PDA

View Full Version : Các thành viên IDS nói ǵ về quyết định giải thể?



SilverBullet
09-16-2009, 06:23 AM
Các thành viên IDS nói ǵ về quyết định giải thể?


Mặc Lâm, phóng viên RFA
2009-09-15

Ngày 14-9-2009, Hội Đồng Viện Nghiên Cứu Phát Triển, gọi tắt là IDS, đă họp phiên toàn thể, quyết định tự giải thể để biểu thị thái độ dứt khoát của Viện đối với Quyết Định 97.

http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/The-IDS-members-feeling-about-their-declare-to-dissolve-MLam-09152009123042.html/LeDangDoanh-305.jpg <= RFA PHOTO
Tiến sĩ Lê Đăng Doanh (phải), một thành viên của IDS tham dự cuộc hội thảo về Việt Nam ở Đại Học Princeton hôm 17 và 18 tháng 10-2008.

Việc giải thể này đang là mối quan tâm hàng đầu của giới trí thức Việt Nam trong và ngoài nước hiện nay.
Nội dung Quyết Định 97 có điều ǵ quan trọng để dẫn tới việc phải tự giải thể một viện tập trung nhiều trí thức tâm huyết nhất Việt Nam hiện nay như vậy? Mặc Lâm có bài t́m hiểu vấn đề này với chính các thành viên trong viện sau đây.

Buồn, tiếc…

Viện Nghiên Cứu Phát Triển (IDS) được thành lập cách đây hai năm với 16 thành viên chính thức là GS Hoàng Tụy, TS Nguyễn Quang A, TS Lê Đăng Doanh, Bà Phạm Chi Lan, GS Chu Hảo, GS Phan Huy Lê, GS Tương Lai, Nhà văn Nguyên Ngọc, GS Phạm Duy Hiển cùng nhiều người khác.
Những khuôn mặt trí thức quen thuộc này không những thường xuyên có các bài viết nghiên cứu hay phản biện về những vấn đề kinh tế, giáo dục, xă hội cũng như khoa học mà c̣n có những tiếng nói về vấn đề bauxite, Trường Sa - Hoàng Sa…

Trước quyết định giải thể này, TS Lê Đăng Doanh cho biết cảm nghĩ của ông như sau:
“Cá nhân tôi th́ rất lấy làm tiếc và rất lấy làm buồn rằng là chúng tôi phải tự giải thể cái Viện Nghiên Cứu Phát Triển (IDS). Viện này là do cố Thủ Tướng Vơ Văn Kiệt đă có hướng dẫn và đă có gửi gắm để chúng tôi thực hiện.
Cho nên tôi hy vọng là sẽ có một ngày nào đó chúng tôi lại có thể lại tham gia một cái viện để thực hiện cái nguyện vọng đó của cố Thủ Tướng Vơ Văn Kiệt, khi mà những điều kiện thích hợp lại được thiết lập.”
Bà Phạm Chi Lan, một thành viên của viện, cũng tỏ ư tiếc về việc không c̣n cơ hội làm việc chung với các vị giáo sư mà theo bà th́ đây là những người mà bà t́m thấy sự làm việc cũng như kiến thức đáng để bà học hỏi:
http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/The-IDS-members-feeling-about-their-declare-to-dissolve-MLam-09152009123042.html/PhamChiLan-305.jpg

Bà Phạm Chi Lan (giữa), một thành viên của IDS trong buổi tọa đàm "Giải pháp với hàng Trung Quốc chất lượng thấp", do VietnamNet tổ chức hôm 16-6-2009.=>


“Cảm tưởng của tôi th́ có thể nói là tôi cũng thực sự tiếc về sự giải thể này. IDS mới thành lập được 2 năm nay thôi là cũng bắt đầu có được những hoạt động cũng được xă hội quan tâm, và bản thân tôi tham gia vào Viện (th́) tôi học hỏi được rất nhiều từ những vị giáo sư, những nhà nghiên cứu rất xuất sắc ở Viện, cho nên được làm việc với những người như vậy th́ cũng là hân hạnh lớn của tôi.”

Quyết định 97

Lư do mà Viện IDS tuyên bố giải thể phát xuất từ Quyết Định số 97 của Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng, trong đó khoản 2, điều 2 của quyết định này ghi: “cá nhân thành lập tổ chức khoa học công nghệ chỉ hoạt động trong lĩnh vưc thuộc Danh mục ban hành kèm theo Quyết định này.”
Đối với một tổ chức nghiên cứu khoa học và công nghệ cũng như nhiều vần đề có liên quan đến xă hội, giáo dục, kinh tế… như Viện IDS th́ điều khoản này vi phạm hai quyền tự do cơ bản.
Thứ nhất, việc quy định chỉ cho phép hoạt động trong lĩnh vực thuộc danh mục mà chính phủ ban hành kèm theo, điều này cản trở nghiêm trọng quá tŕnh nghiên cứu và phát triển. Khoa học là một tiến tŕnh hoàn toàn mới mẻ mà không một nhà bác học nào có thể tiên đoán sẽ xảy ra nhờ những phát minh của con người.
Chỉ thông qua sự vận động thường trực của cuộc sống mới này sinh những ư tưởng sáng tạo nhằm phục vụ nhân sinh từ các nghiên cứu và phát minh. Ban hành một danh mục để theo đó hoạt động là một cách thức khác cho chính sách “lề bên phải” đặt để cho giới nghiên cứu phải tuân theo.
Việc ban hành danh mục này cho thấy các nhà hoạch định chính sách của chính phủ vẫn chưa nhận thức rơ tầm quan trọng của nghiên cứu khoa học, và do đó những trở ngại lớn lao mà danh mục này tạo ra khiến cho các cơ quan nghiên cứu độc lập và nghiêm túc không thể làm việc hữu hiệu.
Điểm thứ Hai, khi Quyết Định 97 nêu rơ “nếu có ư kiến phản biện về đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước cần gửi ư kiến đó cho cơ quan Đảng, Nhà nước có thẩm quyền, không được công bố công khai với danh nghĩa hoặc gắn với danh nghĩa của tổ chức khoa học và công nghệ.”
Theo bức thư giải thể của IDS th́ quy định này sai pháp luật một cách nghiêm trọng. Việc ngăn cản đưa ra những phản biện công khai khác nào bịt miệng trí thức v́ chỉ có công khai th́ phản biện mới có giá trị.
Bất cứ phản biện nào nằm trong ṿng bí mật chỉ nên được áp dụng cho công chức ăn lương của cơ quan nhà nước, nếu họ muốn đưa ra gải pháp nào đó chỉ trong phạm vi cơ quan của họ mà thôi.
Đối với một tổ chức hoạt động độc lập th́ việc bó buộc này được xem như là biện pháp đề pḥng những phản hồi có tính cách xây dựng cho đất nước nhưng lại có thể gây thiệt hại cho cá nhân hay một tập thể nào đó trong guồng máy nhà nước.
TS Nguyễn Quang A, Viện Trưởng Viện IDS, cho biết nếu viện không giải thể mà cứ tiếp tục làm việc như tinh thần từ trước đến nay th́ không thể tránh được những việc ngoài ư muốn xảy ra. Ông nói: “Chúng tôi thấy rằng ngày mai trở đi nếu chúng tôi hoạt động như vừa qua sẽ gặp rất nhiều rắc rối.”
Riêng đối với Nhà văn Nguyên Ngọc, một thành viên của IDS, th́ cho rằng một trí thức chân chính không thể làm việc trong một môi trường như Quyết Định 97 vẽ ra:
“Thật sự chúng tôi chả tiếc rẻ ǵ thái độ dứt khoát của Viện IDS đối với quyết định này. Chúng tôi phản đối quyết định này. Và chúng tôi thấy rằng tiếp tục hoạt động với một cái quyết định như vậy th́ sẽ là vô nghĩa và cũng sẽ không đúng đối với một sự hạn chế như thế trong hoạt động, can dự như thế th́ không c̣n là những người trí thức chân chính”.

Yếu tố Trung Quốc?

Điểm đặc biệt mà Quyết Định 97 khuyến nghị những người có phản biện nên gửi ư kiến của ḿnh tới những cơ quan của nhà nước. Quy định này được Viện IDS nhấn mạnh trong bức thư tuyên bố giải thể với đoạn viết như sau:
“Quá tŕnh đi lên của đất nước chưa có con đường vạch sẵn, cuộc sống có vô vàn vấn đề thuộc đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước cần được phản biện để có thể xử lư đúng đắn. Tuy nhiên, thực tế cho thấy có rất nhiều ư kiến phản biện về đường lối chính sách bị cất hầu như không có thời hạn trong các “ngăn kéo” của các cơ quan chức năng hoặc của những người có thẩm quyền có liên quan. Có quá nhiều phản biện dưới mọi dạng như kiến nghị, đề nghị, thư, tài liệu nghiên cứu… không bao giờ được hồi âm.”
Những ghi nhận từ bức thư tuyên bố này được thấy rất rơ trong vụ bauxite và chống Trung Quốc đang xảy ra trên toàn quốc hiện nay. Hàng trăm kiến nghị gửi đi nhưng không bao giờ có hồi âm và một trong những thư kiến nghị đó được gửi đi từ Thiếu tướng Nguyễn Trọng Vĩnh.
Thiếu tướng Vĩnh từng là Đại Sứ Việt Nam tại Trung Quốc từ năm 1974 đến năm 1989. Trước đó ở trong quân đội ông là chính uỷ Khu 1, Cục Trưởng Cục Tổ Chức - Tổng Cục Chính Trị, Uỷ viên dự khuyết Trung Ương Đảng 1960-1976.
Trong một lần phỏng vấn với chúng tôi về vấn đề bauxite, ông cho biết: “Có gửi cho Bộ Chính Tri Đảng và tôi có thư gửi cho Quốc Hội rồi. Đến Đại tướng Vơ Nguyên Giáp mà cũng chả được hồi âm nữa là tôi.”
Nhà văn quân đội Phạm Đ́nh Trọng khi gửi tâm thư bức xúc của ḿnh vế vấn đề Trung Quốc cho Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng cũng có kết quả tương tự. Ông kể lại:

Nhà văn Phạm Đ́nh Trọng : Cái trung của kẻ sĩ là không thể làm ngơ được thành ra đành phải viết ạ.
Mặc Lâm : Vâng. Rồi khi bài viết của ông đă được gửi cho Thủ Tướng th́ ông có được cái phản hồi nào từ Văn Pḥng Thủ Tướng không?
Nhà văn Phạm Đ́nh Trọng : Thưa, hoàn toàn không ạ. Thư Đại tướng Vơ Nguyên Giáp mà họ c̣n im lặng, đến 3 lần mà họ c̣n im lặng nữa mà.

Quyết Định 97 đưa ra vào thời điểm trùng hợp với những biến động hiện nay đang góp phần khuấy động những lo ngại từ nhiều phía. Sau vụ bắt giữ các blogger và nhà báo, nay nhà nước đang chĩa hướng tấn công vào các trí thức bằng các quyết định khó thể thuyết phục dư luận.
Người dân đang tự hỏi có phải đây chính là dấu chấm hết cho một thời gian tương đối dễ thở vừa qua và sự chấm dứt đột ngột này có liên quan ǵ đến những điều mà dư luận vẫn cho là có yếu tố Trung Quốc?

Nguồn: RFA

SilverBullet
09-16-2009, 06:41 AM
Chính quyền Việt Nam t́m cách ngăn chặn tiếng nói phản biện của giới trí thức


Thanh Phương , RFI


http://www.rfi.fr/actuvi/images/117/IDS_VN_200.jpg Được thành lập từ tháng 9/2007, Viện Nghiên cứu Phát triển IDS là viện nghiên cứu tư nhân về chính sách đầu tiên ở Việt Nam, quy tụ các trí thức có tên tuổi, các chuyên gia hàng đầu ở Việt Nam, như giáo sư Hoàng Tụy, tiến sĩ Nguyễn Quang A , tiến sĩ Lê Đăng Doanh, giáo sư Tương Lai, Phạm Duy Hiển, bà Phạm Chi Lan, nhà văn Nguyên Ngọc v. v.


Viện IDS ra đời chính là do sự khuyến khích của cố thủ tướng Vơ Văn Kiệt, một nhân vật có đầu óc cải cách.

Mong muốn của những thành viên của Viện IDS chỉ là đóng góp những ư kiến phản biện mang tính xây dựng đối với một số vấn đề hay chủ trương chính sách Đảng và Nhà nước. Có thể nói, đây là lần đầu tiên mà giới trí thức Việt Nam tập hợp lại trong một tổ chức nhằm thúc đẩy sự phát triển của đất nước theo hướng cởi mở hơn. Với quy chế hoạt động độc lập, IDS có thể được coi là như là một tổ chức xă hội dân sự.

Thế nhưng, cơ quan an ninh của Việt Nam lại cho các thành viên của Viện là những phần tử chống đối Nhà nước, nhận tiền nước ngoài. Có lẽ, chính v́ không thể đóng cửa Viện IDS về mặt pháp lư, cho nên vào tháng 7 vừa qua, thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đă ban hành quyết định 97. Quyết định này, có hiệu lực kể từ hôm qua, hạn chế các lĩnh vực mà cá nhân được lập tổ chức nghiên cứu khoa học, đồng thời cấm các nhà khoa học thuộc các viện nghiên cứu tư nhân công bố các ư kiến phản biện với danh nghĩa của Viện.

Ngay sau khi Quyết định 97 được ban hành, Viện IDS đă gởi bức thư đề ngày 6/8 cho thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng yêu cầu rút lại hoặc hoăn thi hành một văn bản mà họ cho là ''phản khoa học, phản tiến bộ và phản dân chủ'', thậm chí trái với đường lối của Đảng và vi phạm pháp luật Nhà nước.

Yêu cầu nói trên đă không được thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đáp ứng và trong cuộc đấu không cân sức này, các thành viên của Viện IDS cuối cùng đành phải chịu thua. Nhưng thay v́ để cho Viện chịu sự quản lư của Quyết định 97, các thành viên IDS đă quyết định tự giải tán Viện này như là một h́nh thức phản kháng.

Trong bài viết mang tựa đề ''Quyết định 97 và ư đồ biến giới trí thức thành công cụ của người cầm quyền (http://www.viet-studies.info/)'', vừa được đăng trên mạng Viet Studies, hôm qua, ông Vũ Quang Việt, nguyên là một chuyên gia của Liên Hiệp Quốc và là tác giả nhiều bài nghiên cứu có giá trị về kinh tế Việt Nam, đă nhận định rằng, với Quyết định 97, Việt Nam sẽ trở lại thời trước năm 1990, tức là trước thời kỳ đổi mới, ''bởi v́ nó có thể dọn đường cho những nhà khoa học muốn đóng góp ư kiến trở lại hoạt động trong môi trường giống như ngày xưa. ''

Như vậy, sự kiện Viện IDS bị '' bức tử '' đánh dấu một bước lùi trên con đường cải cách của Việt Nam và như lời ông Vũ Quang Việt, sự kiện này cho thấy là chính quyền vẫn nh́n giới trí thức Việt Nam với con mắt nghi ngờ hoặc vẫn xem trí thức như là công cụ của họ. Nhưng việc IDS giải thể không có nghĩa là giới trí thức Việt Nam không c̣n nơi để phản biện. Các thành viên của IDS sẽ vẫn có thể phát biểu với tư cách cá nhân trên mặt báo, nếu có tờ báo nào dám đăng ư kiến của họ, hoặc họ vẫn có thể chuyển tải những ư kiến lên các trang web, trang blog, như mạng thông tin Bauxite Việt Nam (http://www.bauxitevietnam.info/). Mạng thông tin này đang là một cái gai nhọn dưới con mắt của chính quyền. Từ cuộc vận động chữ kư cho kiến nghị phản đối dự án khai thác bauxite ở Tây Nguyên, mạng Bauxite Việt Nam nay trở thành nơi tập trung tiếng nói phản biện của những trí thức có tên tuổi trong và ngoài nước đối với các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước và là nơi bàn luận về những vấn đề nhạy cảm như Trường Sa, Hoàng Sa. Những mạng thông tin kiểu như vậy chính là cái mầm mống cho xă hội dân sự ở Việt Nam, thay thế cho Viện IDS.

Nguồn: RFI

SilverBullet
09-16-2009, 07:42 AM
Tuyên bố của Viện Nghiên cứu Phát triển IDS


“… Không ai có thể “cho phép” đời sống sẽ được phát triển đến đâu. Thực chất với Quyết định này, “cho phép” tức là cấm, và vùng cấm rộng gấp ngàn lần vùng được phép …”


Cộng ḥa xă hội chủ nghĩa Việt Nam
Độc Lập – Tự do – Hạnh phúc

Tuyên bố của Viện Nghiên cứu Phát triển IDS


Ngày 24-7-2009 Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng kư Quyết định số 97/2009/QĐ-TTg ban hành danh mục các lĩnh vực cá nhân được thành lập tổ chức khoa học và công nghệ (sau đây gọi là Quyết định 97), có hiệu lực từ ngày 15-09-2009.

Viện Nghiên cứu phát triển IDS nhận thấy Quyết định 97 có những sai phạm nghiêm trọng sau đây:

Một là: Điều 2 của Quyết định 97 không phù hợp với thực tế khách quan của cuộc sống.

Khoản 2, điều 2 trong quyết định này ghi: cá nhân thành lập tổ chức khoa học công nghệ “ chỉ hoạt động trong lĩnh vưc thuộc Danh mục ban hành kèm theo Quyết định này. Nếu có ư kiến phản biện về đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước cần gửi ư kiến đó cho cơ quan Đảng, Nhà nước có thẩm quyền, không được công bố công khai với danh nghĩa hoặc gắn với danh nghĩa của tổ chức khoa học và công nghệ”.

Như vậy khoản 2 của điều 2 bao gồm 2 điểm chính là

(1) các lĩnh vực được phép nghiên cứu quy định trong danh mục kèm theo Quyết định, và
(2) không được công bố công khai ư kiến phản biện với danh nghĩa của một tổ chức khoa học và công nghệ.

Về vấn đề danh mục các lĩnh vực được phép tổ chức nghiên cứu:

Cuộc sống vô cùng phong phú, có nhiều vấn đề chưa biết đến, luôn luôn vận động, biến đổi và phát triển, luôn luôn đặt ra những đ̣i hỏi mới, cần có các quyết sách mới và các giải pháp thích hợp. V́ vậy không thể bó khuôn mọi vấn đề được phép nghiên cứu trong cuộc sống vào một danh mục dù danh mục ấy có rộng đến đâu. Quy định như vậy sẽ bó tay các nhà khoa học, những người nghiên cứu độc lập, hạn chế sự đóng góp của họ vào việc xây dựng chính sách đổi mới và phát triển đất nước.

Nghiên cứu khoa học là hoạt động sáng tạo nhằm khám phá các quy luật vận động trong tự nhiên và xă hội; từ đó tạo ra công nghệ mới, hoạch định chính sách phát triển và nâng cao dân trí để thúc đẩy xă hội tiến lên. Trong cuộc sống c̣n có những lĩnh vực, những vấn đề đă trở nên lỗi thời hoặc đă bị vượt qua. Thực tế này cũng là một đối tượng quan trọng của công việc nghiên cứu, nhất là trong t́nh h́nh một quốc gia phải ra sức phấn đấu khắc phục t́nh trạng nghèo nàn và lạc hậu. Trong một xă hội tiến bộ, công việc nghiên cứu với tính cách như vậy không thể đóng khung trong một danh mục gồm các lĩnh vực được quy định như đă nêu trong Quyết định 97.

Trong khi đó, công văn ngày 8-9-2009 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp (thừa uỷ quyền của Thủ tướng trả lời thư ngày 6-8-2009 của Viện IDS gửi Thủ tướng) cho rằng cách quy định một danh mục các lĩnh vực cho phép cá nhân được thành lập tổ chức nghiên cứu là thông lệ ở nhiều nước trên thế giới, có nước quy định một danh mục cho phép, có nước quy định một danh mục cấm, hoặc cả hai. Chúng tôi đă t́m hiểu kỹ th́ chưa thấy nước nào có quy định danh mục các lĩnh vực được phép nghiên cứu khoa học. V́ vậy cách trả lời trong công văn của Bộ Tư pháp là không trung thực, thiếu trách nhiệm. Cho đến nay, trên thế giới, việc phân loại các lĩnh vực khoa học là để thống kê, so sánh, không thể lấy đó làm căn cứ để quy định các lĩnh vực được phép nghiên cứu. Cách làm như Quyết định 97 sẽ bị dư luận chê cười, làm hại uy tín của lănh đạo và của đất nước.

Ư kiến trong công văn của Bộ Tư pháp cho rằng Quyết định vẫn để mở, sẽ tiếp tục nghiên cứu bổ sung dần các lĩnh vực cho phép, là môt cách biện bạch gượng gạo, bởi v́ “cho phép” th́ không bao giờ đủ. Không ai có thể “cho phép” đời sống sẽ được phát triển đến đâu. Thực chất với Quyết định này, “cho phép” tức là cấm, và vùng cấm rộng gấp ngàn lần vùng được phép.

Về vấn đề phản biện:

Quá tŕnh đi lên của đất nước chưa có con đường vạch sẵn, cuộc sống có vô vàn vấn đề thuộc đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước cần được phản biện để có thể xử lư đúng đắn. Tuy nhiên, thực tế cho thấy có rất nhiều ư kiến phản biện về đường lối chính sách bị cất hầu như không có thời hạn trong các “ngăn kéo” của các cơ quan chức năng hoặc của những người có thẩm quyền có liên quan. Có quá nhiều phản biện dưới mọi dạng như kiến nghị, đề nghị, thư, tài liệu nghiên cứu… không bao giờ được hồi âm.

Ví dụ nổi bật nhất là cải cách giáo dục – một vấn đề sống c̣n của sự phát triển đất nước, một yêu cầu bức xúc của xă hội đang được dư luận và giới nghiên cứu trong và ngoài nước rất quan tâm, phản biện công khai sôi nổi từ nhiều năm nay nhằm thực hiện những nghị quyết của Đại hội Đảng và các Hội nghị Trung ương Đảng về cải cách giáo dục. Tuy vậy, sự phản biện này chưa được đánh giá và tiếp thu nghiêm túc.

Một ví dụ khác gần đây là vấn đề bô-xít, được coi là một chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước. Sự phản biện công khai, quyết liệt vừa qua của rất nhiều nhà khoa học và các hiệp hội thuộc các lĩnh vực khác nhau đă góp phanà thúc đẩy việc ban hành quyết định ngày 24-04-2009 của Bộ Chính trị lưu ư những vấn đề phải quan tâm trong khai thác bô-xít ở Tây Nguyên. Tuy vậy, c̣n biết bao nhiêu phản biện quan trọng khác trong vấn đề khai thác bô-xít ở Tây Nguyên vẫn c̣n bị bỏ ngỏ.

Trong t́nh h́nh nêu trên, cấm các tổ chức khoa học công nghệ do các cá nhân thành lập phản biện công khai như nêu trong Quyết định 97 thực chất là cấm phản biện xă hội, hệ quả sẽ khôn lường.

Khoản 2 trong điều 2 của Quyết định 97 không viết thành văn nhưng hàm ư để ngỏ khả năng: cá nhân được phép phản biện công khai với tư cách riêng của ḿnh. Như vậy, sẽ không thể giải thích:

(a) Tại sao cá nhân th́ được phản biện công khai, c̣n tổ chức, tức trí tuệ tập thể và liên ngành được tập họp để có thể có chất lượng cao hơn, th́ lại không? Quy định chỉ cho phép cá nhân phản biện công khai tạo thuận tiện cho việc vô hiệu hóa hay h́nh sự hóa việc phản biện của cá nhân? Phải chăng quy định như vậy ngay từ đầu đă mang tính chất không khuyến khích phản biện, mà có hàm ư làm nản ḷng thậm chí hăm dọa sự phản biện của cá nhân.

(b) Tại sao trong nhà nước pháp quyền theo định hướng xă hội chủ nghĩa, một văn bản pháp quy có tầm quan trọng như vậy lại có thể được thiết kế như một cái bẫy và để ngỏ khả năng cho việc vận dụng cái bẫy đó?

Hai là: Việc cấm phản biện công khai là phản khoa học, phản tiến bộ, phản dân chủ.

- Cấm như vậy là phản khoa học, bởi lẽ: Bất kể một phản biện nào nếu không chịu sự “sát hạch” công khai, minh bạch trong công luận, sẽ khó xác định phản biện ấy là đúng hay sai, độ tin cậy của nó, sự đóng góp hay tác hại nó có thể gây ra, khó lường được các khả năng sử dụng hoặc lợi dụng việc phản biện này.

- Cấm như vậy là phản tiến bộ, bởi lẽ: Người dân sẽ không biết đến các phản biện đă được đề xuất hay các vấn đề đang cần phải phản biện, càng không thể biết chất lượng và tác dụng của những phản biện ấy, không biết nó sẽ được cơ quan có thẩm quyền đánh giá, tiếp thu hay xử lư như thế nào. Phản biện và tiếp thu phản biện không công khai sẽ không thể tranh thủ được sự đóng góp xây dựng từ trí tuệ trong và ngoài nước, hạn chế khả năng sáng tạo t́m ra con đường tối ưu cho sự phát triển đất nước và vứt bỏ lợi thế của nước đi sau. Trên hết cả, cấm như vậy là cản trở việc nâng cao trí tuệ và bản lĩnh của người dân, cản trở vai tṛ làm chủ đất nước của nhân dân. Cấm như vậy chẳng khác nào biểu hiện chính sách ngu dân.

- Cấm như vậy là phản dân chủ, bởi lẽ: Nhân dân – người chủ của đất nước – sẽ thiếu những thông tin để tự ḿnh t́m hiểu, đánh giá mọi vấn đề có liên quan của đất nước mà họ không thể không quan tâm. Cấm như vậy là tước bỏ hay làm giảm sút khả năng của nhân dân giám sát, kiểm tra, đánh giá hay đóng góp xây dựng, h́nh thành và nói lên các ư kiến của họ, tán thành hay bác bỏ một chủ trương nào đó; trên thực tế là cấm hay ngăn cản quyền của nhân dân tham gia vào công việc của đất nước. Cấm như vậy là ngược với tiêu chí Nhà nước của dân, do dân và v́ dân.

Ba là: Quyết định 97 có nhiều điểm trái với đường lối của Đảng và vi phạm pháp luật của Nhà nước.

- Trước hết, đối với Hiến pháp, điều 2 trong Quyết định 97 vi phạm Điều 53 quy định công dân có quyền tham gia quản lư Nhà nước và xă hội, tham gia thảo luận các vấn đề chung của cả nước và địa phương; Điều 60 quy định công dân có quyền nghiên cứu khoa học, kỹ thuật, phát minh, sáng chế, sáng tác; Điều 69 quy định công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí; có quyền được thông tin; có quyền hội họp, lập hội, biểu t́nh theo quy định của pháp luật.

- Đối với Luật Khoa học và công nghệ, điều 2 Quyết định 97 không phù hợp với tinh thần của Luật này coi khoa học và công nghệ là quốc sách hàng đầu, khuyến khích sự tham gia nghiên cứu của các tổ chức và cá nhân, Nhà nước đảm bảo và hỗ trợ sự thực hiện những kết quả nghiên cứu, khuyến khích các hội khoa học và công nghệ có trách nhiệm tổ chức, động viên các thành viên tham gia tư vấn, phản biện, giám định xă hội và tiến hành các hoạt động khoa học và công nghệ… v.v.

- Đặc biệt quan trọng là Quyết định 97 có nhiều điểm trái với tinh thần và nội dung Nghị quyết số 27 – NQ/T.Ư “Về xây dựng đội ngũ trí thức trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước” mới được ban hành tháng 10-2008. Nghị quyết này nhấn mạnh thực hành dân chủ, tôn trọng và phát huy tự do tư tưởng trong hoạt động nghiên cứu, sáng tạo của trí thức v́ mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xă hội công bằng, dân chủ, văn minh.

- Việc ban hành Quyết định 97 c̣n vi phạm khoản 2 và khoản 4 Điều 67 trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật, cụ thể là đă bỏ qua tŕnh tự bắt buộc phải công bố dự thảo quyết định trước ít nhất 60 ngày trước khi kí để bảo đảm sự tham gia ư kiến của dân. Trong công văn trả lời Viện IDS, Bộ trưởng Bộ Tư pháp lập luận rằng: quyết định 97 được xây dựng và ban hành đúng luật v́ toàn bộ các bước soạn thảo, lấy ư kiến, thẩm định dự thảo quyết định đă được hoàn tất trong năm 2008 khi Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật (sửa đổi năm 2008) phải đến 1-1-2009 mới có hiệu lực. Sự biện bạch này không thể chấp nhận được. Quá tŕnh soạn thảo, thẩm định bắt đầu từ bao giờ, kéo dài bao lâu, là việc nội bộ của các cơ quan hữu trách. Nhân dân, là những người chịu tác động của Quyết định, chỉ có thể biết ngày ban hành chính thức của Quyết định 97 là ngày 24-7-2009, hơn 7 tháng sau khi Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật có hiệu lực. Như vậy rơ ràng là việc ban hành Quyết định 97 vi phạm luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật. V́ sao một quyết định quan trọng liên quan đến một lĩnh vực lớn được coi là quốc sách hàng đầu, lại được thực hiện môt cách vội vă và tùy tiện như vậy.

Có thể kết luận, Quyết định 97 nếu được thực hiện sẽ làm nặng nề thêm thực trạng thiếu công khai minh bạch rất nguy hại cho việc xây dựng và thực thi pháp luật, làm trầm trọng thêm t́nh trạng tụt hậu hiện nay của đất nước.

*
Trong gần 2 năm hoạt động, Viện Nghiên cứu phát triển IDS đă làm được một số việc có ích cho đất nước, đóng góp ư kiến xây dựng đối với một số vấn đề hay chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước, được dư luận xă hội, đặc biệt là giới nghiên cứu trong và ngoài nước quan tâm. Mọi hoạt động của Viện IDS từ ngày thành lập cho đến nay đều tiến hành đúng pháp luật, công khai, minh bạch.

Tuy nhiên trong thời gian qua, tồn tại dai dẳng một số nhận xét sai lệch của cơ quan an ninh về Viện IDS, thậm chí cho rằng Viện nhận tiền của nước ngoài và có hoạt động chống đối Nhà nước…Ngày 16-01-2009 Viện IDS đă có thư gửi các vị lănh đạo cấp cao của Đảng và Nhà nước nêu rơ quan điểm của Viện về những nhận định sai trái này, song tiếc rằng cho đến nay bức thư này của Viện chưa nhận được bất kể một hồi âm nào.

Ngay sau khi có Quyết định 97, Hội đồng Viện IDS đă thảo luận, phân tích những chỗ sai cả về thủ tục và nội dung của quyết định này. Với ư thức tôn trọng Chính phủ và Thủ tướng, và để biểu thị thiện chí của ḿnh, Hội đồng Viện chúng tôi nhất trí chưa bày tỏ ‎ư kiến công khai mà trước hết gửi thư ngày 6-8-2009 nêu rơ với Thủ tướng những chỗ sai của Quyết định 97 và kiến nghị cách giải quyết nhằm tránh các hệ quả bất lợi về nhiều mặt.

Sau khi gửi thư, đại diện của Hội đồng Viện được mấy vị lănh đạo mời gặp, riêng Thủ tướng mời gặp hai lần; nhân dịp đó chúng tôi tŕnh bày rơ thêm và trao đổi ư kiến thẳng thắn về những nhận xét và kiến nghị đă nêu trong thư.

Viện IDS đă kiên tâm chờ đợi. Ngày 11-9-2009, Chủ tịch Hội đồng Viện IDS được Bộ trưởng, chủ nhiệm Văn pḥng Chính phủ thừa uỷ quyền của Thủ tướng mời đến VPCP và trao cho hai văn bản. Một là công văn số 3182/BTP-PLDSKT ngày 8-9-2009 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp thừa uỷ quyền của Thủ tướng trả lời Hội đồng Viện Nghiên cứu phát triển IDS về những điều nêu trong thư của Viện gửi Thủ tướng ngày 6-8-2009. Hai là công văn số 1618/TTg-PL ngày 10-9-2009 của Bộ trưởng Chủ nhiệm VPCP thừa uỷ quyền của Thủ tướng yêu cầu Bộ Khoa học và công nghệ ra văn bản hướng dẫn thi hành Quyết định 97 và thu thập ‎ kiến để kiến nghị bổ sung danh mục ban hành theo quyết định này.

Hai công văn này cho thấy tất cả các kiến nghị của Viện IDS về Quyết định 97 đều không được chấp nhận.

Toàn viện IDS và từng thành viên đă hết sức đề cao tinh thần trách nhiệm công dân, ư thức kỷ luật và thiện chí, nhưng những cố gắng đó đă không được đáp ứng.
Trước t́nh h́nh như vậy, với một quyết định hạn chế đến mức vô lư quyền nghiên cứu của một tổ chức khoa học, Viện nghiên cứu phát triển IDS không thể tiếp tục hoạt động theo sứ mệnh đă xác định trong mục tiêu ghi vào Điều lệ của ḿnh. Chấp nhận hoạt động theo Quyết định 97, viện IDS và các thành viên sẽ không thể làm đúng tinh thần của Nghị quyết Trung ương Đảng về trí thức mới ban hành, đồng thời không thể làm tṛn trách nhiệm công dân và nghĩa vụ người trí thức của ḿnh

Ngày 14-09-2009, Hội đồng Viện IDS đă họp phiên toàn thể, quyết định tự giải thể để biểu thị thái độ dứt khoát của Viện đối với Quyết định 97. Quan điểm của Viện chúng tôi được tŕnh bày trong tuyên bố này và được công bố kèm theo các tài liệu liên quan [1]. Chúng tôi cũng giữ quyền sử dụng tiếp các công cụ pháp lư để bảo vệ sự trong sáng của luật pháp.

Làm tại Hà Nội ngày 14-09-2009

Các thành viên Hội đồng IDS đă kư

1 Hoàng Tụy, Chủ tịch Hội đồng IDS
2 Nguyễn Quang A, Viện trưởng
3 Phạm Chi Lan, Phó Viện trưởng
4 Phan Đ́nh Diệu
5 Lê Đăng Doanh
6 Vũ Kim Hạnh
7 Chu Hảo
8 Phạm Duy Hiển
9 Vũ Quốc Huy
10 Tương Lai
11 Phan Huy Lê
12 Nguyên Ngọc
13 Trần Đức Nguyên
14 Huỳnh Sơn Phước
15 Trần Việt Phương
16 Nguyễn Trung
________________________________________
[1] Các tài liệu gửi kèm:

Thư ngày 6-8-2009 của Viện IDS gửi Thủ tướng và các vị lănh đạo
http://i33.photobucket.com/albums/d61/PDinh/Thu1.gif
http://i33.photobucket.com/albums/d61/PDinh/Thu2.gif
http://i33.photobucket.com/albums/d61/PDinh/Thu3.gif
http://i33.photobucket.com/albums/d61/PDinh/Thu4.gif
http://i33.photobucket.com/albums/d61/PDinh/Thu5.gif
http://i33.photobucket.com/albums/d61/PDinh/Thu6.gif
http://i33.photobucket.com/albums/d61/PDinh/Thu7.gif
http://i33.photobucket.com/albums/d61/PDinh/Thu8.gif

Công văn trả lời IDS số 3182/BTP-PLDSKT của Bộ trưởng Bộ Tư pháp
http://i33.photobucket.com/albums/d61/PDinh/Thu-Bo1.gif
http://i33.photobucket.com/albums/d61/PDinh/Thu-Bo2.gif
http://i33.photobucket.com/albums/d61/PDinh/Thu-Bo3.gif
http://i33.photobucket.com/albums/d61/PDinh/Thu-Bo4.gif

Văn thư ngày 16-1-2009 của IDS gửi các vị lănh đạo và Thứ trưởng Bộ Công An
http://i33.photobucket.com/albums/d61/PDinh/Thu-Vanthu1.gif
http://i33.photobucket.com/albums/d61/PDinh/Th-Vanthu2.gif

Ô QUY
09-16-2009, 11:41 AM
Nỗi ḷng trí thức mùa Vu Lan
Vũ Ngọc Tiến, viet-studies.info
16.09.2009

Mùa Vu Lan tháng 7 năm Kỷ Sửu này xao động trong tôi bao cảm xúc buồn vui lẫn lộn. Vui v́ đất nước đổi mới nên sinh họat tâm linh trong cộng đồng được khôi phục và coi trọng. Tôi đă cùng đạo diễn Mai Hiếu và nhóm làm phim VTV2 hào hứng ghi lại h́nh ảnh tưng bừng lễ hội ngày Vu Lan báo hiếu ở nhiều đền, chùa và Thiền viện: Chùa Yên Phú (Thanh Tŕ), chùa Sùng Phúc (Gia Lâm), Thiền viện Tây Thiên (Tam Đảo), đền Lê (Bất Bạt)… Mới hay khi con người ta tâm đă hướng Phật sẽ trở nên vô ngă, có sức mạnh và niềm hoan lạc vô bờ. Dân gian có câu ca dao: “Tháng 6 buôn nhăn bán trăm- Tháng 7 ngày rằm xá tội vong nhân”. Kinh Lăng Nghiêm có đọan: “Mười phương Như Lai thương nhớ chúng sinh như mẹ thương nhớ con”. Hàng năm, cứ vào rằm tháng 7, người Việt ta lại đi lễ chùa cầu nguyện cho người đă khuất được siêu thoát, đặc biệt cầu cho mẹ được sống đời với ta. Theo sách nhà Phật, Vu Lan xuất xứ từ tích truyện tôn giả Mục Kiến Liên- một đệ tử của đức Phật sau khi đắc đạo, đă dùng phép thần thông t́m mẹ trong các nẻo luân hồi. Vu Lan theo thuyết nhà Phật là “giải thoát đảo huyên” tức là giải cứu các linh hồn thoát ṿng trầm luân bể khổ. Ở một góc nh́n khác, Vu Lan là sự kết hợp từ bi với trí tuệ, tu và học. Chính v́ vậy, Vu Lan không chỉ là ngày dành riêng cho việc cầu siêu chư hương linh, cúng Phật mà c̣n là ngày xá tội vong nhân. Từ tích truyện đó trong kinh sách nhà Phật, người Việt ta từ bao đời nay coi lễ Vu Lan là ngày cầu cúng tổ tiên, ông bà, cha mẹ và thân nhân xa gần. Trong lễ Vu Lan, h́nh ảnh người mẹ luôn đặt ở vị trí trung tâm của lễ nghi thờ cúng. Nghi thức này thể hiện t́nh cảm mỗi người tôn vinh mẹ, mừng mẹ khi tại thế, xót xa khi mẹ đă khuất núi. Ca từ Trịnh Công Sơn có câu bất hủ: “Tạ ơn hoa sáng thơm cho mẹ. Tạ ơn chim chiều hát cho cha”. Đây là nét đẹp văn hóa đậm chất phương Đông của người Việt Nam, có tính giáo dục sâu sắc đối với các thế hệ trong gia tộc. Quy luật giao thoa giữa các nền văn hóa trong ḍng chảy chung của văn minh nhân loại đang ngày càng trở nên mạnh mẽ. Song cũng v́ thế chúng ta lại càng cần thiết phải nâng niu, giữ ǵn bản sắc văn hóa riêng cho dân tộc ḿnh.

Mở rộng biên độ chữ hiếu trong ngày Vu Lan hiếu với dân với nước và ḷng biết ơn các anh hùng dân tộc đă có công dựng nước, giữ nước, mở cơi vào Nam để nước Việt ta có biển rộng, sông dài, đường biên trên đất liền hay trên biển điệp trùng, phong phú như hôm nay… Và v́ thế, những tiếng nói cất lên từ con tim, khối óc người trí thức về chủ quyền Việt Nam trên biển Đông hay sự quan ngại về thất thoát tài nguyên, suy giảm môi trường, ảnh hưởng an ninh quốc pḥng ở Tây Nguyên, trong Dự án Bauxit chính là cách báo hiếu thiết thực với tổ tiên ṇi giống Lạc Việt. Vậy mà mùa Vu Lan này tôi liên tiếp nghe tin buồn về các Blogger, về sự sai phạm đến mức phi lư của một Website cộm cán và giờ đây càng buồn hơn v́ phải nghe tin viện IDS tự giải tán! Tôi đă gửi ngay lá thư chia sẻ với thầy Hoàng Tụy (chủ tịch HĐKH), anh Quang A, chị Chi Lan (Chánh- phó GĐ) và hơn 10 thành viên sáng lập của IDS. Song dường như lá thư ngắn ngủi ấy chưa thỏa nỗi ḷng của một người hâm mộ, tham gia thường xuyên các họat động của viện. Thầy Tụy ơi! Anh Quang A, chị Chi Lan ơi! Nhớ hôm thứ sáu tuần trước (11/9/2009), kết thúc buổi báo cáo của anh Phan Đ́nh Diệu, anh Quang A c̣n nói với tôi: “Thứ sáu tuần này (18/9/2009), dù không đúng lịch sinh họat, nhưng chúng ta vẫn sẽ tổ chức nghe một báo cáo tuyệt hay nữa, mời các bạn tham dự đông đủ.” Thế rồi sáng 15/9/2009, IDS tuyên bố tự giải tán v́ những vướng mắc trong quyết định 97/QĐ-TTg không thể tháo gỡ!

IDS là mô h́nhThink Tank hiếm hoi của nước ḿnh. Sau 2 năm họat động đă nhận được ḷng tin yêu, hâm mộ của trí thức trong và ngoài nước. Think Tank tiếng Anh nghĩa là “Bể tư duy”. Nhiều quốc gia trên thế giới hưng vượng nhờ khai thác cái “Bể tư duy” ấy mà điều chỉnh chính sách vĩ mô. Ngay ở Trung Quốc cũng có gần 2.000 Think Tank các loại. Ở ta chỉ 1 Think Tank IDS mà khiến nhiều vị lo sợ thế sao?! Với loài người văn minh, chỉ những kẻ yếu bóng vía, ngu hèn mới sợ “Bể tư duy” trong xă hội dân sự.

Tôi vốn có ư định sau ngày 18/9 này sẽ đăng kư với chi Chi Lan tŕnh bày một báo cáo “Những vấn đề cấp thiết tại các mỏ than dưới góc nh́n Địa vật lư môi trường”, để mọi người cùng bàn thảo trên diễn đàn IDS. Trong báo cáo này, tôi sẽ tŕnh bày quy luật ô nhiễm và suy giảm ḍng chảy sông Diễn Vọng, cung cấp nguồn nước sinh họat cho 2 triệu cư dân Quảng Ninh, đặc biệt là khúc sông ở Bắc Mông Dương; t́nh trạng bênh bụi phổi của công nhân và cư dân trong vùng khai thác lên tới 70%... Đặc biệt là nguy cơ ô nhiễm phóng xạ ở 100 ḷ gạch (từ Tam Kỳ đến Đà Nẵng) do dùng than Nông Sơn có chứa hàm lượng nhỏ U238, nhưng gần đây TKV đă vô trách nhiệm, để cho than tặc khai thác bừa băi vỉa than Thùng Giữa (hay Sườn Giữa) chứa nhiều U238 nhất khu mỏ Nông Sơn. Liều lượng mRem/người/ngày đo được ở các ḷ gạch này vượt quá nhiều lần tiêu chuẩn cho phép. Từ năm 9/1996, trong bài “Lời cảnh báo của tự nhiên” trên báo Văn Nghệ tôi đă cảnh báo vấn đề này và kiến nghị TKV nên xây dựng nhà máy nhiệt điện ở Nông Sơn để tiện thu gom tro than thu hồi U238, nhưng lời kiến nghị ấy vẫn rơi vào im lặng 13 năm có lẻ! Ngoài ra, gần đây rộ lên làn sóng phản biện Dự án khai thác bể than nâu ở vùng trũng sông Hồng nên tôi cũng ấp ủ những điều muốn nói tại diễn đàn IDS. Từ nửa cuối những năm 80 thế kỷ trước, tôi là Chủ nhiệm đề tài nghiên cứu khoa học “Liên kết bức tranh sóng phản xạ nhiều lần trong Địa chấn thăm ḍ dầu khí với các lố khoan sâu 600- 1.200 mét để sơ bộ đánh giá tiềm năng than nâu đồng bằng sông Hồng”. Dù bây giờ bỏ nghề Địa vật lư đi viết văn, làm báo, tôi vẫn c̣n đủ cứ liệu để quan ngại quy luật sụt lún nền đất và suy giảm tầng chứa nước sinh họat khi khai thác than ở khu vực nhậy cảm, đông dân nhất cả nước này…

Có bao nhiêu điều tâm huyết, tôi dự định làm việc báo hiếu tổ tiên, đất nước, quê hương trong mùa Vu Lan năm Kỷ Sửu này đều phải cậy nhờ diễn đàn IDS, bởi đó là nơi trí thức nước nhà gửi gắm niềm tin yêu, hy vọng. Giờ tôi biết tính sao? Ở xứ ḿnh làm việc báo hiếu tổ tiên, đất nước cũng khó khăn, trắc trở vậy du? Ô hô! Tôi lại thêm một lần mạn phép thày Hoàng Ngọc Hiến, nhắc câu thầy vẫn thường buông lửng: “Cái nước ḿnh nó vậy” cho vơi bớt nỗi niềm người trí thức mùa Vu Lan!...


Nguồn: viet-studies (http://www.viet-studies.info/VNTien/VNTien_NoiLongTriThuc.htm)

Thường Dân Nam Bộ
09-16-2009, 08:17 PM
Quyết định 97 và ư đồ biến giới trí thức
thành công cụ của người cầm quyền

Vũ Quang Việt

Ngày xưa

H́nh như chúng ta chưa ra khỏi cuộc chiến tranh đă kết thúc gần 35 năm nay với đầy sự nghi ngờ của nhà cầm quyền với giới trí thức. Và cũng h́nh như nhà cầm quyền hiện nay nh́n trí thức như những công cụ của chính họ, không hơn không kém.
Tôi vẫn nhớ ngày xưa sau chiến tranh, nhà nước cũng kêu gọi đóng góp ư kiến, nhưng những ư kiến đó đều phải nộp cho cơ quan liên quan, thí dụ đă là Việt kiều th́ nộp cho Ban Việt kiều. Ban này theo tôi biết cũng sợ cấp trên nên phải tổng kết lại, mà có khi tôi có dịp được đọc th́ nó đă được làm trơn tru, không c̣n có thể gọi là góp ư kiến nữa. Người viết cũng phải đắn đo khi viết v́ nếu không tên ḿnh sẽ vào sổ đen. Cho nên nếu cảm thấy không thể không có ư kiến th́ con đường tốt nhất để làm cho ư kiến của ḿnh được một lănh đạo nào đó đọc là đưa thẳng điều ḿnh viết cho các nhà lănh đạo mà ḿnh v́ một lư do may mắn nào đó có thể liên hệ được và biết rằng họ lại là người sẵn sàng lắng nghe. Điều này cũng phải làm kín đáo v́ luôn luôn có người muốn theo dơi xem ḿnh viết "kiến nghị" ǵ. Có lần Thủ tướng Phạm Văn Đồng cho người đến t́m tôi, nhắn đến gặp. Lúc đó tôi đang ở Sài G̣n, phải quay về Hà Nội, và khi gặp, Thủ tướng căn dặn là những ǵ tôi viết nên đưa cho Thủ tướng đọc trước. Tôi nghi rằng lúc đó điều tôi viết đang làm phật ḷng ai đó, và có lúc gây ra khó khăn cho việc tôi xin visa về nước.
Từ sau đổi mới, tôi đă có thể viết bài đăng ở các tạp chí chuyên môn, cũng như trên báo chí trong nước về ư kiến của ḿnh. Báo chí có thể đắn đo sửa chữa lại, yêu cầu bỏ ư này, gạt ư kia, sửa lại câu văn cho hay hơn hay tránh đụng chạm, hoặc quá lắm th́ quyết định không đăng. Tưởng chừng như đây là con đường đang rộng mở để mọi người có thể đóng góp ư kiến, dù phê b́nh hay phản biện, nói chung là tự do phát biểu ư kiến, tất nhiên là phải trung thực và mang tính xây dựng. Việc phát biểu ư kiến như thế đă được ghi trong Hiến pháp Việt Nam và là điều rất nhiều nước trên thế giới đang làm.

Giới hạn hoạt động nghiên cứu

Thế nhưng thật ngạc nhiên là Điều 2 của Quyết định số 97/2009/QĐ-TTg đă chuyển hướng cải cách xă hội 180 độ, có thể dọn đường cho những nhà khoa học muốn đóng góp ư kiến trở lại hoạt động trong môi trường ngày xưa.
Điều 2 quy định: "cá nhân thành lập tổ chức khoa học và công nghệ"
1)"nếu có ư kiến phản biện về đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước cần gửi ư kiến đó cho cơ quan Đảng, Nhà nước có thẩm quyền", tuy nhiên "không được công bố công khai với danh nghĩa hoặc gắn với danh nghĩa của tổ chức khoa học và công nghệ."
2)"chỉ họat động trong lănh vực được ban hành kèm theo quyết định này."
Cách đóng góp ư kiến ở điểm 1 điều 2 th́ quá rơ không cần giải thích thêm.
Giới hạn phạm vi nghiên cứu ở điểm 2 điều 2 th́ rơ ràng là đi ngược với nguyên tắc của luật pháp ở hầu hết mọi nước, là dân chúng được làm bất cứ ǵ mà luật pháp không ngăn cấm. Ngược lại, Quyết định này chỉ cho phép các nhà khoa học nghiên cứu những ǵ mà nhà nước cho phép, nêu lên trong bảng danh mục kèm theo Quyết định 97.

Cơ sở cho danh mục được phép nghiên cứu trong Quyết định 97

Xem xét sơ danh mục cho phép ta đă thấy nhiều lănh vực bị loại bỏ khỏi lănh vực cá nhân được tổ chức nghiên cứu.
Theo Thứ trưởng Nguyễn Quân, Bộ KHCN đă giải thích trên VietnamNet (http://www.vietnamnet.vn/khoahoc/2009/08/861520/) là bảng danh mục nghiên cứu cho phép của Quyết định 97 là dựa vào danh mục của OECD (có thể tham khảo danh mục OECD ở đây: http://www.oecd.org/dataoecd/36/44/38235147.pdf). Ta cần phân tích mục đích của danh mục OECD và so sánh với danh mục của Quyết định 97 để thấy tầm nguy hiểm mà Quyết định này có thể đưa đến cho nền khoa học Việt Nam. OECD là viết tắt của Organization for Economic Co-operation and Development, là tổ chức của các nước có nền kinh tế phát triển cao.
Bảng danh mục phân loại của OECD là một phần của tài liệu cơ bản: Sổ tay Frascati (Frascati Manual: http://www.lmt.lt/PROJEKTAI/TEKSTAI/Frascati.pdf) nhằm hướng dẫn các nước định nghĩa thế nào là nghiên cứu cơ bản và thế nào là nghiên cứu ứng dụng, gọi chung là nghiên cứu và phát triển (R&D) trong mọi lănh vực kiến thức, và đề ra phương pháp đo lường và thu thập thông tin về nguồn lực bỏ ra cho R&D, với mục đích so sánh và phân tích vai tṛ của các loại nghiên cứu khoa học trong sự phát triển của khoa học và kinh tế. Trong Sổ tay Frascati có nhiều loại phân loại như phân loại các tổ chức làm nghiên cứu, phân loại các loại chi phí, v.v. phân loại mục đích, phân loại về lănh vực khoa học thí dụ khoa học tự nhiên, kỹ sư và công nghệ, khoa học y tế, khoa học nông nghiệp, khoa học xă hội, khoa học nhân văn. Vấn đề quan trọng là nguyên tắc phân loại và việc áp dụng chúng để đưa đến các phân loại mà các nước thành viên OECD chấp nhận.
Danh mục nghiên cứu của OECD nhằm phân loại các loại khoa học và hướng dẫn phân loại cho đúng, chứ không nhằm liệt kê toàn bộ các thứ nghiên cứu có thể có trong đời. Thí dụ phương pháp nghiên cứu sử học th́ thuộc khoa học xă hội, nhưng việc nghiên cứu sử học th́ thuộc khoa học nhân văn; hay nghiên cứu về dạng vật lư nhân chủng và địa lư th́ thuộc khoa học tự nhiên chứ không thuộc khoa học nhân văn.
Bảng danh mục được phép nghiên cứu trong Quyết định 97 và bảng danh mục của OECD có mục đích rất khác nhau. Bảng danh mục của OECD là phân loại các loại khoa học ở mức tổng quát và tương đối tổng quát. Bảng danh mục của Quyêt định 97 là nhằm cấm một số các loại nghiên cứu. Nhưng v́ do hai mục đích khác nhau, bảng danh mục của Quyết định 97 có thể đưa đến việc xóa bỏ nghiên cứu trong các ngành khoa học quan trọng cho xă hội.
Xem xét so sánh ta thấy những ngành nghiên cứu sau đây không nằm trong Quyết định 97, tức là bị cấm. Thí dụ có những ngành khoa học sau bị cấm:
(a)Luật (bao gồm luật, tội phạm học, quản lư nhà tù và cải biến tội nhân)
(b)Khoa học chính trị (bao gồm khoa học chính trị, khoa học hành chính công, khoa học tổ chức)
(c)Truyền thông và thông tin (bao gồm nghề làm báo, khoa học truyền thông xă hội, khoa học thư viện, truyền thông và truyền đạt văn hóa xă hội).
Riêng về khoa học kinh tế, theo OECD bao gồm:
(i)Khoa học kinh tế, kinh trắc học, quan hệ trong tổ chức sản xuất
(ii)Kinh doanh và quản trị
Quyết định 97 chỉ cho phép nghiên cứu "quan hệ sản xuất" và "kinh doanh và quản trị kinh doanh." So sánh hai mục này với (i) và (ii) ở trên của OECD, ta không biết là Quyết định 97 dịch sai "khoa học kinh tế, kinh trắc học, quan hệ trong tổ chức sản xuất" thành "quan hệ sản xuất" hay là cố t́nh muốn xóa bỏ nghiên cứu về mọi vấn đề kinh tế mang tính vĩ mô mà chỉ cho phép nghiên cứu vi mô ở tầm doanh nghiệp. Cố t́nh xóa bỏ có lẽ là ư định v́ nhiều ngành khoa học rất thiết thân như luật, hành chính công, khoa học tổ chức, khoa học thư viện (coi điểm (a), (b) và (c) ở trên) cũng bị cấm chỉ v́ nó nằm trong khoa học chính trị hay khoa học truyền thông.
Nguy cơ của việc dùng sai mục đích bảng phân loại của OECD là rơ.
Có thể nói không nước nào làm ra danh mục được phép nghiên cứu như Việt Nam và cũng không có nước nào cho phép một cơ quan nào đó được phép ra quyết định cấm cá nhân tự nghiên cứu trên hàng loạt các lănh vực như Quyết định 97 mà không thông qua Quốc hội. Dĩ nhiên có nước như ở Mỹ cũng ra luật cấm nghiên cứu một số vấn đề, chủ yếu v́ liên quan đến đạo đức, thí dụ như không được phép nghiên cứu tạo ra con người trong pḥng thí nghiệm (có thể tạo ra quái thai phi nhân tính) hay lấy tế bào gốc (stem cells) của bào thai qua phá thai để nghiên cứu hoặc sử dụng (v́ cho rằng như thế là khuyến khích phá thai). Quốc tế hiện nay cũng muốn cấm các nước chưa có vơ khí hạt nhân nghiên cứu phát triển vơ khí hạt nhân. Chỉ có Quốc hội mới có quyền ra luật cấm nghiên cứu về một vấn đề cụ thể nào đó.

Phạm vi ứng dụng của Quyết định 97

Điều 2 của Quyết định 97 nếu đọc theo ngôn từ được viết th́ chỉ áp dụng cho các cá nhân đứng ra thành lập tổ chức khoa học. Nhưng Điều 1 lại xác định rất rơ phạm trù áp dụng, liên quan đến cá nhân:
(a)"được thành lập tổ chức nghiên cứu khoa học, tổ chức nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ";
(b)"tổ chức nghiên cứu khoa học và công nghệ";
(c)" tổ chức dịch vụ khoa học và công nghệ".
Có thể nói, chỉ hai điều trên đă không rơ ràng, có thể coi là mâu thuẫn nhau, hoặc có thể giái thích thế nào cũng được, hoặc chỉ cấm cá nhân đứng thành lập các tổ chức nghiên cứu hoặc cấm cả những cá nhân tự đứng ra nghiên cứu hoặc tổ chức nghiên cứu, hoặc cấm tất các loại nghiên cứu mang tính cá nhân hay tư nhân. Điều này chứng tỏ rằng quyết định này được soạn thảo chóng vánh, thiếu suy nghĩ chín chắn. Điểm (a) áp dụng cho cá nhân thành lập và điều hành trong tổ chức nghiên cứu khoa học và làm dịch vụ khoa học không thuộc nhà nước, tức là tất cả các cá nhân trong tổ chức tư nhận vị lợi hoặc vô vị lợi kể cả đại học. Điểm (b) và (c) áp dụng cho bất cứ cá nhân nào tự đứng ra nghiên cứu hay tự đứng tổ chức nghiên cứu khoa học và công nghệ (mà không cần qua một tổ chức nghiên cứu nào).
Quyết định này cũng không nói rơ áp dụng cho ai nên có thể áp dụng cho bất cứ ai: công dân Việt Nam hay không phải công dân Việt Nam.
Nói một cách cụ thể là tất cả các tác giả có bài nghiên cứu trong đó có những ư kiến trái ngược với ư kiến của quan chức nhà nước về chính sách trên tờ báo mạng như Thời Đại Mới hay trên Thời Báo Kinh tế Sàig̣n mà tôi thường xuyên viết sẽ nằm trong tầm ngắm của Quyết định 97. Quyết định này nếu đem áp dụng sẽ đưa đất nước trở lại thời trước năm 1990.
Và tất cả các nghiên cứu về khoa học kinh tế, chính trị, pháp luật, truyền thông, quản lư nhà nước …, nếu bị kiểm soát chặt chẽ bởi Quyết định 97 th́ chỉ may lắm là nhằm mục đích phục vụ một vài lănh đạo nào đó, c̣n không th́ có thể bị nhanh chóng vất vào sọt rác. Những cái này cũng không chắc là có thể gọi là công tŕnh khoa học v́ không được phép công bố nên các nhà khoa học không thể đánh giá chúng trên cơ sở khoa học, trong môi trường thuần túy khoa học, và bản thân sự "không có mặt" của các công tŕnh này tất nhiên chẳng giúp ǵ cho khoa học phát triển. Khoa học như thế làm sao tiến?


Tại sao lại có Quyết định 97?

Ông Thứ trưởng Nguyễn Quân đă phát biểu rất rơ lư do có Quyết định 97 trong bài phỏng vấn với VietnamNet nhằm giải chích về Quyết định 97. Ông nói:
"… trong bối cảnh xă hội phức tạp hiện nay, nhất là trong thời kỳ khủng hoảng kinh tế đầy khó khăn thử thách, chúng ta đang cần có sự đồng thuận cao của xă hội đối với các quyết sách của Đảng và Nhà nước, cần có sự ổn định để tiếp tục phát triển, th́ việc công bố các kết quả nghiên cứu phản biện liên quan đến đường lối, chủ trương, chính sách điều hành kinh tế, xă hội phải hết sức thận trọng."
Như vậy cấm một số phạm vi nghiên cứu là thận trọng, là tránh cái gọi là thiếu đồng thuận?
Thế nhưng, t́m sự đồng thuận là trao đổi có chất lượng và biết lắng nghe giữa người làm chính sách với các nhà khoa học và cả dân chúng nói chung. Đồng thuận không thể xây dựng trên chính sách cấm nghiên cứu và nếu có lỡ nghiên cứu hoặc lỡ muốn có ư kiến không đồng thuận th́ chỉ được phép nộp cho cơ quan liên quan (Quyết định 97 quên ghi rơ địa chỉ nộp ư kiến). Nền kinh tế Mỹ và ngay cả Trung Quốc cũng đă và đang gặp khó khăn hơn nhiều so với Việt Nam nhưng không ai lại ra Quyết định là những đóng góp ư kiến liên quan đến chính sách đối phó với t́nh h́nh hiện nay chỉ có đem nộp cho các cơ quan liên quan chứ không được công bố. Nhiều người nghiên cứu có ư kiến nếu không sợ hăi bị tù tội th́ cũng không biết phải nộp vào đâu. Ngược lại sẽ có người sẽ mũ ni che tai cho khỏi mệt mỏi đối phó với tai họa có thể giáng trên đầu bất cứ lúc nào.
Có thể mục đích của Quyết định 97 là nhằm cấm tư nhân đứng ra thành lập các tổ chức nghiên cứu, nhưng có thể diễn giải là Quyết định cấm mọi cá nhân tự nghiên cứu trong một số ngành khoa học. Mà cấm tư nhân không được thành lập các tổ chức nghiên cứu là cấm kinh doanh, vi phạm điều lệ WTO. Có rất nhiều các tổ chức tư nhân hiện nay không chỉ nghiên cứu v́ mục đích mang lại lợi ích cho cộng đồng một cách vô vị lợi mà đang tổ chức nghiên cứu thị trường (trong đó tất nhiên là cần phải có đánh giá, phản biện chính sách vĩ mô và chính sách lớn của nhà nước, kể cả hiểm họa mà chính sách có thể mang tới) nhằm bán thông tin, tư vấn khách hàng đầu tư, có thể công bố miễn phí để lấy uy tín cho công ty nhằm thu phí các dịch vụ khác. Các công ty này cũng có thể coi là nằm trong tầm ngắm của Quyết định 97, nếu đọc theo câu chữ hiện nay, v́ một tổ chức nghiên cứu khoa học đâu có cần lúc nào cũng phải xin giấy phép nhất là khi nó nằm ở các doanh nghiệp. Cũng trong nghĩa có thể hiểu là tất cả các cuộc hội thảo khoa học về ngành khoa học không được liệt kê (tức là bị cấm) cũng chỉ có thể tổ chức cho các quan chức liên quan nghe mà thôi. Và ta có thể để tính mơ mộng đi xa hơn th́ thấy cái Quyết định này có thể đưa các nhà nghiên cứu khoa học không thuộc lănh vực tự nhiên và công nghệ vào một thế giới luật pháp phi lư không lường được.

Phải chăng đây là đường hướng để Việt Nam phát triển?


Vũ Quang Việt
15-9-09

Ô QUY
09-16-2009, 10:03 PM
CHĂN TRÂU VS TRÍ THỨC


http://www.vietnamexodus.org/vne0508/vneimages/biemhoa/viensivachantrau.PNG

Ô QUY
09-16-2009, 10:07 PM
Túi khôn nằm ở đâu?

Bùi Tín


http://www.seoconsultants.com/just-say-no/images/no-brains-480.gif <= Vietcong's think-tank logo

Các nước dân chủ phát triển đều có khá nhiều cơ quan nghiên cứu chuyên sâu về chính trị, kinh tế, tài chính, quân sự, quan hệ quốc tế, văn hóa, khoa học, kỹ thuật...

Phần lớn đó là những tổ chức, viện, công ty tư nhân có mục đích nghiên cứu chuyên sâu t́nh h́nh, có chương tŕnh, kế hoạch nghiên cứu, trao đổi, tổ chức hội thảo, công bố thông tin, xuất bản sách báo, nhằm phục vụ toàn dân và các cơ quan chính quyền, mở rộng kiến thức cho toàn xă hội.

Ví dụ ở Hoa kỳ, có American Enterprise Institut AEI - Viện Kinh doanh Mỹ; John Hopkins University Institude for Policy Studies - Viện nghiên cứu Chính sách thuộc Đại học John Hopkins; Heritage Foundation - Tổ chức Kế thừa; Hoover Institute - Viện Hoover; Rand Corporation - Tập đoàn Rand ...và vài chục viện khác.

Các nhân vật Mỹ, từ tổng thống, nghị sĩ, lănh tụ các chính đảng, chính khách, nhà ngoại giao, tướng lănh, trí thức toàn nước Mỹ đều chăm chú theo dơi hoạt động của các Viện nghiên cứu ấy để mở rộng hiểu biết, thu thông tin, gợi nguồn cảm hứng, làm phong phú thêm tư duy của ḿnh. Nhiều chính sách lớn của nhà nước được định h́nh từ các "ḷ tư duy" này.

Người Mỹ gọi đây là những "think tank" - những "cỗ xe tư tưởng". Người Pháp, Tây Ban Nha, Ư, cả người Nga, Đan Mạch... cũng dùng chữ "Think tank" của Mỹ-Anh.

V́ chữ think tank bao hàm nghĩa rộng, gồm cả khối tư duy lớn, tinh hoa toàn xă hội và thời đại, khối lượng đồ sộ và chất lượng cao, như cỗ máy luôn vận động mạnh mẽ, sôi sục sáng tạo, lao tới trước, do các viện nghiên cứu ấy tạo nên.

Ở ta, từ xưa, có từ "túi khôn", chỉ rơ con người khác với mọi động vật khác là ở trí khôn, biết tư duy, biết suy luận, biết phân biệt phải trái, đúng sai, có lời nói và chữ viết. Túi khôn xă hội nằm ở người quân tử ngay thật, ở giới khoa bảng và sĩ tử có học hành thấu triệt thiên cơ của trời đất vạn vật và nhân sinh của con người.

Xă hội ta thời phong kiến, nếp nghĩ toàn dân là phó mặc tư duy cho vua quan cai trị. Ư vua là ư trời. Minh quân th́ dân được phúc; hôn quân th́ dân chịu hoạ.

Hơn nửa thế kỷ đảng cộng sản cầm quyền, với tư duy độc quyền đảng trị theo lư luận chuyên chính vô sản, coi tự do tư nhân là hiểm nguy cho đảng, nên nếp nghĩ được trau dồi cho toàn dân là đảng luôn tuyệt đối sáng suốt như thần như thánh, không thể phạm sai lầm, mọi sự đă có đảng lo, có đường lối chính sách tuyệt vời, cứ vâng lời theo đảng là có thiên đường trên hạ giới này. Cho nên dân chỉ có nghe theo và làm theo, vâng vâng dạ dạ, không cần, không được suy nghĩ điều ǵ khác.

http://thestochasticman.files.wordpress.com/2009/02/meat-brains1.jpg
Mmm... vietnamese brains, anyone? =>

Thời mở cửa và đổi mới, có những đổi thay, không c̣n như cũ. Cho nên cái "túi khôn" tư nhân, cái "think tank" tư nhân mang tên Viện Nghiên cứu Phát triển (IDS - Institute of Development Studies) chào đời trong dịp Việt nam gia nhập Tổ chức thương mại quốc tế WTO.

Vậy mà cái IDS mang dấu hiệu thời đại ấy lại vừa chết yểu ngày hôm kia 14/9.

Cho tôi xin được ngỏ lời chia buồn chân thành với 16 vị trí thức kẻ sĩ thời đại đă tạo nên cái túi khôn xă hội thật sự quư hoá và có giá trị này.

Tôi biết khá rơ từng vị trong Hội đồng khoa học của IDS, và xin được chia sẻ nỗi buồn này với các vị, mà đến hơn một nửa là bạn quen biết, không ít người là bạn thân quen vẫn thường giao du, gặp gỡ tôi khi có dịp và trao đổi với tôi trên internet.

Tôi nói lên điều ấy v́ rất hiểu tinh thần lương thiện tri thức của các anh chị, ngay thật liêm khiết trong tư duy, không mảy may sợ sự thật, như nhà bác học cổ khi bị đưa lên giàn thiêu vẫn khẳng định: "quả đất vẫn quay !".

Tôi rất hiểu đây không mảy may là một sự đầu hàng, bỏ cuộc. Không! Trái lại tôi coi đây là một hành động tiến công, một cuộc công phá bạo quyền c̣n u tối, mù quáng v́ tham vật chất riêng tư, rất sợ lẽ phải, khoa học, dị ứng với luật pháp, đối lập với "túi khôn" của dân tộc. Ánh sáng luôn đẩy lùi bóng tối.

Từ đầu năm tôi đă được biết cả 16 vị đang trong tầm ngắm của Tổng cục II, bị chụp mũ là "có âm mưu chống phá nhà nước" (!), có "dấu hiệu xâm phạm an ninh quốc gia" (!), đă "nhận tiền yểm trợ từ nước ngoài", "bị bọn phản động giật dây, lôi kéo, mua chuộc" (!).

Tôi rất thông cảm và am hiểu nhân cách của các anh Việt Phương, Nguyên Ngọc, Tương Lai, Phan Huy Lê, Chu Hảo, Hoàng Tuỵ, Phan Đ́nh Diệu..., của hai chị Phạm Chi Lan và Kim Hạnh; các anh chị rất an nhiên tự tại, tự tin và coi khinh những chụp mũ dựng đứng trên đây. Cũng bởi v́ họ cũng từng chụp mũ cho tôi là: bị phản động lôi kéo (!), bất măn về địa vị (!), nhận tiền của pḥng nh́ (Deuxième Bureaux) và CIA (!), gia nhập đảng Việt Tân... không có lấy một bằng chứng nhỏ, một ly sự thật. Thật thương hại cho bộ máy an ninh đồ sộ tốn kém mà toàn ăn ốc nói ṃ, vu vơ thảm hại đến thế! Một cơ chế hung ác, và bệ rạc !

Trong một chế độ pháp quyền, tôi có thể kiện và đ̣i kẻ vu khống phải xin lỗi và bồi thường danh dự; tiền ấy nếu như có, sẽ xin tặng những anh chị em dân chủ yêu nước bị tù đày.

Tôi hiểu rằng IDS không chết. IDS sống mănh liệt trong ḷng dân, trong ḷng túi khôn dân tộc. IDS nạn nhân của vu cáo và khủng bố nhà nước, có quyền kiện lại bạo quyền phạm pháp, để trở về trong hào quang của khoa học và chân lư.

Tôi tin là IDS ngẫm cho cùng, vẫn sống, và sống đẹp, sống khoẻ, sống mănh liệt trong xă hội Việt Nam đang chuyển ḿnh lên một tầng văn hoá - chính trị cao hơn: xă hội dân chủ tự do theo pháp luật, sự chuyển ḿnh mà IDS đă góp phần không nhỏ.
Bùi Tín
Paris 16-9-2009

Xem tiếp bài liên quan ở đây (http://motgocpho.com/forums/showthread.php?p=143577#post143577)