.

Vấn đề gạo giải quyết xong th́ vấn đề nguyên liệu dùng cho sản xuất.

Đến một lúc nào đó, thành phố "Hồ Chí Minh" cạn kiệt nguồn nguyên liệu, sản xuất v́ thế phải ngưng trệ.

16 tấn vàng của Ngân Hàng quốc Gia để lại th́ đă chuyển giao chính quyền Trung ương bảo quản và cấu véo chi tiêu hết lúc nào cũng không ai biết.

Lại một lần nữa phải phá rào. Ông Kiệt phải nhờ đến người Hoa, có vốn, có quen biết với nước ngoài như Đài Loan, Singapore bắt đầu trao đổi với người Hoa ở Hồng Kông, Singapore.

Chính những người Hoa trước đây là nạn nhân của việc đánh tư sản, mại bản nay họ đứng ra thu gom tất cả những ǵ miền Nam có thể bán ra nuớc ngoài được như mực khô, tôm khô, lạc khô, đỗ cũng như các đồ tiểu công nghệ như đồ thêu ren, sơn mài, v.v... để đổi lấy sợi dệt, sợi thuốc lá cũng như xăng dầu của nước ngoài.

Cơn đói nhập cảng nguyên liệu giải quyết được một phần cho thành phố. Nhờ đó nhà máy thuốc lá Vĩnh Hội sản xuất được thuốc, nhà máy dệt Thành Công chạy đều lại, hăng bột ngọt Vifon có nguyên liệu để làm bột ngọt.

Không có người Tầu Chợ Lớn, không có bang hội Tầu Chợ Lớn đứng ra làm ăn trong lúc đầu, đêm đổi mới liệu có hy vọng thành công trong lúc đầu?

Cái khó thời trước 1975 và sau 1975 cùng là cái khó bây giờ mà c̣n là cái khó hơn, khó gấp bội phần. Làm thế nào để thoát ra khỏi quỹ đạo của Tầu?

Chẳng hạn, ông Thích Nhất Hạnh vốn chỉ lên tiếng bênh vực đức Lạt Ma Tây Tạng đủ cho sức ép của Tầu cộng đánh bật các tu sinh của ông ra khỏi Bát Nhă. Sự can thiệp ở trên thật rơ ràng và thô kệch. Người viết có nói chuyện với một cán bộ cộng sản trong nước th́ họ cũng xác nhận rằng, sự kiện Bát Nhă là do bắt đầu từ thẩm quyền cấp cao từ trên đưa xuống, ba cái thằng địa phương không có tư cách ǵ để làm những truyện đó.

Câu hỏi đặt ra là đất nước này đang ở trong tay ai và tương lai nó sẽ như thế nào? Mối tương quan nước ta, nước Tầu sẽ đi về đâu và sẽ ra sao?

© DCVOnline