PDA

View Full Version : JORGE LUIS BORGES



Phonglinh
10-14-2007, 12:01 AM
http://recollectionbooks.com/bleed/images/BB/garden.JPG

NHÀ VĂN Á CĂN Đ̀NH
JORGE LUIS BORGES

Jorge Luis Borges (Jorge Francisco Isidoro Luis Borges Acevedo) chào đời tại Bueno Aires ngày 24 tháng 8 năm 1899 trong một gia đ́nh khoa bảng nhưng không giàu có lắm, được giáo dục ở Argentine và châu Âu. Mẹ ông, bà Leonor Acevedo Suárez là người gốc Uruguay. Cuốn “Cuaderno San Martin” xuất bản năm 1929 của ông có bài thơ “Isidoro Acevedo” tặng cho ông ngoại vốn là một chiến sĩ trong đội quân Bueno Aires chống lại Juan Manuel de Rosas. Cha của Jorge Luis, ông Jorge Guillermo Borges Haslam mang ba gịng máu Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha và Ăng-Lê, là một luật sư, giáo sư tâm lư học và văn chương, từng muốn làm nhà văn nhưng không thành. Sống tại một khu xóm nghèo nhưng trong gia đ́nh ông lúc nào cũng có một thư viện đầy sách tiếng Anh và cả nhà th́ nói hai thứ tiếng Anh và Tây Ban Nha.
Bắt đầu viết văn từ thập niên 30, đến thập niên 60 th́ sách của ông được dịch phổ biến sang tiếng Anh và bán chạy ở Mỹ. Ngoài ra, ông c̣n làm thơ (tuyển tập thơ đầu tiên mang tên “Fervor de Bueno Aires”), viết phê b́nh, dịch thuật (dịch cuốn “The Happy Prince” của Oscar Wilde qua tiếng Spanish khi mới 10 tuổi), kịch bản… Chịu ảnh hưởng của các tác giả Dante Alighieri, Miguel de Cervantes, Franz Kafka, H.G. Wells, Rudyard Kipling, Arthur Schopenjauer và G.K. Chesterton. Ông cưới vợ hai lần, lần đầu năm 1967, cô dâu, Elsa Astete Millán đang là góa phụ, Elsa là người yêu từ thời thơ ấu mà mẹ ông (lúc đó đă 90 tuổi) mong muốn có người trợ giúp ông trong công việc văn chương v́ lúc đó ông đă bị mù, nhưng chỉ ba năm sau họ th́ ly dị. Ông lại trở về sống với mẹ cho đến khi bà qua đời vào năm 1975 lúc 99 tuổi. Vài tuần trước khi qua đời, ông cưới cô phụ tá Maria Kodama, người Á Căn Đ́nh gốc Nhật và Đức, nguyên là học tṛ của ông, thường tháp tùng ông đi đó đây khắp thế giới. Tuyển tập truyện ngắn đầu tiên “El Jardin de senderos que se bifurcan” (The Garden of Forking Paths) xuất bản năm 1941; truyện ngắn “Emma Zunz” của ông được chuyển thể thành cuốn phim mang tên “Dias de odio” (Days of Wrath) năm 1954 bởi đạo diễn Á Căn Đ́nh Leopoldo Torre Nilsson. “The Garden of Forking Paths” xuất hiện bằng tiếng Anh lần đầu tiên trên tạp chí Ellery Queen’s Mystery Magazine do Anthony Boucher chuyển dịch. Năm 1961, Jorge Luis Borges được trao giải Prix Formentor chung với Samuel Beckett. Trong khi Beckett đă quá nổi tiếng và được trọng vọng trong giới độc giả tiếng Anh th́ Jorge hăy c̣n vô danh và tác phẩm của ông ít được phổ biến sang Anh ngữ, điều này đă gây sự chú ư cho độc giả. Năm 1971, ông nhận giải Jerusalem Prize dành cho các nhà văn hoạt động cho tự do và xă hội; năm 1980, ông lại nhận giải Prix Mondial Cino Del Duca; Legion of Honour của Pháp năm 1983; giải Cervantes Prize; và giải Special Edgar Allan Poe Award từ tổ chức Mystery Writers of America. Bài thơ đầu tiên của ông mang tên “Hymn to the Sea” được viết với phong cách Walt Whitman. Bài nói sau đây của Jorge Luis Borges được thực hiện trong chương tŕnh viết văn ở khoa nghệ thuật của Đại Học Columbia, Hoa Kỳ:
Nghề viết văn là một nghề lạ. Chesterton nói: “Chỉ có một thứ cần thiết – mọi thứ.” Đối với nhà văn cái mọi thứ này c̣n hơn cả thế giới chung quanh, đó là chữ nghĩa. Nó tượng trưng cho cái chính yếu, cái bản chất kinh nghiệm con người. Thí dụ một nhà văn cần sự cô đơn, th́ y chia sẻ nỗi cô đơn. Y cần t́nh yêu th́ y có được t́nh yêu hay một t́nh yêu không được đáp lại. Y cần t́nh bạn. Thật ra th́ y cần cả vũ trụ. Theo một nghĩa nào đó, làm nhà văn là làm một người mơ mộng, là sống một cuộc đời đôi. Tôi xuất bản quyển sách đầu tiên “Fervor de Bueno Aires” vào năm 1923. Quyển sách này không nhằm ca ngợi Bueno Aires; tệ hơn thế, tôi thử bày tỏ cái cách mà tôi cảm nhận về thành phố này. Tôi biết là lúc đó tôi đang cần nhiều thứ bởi v́ tuy ở nhà tôi sống trong một không khí văn học – Cha tôi là một người của văn chương – nhưng tôi vẫn thấy không đủ. Tôi cần thêm cái ǵ đó, mà cuối cùng tôi t́m thấy trong t́nh bạn và trong đối thoại văn chương.
Cái mà vũ trụ bao la ban cho một nhà văn trẻ chính xác là cái đó: Tṛ chuyện, thảo luận, nghệ thuật tán thành, và cái có lẽ quan trọng nhất là nghệ thuật bất đồng (ư kiến).Ngoài tất cả những điều này ra, là cái lúc ngẫu hứng mà nhà văn trẻ cảm thấy ḿnh có thể bộc lộ cảm xúc của ḿnh trong chữ nghĩa. Dĩ nhiên là y bắt tay viết, bằng cách nhái theo những nhà văn mà ḿnh thích. Đây là cái cách mà nhà văn trở thành chính ḿnh bằng sự đánh mất ḿnh đi – cái cách lạ lùng của cuộc sống đôi , sống trong cái hiện thực mà y có thể sống và đồng thời sống trong một hiện thực khác, cái hiện thực mà y sáng tạo ra, hiện thực của những giấc mơ. Đây là mục đích chính yếu của chương tŕnh viết văn ở khoa nghệ thuật của Đại Học Columbia. Tôi đang nói cho nhiều người trẻ tuổi ở Columbia, những người đang phấn đấu làm nhà văn, những người chưa khám phá ra âm thanh giọng nói của chính ḿnh. Tôi đă ở đây được hai tuần, diễn thuyết trước những nhà văn trẻ háo hứa. Tôi có thể thấy những hội thảo này có ư nghĩa đối với họ, tôi có thể thấy chúng quan trọng như thế nào đối với sự tiến bộ của văn chương. Ở nước tôi, những nhà văn trẻ không hề có được cơ hội như vậy. Chúng ta hăy nghĩ đến những nhà thơ nhà văn hăy c̣n vô danh, những người đáng được đưa đến với nhau và gắn bó nhau. Tôi chắc rằng bổn phận của chúng ta là giúp những nhà hào phóng tương lai (nhà văn tương lai) đạt được sự khám phá cuối cùng về chính họ, cái làm thành văn chương vĩ đại. Văn chương không chỉ đơn thuần là làm xiếc với chữ nghĩa; điều đáng nói là cái c̣n lại chưa nói ra, hay cái ẩn giữa hai ḍng chữ. Nếu không v́ cảm xúc nội tâm sâu sắc này th́ văn chương chẳng qua một tṛ chơi, mà tất cả chúng ta đều biết là văn chương không chỉ có vậy.
Tất cả chúng ta có niềm vui sướng của một độc giả, nhưng nhà văn cũng có nỗi vui sướng của công việc sáng tác. Đây không chỉ là một kinh nghiệm kỳ lạ mà c̣n là kinh nghiệm đáng trải qua. Nhờ những nhà văn trẻ mà chúng ta có cơ hội tập hợp, cơ hội tán thành hay bất đồng ư kiến với nhau, và cuối cùng có được bản thảo. Những năm cuối đời ông đi khắp thế giới thuyết giảng, nhưng chỉ thực sự thoải mái khi ẩn trong nỗi cô đơn của cái thư viện của ông, ông sống gần hết cuộc đời của ḿnh với người mẹ góa bụa, người đă đọc sách cho ông nghe khi mắt ông ngày càng kém rồi trở nên mù ḷa.
Jorge Luis Borges qua đời ngày 14 tháng 6 năm 1986 v́ bệnh ung thư ở Geneva, và được an táng trong nghĩa trang Cimetière des Rois. H́nh ảnh của ông đă được khắc trên hai đồng tiền Argentine (Argentine pesos) lưu hành từ năm 1999.

http://fanac.org/fanzines/IGOTS/igots27r.jpg

MAI NWS