PDA

View Full Version : MỘT TAI NẠN NGHỀ NGHIỆP



hoangthymaithao
10-20-2009, 04:48 AM
MỘT TAI NẠN NGHỀ NGHIỆP


Trước đây, để phê b́nh Tản-Đà, Phạm-Quỳnh đă viết trên báo Nam-Phong: “Người ta phi người cuồng, không ai trần truồng mà đi ngoài phố. Nhà làm sách cũng vậy, không ai đem cái thân thế ḿnh mà làm chuyện cho người đời xem.”

Số là trong Giấc-Mộng-Con xuất bản năm 1916 Tản-Đà đă kể lại cuộc đi chơi “Tiêu diêu du.” tưởng tượng bằng thơ với nhân vật là chính tác giả, khiến cho phần lớn độc giả cảm thấy rất tuyệt vời, kỳ thú, nhưng riêng đối với Phạm-Quỳnh th́ có lẽ ông không cùng quan niệm giống bao người khác nên đă mỉa mai như trên.

Thực ra, đối với “nhà làm sách” xưa nay, muốn để mọi người khác không biết “cái thân thế ḿnh” mà vẫn thích giữ nguyên nội dung và những t́nh tiết “cái thân thế ḿnh.” th́ cũng dễ thôi.

Nhưng, bây giờ dù xấu hoặc tốt, rất nhiều người không cần và không muốn tránh né dè dặt để khỏi bị chê trách như lời nhận xét của Phạm-Quỳnh. C̣n vấn đề trần truồng, ta thấy thời nay cả hơn ngàn người ḥ hẹn tụ tập ngoài phố để cùng nhau trần truồng đứng chụp h́nh chỗ nọ, chỗ kia, thiếu ǵ, họ đâu có cuồng.

Lại nữa, về vấn đề này, thiết tưởng cũng nên lưu ư thêm một điểm, khi xem một tác phẩm, đối với loại độc giả b́nh thường, chẳng cần nghiên cứu đặc biệt điều ǵ th́ thực hay giả, hư cấu hay không, có ǵ quan trọng?

Vậy th́ tôi cũng xin tŕnh bầy: “Một Tai Nạn Nghề Nghiệp.” để “làm chuyện cho người đời xem” và trong khi thực hiện tôi rất thoải mái, không thấy ngai ngùng ǵ về việc nếu phải bộc lộ cái “thân thế” của tôi liên hệ trong truyện, mà quả thực chỉ thoáng chút bâng khuâng, là, không biết rồi đây sau khi kể cái tai nạn nghề nghiệp này nó có đẻ ra thêm một tai nạn nghề nghiệp nào khác hay chăng!

Trước hết tôi xin xác nhận :Tôi không phải là thi sĩ dù có làm thơ và dù sắp sửa nói về chuyện mấy câu thơ của tôi cùng mấy câu thơ của một người bạn.

Xung quanh chúng ta bây giờ, theo tôi, thi sĩ thực sự kể ra vẫn hiếm hoi. “Từ Chu Hán vốn sĩ này là quư.”. Song người làm thơ th́ rất nhiều. Như thế, công thức: “Điều kiện cần và đủ để thành một thi sĩ là phải biết làm thơ.” nghe có vẻ nặng tinh thần toán học nhưng không đúng.

Thế làm sao để biết một người “phục vụ nghệ thuật” sáng tác thơ là thi sĩ hay không phải thi sĩ. Đó lại là chuyện khác, rất phức tạp, chắc chắn không thể mổ xẻ, chứng minh, phán quyết theo lề lối khoa học tuyệt đối. Nên tôi đâu có dại ǵ mà nhào vô bàn luận vấn đề này. “Văn chương không phải là đơn thuốc.Chớ có khuyên xằng chết bỏ bu.”. Chỉ biết câu “Văn ḿnh vợ người.” có thể cũng là một trong số các nguyên nhân khiến cho những kẻ,dù không phải thi sĩ vẫn tiếp tục làm thơ, vẫn tiếp tục “đường ta ta cứ đi.”.

“Đường ta ta cứ đi.” Cũng mang ư hướng thời gian, nhẫn nại,tiến bộ, học tập, nghiên cứu, nhận xét…“Đường ta ta cứ đi.” v́ đi chưa đến, có thể sẽ đến, có thể sẽ không đến, và hiện thời, hoặc đến hay không, rất nhiều người chẳng muốn bỏ cuộc dẫu cho con đường có khấp khểnh gập ghềnh. .

Hăn hữu lắm mới có trường hợp thiên phú, bẩy bước thành thơ. Và có lẽ không ai đột nhiên sáng ngủ dậy thấy ḿnh trở thành thi sĩ. Lại nữa, được ăn cả, ngă về không, chắc chắn chẳng kẻ nào chấp nhận danh xưng thợ thơ, tức là phó thi sĩ như bên hệ thống khoa cử, giáo dục của Việt-Nam hiện thời có chức vị tiến sĩ và phó tiến sĩ. (Bài này viết sớm, nay nghe nói những vị phó tiến sĩ cũng bất măn, phản đối chức vụ phó tiến sĩ, What is phó tiến sĩ? và nhà nước đă phải đồng ư nâng các ngài lên tiến sĩ, c̣n tiến sĩ th́ lại được gọi là tiến sĩ khoa học!). Bởi lẽ đó, lại thêm, lúc nào cũng đinh ninh trong bụng lời phán của ông Tú Vị-Xuyên: “Nhập thế cuộc bất khả vô văn tự.” nên dù chưa phải thi sĩ tôi vẫn tiếp tục “trăn trở” làm thơ lai rai và điều quan trọng là không bao giờ quên ưu tiên cho công việc, công việc nhẹ nhàng hay cực nhọc, thích hoặc không thích cũng phải luôn luôn được ưu tiên.

Em ngồi nghe nhạc trời mưa,

Anh đang tư lự t́m chưa được vần.

Câu thơ nghĩ cũng chẳng cần,

Hay là tắt nhạc cho gần gụi nhau.

(Trong tập Biết Bao Nhiêu T́nh.)

Bất cứ việc ǵ th́ cũng có vui có buồn. Làm thơ đối với tôi cũng vậy. Khi thấy thơ của ḿnh trên nguyệt san th́ mở coi hoài, đắc chí, đọc tới đọc lui, rất tiếc chẳng thể “Viết vào giấy dán ngay lên cột.” như tiền bối được. Song ngược lại khi kiếm t́m “đứa con tinh thần” mỏi mắt không thấy trên giấy trắng mực đen (Quái rơ ràng đă gửi tới ṭa báo lâu rồi mà!) th́ đành âm thầm làm lại từ đầu, hoặc đợi chờ kiên nhẫn ở kỳ sau, đấy là sự thể thông thường của người đi chưa tới, mà nhiều kẻ bi-đát-hóa có thể gọi là nỗi vinh nhục. Đấy đại khái một phần hoạt động của người làm thơ là như vậy, không có ǵ to tát, bởi v́ thơ phú, theo một số người, nó đâu có chi quan trọng.Đến ngay cả Truyện Thúy Kiều của Nguyễn-Du từng được dịch ra tiếng nước ngoài,như bản Pháp ngữ của nhà xuất bản Gallimard Paris chẳng hạn, bản dịch này đă cũ, nhưng mới đây, 1983 , học giả Huỳnh-Sanh-Thông một lần nữa cũng dịch ra tiếng Anh nhan đề The Tale Of Kiều… là một trong số mấy tác phẩm tiêu biểu để nhiều người ngoại quốc biết đến văn học Việt-Nam mà nay c̣n có kẻ đặt vấn đề định lại giá trị… th́ mọi sự nghĩ cũng thường.

Nơi trường văn trận bút câu nói của một thi sĩ Pháp, Alfred de Vigny, thú thực cũng giúp cho kẻ làm thơ nói riêng, suy nghĩ, thấy an ủi và rút tỉa nhiều kinh nghiệm quư báu, đó là: “Thói thường, trong văn học người ta thích làm cho kẻ đă chết sống lại và làm cho kẻ đang sống chết đi.”

Nguyễn Bá Học, một nhà nho, mô phạm, tác giả quyển sách giáo huấn “Lời Khuyên Học Tṛ.” đă viết: “Vận văn chỉ là để tiêu khiển trong lúc trà dư tửu hậu. Tiểu thuyết, kư sự, luận thuyết, diễn thuyết mới là những văn chương hữu dụng, c̣n thơ phú, ca dao có vần điệu chỉ dùng để ngâm nga, không suy ra sự thực… những lối ngâm hoa vịnh nguyệt dù hay cho quỷ khóc thần kinh cũng không đáng giá một đồng tiền kẽm.”

Dù biết thơ “không đáng giá một đồng tiền kẽm”, dù biết bài thơ phổ biến không có nhuận bút, từ lâu tôi vẫn hỳ hục ghép vần, gửi bài đăng báo nọ báo kia trong vùng, và cũng từ lâu, như thể, sự làm ăn khấm khá, thỉnh thoảng tôi c̣n liên lạc với các tờ báo ở Oklahoma, ở Texas, ở Cali…báo này xen vào mấy câu lục bát, báo kia bài Đường thi, vài đoạn tứ cú… thậm chí trên một tờ báo tại Chicago một lần thấy có mục thiếu nhi tôi cũng hăng hái tham gia, gửi một đoạn thơ rất dản dị, rất lành mạnh, không than mây khóc gió, nhằm phục vụ độc giả nhỏ tuổi.Thí dụ như bài thơ đố vui thế này:



Cây ǵ chẳng hết em ơi!

Chẳng hoa chẳng lá mọi người mến yêu.

Thân cây cao chẳng bao nhiêu,

Cắt ra xào nấu được nhiều món ăn.

xxOxx

Oi chao, câu đố khó khăn

Cũng xin đáp thử một lần mà chơi…

xxOxx

Cây c̣n chẳng hết anh ơi!

Thủy chung t́nh nghĩa với người, thương yêu.

Giữ nhà giúp ích bấy nhiêu,

Nỡ đem làm thịt thành nhiều đồ ăn.

N.P.L.

Thường thường có lẽ mọi người đều biết, trên báo chí, những câu vận văn, bức vẽ hay những đoạn văn xuôi đố vui không kèm giai đáp ngay như tôi tŕnh bầy trên đây mà phần trả lời để ở trang khác hoặc ở một kỳ báo khác cho người tham dự có thời gian suy nghĩ. Tôi làm khác, cho tiện và đỡ mất th́ giờ qúy báu của quư độc giả đang cần thư giăn nghỉ ngơi.

Bài thơ gửi đi suôn sẻ, lên báo suôn sẻ, ông chủ nhiệm, thi sĩ Thủy-Lâm- Synh, rất thủy chung, chiêu hiền đăi sĩ, sau đó “lại quả” cho tôi hai số “để anh giữ làm kỷ niệm.”Tôi mở ra đọc thấy không có ǵ in sai vậy kể như xong, mà có thấy sai th́ cũng kể như xong, nổi quặu là bậy, kêu ca khiếu nại ư, có ai để ư lời đính chính và xin lỗi tác giả ở số báo sau, thôi tiếp tục kiếm đề tài, tiếp tục viết là thái độ hay, đỡ mất th́ giờ hơn cả.

Một người bạn quen hồi cùng học làm lính tại Thủ-Đức, sau khi ngồi bóc hơn mười cuốn lịch trong khu rừng thiêng nước độc, hiện ngụ ở vùng Trung Bắc Mỹ đọc bài này nhớ tới tôi, gọi điện thoại hỏi thăm, “Mày bây giờ cũng bầy đặt làm thơ à?”, tôi đă nghe nhiều câu hỏi như thế, thú thực, ban đầu cũng bực, t́m cách trả đũa đích đáng, nhưng làm vậy có thể mất ḥa khí, và theo tôi th́, có tới chín mươi chín phần trăm người hỏi đều vô t́nh, hỏi mở đầu câu chuyện cho vui chứ không có ác ư ǵ đâu, tôi nghĩ thế, nên bây giờ thường chẳng buồn đáp lại. Chỉ cười. “Đường ta ta cứ đi”…

Tiếp theo hắn góp vài lời bàn Mao-Tôn-Cương về bài thơ cho có lệ. Rồi lan man hồi tưởng đến thời gian xa xưa, hồi năm 1966…hồi mấy tên SVSQ chưa gắn alpha, chưa được đi phép về “Sài-G̣n đẹp lắm.” Để thăm gia đ́nh, để bồi dưỡng, để trả thù… bèn tụ tập nhậu nhẹt ở khu gia binh trường Thiết Giáp vào những ngày nghỉ cho đỡ sầu đời…rồi cuối cùng hắn ngỏ ư mời tôi sang chơi, “dụ khị” qua chơi sẽ được thết món giả cầy bà xă hắn nấu là hết xẩy, là..tuyệt cú mèo! Tưởng ǵ chứ bà vợ hiền của tôi cũng hănh diện nấu món giả cầy không ai sánh bằng đấy! Bả nghe vậy nói nhẹ nhàng: “Ông muốn ăn th́ mai tui nấu liền đâu cần phải đi xa.”

Lạ nhỉ! Tôi đă tỏ thái độ muốn đi xa ăn giả cầy đâu! Và cái món giả cầy nấu ở nhà th́ tôi có nói là không muốn ăn bao giờ đâu! Hóa ra do vụ này tôi mới nghiệm thấy một điều, là, cái màn nấu ăn cũng sinh ra thật nhiều tự ái, phần lớn mấy nội tướng không ai chịu thua kém ai về phương diện bếp núc.

Ở quê hương ta, thời gian các đấng đỉnh cao trí tuệ bầy đặt hô hào tiêu thổ kháng chiến, họ không muốn những tiếng “Gâu! Gâu!!!” làm cản trở bước chân âm thầm, nên để bịt miệng, loại thực phẩm này hồi ấy vô cùng.. ”nở rộ”, thế mới biết trong khói lửa, chẳng những người lương thiện, ngay cả gia súc cũng bị vạ lây. Mà thôi, “vật dưỡng nhân”. Nói chung th́ trước sau món ăn này cũng rất phổ thông. Cây-c̣n “cắt ra xào nấu được nhiều món ăn” như luộc, xào lăn, dồi, thịt nướng, xáo măng v…v…

Tuy nhiên sống trên đời…nơi đây, có lẽ không bợm nhậu nào có gan “ngả cờ tây”, “nhớ thương” quá th́ “thi công” làm nồi giả cầy, cho hương thơm bốc lên ngào ngạt để mà tha hồ hít thở khoan khoái…Mới hít thở đă khoan khoái rồi! Thịt cầy thay thế bằng thịt heo cũng được lắm và giả cầy th́ chỉ có làm giả món nhựa mận thôi, những món khác của cây-c̣n không thấy ai làm giả bao giờ.

Gọi là món nhựa mận v́ nh́n nó mầu nâu, sền sệt như nhựa cây mận, nước không ra nước, khô chẳng ra khô, bầy trên bàn, trên mâm bằng bát lớn hoặc đĩa cũng được, món giả cầy phải có riềng mẻ, phải thui cái chân gị cho vàng, căn lửa riu riu, nấu cho nhừ, cùng với những đọt măng tre non, mềm và ngọt, cắt nhỏ, nêm nếm công phu…ăn với bún, rau răm xắt nhỏ, đưa cay bằng rượu nếp than …ôi thôi! xin đừng bắt nói tiếp, nhỏ nước miếng, chịu không thấu.

Ong cha ḿnh thật hay, đă ngả cờ tây nghiên cứu thành công nhiều thứ cần đi với nhau cho khoái khẩu, rất đáng khâm phục, lại cẩn thận chế biến ra món giả cầy tương tự pḥng hờ để sài vào những khi bất khả kháng, làm phong phú kho tàng đặc sản quê hương thật tuyệt vời, tiện lợi. Tiện lợi nhất là cho chúng ta, những người đang xa xứ, khi ngứa mắt nh́n mấy con nai đồng quê gầm gừ, đẩy nhau.…chịu không muốn nổi th́ làm món giả cầy cầm hơi, chứ đừng ngả cờ tây lén lút ở đây nhỡ lộ ra chính quyền địa phương nó gọi lên làm việc cũng mất mặt bầu cua cá cọp.

Chuyện bài thơ đố vui và món giả cầy tưởng sẽ bị quên đi như nước chẩy qua cầu, ai dè bỗng một hôm cách ít ngày, c̣n nhớ đó là mùa hè, trời nóng ơi là nóng! Vào buổi sáng, như thường lệ, tôi mở máy computer xem báo, check thư -tín th́ bất chợt nhận được mấy câu thơ của bà bạn ở xa như sau:



Đố thi huynh biết là cái ǵ:

Cây ǵ chẳng hết anh ơi!

Phái tôi yêu thích chẳng rời ngày đêm.

Thân cây cứng ngắc chẳng mềm,

Lại thêm mũi nhọn dùi xuyên thịt ḿnh.

T.L.



Đọc xong tôi sửng sốt, sững sờ… nhưng không sợ sệt!

Đúng ra th́ mấy câu văn vần cũng chẳng có ǵ ghê gớm, cấm trẻ em dưới 18, chẳng phải loại XXX bừng bừng khiêu khích, song, qua mấy câu thơ, như là, thái độ của bả đă thay đổi từ xă giao quy ước chừng mực tới thân thiện phá rào quá đột ngột làm tôi không thể tưởng tượng bà bạn khả kính bao lâu mà nay thực tế lại gửi cho tôi như vậy.

V́ ở xa, cho tới khi đang viết những ḍng “hồi kư” này, tôi chưa hân hạnh gặp mặt bà T.L. Nhưng biết bà hiện là bác sĩ, hâm mộ thơ văn.Trước đây, c̣n nhớ, bà cũng đă in một tập thơ mỏng, rất dễ thương từ năm 1996 với trang b́a giản dị,mầu sắc nhă nhặn, tŕnh bầy bức h́nh thiếu nữ rất trẻ, “Em c̣n bé lắm các anh ơi!”, em mặc áo dài, ôm chiếc đàn nguyệt trước một bối cảnh quen thuộc ở quê nhà có mái tranh, lu nước, cây cau…

Do thư từ qua lại rất thường th́ tôi bắt buộc phải kết luận bà là người đứng đắn,cởi mở, thực t́nh. Thỉnh thoảng mỗi lần liên lạc bà thường sốt sắng hỏi, có cần ǵ không? Khổ quá! Về sức khỏe, tôi cần nhiều chứ! Dù có medicare, rồi th́ medicaid nữa. Nhưng mấy cái đó đâu có giúp được ǵ, và thú thực, đến ngay cả bà bạn hay ngay cả bác sĩ gia đ́nh cũng chẳng giúp được ǵ. Làm thế nào kể ra bây giờ? Làm thế nào để chữa trị bây giờ? Thí dụ như cái quả tim trong lồng ngực đôi khi nó cũng gây lắm điều ray rứt,lộn xộn khiến tôi nhiều lúc cứ bần thần chả hiểu mần răng!

Mới lại, “Rằng quen mất nết đi rồi!” v́ không thích vạch áo cho người xem lưng.Ngay như mấy bệnh lặt vặt, thí dụ đau răng, trừ khi quá quắt, tôi cũng thả nổi, chẳng muốn khai ra, khai ra vợ hiền lo lắng lại áp lực lằng nhằng dẫn độ tới nha sĩ làm root canal là về nhà hôm đó hết muốn ăn giả cầy, thà cứ để vậy cho cuộc đời nó có chút “thú đau thương” nhè nhẹ, nhằm nḥ ǵ, ai mà sống hoài, Socrate cũng vậy, mai sau lúc sắp đi đoong, cứ b́nh tĩnh, như thớt voi già khi linh cảm thấy gần đến ngày cùng tháng tận, âm thầm lặng lẽ bước chậm chạp vào vùng thâm sơn cùng cốc mà sửa soạn gục xuống an giấc ngh́n thu, cô độc, biệt tăm, chẳng ai biết, chẳng ai hay, không kèn, không trống…

Chúng tôi đối với nhau tương kính, lại cùng hoạt động thơ văn trong một thi đàn. Cũng v́ cùng làm thơ trong một thi đàn nên mới quen biết và tôi lớn hơn khoảng vài tuổi nên bà T.L. gọi tôi là thi huynh

“Thi huynh” có vẻ phảng phất thời gian “Lều Chơng” của Ngô Tất Tố trở về trước, hơi cổ, nhưng là sự chọn lựa xưng hô đúng, hợp với cái lăng đăng của Đường thi xướng họa. Chưa gặp nhau mà gọi anh th́ hơi gần, ông th́ hơi xa, thi huynh tuy xa mà gần, tuy gần mà xa…vui, văn vẻ, vừa vặn!

Xem bốn câu thơ đố, tôi không tin là do bà sáng tác, nhiều phần nó đă có sẵn, được truyền tụng trong nhân gian như ca dao mà tôi không biết.Tuy nhiên, mặt khác tôi bắt buộc phải tin là nó cứng ngắc, nhọn hoắt, dùi xuyên vào da thịt mà phái nữ yêu thích ngày đêm!!!

Lẽ dĩ nhiên, theo bà, bốn câu này phải là để mô tả một vật thể khác (mục đích chắc chắn chỉ để mô tả vật thể khác ấy thôi!) nhưng tôi vốn ”khờ khạo lắm ngây thơ lắm!” lại “nhất trí” hiểu theo nghĩa khác mới đổ nợ chứ!

V́ muốn giữ trọn t́nh bạn văn thơ đứng đắn tôi định yên lặng không trả lời. Không ngờ bài thơ của tôi phổ biến trên báo vùng Ngũ Hồ c̣n bà th́ ngồi bắt mạch cho toa măi bên bờ bể viễn Tây, cũng đă đọc, nên mới có sáng kiến nhập cuộc chơi, đố lại tôi như thế. Mà sao bà chẳng đưa lên báo để mọi người cùng xem cho vui mà chỉ gửi riêng tôi vậy cà? Về sau, trước khi câu chuyện “đố vui” kết thúc, tôi hỏi th́ chính bà kể cho hay, vào dịp đó bà đi thăm người bạn ở Chicago lúc tới một tiệm ăn Việt-Nam nhặt tờ báo chợ t́nh cờ đọc thấy tên tôi, nên mừng quá chẳng kịp nghĩ, vội gơ cho tôi…ai dè… thiệt là xui!

Trời đất! Tôi c̣n xui hơn chứ bộ. Tai bay vạ gió. Đầu chẳng phải, phải tai. Đọc bốn câu thai đố tôi cho là nếu không trả lời th́ chẳng những bất lịch sự mà c̣n “yếu” quá! Hơn nữa sự im lặng có thể bà T.L. sẽ cảm thấy bị coi thường, làm cho bao nhiêu điều hâm mộ, kính nể của bà ấy dành cho ḿnh, chủ quan tôi nghĩ vậy, sẽ không cánh mà bay để chẳng bao giờ trở lại.Tạo ra được chút uy tín rồi giữ được cái uy tín tạo ra là điều rất khó. Vài câu thơ đố làm không xong th́ mặt mũi “thi huynh” c̣n ǵ!

Vả lại đây là chuyện không do tôi khơi mào trước, biết đâu bè bạn chẳng muốn thử tôi xem sao, xem có khả năng đa hiệu không, chứ đi với bụt biết mặc áo cà sa nhưng đi với ma không biết mặc áo giấy th́ cũng dở ẹc!

Từ trước đến nay, hơn “Sáu mươi năm cuộc đời” đôi khi cũng sẩy trường hợp làm tôi suy nghĩ, hóa ra,tôi trông vậy mà không phải vậy. Tôi từng nghe, hơn một lần có kẻ đă thố lộ thẳng với tôi, “Xin lỗi,với cái thùng nước lèo khá bự, mới nh́n tưởng đứng trước một x́-thẩu, hiền lành, nghiêm nghị, xa cách.. Lúc đánh bạo xáp vô, “nói chiện” mới rơ th́ ra ổng cũng là… Ố Nàm!” Đấy chẳng biết có phải là một nhược điểm của tôi? Hay đó là một ưu điểm trời ban riêng cho tôi? Có ảnh hưởng với tôi thế nào? Thôi mặc, Việt-Nam hay x́ thẩu cũng tốt “dzồi” ! chứ mà để người ngoài nh́n tưởng con tắc-kè mới thực vừa tắc vừa… kẹt, bây giờ để tôi, thủng thẳng viết mấy câu trả lời nối đuôi (tiếp theo vần câu thơ cuối của T.L.) cho đàng hoàng:

Thưa chị T.L.,

Vốn tôi chẳng mấy thông minh,

Nghĩ suy chưa cạn th́ h́nh dung thêm:

Xuyên vào da thịt ngày đêm,

Lại c̣n mũi nhọn chẳng mềm đă thay!

Các bà yêu thích…Ơ hay!

Chắc là cái ớó… nói ngay hơi kỳ.

N.P.L.

Đến đây chẳng biết mọi người có tưởng tượng ra được đoạn kết sẽ như thế nào không. Sau khi “send” bài thơ cũng kể như bức thư trả lời. Bà bạn phản đối tôi gay gắt nhưng vẫn lịch sự: “Đó là cây kim phái phụ nữ dùng để may vá sao lại trả lời vậy? “Thi huynh” coi tôi là người như thế nào?”

Ơ ḱa! Tôi đâu có coi bà là người như thế nào? Hồi nào? Nơi nào? Tôi trả lời vậy v́ đâu biết đó là cây kim khâu! Thế nó chỉ dùng để tả cây kim khâu à? Thật khổ, thường mấy câu thai đố hay dẫn người ta đi lạc vào đường suy nghĩ tục. Cũng hay. Nghĩ lẩn thẩn, không biết kho tàng thai đố hiện c̣n lưu truyền nơi nhân gian có được kể như một nét đặc thù của dân tộc cần được giữ ǵn không nhỉ?

Người đố kẻ trả lời, trả lời đúng trả lời sai là thường, mà trả lời vậy cũng đâu có sai, như một học sinh làm luận văn, tôi đọc kỹ đầu đề rồi mới viết xuống giấy đấy chứ! Thử xét lại coi! “Bài làm” của tôi đâu có lạc đề. Chỉ hơi dài ḍng, phải sài tới sáu câu mới trả lời xong cho bốn câu thai đố. Không cân đối. Hơi dở.

Rất may là hai người đang ở xa, nếu đối diện ai cũng lư sự, không biết sự thể sẽ như thế nào…và dù thế nào tôi cũng lấy làm mừng v́ đă chẳng nh́n thấy những h́nh ảnh của nhau lúc đó…

Cuối cùng tôi thấy “chuyện có ǵ đâu” mà phải bận tâm vô ích, thôi, sự thể đă như vậy, chấm dứt là hơn, nên đă làm ḥa, viết mấy câu, vẫn qua e-mail, đề nghị không nói nữa. Từ đó th́ hai bên chẳng ai nhắc tới nữa, nhưng t́nh h́nh bè bạn đă có vẻ không trở lại b́nh thường, nghe như nó vẫn phảng phất c̣n một chút hậu quả uể oải, âm ỷ nhẹ nhàng. “ Thi huynh coi tôi là người như thế nào?”. “Ơ ḱa! Tôi đâu có coi bà là người như thế nào?...”. Hai câu đối đáp cứ phảng phất theo tôi hoài, khiến tôi, dù không có chi để ân hận, nhưng măi măi chẳng thể quên được chuyện đă sẩy ra.Thật bất hạnh. Mọi liên hệ giữa hai bên cứ bớt dần, năm ngoái chúng tôi cũng chẳng gửi thiệp Giáng Sinh cho nhau như trước, mặc dù tôi vẫn kính trọng bà bạn tôi, tôi vẫn thấy vui mỗi lần đọc thơ của bà trên đặc san, ngược lại bà bạn tôi vẫn là độc giả dài hạn của tờ báo tôi thường xuyên cộng tác, và… bây giờ lại là mùa hè, trời nóng ơi là nóng, thấm thoát thế mà đă mấy năm.

Tác giả: Nguyễn Phú Long