PDA

View Full Version : ca dao, tục ngữ, thành ngữ



hoangthymaithao
10-21-2009, 02:08 AM
đừng ngồi chiếu lệch giường nghiêng,
ngồi cho ngay ngắn cũng thiêng bằng thần

ca dao

hoangthymaithao
10-21-2009, 02:09 AM
Nói Về Miền Nam

NHẬN XÉT VỀ CA DAO HẬU GIANG

Trong số những Ca dao xuất xứ từ miền Hậu Giang, có lẽ lọai “sấm văn” là xưa nhất. Không đi sâu vào nội dung, chúng ta chỉ ghi nhận vài điểm: Văn là bài thơ, văn vần. Sách xưa nêu rơ thí dụ: Nhị độ Mai, Văn (Les pruniers refleuris, poeme tonkinois). Bản in địa phận Sài G̣n 1894, hoặc hựu việt, Văn viết trong tuồng hát bội. V́ lối phát âm không rơ rệt của người miền Nam nên Văn bị lầm là Giảng và Sấm Giảng nghĩa là một bổn băn vần truyền tiên đóan thiên cơ, giảng giải đạo lư.

Vài đọan thơ gọn gàng dưới đây đủ chứng tỏ mức diễn đạt của vài tu sĩ hồi đầu thế kỷ thứ XX:

Hai Vơ phân nói thiệt thà:
“Kinh kệ áo dà, để lại chốn đây
E khi đi có gặp Tây,
Nó coi thấy đặng, sắp bây không c̣n”.
Tính thôi đă một buổi tṛn,
Xuống thuyền ra biển, hởi c̣n canh hai!
(Văn núi Tà Lơn của ông Cử Đa)

Hư nên các việc tỏ bày
Tôi không có ép có nài chi ai.
Thương thay ông lăo Bán Khoai.
Lên non xuống núi hôm mai dạy đời.
Thân sao nay đổi mai dời.
Xóm kia làng nọ, khổ thay thân già!
Nam mô đức Phật Di Đà
Khiến người trở lại thảo gia của người .
Bạc bảy đâu sánh vàng mười.
Hiền lương đâu xứng với người hung hăng.
(Văn ông Sư Văi Bán Khoai)

Nhưng v́ các lọai thơ truyền khẩu kể trên v́ quá mang nặng tâm lư địa phương nên thiếu tánh chất phẩ biến. Vùng Hà Tiên, Châu Đốc vốn là một biên trấn với nền kinh tế nông nghiệp tự túc. Từ xưa, kiều bào Việt Nam đă khai thác tận vùng biên giới Kampot, núi Tà Lơn (chaine de l’Eléphant). Lúc ban sơ, Mạc Cửu đến miền duyên hải vịnh Xiêm La với ḥai băo bài Măn phục Minh.

Năm 1878, sử chép việc Hà Hỉ Văn thuộc Thiên Địa Hội đem đ̣an Tàu Ô đến qui phục chúa Nguyễn Ánh ở đảo Cổ Cốt. Trong thời kỳ Pháp thuộc, nhiều đạo sĩ Việt Nam cố gắng biến chuyển khẩu hiệu “bài Măn phục Minh” trở thành lư luận chống thực dân Pháp. Họ phát triển và áp dụng các quan điểm về phong thủy vào vùng Thất Sơn, Cửu Long, dùng những danh từ: Hớn Chúa, Minh Chúa v.v. . .
* *
*
Bên cạnh những ẩn sĩ, c̣n nhiều khách tục, những kiều bào tha phương cầu thực. Vào khỏang 1916, họ nhắn vọng về cố quốc:

Tà Lơn xứ rày con tạm ở
Nghiệp lưới chài nhiều tháng náu nương
Gởi thơ cho cha mẹ tỏ tường.
Cùng huynh đệ cho hăn ư
Kể từ con đăng tŕnh vạn lư
Đến bây giờ có bảy tháng dư
Nghiêng ḿnh nằm nhớ tới mẫu từ
Ngồi chờ dậy ruột tằm quặn thắt.
. .
Vận bất tề nay trẻ nổi trôi
Thời bất đạt nên con xa xứ
Con cũng biết mười ơn vẹn giữ
Dạ lâm bền ba thảo ghi ḷng
Câu tam niên nhủ bộ bất vong
Nghĩa thập ngoại ḷng con lo trả
Khó v́ nỗi anh th́ một ngả
Cực ḷng thay em ở một nơi
Bảy ngày Xuân con chịu tả tơi
Ba bữ Tết khoanh tay ngồi ngó
. . .
Việc ở ăn nhiều nỗi đắng cay
Vái Trời phật xin về quê cũ
Xứ hiểm địa, chim kêu vượn hú
Dế ngâm sầu nhiều nỗi đa đoan
Ngó dưới sông: cá mập lội dư ngàn . .
Nay con tới nơi nguồn cao nước đục
Lọai thú cầm nhiều thứ chỉnh ghê!
Giống chằng tinh lai văng dựa bên hè
Con gấu ngựa tới lui gần xó vách
. . Bầy chồn cáo đua nhau lúc ngúc
Lũ heo rừng chạy giỡn bát lọan thiên . .
. . .Trên chót vót, nai đi nối gót
đôi vượn bạch nựng con thảnh thót
Cặp dă nhơn kếu tiếng rảnh rang
Ngó sau lưng: con kỳ lân mặt tợ như vàng
Nh́n trứơc mặt: ông voi đen huyền tợ thổ.
Hướng đông Bắc, con công kêu tố hộ.
Cỏi Tây Nam, gà rừng gáy ó o . .

C̣n nhiều câu khác vừa tả chân vừa hài hước; đọc bài văn Tà Lơn, hẳn thân nhân của thi sĩ vô danh nọ cũng mỉm cười, được an ủi phần nào. Ác thú ở Ta Lơn tuy nhiều thứ những thi sĩ vẫn sống nhăn như người đi du ngọan ở Thảo Cầm viên, ngày xuân.
**
*
Ng̣ai miền đồi núi An Giang, ở Hậu Giang c̣n một miền địa lư thứ nh́ ăn suốt bờ biển Kiên Giang, phần lớn Ba Xuyên và ṭan tỉnh An Xuyên. Nơi đây, đất quá thấp v́ mới bồi, các rạch nhỏ bắt nguồn từ biền để theo thủy triều đổ vào đồng śnh lầy. Dưới sự đốc suất của Thọai Ngọc Hầu, kinh Vĩnh Tế và kinh Núi Sập (Thọai Hà) đă hoàn thành từ đầu thế kỷ XIX, dẫn nước ngọt từ Hậu Giang đem tưới các ruộng vườn xa lánh, vừa rửa cho đất sạch phèn, vừa giúp việc lưu thông vận tải. Bài vè kinh Vĩnh Tế nói lên công tŕnh khó nhọc của tiền nhân đă phục dịch giữa nơi khí hậu bất lợi. từ làng quê đến chỗ đào kinh, họ phải qua nhiều vùng nguy hiểm để làm mồi cho sấu cọp. Rất tiếc là bài vè ấy mới sáng tác lúc sau nên giá trị về sử liệu c̣n quá kém cỏi.

Đáng chú ư hơn hết là việc đào kinh bằng phương tiện cơ giới :phối hợp kỹ thuật cơ giới Tây Phương và đức kiên nhẫn, siêng năng của người Việt” hồi đầu thế kỷ thứ XX

Kinh Xà No (Phong Dinh) khởi công đào năm 1901, ḥan tất năm 1903.
Hệ thống kinh Xáng Ngă Năm, Ngă Bảy (Phong Dinh) thành h́nh từ 1906-1908.

Nhờ vậy tỉnh Cần Thơ (Phong Dinh ) đứng hạng nhứt ở toàn Nam Kỳ về sản xuất lúa gạo. Lúa gạo bán tăng giá. Mức sống của mọi từng lớp lên cao. Những người dân hai Huyện (trai Nhơn Ái, gái Long Xuyên) bấy lâu nổi tiếng là người dinh (dân sang trọng, chánh gốc, ở vùng dinh quan chưởng cơ Nguyễn Hữu Cảnh) gặp cơ hội thuận lợi để di cư khắp vùng mới đào kinh Xáng để làm thầy dạy ḥ hát.

- Đời phải đời thạnh trị
Cuộc phải cuộc văn minh
Ḱa là gió mát trăng thanh
Nầy bớ em ơi! Biết đâu nhân đạo bày t́nh cho vui . .
- Nước bích non xanh
Người bạn lành khó kiếm
Đây em cũng có hiếm, chẳng lựa đặng chỗ nào
Măn lo mua bán ra vào Cần thơ . .

Đa số các thầy vốn là đào kép hát bội, giải nghệ - được học tṛ rước đem về nhà để dạy ḥ – dạy ăn tiền.
Trong ngôn ngữ b́nh dân, không nghe nói đến danh từ ca dao. Căn cứ vào nạhc điệu, trường hợp xử dụng, họ gọi đó là hát đưa em, hát huê t́nh, hát đối, ḥ chèo ghe, ḥ xay lúa, ḥ cấy.
Câu hát đưa em:

- Chờ em cho măn kiếp chờ
Chờ cho rau muống vượt lên bờ trổ bông.
Có thể đưa ra đồng lúa, trên sông rạch để trở thành câu đối hát. Và khi gặp người đáp lại khéo léo:
- Rau muống trổ bông lên bờ nó trổ
Ai biểu anh chờ mà anh kể công ơn.
Th́ cả hai vế được ǵn giữ đem về nhà trở thành câu hát đưa em.
Xu hướng “kéo dài, bổ túc các câu sẵn có” đă tạo thêm được nhiều câu hát đưa em đáng lưu ư:
- Bớ chiếc ghe sau, chèo mau anh đợi
Kẻo giông khói đèn bờ bụi tối tăm
- Bờ bụi tối tăm, anh quơ nhằm cái tộ bể
Cưới vợ có chử về thổi lửa queo râu.
Hoặc:
Khế với chanh một ḷng chua xót
Mật với gừng một ngọt một cay
- Ra về bỏ áo lại đây
Để khuya em đắp gió tây lạnh lùng
- Có lạnh lùng lấy mùng mà đắp
Trả áo cho anh về đi học kẻo trưa.

Người thọ giáo không cần học vỡ ḷng về luật bằng trắc, yêu vận, cước vận v́ ai nấy đă từng thở không khí lục bát và các biến thể của lọai thơ ấy từ khi nằm trên vơng.
Theo quan niệm các thầy th́ câu hát đối đối chia ra ba loai, từ sở trường, sở đoản từng người mà áp dụng.

1. H̉ VĂN dùng cách ngôn Khổng Mạnh (trích trong Minh Tâm Bửu giám, để gợi hứng, gieo vần:

Vật bạc t́nh bất thủ
Nhơn phi nghĩa bất giao
Anh nguyền thưởng bậu một dao
Răn phường ḷng dạ mận đào lố lăng . .
Hoặc:
Tay cầm quyển sách Minh Tâm anh đọc:
Thiện ác đáo đầu chung hữu báo.
Cao phi viễn tấu khả nan tàng
Từ khi anh xa cách con bạn vàng
Cơm ăn chẳng được như con chim phụng ḥang bị tên.

2. H̉ TRUYỆN dùng điển tích trong truyện Tàu để gợi hứng gieo vần hoặc nêu câu hỏi:

Văng vẳng bên tai
Tiếng ai như tiếng con Điêu Thuyền?
Anh đây Lữ Bố kết nguyền thuở xưa
- Từ trên trời xuống mặt nước mấy trăm ngàn thước
Từ mặt nước xuống âm phủ đi mấy ngày đường?
Một bộ Tây Du mấy cuốn?
Mộ cuốn mấy trang
Một trang mấy hàng chữ?
Nói cho có ngăn có ngũ, gái má đào mới chịu thua!
- Đó ở dưới thuyền buôn,
Thả luông tuồng theo nhịp?
Có phải là: Ngũ Hồ kư tính Đào Công vi nghiệp
Tứ hải ngoa du Yến Tử pḥng
Linh đinh nay lớn mai ṛng
Vậy đà có chốn loan pḥng hay chưa?

3. H̉ MÉP : dùng lời lẽ nôm na, không điển tích, không cách ngôn:

Đèn tọa đăng để tước bàn thờ
Vặn lên nó tỏ, vặn xuống nó lờ
Xuống sông hỏi cá, lên bờ hỏi chim
Trách ai làm cho thế nọ xa tiềm Em xa người nghĩa mà nằm điềm chiêm bao.

Lúc đầu, lọai ḥ văn và ḥ truyện được ưa chuộng. Truyện Tây Du, Phong Thần, Tiền Đừng, Hậu Tống, sách Minh Tâm Bửu Giám lần lần xây dựng cho mọi người một vốn liếng về cổ học, nhân bản của Á Đông. Việc phổ biến ấy ngày càng thêm sâu rộng nhờ mức sống của nông dân và tiểu thương lên cao, nhờ phương tiện chữ quốc ngữ. Bắtđầu ấn hành từ đầu thế kỷ XX tại Sài G̣n; các bản dịch ấy phải đợi non 30 năm sau mới thấm vào giới trung lưu và b́nh dân ở thôn quê Hậu Giang – như thể kể cũng nhanh chóng.

Sơn Nam

hoangthymaithao
10-22-2009, 05:09 AM
PHÂN TÍCH BÀI CA DAO ĐÊM QUA RA ĐỨNG BỜ AO


Đă là người Vn th́ hẳn chẳng ai xa lạ ǵ với những câu ca dao tuy giản dị, mộc mạc mà chan chứa t́nh người.Đó có thể là những lời dân ca t́nh tứ,lắng đọng; có thể là những câu hát ru sâu nặng nghĩa t́nh; hoặc cũng rất có thể là những lời đối đáp trao duyên. Ca dao tựa như một viên kim cương đa diện, mà ở mơi góc cạnh của nó ta lại thấy ánh lện một mặt của tâm trạng con người, lung linh và sáng măi.Vui có. buồn có, đợi chờ có, nhớ mong có...mọi cung bậc sắc thái t́nh cảm của con người đềui được diễn tả 1 cách hết sức tinh tế, chân thực, sinh động qua những lời ca dao.tooi nhớ có một bài ca dao thế này:

Đêm qua ra đứng bờ ao,
Trông cá cá lặn, trông sao sao mờ.
Buồn trông con nhện giăng tơ
Nhện ơi, nhện hỡi nhện chờ mối ai?
Buồn trông chênh chếch sao Mai
Sao ơi, sao hỡi nhớ ai sao mờ?

Một bài ca dao thật hay, thật đẹp với ngôn từ mộc mác, chân chất mà đă lột tả hết tâm trạng của nhân vật trữ t́nh.Nhân vật trưx t́nh ở đây là một cô gái-một nàng thiếu nữ với trái tim " bồi hồi trong ngực trẻ" đang tha thiết mong nhớ ng yêu.Trong đêm đen tĩnh mịch-thời điểm của những cuộc hẹn ḥ đôi lứa-cũng là lúc cô gái cảm thấy ḷng ḿnh cô đơn trống trải.V́ sao ư? V́ trong khoảng thời gian của t́nh yêu, của ḥ hẹn mà lại trống vắng 1 ḿnh, thử hỏi sao không buiồn cho được! Quá mong ng yêu, cô gái đă giăi bày tấm ḷng ḿnh với cảnh vật xung quanh.Thế nhưng " trông cá cá lặn trông sao sao mờ". Dường như cảnh vật đă vô cùng lănh đạm với tâm trạng người thiếu nữ.Cô chẳng biết chia sẻ cùng ai và ta cảm tưởng như cũng chẳng có ai muốn chia sẻ với nàng.T́m cá bầu bạn th́ mặt nước lặng thinh, gửi t́nh cảm lên v́ sao th́ chỉ thấy một màu đen êm dịu, rộng lớn mênh mông.Nó làm cho nỗi buồn bị cô lập và càng " gặm nhấm" cói ḷng hiu hắt của cô gái trẻ.Cô càng thêm cô đơn quạnh vắng với nỗi mong nhớ xot xa đang dâng trào.Và lúc này đây ta lại bắt gặp một thứ thật quen thuộc, rất " ca dao" và cũng rất " Việt Nam":
Buồn trông con nhện giăng tơ
...

Sao ơi, sao hỡi nhớ ai sao mờ?

Đó chính là " buồn trông"- 1 điệp từ rất đỗi gần gũi trong ca dao.Nó là mở đầu cho những lời than thân trong ca dao xưa.Điệp từ " buồn trông " xuất hiện ở đây nhằm nhấn mạnh nỗi buồn cô đơn giữa cảnh vật của người con gái.Đó là bút pháp tả cảnh ngụ t́nh.Ngoại cảnh mà như tâm cảnh.Càng buồn th́ càng trông vào cảnh vật, mong t́m chút vui nơi khung cảnh thơ mộng mà nào có được! Càng trông th́ chỉ thấy ḷng càng thêm trĩu nặng.Bởi:

Cảnh nào cảnh chẳng đeo sầu,
Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ?

Và liên tiếp sau đó là hai h́nh ảnh ẩn dụ cho tâm trạng của cô thiếu nữ: nhện giăng tơ và sao Mai. Từ những sự vật trong thiên nhiên, cô đă gửi tiếng ḷng của ḿnh-1 tiếng ḷng thổn thức ngóng trông."Nhện giăng tơ" là 1 h́nh ảnh thật đẹp và giàu sức biểu cảm cao.Tơ nhện hay chính là sợi tơ hồng duyên phận, sợi tơ t́nh yêu đă se duyên cho đôi trẻ để giờ đây " trăm mối tơ ṿ".Chiếc màng nhện mỏng mang phải chăng như chính người con gái: yếu đuối, mong manh.Tơ nhện có độ kết dính cao, dù có đứt cũng vẫn bền chặt-liệu có là ám chỉ t́nh yêu?Nhện chăng tơ xong mà vẫn 1 ḿnh, cô đơn, chờ đợi một mối tơ ḷng.Tiếp đó cô gái nh́n " chênh chếch" lên ngôi sao Mai.Một ánh nh́n hơi chéo chứ không phài nh́n thẳng.Phải chăng cô gái không dám đối diện thẳng với ḷng ḿnh-rằng cô đang quá trống trải, đơn côi.Ngôi sao Mai mờ dần trong ánh b́nh minh như chính tâm trạng ngày một hiu quạnh, héo hon của cô gái.Cô lẻ loi quá!Tựa như ánh sao giữa bầu trời rộng lớn. Đó là sự trống trải một ḿnh, một sự nhớ thương đén hiu hắt, 1 nỗi buồn trải ra theo cả không gian và thời gian.Từ " bờ ao" tới " bầu trời" là 1 không gian rộng lớn, nó làm cho niềm nhớ thương càng thêm mênh mang, dâng trào.Từ "đêm qua" tới " sao Mai" là sự trải dần theo thời gian, nỗi buồn ngày một lớn lên và chỉ chực trào ra trong tâm trạng thổn thức, trằn trọc suốt cả đêm dài của cô gái.

Như vậy, với những ca từ sâu lắng, mênh mang, tâm trạng của cô gái đă được bộc lộ theo nhiều cấp bậc, nhiều góc cạnh khác nhau.Đó là vẻ đẹp bín của ca dao-một vẻ đẹp tiềm tàng mà không dễ ǵ có được.

trích tu vatgia. com
Ngày gửi: 02/12/2008 - 10:27

# posted by HVLN / TV- VB

hoangthymaithao
10-24-2009, 08:34 AM
VỀ MỘT BÀI CA DAO NAM BỘ

Xưa nay ta vẫn quen với câu: "Tưởng giếng sâu anh nối sợi dây dài", nay bỗng nhiên lại được nghe một câu hết sức "trái khoáy" ("Tưởng giếng sâu qua nối sợi dây cụt"). Lối nhập đề ngay từ đầu đă gây được sự chú ư, bởi v́ nó quá lạ tai. Ngộ thật! Dây cụt th́ làm sao mà đo được giếng sâu?

Tưởng giếng sâu qua nối sợ dây cụt
Ai dè giếng cạn nó hụt cái sợi dây
Qua tới đây mà không cưới được cô Hai mầy
Qua chèo ghe ra biển… đợi nước đầy qua chèo vô.

Bài ca dao này tôi được biết do nhà văn Lê Đ́nh Bích đọc cho nghe.
Về phần Lê Đ́nh Bích, anh nói rằng anh sưu tầm được từ một lăo nông ở Bạc Liêu. Mới nghe xong tôi đă thích liền. Rơ là một bài ca dao ngồ ngộ, được thể hiện như là một truyện ngắn cực ngắn. Nhân vật là một chàng trai (có thể lắm), có tính cách cũng rất ngồ ngộ.
Xưa nay ta vẫn quen với câu: "Tưởng giếng sâu anh nối sợi dây dài", nay bỗng nhiên lại được nghe một câu hết sức "trái khoáy" ("Tưởng giếng sâu qua nối sợi dây cụt"). Lối nhập đề ngay từ đầu đă gây được sự chú ư, bởi v́ nó quá lạ tai. Ngộ thật! Dây cụt th́ làm sao mà đo được giếng sâu? Rơ là có sự cố ư tinh nghịch ǵ đây. Mà cũng có thể là anh chàng đă biết, bởi vậy chàng mới bày đặt ra cách nói ngộ kỳ đời (dây cụt mà c̣n hụt th́ giếng ấy là giếng ǵ?).

Tiếp tục lung khởi nội dung, câu hai viết tiếp: "Ai dè giếng cạn nó hụt cái sợi dây". Đương nhiên quá đi rồi c̣n ǵ. Đă là dây cụt th́ c̣n nhằm nḥ ǵ mà đo với chẳng đo. Nó khác hẳn với câu ta đă biết: "Ai ngờ giếng cạn anh tiếc hoài sợi dây". So sánh hai câu này với nhau, ta lại thấy lấp lánh cái ngồ ngộ rất cố t́nh của lối kể, lối dẫn chuyện.
Sang tới câu ba th́ cốt truyện bộc lộ đă quá rơ. "Qua tới đây mà không cưới được cô Hai mầy", câu này đă dẫn ra thêm một nhân vật nữa. Cái cô Hai nào đó chắc cũng phải có nét ǵ đó ngồ ngộ mới khiến nhân vật chính của chúng ta bộc lộ quyết tâm làm vậy. Câu chuyển này thực ra không chuyển hẳn về ư nhưng rơ ràng nó vẫn tạo ra sức chuyển rất mạnh cho bài ca dao, giúp ta thấy ràng ràng tính cách "ăn sóng nói gió" của một anh chàng hạ bạc lặn lội đường xa đến t́m gặp người đẹp và quyết "yêu" cho bằng được người đẹp.

Câu thứ tư dùng kết thúc câu chuyện cũng hết sức bất ngờ. Câu này phải đọc ngắt ra làm hai mới thấm hết cái độc đáo, cái thần khí đầy sắc sảo của bài ca dao. "Qua chèo ghe ra biển/ đợi nước đầy qua chèo vô". Ở trên là câu thề độc, cho nên đọc vế đầu của câu dưới, hẳn sẽ khiến ta liên tưởng tới cái chết, cái kết cục bi thương của một cuộc t́nh đơn phương bốc lửa. Không yêu được "cô Hai mầy" th́ qua chèo ghe ra biển qua ùm xuống chết cho "cô Hai mầy" coi. Ấy vậy mà không!.. Ngu ǵ qua chết lăng ̣m cơ chứ! "Đợi nước đầy qua chèo vô". Lối kết thúc này xui tôi nhớ một bài Tanka Nhật Bản:

Sông Hô Nô Xê nước rất nông
Lội ra giữa ḍng vẫn không ướt váy
Hỏi một người cũng nông như vậy
Làm sao tôi có thể yêu sâu?

Cái cô Hai nào đó trong bài ca dao của chúng ta có "nông" không nhỉ? Anh chàng kể chuyện cho chúng ta nghe, hẳn đă nếm mùi kiểu như "con cáo với chùm nho" của La Phông Ten rồi là cái chắc. Dùng dây cụt th́ không làm sao đo được giếng mà biết sâu hay cạn. Cứ theo cốt truyện mà suy, th́ nhân vật của chúng ta hẳn đă bị hạ đo ván tới thấm mùi, nên mới biến được chuyện riêng của ḿnh thành một truyện cực ngắn, hay tới mức độc đáo làm vậy.

Ở Nam Bộ có một câu rất hay: "Nói vậy mà không phải vậy". Bài ca dao là một câu chuyện thuộc loại "nói vậy mà không phải vậy". Hệ thống ngôn ngữ dùng kể chuyện rất thống nhất, bố cục chặt chẽ, kết cấu bất ngờ, cho ta thấy rơ một bản lĩnh sáng tạo văn bản rất tài hoa. Mới nghe, ta tưởng như nhân vật trong bài ca dao chỉ kể chuyện để giỡn chơi tưng tửng cho vui lúc trà dư tửu hậu, nhưng càng đọc ta càng thấy lấp lánh một khía cạnh rất thật trong đời: với t́nh yêu th́ không thể đùa giỡn được. Đùa giỡn th́ không thể thành t́nh yêu, nhưng lỡ không thành được t́nh yêu th́ cũng phải vui lên mà sống chứ. Vậy là thoắt một cái, anh chàng phải ḷng cái cô Hai đa t́nh nào đó, bỗng trở nên sâu sắc lạ đời.

Tưởng giếng sâu qua nối sợi dây cụt
Ai dè giếng cạn nó hụt cái sợi dây
Qua tớ đây mà không cưới được cô Hai mầy
Qua chèo ghe ra biển… đợi nước đầy qua chèo vô.

HỒ TĨNH TÂM (Vĩnh Long)

quangtung
10-24-2009, 11:40 AM
Tưởng giếng sâu qua nối sợ dây cụt
Ai dè giếng cạn nó hụt cái sợi dây
Qua tới đây mà không cưới được cô Hai mầy
Qua chèo ghe ra biển… đợi nước đầy qua chèo vô.

Chào HTMT .

Tưởng giếng sâu qua nối sợi dây dài ....mới phải chứ :lol::lol: .
Cám ơn HTMT đă bài viết về .

Đàn ông nông cạn giếng khơi
Dàn bà sâu sắc như cơi ăn trầu ....

Hai câu này có liên quan , tương phản không nhỉ ?
Chúc vui !

hoangthymaithao
10-25-2009, 03:01 AM
Tưởng giếng sâu qua nối sợ dây cụt
Ai dè giếng cạn nó hụt cái sợi dây
Qua tới đây mà không cưới được cô Hai mầy
Qua chèo ghe ra biển… đợi nước đầy qua chèo vô.

Chào HTMT .

Tưởng giếng sâu qua nối sợi dây dài ....mới phải chứ :lol::lol: .
Cám ơn HTMT đă bài viết về .

Đàn ông nông cạn giếng khơi
Đàn bà sâu sắc như cơi ăn trầu ....

Hai câu này có liên quan , tương phản không nhỉ ?
Chúc vui !


@ HTMT chào thêm một lần nữa ở đây tới QT nhé,
Về câu ca dao rất chi là tương phản ở bài viết của Hồ Tĩnh Tâm (Vĩnh Long) th́ rơ rồi há .
Riêng về hai câu mà QT nhắc tới ở trên - cũng như rất nhiều người hay đưa ra làm ví dụ về phái yếu và phái mạnh trong sự suy nghĩ .. - ừa , hai câu này rất là tương phản . Nhưng HTMT luôn giữ quan điểm : người đời thường hay bị ấn tượng về h́nh tướng và kèm theo là những thói quen ít chịu suy ngẫm riêng ḿnh .. mà hay thích dễ dăi theo điều ǵ có người nghĩ ra trước đó rồi . Bởi thế đôi khi là cả một chuỗi những quan niệm sai lầm nào đó .
Dưới này là một trong những câu ca dao mà HTMT thích :

Dù ai nói ngả nói nghiêng
Th́ ta cũng vững như kiềng ba chân

Chúc QT và tất cả an vui
:caphe: :rose1:

hoangthymaithao
10-25-2009, 03:04 AM
Hoa Quả Trong Ca Dao

http://e-cadao.com/images/hoabuoi.jpg

Có hoa có quả mới hay,
Một trăm thứ quả em nay đă từng.
Cứng th́ quả ổi c̣n ương,
Mềm th́ quả thị chín vàng đă lâu.
Đỏ ḷng th́ đúng quả nâu,
Nhuộm khăn, đan áo, đẹp mầu đời ta.
Thơm thơm, mát mát quả na,
Biếu cha, biếu mẹ hơn là chén son.
Đắng th́ bồ kết bồ ḥn,
Để ta tắm gội cho trơn mái đầu.
Ngọt th́ long nhăn, táo tàu,
Bưởi đường, cam, quít, lựu đào nâng niu.
Chua th́ quả hạnh, quả mai,
Quả sấu, quả rọc, quả gai trái mùa.
Đôi ta c̣n ngọt chửa chua,
Đừng tham táo rụng, đừng chê khế rừng.
Thanh yên, phật thủ thơm lừng,
Quả thơm mặc quả, xin đừng quên nhau.
Bé th́ quả vối, quả dâu,
Nhớn th́ quả mít chia nhau mới đành.
Để ta chọn cá nấu canh,
Cà chua chín đỏ rấp ranh đi t́m.
T́nh cờ ta gặp nhau đây,
Quả cau ta bổ, chia tay mời chào.
Đôi ta kết nghĩa tương giao,
Nào là quả mận quả đào đong đưa.
Bùi ngùi quả ấu quả dừa,
Xanh xanh quả mướp, quả dưa, quả bầu.
Hạt tiêu cay đắng đă dầu,
Ớt kia cay đắng ra mầu xót xa.
Mặt kia mà tưới nước hoa,
Ai đem mướp đắng mà hoà mạt cưa ?
Thủy chung cho bác mẹ ưa,
Đừng như đu đủ nắng mưa dăi dầu.
Yêu nhau đá bắc nên cầu,
Bồ quân lúc chín ra màu tốt tươi.
Hẹn chàng cho đủ mười mươi,
Th́ chàng kết tóc ở đời với em.

http://e-cadao.com/images/hoatigon.jpg

Ca Dao

# s/t by HVLN - TV - VB

hoangthymaithao
10-26-2009, 11:25 AM
Ca Dao T́nh Yêu

(Hươu Dấn Thân Sưu tầm)

Ḿnh về em dặn ḿnh rằng
Đâu hơn (th́) ḿnh kết, đâu bằng (th́) đợi em

Ai về Giồng Dứa qua truông
Gió run bông sậy để buồn cho em

Có yêu th́ nói rằng yêu
Chẳng yêu th́ nói một điều cho xong
Làm chi dở đục dở trong
Lờ lờ nước hến cho ḷng tương tư

Đường dài ngựa chạy biệt tăm
Người thương có nghĩa trăm năm cũng về

Núi Ngự B́nh trước tṛn sau méo
Sông An Cựu nắng đục mưa trong
Em đây vốn thiệt chưa chồng
Núi cao, sông rộng, biết gởi ḷng cùng ai

Tḥ tay xuống ngắt cọng ng̣
Thương em đứt ruột giả đ̣ ngó ra
T́nh thương quán cũng như nhà
Lều tranh có nghĩa hơn ṭa ngói cao

Có thương th́ thương cho trắc
C̣n trục trặc th́ trục trặc cho luôn
Đừng như con thỏ đầu truông
Khi vui giỡn bóng, khi buồn nó giỡn trăng

Rượu ngon bất luận be sành
Anh thương em không v́ bởi tấm áo lành của mẹ cha.


# bài từ TV-VB

hoangthymaithao
10-27-2009, 04:53 AM
Chuyện Vui Ca Dao:


Chuyện kể về một anh sinh viên người Hungary sang Việt Nam làm nghiên cưú sinh môn tiếng Việt.

Cuối đợt nghiên cứu trường ĐHQG Hà Nội tổ chức một kỳ thi gọi là khảo sát tŕnh độ của từng nghiên cứu sinh. Đề văn ra như sau:

"Anh (chị) hăy giải thích câu ca dao:

Gió đưa cành trúc la đà
Tiếng chuông Thiên Mụ, canh gà Thọ Xương."

Đọc xong đề, anh chàng sinh viên khoái chí lắm v́ nghĩ rằng không có ǵ là khó, nhất là khi anh có mang theo cả từ điển. Sau một hồi tra cứu chảy nước mắt, xem ra anh ta đă tường tận nhiều điều:

"Gió đưa (được) cành trúc" th́ ắt hẳn phải là gió to, ư hẳn là có băo.
Với từ "la" anh phân vân giữa hai cách hiểu:
+"la" là sự kết hợp giữ lừa và ngựa.
+"la" anh đoán rằng đề đă in sai, phải là lao mới đúng. Và anh đă chọn cách hiểu này.
"Đà" là thanh tà vẹt để tàu có thể chuyển động trên đó.
"Thiên mụ" : đàn bà trời - ư hẳn là vợ trời.|
" Thọ" : nhiều lần (lâu)

Và cuối cùng anh ta đă cho ra đời một sản phẩm bất hủ:

Trời nổi cơn băo lớn
Lao xuống tà vẹt đường
Vợ trời đánh một tiếng chuông
Canh gà húp vội, hóc xương mấy lần



nguồn : http://e-cadao. com

# s/t by Linh Phuong/TV-VB

hoangthymaithao
10-27-2009, 05:39 AM
From: group ThuHa - Paris
Date: 26 oct. 2009 16:19
Subjec : Ca Dao Viet Nam : Chuyen Vui


Phản ứng của "chàng....":


Nếu biết rằng em đă lấy chồng





"Bắc Kỳ":

-----------------------------------------------

Nếu biết rằng em đă lấy chồng

Anh về chửi đổng giữa đám đông

Mẹ bố tiên sư nguyên gịng họ

Ngựa chứng! Sao mày dám bỏ ông ?



"Trung Kỳ":

-----------------------------------------------

Nếu biêt rằng O nợ có chồng...

Tui về núi Ngự nhảy xuộng sông...

Sông sâu nước lạnh tui lại hớp

Tự tử mần răng cũng chẳng xong



" Nam Kỳ":

-----------------------------------------------

Nếu biết rằng em đă lấy chồng

Mèn ơi! Em chê tui nhà nông

Ruộng nương, nổi nóng tui đốt hết

Không gạo cho em đói nức ḷng



"Ba Tàu":

-----------------------------------------------

Nếu piết rằng lị đă có chồng

Ngộ dzề ngộ pán nốt Hồng Kông

Mang tiền ngộ đổ vào Chợ Lớn

Lời dzốn đầu tư... Ngộ mát ḷng



"Việt kiều":

-----------------------------------------------

Nếu biết rằng em đă có chồng

Anh về bên bển thế là xong

Trăm cô ngồi đó cho anh lựa

Cũng "bốc" như em "but" ....cho không.



"Dân học trường Pháp" style:

-----------------------------------------------

Nếu biết rằng toa đă lấy chồng

Ca va, moa cũng tỉnh như không

Bạn gái secours moa cả đống

Buồn chi cho khổ n'est ce pas?



"Bùi Chu, Phát diệm 1":

-----------------------------------------------

Nếu biết rằng em đă có chồng

Tim anh nở noét như nợn ṇng

Ṇng tḥng nê nết nằm na niệt

Nâu nâu nại ngứa mấy sợi nông



"Bùi-Chu, Phát Diệm 2":

-----------------------------------------------

Nâu nắm mới biết em nấy chồng

Anh về nạnh nẽo một pḥng không

Nưu nuyến chỉ nàm thêm đau khổ

No nắng chi cho thêm ná-nông!



"Chế- Linh ":

-----------------------------------------------

Thôi rồi em đă bước sang sông

Bỏ anh lái đ̣ ḿnh đơn không

Đôi đường đôi ngă nay từ biệt

Em về nhà khách, anh xuống ....ơơơơơ...sông!!!



"Tây Bồi":

-----------------------------------------------

Toa đi lấy autre saucisson

A quoi bon ở lại làm con

Moa đi chạy theo autres jupons

Đầm mập Tó Vu cũng khá bon!



"An ủi":

-----------------------------------------------

Nếu biết rằng em đă lấy chồng

Anh như bị shock có thiệt không?

Thế gian ai nghĩ anh xấu số

Nhưng có người hơn chịu làm chồng





"C'est la vie":

-----------------------------------------------



Nếu biết rằng em đă lấy chồng

Anh về lấy vợ thế la xong

Vợ anh không đẹp bằng em lắm

Nhưng đẹp hơn em cái tấm ḷng





"Cổ Điển"

-----------------------------------------------

Nếu biết rằng em đă lấy chồng

Anh về xách vịt nhổ sạch lông

Tiết canh làm đại vài ba dĩa

Mượn rượu cho nguôi vết thương ḷng



"Du đăng"

-----------------------------------------------

Nếu biết rằng em đă lấy chồng

Em đừng tưởng thế cũng là xong

Anh về mài nhọn con dao sắc

Thọc huyết chồng em nấu cháo ḷng





"Tuyệt Vọng"

-----------------------------------------------

Nếu biết rằng em đă lấy chồng

Anh về tự tử thế là xong

Mộ anh cỏ dại vàng xơ xác

Khi viếng th́ em hiểu nỗi ḷng





"Tị Nạn"

-----------------------------------------------

Nếu biết rằng em đă lấy chồng

Anh về le gót tận biển đông

Lên tàu vượt biển đi qua ... Mỹ

Xa mặt mong sao sẽ cách ḷng



"Kiếm sĩ"

-----------------------------------------------

Nếu biết rằng em đă lấy chồng

Anh về luyện kiếm thế là xong

Kiếm anh sắc bén hơn em nghĩ

Sẽ dzớt trăm em, trả hận ḷng !



"Samurai"

-----------------------------------------------

Nếu biết rằng em đă lấy chồng

Anh về cắt dế thả trôi sông

Dế anh trôi nổi theo gịng nước

Em đứng nh́n theo có tiếc không ?



"Xúi Dại"

-----------------------------------------------

Nếu biết rằng em đă lấy chồng

Anh về cạo trọc thế là xong

Trao em mớ tóc làm dây tóc

Để tối hôm nay riết cổ chồng



"Thi Sĩ"

-----------------------------------------------

Nếu biết rằng em đă lấy chồng

Anh đau anh khổ suốt ngàn đông

Chắc anh phải làm thơ t́nh ái

Để cho đau khổ khỏi chất chồng





"Dối ḷng"

-----------------------------------------------

Nếu biết rằng em đă lấy chồng

Ḷng thề không nhớ kẻ sang sông

Nhưng rồi những lối trong tim nhỏ

Vẫn t́m ngả ngách để ngóng trông



"Thời đại văn minh điện tính"

-----------------------------------------------

Nếu biết rằng em đă lấy chồng

Anh về tưởng tượng đại là không

E-mail cứ viết, phone cứ gọi

Cứ thế mà theo chẳng ngại ngùng



hay là:



Nếu biết rằng em đă lấy chồng

Dại ǵ mà nghĩ "thế là xong !"

E-mail cứ viết, phone cứ gọi

Cũng có ngày em .. ly dị chồng



"Họa Sĩ Vincent Van Gogh"

-----------------------------------------------

Nếu biết rằng em đă lấy chồng

Đi về tự thiến thế là xong

Móc ruột móc gan trao em hết

Để ngày Vu Quy nấu cháo ḷng



"Bất cần"

-----------------------------------------------

Nếu biết rằng em đă lấy chồng

Anh về thay nệm lẫn chăn bông

Phủi sạch hương xưa, vùi kỷ niệm

Chẳng vấn, chẳng vương, chẳng nặng ḷng



"Lạc quan"

-----------------------------------------------

Nếu biết rằng em đă lấy chồng

Anh về giặt nệm chải chăn bông

Sửa lại song thưa rèm buông lơng

Mở tiệc đêm đêm tuyển ngựa hồng



"Cố đấm..."

-----------------------------------------------

Nếu biết rằng em đă lấy chồng

Anh men suối vắng kiếm chùm bông

Kết bó hoa tươi làm lưu niệm

Lén tặng cho em, lúc vắng chồng



"Trăm năm trồng người..."

----------------------------------------- ------

Nếu biết rằng em đă có dù (chồng)

Anh d́a cưới vợ đếch thèm tu

Mai này khi có con trai lớn

Xúi lấy con em để trả thù


hay là:



Nếu biết rằng em đă lấy chồng

Anh dźa cưới dzợ, trỏ núi sông:

"Mai này khi có con trai lớn

Xúi "dzớt" con em rửa hận ḷng !"



"Tẩy trần"

-----------------------------------------------

Nếu biết rằng em đă lấy chồng

Anh về tắm gội với xà-bông

T́nh thương ngày cũ bay đi mất

Để kẻ sang ngang khỏi chạnh ḷng



"Vũ Phu"

-----------------------------------------------

Nếu biết rằng em đă lấy chồng

Anh về ẩn núp ven bờ sông

Đợi em qua đ̣ sang bên ấy

Cầm dao chém đầu cho bơ công



"Tam Tạng..."

-----------------------------------------------

Nếu biết rằng em đă lấy chồng

Anh về tâu với Tôn Ngộ Không

Rằng em ích kỷ yêu giàu có

Mà bỏ mặc anh sầu nỗi ḷng



"Sầu đông"

-----------------------------------------------

Nếu biết rằng em đă lấy chồng

Ta về làm bạn với sầu đông

Cay đắng chôn vùi trong bầu rượu

Ngây cười nh́n nhân thế long đong



"Hài ḷng"

-----------------------------------------------

Nếu biết rằng em đă lấy chồng

Sao ta c̣n thấp thoáng niềm mong

Lần chót mơ về ta em khóc

Trăm năm không thẹn một nỗi ḷng



"Cu Tí"

-----------------------------------------------

Nếu biết rằng bé đă lấy chồng

Cu Tí về vớt cá ḷng tong

Nấu nồi canh thơm tựa: "khắc chồng"

Thêm hành thêm tỏi thỏa tấm ḷng ...



hay là:



Nếu biết rằng bé đă lấy chồng

Cu Tí xách vợt vớt ḷng tong

Canh chua đậu bắp h́ hục nấu

Thêm hành thêm tỏi đớp thoả ḷng !



"Que sera"

-----------------------------------------------

Nếu biết rằng em đă lấy chồng

Lập đền khai miếu cúng hồn vong

Khấn vái thập phương tam thế cơi

Chỉ mong cho em sớm goá chồng



"Hy vọng"

-----------------------------------------------

Nếu biết rằng em đă lấy chồng

Nè, đừng tưởng thế nghĩa là xong

Nay thời hai cưới ly dị một

Năm chục phần trăm cơ hội hồng



"Sở Khanh"

-----------------------------------------------

Nếu biết rằng em sẽ lấy chồng

Anh về vớt em bụng cho xong

Chơi tṛ đểu cáng th́ không lỗ

Em chẳng bỏ anh anh cũng dông



"Yếm thế"

-----------------------------------------------

Nếu b iết rằng em đă lấy chồng

Anh về anh cắt ... thế cho xong

Cuộc đời nay chẳng c̣n em nữa

Th́ có làm chi cũng như không !



"Đệ tử Phim Hồng Kông 1"

-----------------------------------------------

Nếu biết rằng em đă lấy chồng

Anh buồn anh nhớ đến .. Hồng Kông

Một lần tới đó, giờ c̣n nhớ

Huệ Mẫn kia ơi, vẫn chưa chồng



"Đệ tử Phim Hồng Kông 2"

-----------------------------------------------

Nếu biết rằng em đă lấy chồng

Anh về vượt biển tới Hồng Kông

Cưới cô ca sĩ Châu Huệ Mẫn

Em ở quê nhà, tức cành hông !



hay là:



Nếu biết rằng em đă lấy chồng

Anh buồn anh mới nói lông bông

Nói đến trời đông cua Huệ Mẫn

Sau đó anh về cưới Cô Long ! (Trần Ngọc Liên)



"Thoát nợ"

-----------------------------------------------

Nếu biết rằng em đă lấy chồng

Anh mừng anh nhảy giống trúng phong

Từ nay không ai .. bẹo tai nữa

Thiệt mừng, mừng lắm, biết hay không ?



hay là:



Nếu biết rằng em đă lấy chồng

Anh mừng biết mấy, biết hay không ?

Ba năm quen biết ... ba năm mệt

T́nh ǵ cứ khổ mấy năm ḍng



"Thản nhiên"

-----------------------------------------------

Nếu biết rằng em đă lấy chồng

Anh về may áo thế là xong

Xúng xính bộ mới đi dự tiệc

Quen đại một cô để đỡ ḷng ...



"Ṣng phẳng"

-----------------------------------------------

Nếu biết rằng em đă lấy chồng

Mỗi ngày trước ngơ để mà trông

Xoè tay đ̣i nợ "bồi thường chớ

T́nh tui chia xẻ chẳng cho không !" ...



"Hóa học gia"

---------- -------------------------------------

Nếu biết rằng em đă lấy chồng

Lo soạn đồ nghề chẳng ngồi không

Đứng trước nhà em anh la lớn

"Tui tạt acide chớ đừng ḥng !" ...



"Tài xế xe hàng"

-----------------------------------------------

Nếu biết rằng em lấy chồng

Anh ngồi ôm hận chỉ thầm mong

"Xe cán phanh thây thằng chết dở"

Để khỏi ngứa mắt hay phiền ḷng ...



"Thật thà"

-----------------------------------------------

Nếu biết rằng em đă lấy chồng

Không buồn không trách với em đâu

Về anh .. mở tiệc mời anh ấy

Đă lănh giùm anh một đống phiền .....



hay là:



Nếu biết rằng em đă lấy chồng

Không buồn, không trách, chỉ ước mong

Đăi được chồng em .. nhậu một bữa

Để cảm ơn chàng .. lănh dùm gông !





" Thầy đồ"

-----------------------------------------------

Nếu biết rằng em đă lấy chồng,

Anh thề kinh sử "nấu" cho xong.

Mai này danh rạng, tên đề bảng,

Lỡ làng, em tiếc đă sang sông ...



"Nhà binh"

-----------------------------------------------

Nếu biết rằng em đă lấy chồng,

Anh vào quân dịch cứu non sông.

Phá giặc, công thành, anh trở lại

Hiểu ḷng chinh tướng, có buồn không ?



"Đệ tử đạo Phật"

-----------------------------------------------

Nếu biết rằng em đă lấy chồng,

"Hữu duyên, vô phận" thế là xong.

Trăm năm, biết có c̣n thương măi ?

Sáu trần, năm uẩn cũng là "không" ...



"Đệ tử đạo Lăo"

-----------------------------------------------

Nếu biết rằng em đă lấy chồng,

"Thế thời phải thế" chẳng cầu mong .

Mong rằng em trọn đường gia thất,

Anh tường lẽ Đạo, vẫn thong dong ...



"Lịch sự"

-----------------------------------------------

Nếu biết rằng em đă lấy chồng,

Ḷng thành, anh chúc kẻ sang sông.

Trăm năm duyên đẹp bên người mới,

Cháu hiền, con thảo đúng như lọng





"Chim sợ cành cong"

-----------------------------------------------

Nếu biết rằng em đă lấy chồng

Anh về mở tiệc, đốt pháo bông

Phen này anh quyết không "dại" nữa

Chả dám đeo thêm "chướng quần hồng" !



"Cải tử"

-----------------------------------------------

"Nếu biết rằng em đă lấy chồng"

Xời ơi ! Em chớ nghĩ viễn vông

Mà rằng: "anh có buồn không hở ?"

Ở đó mà ham ! Thứ "sát chồng" !!!



"Có-c̣n-hơn-không"

------------------ -----------------------------

Nếu biết rằng em đă lấy chồng

Lang thang đi kiếm lá diêu bông

Chờ khi con gái em khôn lớn

Tán tỉnh con em .. mới mát ḷng



"Râu quặp"

-----------------------------------------------

Nếu biết rằng em đă lấy chồng

Giời ơi ! Mừng lắm bạn biết không ?

Vẫy chào cấu xé, chào rủa xả

Thoải mái đi rông, chả phập phồng



"Thân trai 12 bến nước"

-----------------------------------------------

Nếu biết rằng em đă lấy chồng

Anh về bày cỗ cúng Táo Công

Thuyền nay thoát khỏi vùng bến đục

Nguyện ước bến sau phải thật trong !



"5 thê - 7 thiếp"

-----------------------------------------------

Nếu biết rằng em đă lấy chồng

Trời ơi ! Buồn lắm, một pḥng không

Chắc đành đi tán thêm em khác

Kẻo uổng công xây Thập Nhị pḥng !



"Tiếc của, công cốc"

-----------------------------------------------

Nếu biết rằng em đă lấy chồng

Người ta tiếc chết ! Có biết không ?

Dă tràng xe cát, rành công cốc

Nuôi c̣ cho béo, chúng vặt lông !!!



"Thất t́nh"

-----------------------------------------------

Nếu biết rằng em đă lấy chồng

Anh về, trên lối cũ rêu phong

Em đi, băng giá vùi phiến mộng

Cả dải Ngân Hà, dải nhớ mong





Ca dao



Đàn ông miệng rộng th́ sang

Đàn bà miệng rộng... vẫn sang như thường



Đàn ông bụng bự th́ sang

Đàn bà bụng bự... mua than để dành .



Gặp thời cưỡi ngựa bắn cung

Hết thời xuống ngựa... lượm thun bắn ruồi .



Đèo cao mặc kệ đèo cao

Nhưng mà cao quá th́ ta chả trèo .



Đường xa mặc kệ đường xa

Nhưng mà xa quá th́ ta quay về .



Trời mưa mặc kệ trời mưa

Nhưng mà mưa quá th́ ta vô nhà .



Vợ la mặc kệ vợ la

Nhưng mà la quá th́ ta theo… bồ .



Trèo cao té đau ... trèo thấp té cũng đau



Trồng trầu th́ phải khai mương

Làm trai nhiều vợ biết thương vợ nào ?



Lên chùa thấy bụt muốn tu

Về nhà ngó vợ muốn " xù " em ngay !



Lấy chồng từ thuở mười ba

Đến năm mư mười tám em ra bà già .



Trên đồng cạn dưới đồng sâu

Chồng cày , vợ ở nhà lầu ngồi chơi !



Hửu duyên thiên lư năng tương ngộ

Vô duyên đối diện cự om ṣm .



Hữu duyên thiên lư năng tương ngộ

Vô duyên đối diện thấy thương liền !





Nhà sạch th́ mát

Bát sạch tốn xà bong .



Một người lên " net "

Cả nhà kẹt " phone ."

hoangthymaithao
11-05-2009, 03:18 AM
CA-DAO VIỆT-NAM, VĂN-HÓA NHÂN-BẢN


"Một cây làm chẳng nên non,
Ba cây chụm lại nên ḥn núi cao."

Đạo-lư Việt-Nam, gọi là Việt Đạo, được truyền tụng từ thời thái-cổ đến nay bằng ca-dao, tục-ngữ và Kinh-Việt với những truyện dân-gian mà người ta c̣n gọi là Sử-thi hay Sử-ngôn. Ngày nay, muốn hiểu cho tường-tận những ca-dao tục ngữ đó, ta cần suy-luận theo người thái-cổ với những âm điệu và ngôn-ngữ xưa nay kèm những h́nh tượng xưa. Một trong những h́nh-tượng xưa nhất nằm trong Kinh-Dịch, nói cho chính xác là Việt-Dịch.

[Việt Dịch với biểu tượng Âm Dương như sau:

* 1 khuyên-tṛn, nằm trên trục thẳng đứng, là Dương --------> O

* 2 khuyên-tṛn, đối-xứng qua trục-Dương, là Âm --------> -------0--------0---

Trễ hơn về sau, người Hán Mông (vốn là dân du-mục) đánh chiếm lấy "Trung-Nguyên"(là lănh thổ vùng Động Đ́nh Hồ và phía nam sông Dương-Tử sau này) rồi nhận vơ độc quyền nền văn-minh Dịch-Lư Nông-Nghiệp của Tộc Bách-Việt (Chinese Mithology of Anthony Christie/ Library of the World’s Myths and Legends, page 5; họ cũng đă thiêu hủy Liên-Sơn Dịch và Quy-Tàng Dịch thuộc thời Hạ, Thương, Ân (các nhà Dịch Học như Thiệu Vĩ Hoa/ḍng dơi Thiệu Khang Tiết; Lê Văn Quán . . . đều cho biết hiện những sách này không c̣n) sau khi đă đúc kết lại và sửa đổi biểu tượng Âm Dương thành "vạch-liền" và "vạch-đứt" (trong khi vẫn dựa trên Hà-Đồ và Lạc-Thư với những "nút kết-thằng", tác-phẩm của Ṇi Việt () rồi gọi là Chu-Dịch (mà đành phải bỏ quên trục không-gian; mặc dầu như về cách cấu-tạo chữ viết, người Trung-Hoa luôn nói đến "ngang bằng, sổ ngay" như một câu thiệu nằm ḷng. Sự thực là v́ do "tiến-bộ" của dụng-cụ dùng để viết, họ không thể khoanh tṛn nhỏ được nữa; vả lại khi điểm các chấm rời liền nhau th́ chúng lại bị nối liền với nhau / Chinese Character by Dr. L. Wieger and Davrout)].

Muốn giải thích cho rốt ráo những Sử-ngôn xưa, ta không thể dùng biểu-hiệu Âm Dương của Chu Dịch sinh sau đẻ mụôn được, mà phải xử-dụng đến kư-hiệu Âm Dương là những "khuyên tṛn"(đă xuất-hiện rất sớm trên Hà-Đồ và Lạc-Thư, và trên trống-Đồng Lạc-Việt về sau) của Việt Dịch (đầu tiên chỉ là những "chấm" tạo-h́nh, trên 2 lần 9 ô vuông của 2 Đồng-Bánh-Chưng-lớn 4 lạt kết lại, để hoàn-tất 36 quân Tṛ-chơi KIANO công-bố năm 1993) như trong trường-hợp câu ca-dao:

"Một cây làm chẳng nên non,
Ba cây chụm lại nên ḥn núi cao."

Trong câu ca-dao này, NON và NÚI là tiếng Việt, chúng có cùng nghĩa nhưng chữ th́ khác; chữ Nôm gọi là SƠN, chữ Hán gọi là CẤN. Theo Việt Dịch:

* CÂY được khoác Tượng LÔI (Chấn) có h́nh như 1 gốc mọc lên 2 cành, hoặc h́nh 2 luồng điện xẹt nhau gây ra

* NÚI NON được khoác Tượng SƠN (Cấn) như h́nh ngôi nhà hay hang động, lànơi Người trú ngụ vào thời tiền-sử.

Xem thế, ta thấy 2 h́nh của LÔI và SƠN là h́nh lật úp (quay 180 độ) của nhau theo trục dọc: Một đằng giống h́nh cái bát úp xấp, một đằng giống h́nh cái bát lật ngửa. Cũng chính v́ vậy, Tổ-Tiên ta đă để hai h́nh đó kề nhau mà ví von, mà so-sánh v́ khi lật ngược lên th́ "CÂY chẳng khác ǵ NÚI" (nhưng Chấn và Cấn lại là 2 h́nh nghịch nhau). Đây mới chính là cái thú-vị của Việt Dịch trong văn-chương chữ nghĩa.

[Chúng tôi xin mở ngoặc ở đây để nói rằng, một khi nh́n Tượng LÔI / SƠN qua Việt Dịch như nói trên, chúng ta nhận ra rơ ràng đó là h́nh vẽ "cái chầy" để giă; trong khi đáng buồn cho các tác-giả người Đức và Mỹ, họ đă không dám vẽ "cái chầy / PESTLE” để dăn-chứng kèm với quẻ Tượng TIỂU QUÁ theo Chu Dịch trong đề mục “History of Civilization” (đương nhiên là viết theo lời các Đại Dịch-Sư người Hán)/ Sách The I CHING or Book of Changes của Wilhelm/Baynes, Princeton University Press , seventh printing 1971, trang 334].

H́nh ảnh đối chứng của CÂY và NÚI cũng đă được các nhà Dịch-Học, tiền bối của chúng ta xử-dụng trong bài thơ sau đây:

Bắc Nam đâu cũng một non sông,

Đi, ở can chi phải bận ḷng. - - 0 - - - - - 0- -

Vận nước hăy c̣n đang Kiển, Bĩ, - - 0 - - - - - 0 - -

Làm trai chi sá ngại lao-lung. O

Gió mưa mấy độ cây không chuyển, O

Sấm sét nhiều phen núi chẳng rung. - -0- - - - - -0- -

Việc trải qua rồi, rồi mới biết, - -0- - - - - -0- -

Non sông muốn thử khách anh-hùng.

Bài thơ này do cụ Phan-Chu-Trinh làm (năm 1908, khí các cụ Vơ Hữu Kiên, Trần Cao Vân, Huỳnh Thúc Kháng, Nguyễn Tiểu La và Phan Chu Trinh đang cùng mgồi tù ở nhà lao Quảng-Nam, th́ các cụ Huỳnh, cụ Phan, cụ Nguyễn phải lên đường trước v́ bị đầy đi tù chung-thân tại Côn-Đảo) để nói lên tâm-sự của kẻ ở người đi. Trong bài, “gió mưa”, “sấm sét” được ví với những tra-tấn, khủng-bố của thực-dân Pháp và tay-sai; c̣n "cây" và "núi" được ví như chí-khí của các Cụ với một ḷng v́ Nước thương Ṇi, không thể bị lay chuyển.

Trong ca-dao và thơ, CÂY và NÚI được đối nhau về bằng trắc đă đành, 2 Tượng của chúng c̣n đối nhau chan chát v́ chúng là h́nh lật ngửa của nhau nữa (một đằng là “bát úp”, một đằng là "bát ngửa"), mà chúng ta đă thấy rơ qua biểu-tượng bằng Việt Dịch như ở trên.

Ta hiểu và thấy rơ ràng NÚI có khối chóp đặc 3 chiều; về CÂY th́ khi nh́n phần phía ngọn, ta cũng thấy có h́nh NÚI, vậy th́ làm ǵ có “đối” thật sự! Tiền nhân đă muốn ta nh́n thấy "đối qua Dịch Tượng".

Thường khi nói đến “cây” là người ta muốn nói đến chiều cao (bởi v́ nói đến cây là nói đến “trèo", "trèo cao té nặng" v.v.) Đơn-giản-hóa đi, cây được vẽ bằng 1 đoạn thẳng đứng, có cành và tàn lá như chóp núi (cây thông là loại cây chịu rét rất giỏi là một thí-dụ) (h..

Để suy b́ với NÚI, Tổ-Tiên ta đă nghĩ đến chuyện chụm ngọn 3 cây lại với nhau

(ngọn giao nhau và gốc choăi ra ở 3 hướng) hầu tạo được một h́nh khối tam-giác 3 chiều rất khó bị lật chuyển, tương-tự như núi (h.2).

Khi so sánh CÂY với NÚI th́ đúng là các Cụ đứng ở gần cây, và núi th́ ở xa xa, hướng sau cây. Cây gần hơn nên ta thấy cây cao hơn núi, lớn hơn núi (chẳng khác nào khi ta đưa ngón tay chỉ mặt-trăng, di chuyển ngón tay càng gần mắt hơn th́ có lúc thấy "ngón tay ta lớn hơn mặt Trăng vậy" vậy. Phải nói là phương-pháp nhận-xét tỉ-giảo của Tổ-Tiên ta vào thời xua cũng đă tinh-tế lắm! mà v́ chưa có chữ viết nên chỉ truyền-khẩu lại.

Nh́n h́nh 2 và 3 ta thấy: Khi để 3 cây chụm lại với nhau, ta tạo được môt h́nh trái núi. Lúc cây ở gần, núi ở xa th́ núi chẳng khác nào như một "ḥn"(ḥn non bộ) mà thôi. Chắc hẳn thời-gian xuất-hiện câu ca-dao này là thời-gian Tổ-Tiên ta biết dùng Tượng của Việt Dịch, và vào lúc đó mới chỉ có Việt Dịch thôi (Thời-gian hoàn-thành Việt Dịch phải là thời-gian ngay sau khi 2 bảng Hà-Đồ và Lạc-Thư xuất-hiện, với những chấm-tṛn đen và trắng). Hồi đó các Ngài sống ở vùng Trung-nguyên nông-nghiệp, chỉ có đồi mà không có núi, khong như dân du-mục Hán Mông sống trên vùng cao-nguyên có núi cao và chuyên nghề săn bắn. Phải chăng câu ca-dao là một bài học đơn-giản nhưng chính yếu, nói lên nét giáo-dục từ thời Hùng-Vương dựng nước; cũng là sự chống-đối giữa văn-minh nông-nghiệp và nhóm người sống bằng du-mục săn bắn.

Thực sự khi truyền-tụng câu ca-dao này, Tổ-Tiên ta muốn nói nhiều về nghĩa bóng của nó, chẳng khác nào câu hát "Đèo cao th́ mặc đèo cao, ḷng ta quyết-chí c̣n cao hơn đèo!" hoặc "Đường đi khó, không khó v́ ngăn sông cách núi, mà khó v́ ḷng người ngại núi e sông!"v . v . Hầu hết là những câu ca-dao tục-ngữ nhằm đề cao những giá-trị Nhân-Bản Việt Nam, đầy tính giáo-dục cao-cả, nhắc-nhở con cháu đoàn-kết vượt khó-khăn. Ba cây “chụm” lại mới có h́nh quả núi , chớ 3 cây nối lại th́ tuyệt-nhiên không phải. Ba cây chụm lại là một biểu-tượng "vững như núi", nhất là khi 3 ngọn cây lại được cột lại với nhau. Ta c̣n thấy 3 cây chụm lại (cây dễ kiếm và rẻ tiền nhất là cây tre) như giàn treo gầu ṣng, tát nước từ vũng thấp lên ruộng cao ở những miền quê thuộc Văn-Lang Bách-Việt xưa.

Chỉ với Tượng của Việt Dịch, chúng ta mới t́m thấy những h́nh ảnh đích-thực diễn-tả được đầy-đủ lư nghĩa của Văn-Hóa Dân-Tộc. Thế mới biết, muốn hiểu rơ di-sản Văn-Hóa của Tổ-Tiên mà ta từng nghe nói "năm ngàn năm văn-hiến”, ít nhất chúng ta phải có tấm-ḷng Việt và tâm-tư Việt trước đă; Tâm-tư Việt dầy đặc trong Việt Dịch và Việt Đạo. Không như những kẻ “cá-nhân chủ nghĩa”, may mắn được sống tạm ổn để “nuôi thân” (làm nô-tài) là đă vội thỏa-măn, không biết rằng đa số đồng-bào ta vẫn c̣n bị khinh chê (mà ngay ḿnh cũng vậy) nên ta vẫn rất cần quảng-bá Văn-Hóa Việt Nam với các cộng-đồng bạn để cùng tôn-trọng nhau. Khi người Việt-Nam được tôn-trọng chung như vậy, sự làm việc của chúng ta mới được chú-ư và do đó dễ đem lại hiệu-quả hơn. Lại có kẻ, v́ cá-nhân ḿnh tạm thất-bại, đă bất-măn với tiền-nhân, để buông lời rẻ rúng những biểu-tượng văn-hóa cố-hữu, như Chùa-Một-Cột chẳng hạn; có kẻ viết "Không thể cứu dù có là Thánh. . . ." (lại nêu hẳn tên riêng ra), mới đáng trách. Kẻ khác, tự nhận ḿnh là "văn sĩ”, lại trắng trợn sủa đổi cả những sự-tích thần-kỳ làm nên lịch-sử hào-hùng của Dân-Tộc; họ đă không hiểu nổi Gậy-Thần 9 đốt có 2 đầu Sinh Tử (một bộ mặt mới của “cửu cung bát-quái” mà có lẽ họ quen thấy nhưng không nhận ra được) lại bịa ra là Gậy-Thần 3 đốt .v .v . Thậm-chí có ngừơi, đă không hiểu nổi những nhân-thoại trong Cổ-Sử lại dám đề-nghị lấy Việt-lịch từ khi có Thành Cổ-Loa thôi; họ không hiểu ǵ về ẩn-dụ "Thần Kim Qui" cả. Để đến nỗi có kẻ muối mặt viết “Tổ-Quốc Ăn-năn”; họ chẳng hiểu ǵ hai chữ Tổ-Quốc, họ cho rằng là L’état (tiếng Pháp) hay Government (tiếng Mỹ) chăng? ( Chỉ những “Đại Trượng Phu” mới biết coi nhẹ ḿnh, mở lối cho đại khối đồng-bào, đại đa-số trầm lặng nơi đáy-tầng Dân-Tộc vẫn bị thế-giới hiểu lầm. Có những nước cho rằng dân ta là dân Tầu, nước ta là một quận huyện của Tầu, Văn-hóa ta là vay mượn của Tầu .v . v . Những dân-tộc khác đó đâu biết rằng chỉ duy-nhất dân Việt ta thờ cúng Tổ-Tiên bằng Đồng Bánh-Chưng-lớn buộc bằng 4 lạt, (9 ô vuông/ Magic Square 3) và Cây Mía (dựng cạnh bàn-thờ) tượng-trưng Gậy-Thần 9 đốt (mà người b́nh-dân, ngay cả tại Bùi-Chu Phát-Diệm tỉnh Nam-Định, thường gọi là "Gậy Ông-Vải").

Để tạm kết-thúc, chúng tôi xin nhắc lời của một nhà giáo-dục, cũng là nhà nghiên-cứu Trống-Đồng Lạc-Việt, Giáo-Sư Tiến-Sĩ Dương–Thiệu-Tống: "Hăy nên có một tâm-tư Việt khi nói về Văn-Hóa Việt", bởi v́ Văn-Hóa Việt là Văn-Hóa Nhân-Bản.

Nguyên-Thái Nguyễn Văn-Thắng
Who’s Who of American Inventors
Viện KIANO Văn-Hóa Việt
3/ 1998, Việt lịch 4877

( Vài điều cập-nhật-hóa vào năm 2001.

annthuong
11-05-2009, 08:01 PM
Cám ơn chị Thảo với những bài sưu tầm hay !

ThienQuang
11-07-2009, 09:57 AM
"C'est la vie":

-----------------------------------------------



Nếu biết rằng em đă lấy chồng

Anh về lấy vợ thế la xong

Vợ anh không đẹp bằng em lắm

Nhưng đẹp hơn em cái tấm ḷng
Nếu biết rằng em đă lấy chồng,

Ḷng thề không nhớ kẻ sang sông

Cầu nguyện thay cho đưa nào dại

Nạp ḿnh cho Sư Tử Hà Đông!:dzotle:

hoangthymaithao
11-17-2009, 03:27 AM
Đặc sản miền Trung qua ca dao - tục ngữ

(Bài sưu tầm)
Nguồn: Đặc Trưng

Dải đất duyên hải miền Trung nhỏ hẹp chạy dài từ Thanh Hóa đến B́nh Thuận. Mỗi địa phương đều có phong tục tập quán, thổ săn khác nhau và miếng ngon vật lạ chẳng bao giờ thiếu vắng. Bởi vậy, nhiều đặc sản từng vùng, từ món ăn b́nh dân cho đến các loại sơn hào hải vị được khách sành ăn chọn lựa, phẩm b́nh. Nhiều đặc sản đă nổi tiếng từ ngàn xưa và đă đi vào văn học dân gian.

Nhân dịp Xuân về, Tết đến xin mượn mấy ḍng ca dao, tục ngữ để giới thiệu cùng bạn đọc bốn phương các loại đặc sản của miền Trung đă được ông bà ta chọn lựa và truyền tụng qua nhiều thế hệ :

Ở Thanh Hóa có:

Hà Trung mạch phạn
Ngự lĩnh kê thang (Huế)

(Cơm nếp Hà Trung
Cháo gà núi Ngự)

http://images.gdc.vn/Lenduong.vn/Uploads/LibraryImages/2009/5/6/dac_san1.jpg
Hoặc ở Nghệ An xưa nay nổi tiếng với:

Cam xă Đoài
Xoài B́nh Định

Hay:

Ra đi anh nhớ Nghệ An,
Nhớ Thanh Chương ngon nhút, nhớ Nam đàn thơm tương.

"Nhút Thanh Chương, tương Nam Đàn" đă gợi nhớ biết bao kẻ tha hương.

Ở vùng đầu nguồn Lam Giang, c̣n có những đặc sản của vùng cao như :

Tiếng đồn cá mát sông Găng,
Dẻo thơm ba lá, ngon măng chợ Cồn.


http://images.gdc.vn/Lenduong.vn/Uploads/LibraryImages/2009/5/6/dac_san2.jpg
Vô đến Quảng B́nh th́ có các loại sơn hào hải vị, là những món "thượng thừa" trong khoa ẩm thực.

Yến sào Vinh Sơn
Cửu khổng cửa Ṛn
Nam sâm Bố Trạch
Cua gạch Quảng Khê

Ṣ nghêu quán Hàn...
Rượu dâu Thuận Lư...


http://images.gdc.vn/Lenduong.vn/Uploads/LibraryImages/2009/5/6/dac_san3.jpg

Đến Thừa Thiên - Huế, sẽ được dịp thưởng thức các loại trái cây ngọt ngào, thơm ngon:

Quưt giấy Hương Cần
Cam đường Mỹ Lợi
Vải trắng cung diên

Nhăn lồng phụng tiêu
Đào tiên Thế miếu
Thanh trà Nguyệt biếu
Dâu da làng truồi
Hạt sen hồ Trịnh...

Khi táo xứ Quảng th́ được dịp thưởng thức tiếp các món:

Nem chả Hóa Vang
Bánh tổ Hội An
Khoai lang Trà Kiệu
Thơm rượu Tam kỳ...

ở thượng nguồn Quảng Nam - Đà Nẵng c̣n có:

Quế sơn cam mít mấy từng
Thương ḅn bon Đại lộc, nhớ rượu cần Trà mi

Trái ḅn bon hay c̣n gọi là trái Nam trân rất quư hiếm, ngày xưa thuộc loại "tiến kinh", nay th́ được nhắc nhở qua câu ḥ tâm t́nh mà ư nhị:

Trái ḅn bon trong tṛn ngoài méo
Trái sầu đâu trong héo ngoài tươi
Em thương anh ít nói ít cười
Ôm duyên ngồi đợi chín mười con trăng...


http://images.gdc.vn/Lenduong.vn/Uploads/LibraryImages/2009/5/6/dac_san4.jpg

Trong khi cô nàng ôm duyên ngồi đợi th́ các bạn đă lặn lội vào đất Quảng Ngăi nổi tiếng với món "don", ngon nhất là "don Vạn Tượng"

Cô gái làng Son,
Không bằng tô don Vạn tượng!

Và, một đặc sản của vùng sông nước không thể bỏ qua, đó là "cá bống" sông Trà Khúc.

Em đi em nhớ quê nhà,
Nhớ con cá bống sông Trà kho tiêu

C̣n món ngọt nổi tiếng thời có:

Mứt gừng Đức Phổ
Bánh nổ Nghĩa Hành
Đậu xanh Sơn Tịnh


http://images.gdc.vn/Lenduong.vn/Uploads/LibraryImages/2009/5/6/dac_san5.jpg

Nói chung, xứ Quảng nổi tiếng là đất mía đường, các bạn sẽ được người đẹp ở đây mới đón hết sức ngọt ngào như mật:

Ai về Quảng Ngăi quê ta,
Mía ngon đường ngọt trắng ngà dễ ăn
Mạch nha, đường phổi, đường phèn
Kẹo gương thơm ngọt ăn quen lại ghiền

Đến B́nh Định, quê hương miền đất vơ, th́ có:

Gỏi chính Châu Trúc
Bánh tráng Tam quan
Nón lá G̣ Găng
Nem chua chợ huyện


http://images.gdc.vn/Lenduong.vn/Uploads/LibraryImages/2009/5/6/dac_san6.jpg

Và thêm món chả cá Đề gi được mọi người ca tụng:

Ai về qua cửa Đề gi,
Nghe mùi chả cá chân đi không đành

B́nh Định c̣n là quê hương của xứ dừạ Dừa Tam quan mọc như rừng, với câu ca truyền tụng từ bao đời naỵ

Công đêm công uổng công thừa
Công đâu gánh nước tưới dừa Tam quan

Từ xưa, B́nh Định là xứ lắm cá mắm.

Nước mắm ngon th́ không đâu bằng:

G̣ Bồi có nước mắm thơm
Ai đi cũng nhớ cá tôm G̣ Bồi

Nhiều nhất là cá chuồn, phải nhắn nhủ người vùng cao Tây Nguyên - nơi có nhiều măng le ngon - đem về miền biển để trao đổi, mua bán:

Ai về nhắn với nẫu nguồn
Măng le gởi xuống, cá chuồn gửi lên

Từ B́nh Định vượt đèo Cù Mông vào đất Phú Yên - nơi nổi tiếng có xoài ngon Đá Trắng - được nhắc nhở qua câu:

Xoài Đá Trắng
Sắn Phương lụa


http://images.gdc.vn/Lenduong.vn/Uploads/LibraryImages/2009/5/6/dac_san7.jpg

Phú Yên cũng là xứ mía đường, nhiều chẳng thua ǵ Quảng Ngăi - nhất là vùng La Hai, Đồng Ḅ.

Tiếng đồn chợ Xẩm nhiều khoai,
Đất đỏ nhiều bắp, La Hai nhiều đường.


http://images.gdc.vn/Lenduong.vn/Uploads/LibraryImages/2009/5/6/dac_san8.jpg

Nổi tiếng nhất phải kể đến ṣ huyết ở đầm Ô Loan, huyện Tuy An và cước cá Phú Câu ở thị xă Tuy Ḥa, đă được thi sĩ Tản Đà ca tụng:

"Phú câu cước cá, Ô Loan miếng hàn"

Vô Khánh Ḥa, nơi có nhiều di tích danh lam, phảng phất những nét kiến trúc của nền văn minh Chămpa, có thành phố Nha Trang thơ mộng .... cũng có lắm hải vị sơn hào, như:

Yến sào ḥn Nội
Vịt lội Ninh Ḥa
Tôm hùm B́nh ba (Cam Ranh)
Nai khô Thiên Khánh
Cá tràu Vơ Cạnh
Ṣ huyết Thủy triều (Cam Ranh)


http://images.gdc.vn/Lenduong.vn/Uploads/LibraryImages/2009/5/6/dac_san_9.jpg

Vào đến Phan Rí, Phan Thiết là quê hương của cá mắm ngon được cả nước truyền tụng. Nhờ cà mắm nhiều mà có lắm cuộc t́nh duyên mặn mà và dí dỏm:

Cô kia bới tóc cánh tiên
Ghe bầu đi cưới một thiên cá ṃi
Chẳng tin giở thử ra coi
Rau răm ở dưới cá ṃi ở trên...


http://images.gdc.vn/Lenduong.vn/Uploads/LibraryImages/2009/5/6/dac_san10.jpg

Đất đai miền Trung khô cằn, đồng bằng th́ nhỏ hẹp nhưng biển cả mênh mông, núi rừng trùng điệp, có lắm miếng ngon vật lạ, sản vật khắp miền .....

# posted by Hà Phương Hoài VB

hoangthymaithao
11-20-2009, 02:29 AM
Originally posted by Hoang Thy Mai Thao


http://i36.tinypic.com/688qa9.jpg

Quê em BIỂN MẶN dừa xanh

http://i278.photobucket.com/albums/kk112/thythy_2008/rngdaimng3-byVoi.jpg




Originally posted by haphuonghoai

Đây là bài


Xứ Dừa Qua Ca Dao


Không ồn ào, náo nhiệt như Sài G̣n phồn hoa, chẳng uy nghiêm, cổ kính như đường phố Hà Thành, Bến Tre từ bao đời nay vẫn thủy chung với màu xanh lặng lẽ của dừa, của mạ non và của cây trái.

Đất ở đây màu mỡ cho cây lành trái ngọt. Người ở đây mến khách, hiền ḥa. Hăy nghe ông bà già xưa ví von:

“Đất Bến Tre, phù sa bát ngát
Người Bến Tre chất phát, thật thà.”

Có người cho rằng Bến Tre là vùng đất của những dăy cù lao cũng chẳng sai.

“Bến Tre ba dăy cù lao
Nghiêng nghiêng dáng đứng xuyến xao ḷng người”.

Bốn con sông lớn: Tiền Giang, Ba Lai, Hàm Luông, Cổ Chiên bao bọc, chia cắt xứ này thành ba phần: cù lao Minh, cù lao Bảo, cù lao An Hóa. Sông ở đây như người mẹ dang tay ôm lấy đất liền như con của ḿnh. Nước sông hết ṛng rồi lại lớn âm thầm mang phù sa về vun đắp cho xóm làng, đồng ruộng. Bên sông, những vườn cây trái sum sê soi ḿnh xuống gương nước mênh mông như muốn khoe sự trù phú của quê hương:
“ Xoài chua, cam ngọt Ba Lai
Bắp th́ Chợ Giữa, giồng khoai Mỹ Ḥa”.
Hay:

“ Sầu riêng, măng cụt Cái Mơn
Nghêu ṣ Cồn Lợi, thuốc ngon Mỏ Cày”.

Bến Tre được mệnh danh là xứ sở của những cây dừa:

“Thấy dừa th́ nhớ Bến Tre
Thấy bông sen nhớ đồng quê Tháp Mười”

Dừa ở đây bạt ngàn, xanh tốt, mang đến cho con người nhiều nguồn lợi. Từ cây dừa, người dân có thể sản xuất ra nhiều sản phẩm giá trị. Trái dừa để khô có thể xuất khẩu. Thân dừa lâu năm xẻ gỗ làm nhà. Gáo dừa là nguyên liệu sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ… C̣n một sản phẩm độc đáo từ dừa nữa đó là kẹo dừa. Bến Tre có nhiều nơi sản xuất kẹo dừa nhưng ngon nhất là kẹo Mỏ Cày ( nay mang thương hiệu kẹo dừa Bến Tre ). Ca dao có câu:

“ Bến Tre dừa ngọt, sông dài
Nơi chợ Mỏ Cày có kẹo nổi danh”.

Bến Tre giáp biển thuận lợi cho việc nuôi trồng đánh bắt thủy hải sản. Biển cung cấp nguồn thực phẩm dồi dào:
“B́nh Đại biển cá , sông tôm
Ba Tri ruộng muối, Giồng Trôm lúa vàng”.

Bến Tre đẹp mộc mạc, không phô trương. Con người ở đây b́nh dị trọn đời gắn bó với vườn tượt, ruộng đồng. Người Bến Tre hiện lên trong ca dao thật đẹp:

“Sông Ba Lai vừa dài vừa đẹp
Gái Bến Tre vừa đẹp vừa ngoan”.

.cắt bỏ đoạn cuối
Nguyễn Khương

Dừa Tam Quan qua ca dao tục ngữ
(Cập nhật 30/7/2009 lúc 8:34:19 PM)



B́nh Định có dừa Tam Quan nổi tiếng. Những hàng dừa râm mát, những cô gái ở đây da trắng nơn nà v́ không một giọt nắng nào vươn đến. Nhiều cô gái đẹp lạ lùng:

Tam Quan ít mít nhiều dừa
Nhiều cô gái đẹp mà chưa có chồng.

Và các cô cũng đa t́nh không kém, dám chấp nhận cả cho t́nh yêu:

Tam Quan ngọt nước dừa xiêm
Cha từ, mẹ bỏ vẫn t́m theo anh.

Dừa cho nhiều sản phẩm. Và những thi tứ cũng khởi nguồn từ đây:

Cạo dừa, đạp cám cho nhanh
Ép dầu mà chải tóc anh, tóc nàng.

hoangthymaithao
11-23-2009, 04:48 AM
Mỗi năm vào dịp xuân sang
Em về Triều Khúc xem làng hội xuân
Múa cờ, múa trống, múa lân
Nhớ ai trong hội có lần gọi em…



LỄ HỘI TRIỀU KHÚC

http://www.e-cadao.com/lehoi/bac/lehoitrieukhuc.jpg

Nằm tại km số 8, trên đoạn đường Hà Nội - Hoà B́nh, làng Triều Khúc c̣n có tên gọi là Kẻ Đơ, nay thuộc xă Tân Triều, huyện Thanh Tŕ, Hà Nội. Kẻ Đơ xưa vốn đă là một vùng quê nổi tiếng với nghề làm nón quai thao, v́ thế, làng c̣n được gọi là làng Đơ Thao. Ngoài quai thao, làng c̣n nổi tiếng bởi nghề thêu may những đồ thờ như: lọng, tàn, trướng, y môn, tán tía.
Tương truyền, nghề này do một người họ Vũ truyền dạy lại. Do có nghề thủ công nên từ xưa dân làng Triều Khúc đă sống tương đối phong lưu. Để nhớ ơn người đă đem lại cuộc sống ấm no cho ḿnh, dân làng đă thờ ông tổ nghề tại đ́nh Lớn cùng với vị Thành hoàng là Bố Cái Đại Vương Phùng Hưng (770 -798). Hằng năm, làng tổ chức lễ hội tại đ́nh Lớn để ghi nhớ công ơn tổ nghề và thao diễn lại trận đánh oanh liệt của vị Đại vương mà dân làng vẫn tôn kính phụng thờ.

Lễ hội Triều Khúc được tổ chức trong ba ngày từ 9 đến 12 tháng Giêng. Mở đầu là lễ rước long bào - triều phục của Hoàng đế Phùng Hưng từ đ́nh Sắc về đ́nh Lớn (Triều Khúc có hai đ́nh) để bắt đầu cuộc tế gọi là lễ “hoàn cung”. Khi cuộc tế lễ trong đ́nh bắt đầu th́ ngoài sân đ́nh các tṛ vui cũng được tổ chức, một trong những tṛ vui được nhiều người ưa thích nhất là tṛ “đĩ đánh bồng”. Đây là một điệu múa cổ do hai chàng trai đóng giả gái biểu diễn, trong bộ quần áo mớ ba mớ bẩy, cộng với hoá trang má phấn môi son, răng đen hạt huyền, mắt lá răm, khăn mỏ quạ, hai “cô gái” vừa nhún nhảy vừa vỗ trống Bồng đeo trước bụng một cách nhí nhảnh, nom rất vui mắt và cũng gây cười. Tiết mục này thường thu hút người dự hội nhiều nhất và cũng là tiết muc sinh động và độc đáo nhất trong lễ hội Triều Khúc.

Ngoài ra, trong hội làng Triều Khúc c̣n có nhiều tṛ vui khác như múa lân hí cầu, đấu vật, hát Chèo Tàu. Sới vật Triều Khúc cũng là một trong những sới nổi tiếng, thu hút khá đông các đô vật nơi khác về tham dự: Bắc Ninh, Gia Lâm, Mai động... Múa rồng trong hội Triều Khúc cũng có nhiều nét độc đáo, kỹ thuật điêu luyện. Tương truyền đây là điệu múa có từ thời Bố Cái Đại Vương. Do múa hay, múa đẹp như vậy nên hằng năm đội múa rồng Triều Khúc thường được mời về tham dự và múa rồng ở hội Đống Đa.

Ngày 12 là ngày ră hội. Trong ngày này có lễ ră đám, và kết thúc bằng điệu múa cờ (c̣n gọi là chạy cờ). Điệu múa phản ánh sự tích Phùng Hưng kén chọn người tài để bổ sung quân ngũ trước lúc lên đường quyết chiến với quân xâm lược. Khi mọi nghi lễ kết thúc, cũng là lúc mọi người cùng ngồi vào chiếu hưởng lộc thánh. Họ cùng nhau chia vui chén rượu, miếng trầu. Hội kết thúc trong niềm vui tươi phấn khởi và hy vọng của dân làng về một năm mùa màng bội thu, nghề nghiệp sẽ thịnh đạt, dân làng sẽ khoẻ mạnh hơn trước


# posted by HVLN & HPH / TV-VB

hoangthymaithao
11-25-2009, 01:29 AM
Ca Dao Trái Quỳnh Châu

Con chim quỳnh nhung ăn trái quỳnh châu,
Chàng đà phụ thiếp, thiếp đâu phụ chàng.
Không tới lui th́ ra chỗ từ nan,
Tới lui th́ sợ miệng thế gian chê cười.
Nguyện cùng nhau đất chín, trời mười,
Trăm năm không bỏ nghĩa người bạn ơi!



Trong Ca Dao có bài nầy nhưng đi t́m trên mạng mà không thấy trái Quỳnh Châu là trái ǵ. T́m Hoa Quỳnh Châu cũng chẳng thấy. Chắc Cô Hoàng Quỳnh Châu biết???

Kính thỉnh giáo chư vi.

Yêu Ca Dao / TV-VB



Trăm Năm không bỏ

Theo bài chim Quỳnh Châu cho ta thấy T́nh yêu trong ca dao sao nó trường kỳ đăng đẳng. Ngươi nào cũng thọ để chứng tỏ sự chung thủy của ḿnh. Đời người có bao lăm sống trăm tuổi à cùng thế mà chung thủy đến trăm năm th́ chắc chắn họ phải sống đến 120 tuổi! Ta hăy nghe:

Con chim quỳnh nhung ăn trái quỳnh châu,
Chàng đà phụ thiếp, thiếp đâu phụ chàng.
Không tới lui th́ ra chỗ từ nan,
Tới lui th́ sợ miệng thế gian chê cười.
Nguyện cùng nhau đất chín, trời mười,
Trăm năm không bỏ nghĩa người bạn ơi!
* Xuất xứ: - Miền Trung (Câu số 26561 )

Được vàng được bạc trên tay,
Em không mừng rỡ bằng nay gặp chàng.
Trèo lên khung cửi dệt hàng,
Cửi kêu lăng líu, dạ thương chàng líu lăng.
Lời nguyền dưới nước trên trăng
Trăm năm không bỏ đạo hằng cùng anh.
* Xuất xứ: - Miền Trung (Câu số 26672 )

Nguyện cùng nhau đất chín, trời mười
Trăm năm không bỏ nghĩa người cố tri.
* Xuất xứ: - Miền Trung (Câu số 26837 )

Thân em như áo mới may
Như cau bửa miếng bỏ trên khay trầu
Trăm năm không bỏ ngăi chàng đâu
V́ bà Nguyệt Lăo đă bắc cầu lương duyên
* Tục ăn trầu có ở hầu hết các nước Đông Nam Á; Xuất xứ: - Miền Trung (Câu số 27174)

Trăm năm không bỏ nghĩa chàng,
Quạt Tàu rách nát ngọc vàng con xinh.
Vải thưa nhuộm lấy mầu đen,
Trăm năm ḷng gắng dạ ghi.
Dầu ai đem bạc đổi ch́ cũng không,
Trăm năm chí quyết một chồng.
Dầu ai thêu phụng vẽ rồng mặc ai.
Dầu cho đá nát vàng phai,
Trăm năm duyên nợ chẳng phai chút nào.
* Xuất xứ: - Miền Nam (Câu số 26078 )

Trăm năm ḷng gắn dạ ghi,
Dầu ai đem bạc đổi ch́ cũng không.
Trăm năm chí quyết một chồng,
Dầu ai thêu phụng vẽ rồng mặc ai.
Dầu cho đá nát vàng phai,
Trăm năm duyên nợ chẳng sai chút nào.
Trăm năm không bỏ nghĩa chồng,
Vải thưa nhuộm lấy màu đen,
Vải thưa mặc vải mằu xinh khen màu.
Trăm năm tạc một chữ đồng,
Dầu ai thêu phụng vẽ rồng cũng không.
Trăm năm trăm tuổi trăm chồng,
Dầu ai thêu phụng vẽ rồng mặc ai.
* Xuất xứ: - Miền Nam (Câu số 26083 )

Trồng hường quên đậy, quên che
Tưởng đâu hường héo ai dè hường tươi
Trăm năm không bỏ nghĩa người
Chim kêu trên núi cá cười dưới sông
* Xuất xứ: - Miền Trung (Câu số 27301 )




Hà Phương Hoài / TV-VB

hoangthymaithao
11-30-2009, 02:00 PM
Người đẹp ca dao

Nhật Thịnh

Từ thuở hồng hoang lịch sử tới nay dù cho sự tiến hóa của con người đă từng bước tiến theo sự chinh phục không gian, xâm chiếm tới cả Cung Quảng, sự tôn thờ nhan sắc người phụ nữ vẫn là câu chuyện hàng đầu được đề cập tới. Điều này được biểu hiện rơ rệt trong văn chương b́nh dân. Và thực thế nếu thi ca vắng thiếu h́nh tượng này cũng khó khơi gợi con người, tất nhiên không thể đề cập tới loại thơ mang tính cách lư tưởng khác. Trong thi ca người ta thường gặp bóng dáng của giai nhân khi ẩn khi hiện diễn biến dưới mọi tâm trạng của con người muôn thuở đem lại cho họ những bóng mát của tâm hồn. Người ta cho dù được vuốt ve mơn trớn hay bị phũ phàng xô đảy, trong chiến tranh hay thanh b́nh, sắc đẹp củangười đàn bà thường có sức mạnh chi phối, không xa dời đời người.

Nhưng thế nào là một phụ nữ đẹp, điều này thiết nghĩ khó mà đưa ra một mẫu số chung của tiêu chuẩn, bởi thẩm mỹ quan mỗi người một khác nhau, vả chăng vẫn một mẫu người đó, xét ra có những điểm cần bổ khuyết, nhưng bởi lui tới nhau thường xuyên mà những dạng h́nh nọ đă biến đổi khác. Hơn nữa mỗi thời đại người ta nhận định khác nhau về định mức sắc đẹp, đó chưa nói tới bàn tay phẫu thuật của các nhà thẩm mỹ học tạo dựng nên. Nhưng dù xưa hay nay quan niệm người đàn bà đẹp, đương nhiên cả tinh thần lẫn thể xác, người ta dường như vẫn không sai khác quan niệm mấy:

Tốt gỗ hơn tốt nước sơn
Xấu người đẹp nết c̣n hơn đẹp người.

Tất nhiên xấu đây chỉ có tính cách tương đối thôi, không thể là những Chung Vô Diệm, nhưng người ta vẫn cho rằng người đẹp số kiếp thường gian truân, mong manh, và để an ủi những ai chẳng may rơi vào t́nh trạng hẩm hiu đó mà Đặng Trần Côn (1710 - 1750) đă viết trong Chinh Phụ Ngâm:

Thiên địa phong trần
Hồng nhan đa truân

Nữ sĩ Đoàn Thị Điểm (1705 - 1748) đă chuyển nôm tuyệt diệu tài t́nh, tưởng như nguyên tác không phải do chuyển ngữ nữa, và đă có dư luận lập luận không phải công của Đoàn Thị Điểm:

Thuở trời đất nổi cơn gió bụi
Khách má hồng nhiều nỗi truân chuyên

Nguyễn Du (1766 - 1820) trong Đoạn Trường Tân Thanh sáng tác sau khi đi sứ Trung Hoa trở về, chủ trương thuyết tài mệnh tương đố cũng cho rằng người đàn bà đẹp thường bị khổ đau bởi định mệnh:

Lạ ǵ bỉ sắc tư phong
Trời xanh quen thói má hồng đánh ghen

Người đàn bà nếu đă có nhan sắc mà lại tài giỏi th́ khó tránh khỏi bất hạnh mặt này mặt nọ, điển h́nh trường hợp Thúy Kiều tài hoa đủ nghề thi nhạc mà cuộc đời đă chuốc nhiều nỗi u sầu:

Anh hoa phát tiết ra ngoài
Ngh́n thu bạc mệnh một đời tài hoa

Nhưng dù bạc mệnh ra sao vẫn không một ai có thể phủ nhận tài hoa của Nguyễn Du khi diễn tả vẻ đẹp của Thúy Kiều, không những người xưa mà cho tới đời nay khi mường tưởng tới vẫn không thoát khỏi bâng khuâng, xao xuyến trong một phút giây nào đó:

Một hai nghiêng nươc nghiêng thành
Sắc đành ḥa một, tài đành ḥa hai

Lối diễn tả có tính cách ước lệ này văn chương Trung Hoa đă có những h́nh ảnh tương tự như: Nhất cố khuynh nhân thành - Tài cố khuynh nhân quốc, được phiên dịch la:u đẹp nghiêng nước nghiêng thành vậy.
Người đàn bà xưa lịch sử nhắc nhở tới nhiều nhưng đặc tính của mỗi người đến nay người ta chỉ nghe nói tới nhưng không có một kiểm chứng nào đích xác, Trụ Vương bị Đắc Kỷ mê hoặc, Đổng Trác và Lữ Bố đâm chém nhau bởi Điêu Thuyền, Chiêu Quân đẹp nghiêng nước nghiêng thành sang cống Hồ, tương tự Huyền Trân công chúa hy sinh thân ḿnh lấy Chiêm vương đem về cho đất nước hai châu Ô, châu Rí, không kể những Mỵ Châu, Tiên Dung, Ngọc Hân...đến bây giờ người ta c̣n thấy đề cập tới nhưng không có mảy may một ư niệm. Bởi vậy ngươi đời sau qua văn chương Trung Hoa không khỏi bị mê mẩn tâm hồn trước nhan sắc của những Tây Thi, Bao Tự, trong đó Dương Quư Phi đă được Lư Bạch mô tả bằng những lời óng chuốt:

Vân tưởng y thường hoa tưởng dung
Xuân phong phất hạm lộ hoa nung
Nhược phi Quần Ngọc son đầu kiến
Hội hướng Giao Đài nguyệt hạ phùng.

Tạm dịch:

Mây tưởng xiêm y hoa tưởng người
Gió xuân phân phất hạt sương rơi
Nếu không gặp gỡ nơi Quần Ngọc
Chắc cũng Giao Đài bóng nguyệt soi

Trong văn chương b́nh dân, h́nh ảnh người con gái có nhan sắc đă được người ta diễn tả bằng những câu đơn sơ nhưng thắm đượm ư t́nh, khơi gợi nơi mỗi con người những ư niệm ngút ngàn lan tỏa:

Cô kia má đỏ hông hồng
Cô chửa lây chồng c̣n đợi chờ ai

Bài Mười Thương trong ca dao đă phác họa cho ngươi ta thấy quan niệm về nhan sắc của người đàn bà xưa thế nào, ít ra đă ấn dấu được thẩm mỹ quan của một thời đại lịch sử ra sao, phơi bày một sắc đẹp có tính cách mộc mạc, hiền hậu, không chinh phục con người bằng những ǵ là khêu gợi, kích thích nhiều như bây giờ:

Một thương tóc bỏ đuôi gà
Hai thương ăn nói mặn mà có duyên
Ba thương má lúm đồng tiền
Bốn thương răng lánh hạt huyền kém thua
Năm thương cổ yếm đeo bùa
Sáu thương nón thượng quai tua dịu dàng
Bảy thương nết ở khôn ngoan
Tám thương miệng nói lại càng thêm xinh
Chín thương cô ở một nơi
Mười thương con mắt hữu t́nh với ai

Xem như vậy tóc dài mới thật đẹp, nên dù có tốn công đi hái lá chanh, lá bưởi, đi chợ mua bồ kếp về nấu nước gội đầu cho thơm mùi chanh, mùi bưởi cũng không ai nỡ cắt tóc cho ngắn. Phải nuôi tóc sao cho dài, quấn quanh đầu trong mảnh khăn nhung hay nhiễu tam giang vẫn c̣n ló ra ngoài một đoạn gọi là tóc bỏ đuôi gà, cho đúng thời và hợp ư thích của các chàng trai thời bấy giờ. Nhưng nhiều khi tóc để đuôi gà lại bị người ta trêu ghẹo:

Chị kia tóc bỏ đuôi gà
Nắm đuôi chị lại hỏi nhà chị đâu.

Nhan sắc của người thiếu nư ơđẹp lộng lẫy, kiêu sa bao nhiêu, bản thân họ đă tự cảm nhận thấy, bởi vậy họ không dễ ǵ chấp nhận ở đối tượng mọi sự dễ dàng, họ đă có điều kiện rơ rệt:
Lấy chồng cho đáng tấm chồng
Bơ công trang điểm má hồng răng đen

Ngày xưa họ thường ruộm răng đen, một phong tục cổ mà ngày nay không ai c̣n áp dụng, có dư luận cho rằng họ làm thế để phân biệt người bị trị với người đô hộ tức người Trung Hoa đem binh hùng tướng mạnh sang đây xâm chiếm, đô hộ, tránh họa đồng hóa diệt vong. Nếu thế th́ v́ cớ chi người đàn ông không nhuộm răng đen, bởi vậy lại có dư luận lập luận rằng người ta ăn trầu cho chắc răng bởi trầu được têm với vôi, và muốn tránh răng bị vàng họ đă cho ruộm đen:

Ḿnh về ḿnh nhớ ta chăng?
Ta về ta nhớ hàm răng ḿnh cười
Trăm quan mua lấy miệng cười
Mươi quan chẳng tiếc, tiếc người răng đen.

Tuy nhiên họ phải kín đáo, giữ được sự đoan trang những khi ăn nói, không cười toe toét, hô hố, dễ bị người ta chê cười không được cha mẹ giáo dục nghiêm khắc, đến nơi đến chốn nơi khuê pḥng:

Vô duyên chưa nói đă cười
Có duyên hỏi chín hỏi mười chưa thưa

Nói đến thân h́nh người đàn bà không phải xưa kia người ta không biết tới vẻ thanh tú, duyên dáng, trái với bây giờ người ta thường mơ tưởng tới tính cách bốc lửa, quyến rũ, những đường cong nét nổi sao cho quyến rũ , không thể dùng những bộ y phục dài che kín hết những nét đẹp của thân h́nh, trái lại phải làm sao thể hiện trên lớp vải mỏng manh của y phục kia những kích thước đúng tầm cỡ của những cô người mẫu:

Những người béo trục béo tṛn
Ăn vụng như chớp đánh con cả ngày

Xem vậy mới biết cổ nhân đă đánh giá con người không những về thể h́nh mà c̣n nhận chân thấy ảnh hưởng của nó tới tính t́nh nữa. Những chỗ trọng yếu của nét đẹp thể h́nh họ đă có con mắt quan sát tinh vi:

Đàn ông không râu bất nghi
Đàn bà không vú lấy ǵ nuôi con

Một giai nhân được đánh giá không chỉ bởi những tiêu chuẩn thể h́nh, người ta c̣n đ̣i hỏi nơi họ những đức tính hội đủ cần thiết, quan niệm vẻ đẹp tinh thần nhiều hơn tức là hạnh kiểm. Người ta chê trách loại người ngồi lê đôi mách, ăn quà như mỏ khoét, nằm vật vă ngả nghiêng, chây lười lao động, laù ta laù taù:

Hồ la hồ lẩy
Con gái bảy nghề
Ngồi lê là một
Dựa cột là ai
Mê trai là ba
Ăn quà là bốn
Trốn việc là năm
Hay nằm là sáu
Laù taù là bảy

Thực sự khi phê phán những thói hư tật xấu nọ, cổ nhân không nhằm mục đích công kích một ai mà chỉ đưa ra những mẫu người điển h́nh xem ra không tốt đối với gia đ́nh và xă hội, ngơ hầu khuyên răn con cái nên tránh, không để bị ảnh hưởng. Vậy thế nào là cái nết đẹp:

Gái th́ giữ việc trong nhà
Khi vào canh cửi khi ra thêu thùa.

Đây là trách nhiệm của người đàn bà được quy định một cách khắc khe trong phạm vi của tứ đức tam ṭng, phu xướng phụ tùy mà sau này Nhất Linh trong nhóm Tự Lực Văn Đoàn đă khởi xướng một phong trào giải phóng cho họ thoát khỏi mọi thứ lễ giáo ràng buộc khắc nghiệt, giam cấm họ hầu như trong bóng đêm của đời người. Tuy nhiên người phụ nữ xưa hay nay th́ họ vẫn có những nét hay tật dở tương tự nhau, có khác chăng chẳng qua là do quan niệm xă hội đă thay đổi, dành cho họ sự tự do phóng khoáng hơn, không c̣n giam lỏng, khe khắt như xưa.
Bất cứ xă hội nào th́ vẫn cổ vũ cái đẹp và đào thải cái xấu. Nét đẹp tinh thần bây giớ phải chăng bởi con người được hấp thụ nhiều tự do cá nhân, ảnh hưởng đời sống vật chất đi vượt mức quá xa nên đă có đôi phần kém xưa nhưng nét đẹp vật chất, nét đẹp bề ngoài vẫn được ưa chuộng và không mấy thay đổi, tóc óng mượt, mắt sáng trong, mũi dọc dừa, môi chúm chím...có phần c̣n tiến xa hơn, đẹp hơn nhờ được can dự bởi khoa học giải học giải phẫu thẩm mỹ. Dù sao chăng nữa cũng phải công nhận người xưakhông phải không có con mắt tinh đời và sành sỏi, biết thế nào để đi tới sắc đẹp của một giai nhân mà chinh phục.

Nhật Thịnh

hoangthymaithao
12-05-2009, 01:06 PM
Dị bản Thúng Xôi Rền

Hà Phương Hoài

Lịch sử nam tiến của dân tộc ta cho ta thấy tại vùng định cư mới, dân nhập cư dù cố vẫn giữ gia sản văn hóa nguyên gốc nhưng lần lần cũng đă hài ḥa với phong tục tập quán, ngôn ngữ, giọng nói của bản địa mà tạo thành một nếp sống mới. Ca Dao cũng theo họ và rồi từ từ đổi thay
theo sự suy tư hợp với phong tục và ngôn ngữ mới.

Bài Ca Dao Một Thúng Xôi Rền

Mẹ em tham thúng xôi rền (dền)
Tham con lợn béo, tham tiền Cảnh Hưng.
Em đă bảo mẹ rằng đừng
Mẹ hấm (lườm) mẹ hứ (nguưt) mẹ bưng ngay (xôi) vào
Bây giờ chồng thấp vợ cao
Như đôi đũa lệch so sao cho bằng (vừa).
(e-cadao.com Câu số 3975 )

Đă biến dạng như Dị bản Khánh Ḥa (Quả Xôi Rền):

Hai tay bưng quả xôi rền
Cha ham con heo trắng, mẹ ham tiền cảnh Hưng
Buổi xưa kia thưa thiệt xin đừng
Cha mẹ ép uổng biểu ưng kẻo già (cho rồi)
Bây giờ nghiệp báo oan gia
Nó đánh trong nhà, nó đánh ra sân
Mồ cha tám kiếp nợ trần
Đi bán trầu héo mà bưng (mua) con về
(e-cadao.com Câu số 39047 )

Xôi

Theo Từ điển bách khoa toàn thư th́ XÔI là món ăn bằng gạo nếp ngâm nước, đồ chín bằng hơi nước, làm cho hạt gạo dẻo dính. Là lương thực chính của hầu khắp các cư dân nông nghiệp trồng lúa thời sơ khai ở Đông Nam Á. Về sau, cơm tẻ mới trở thành lương thực chính ở nhiều dân tộc v́ lúa tẻ dễ trồng hơn và cho năng suất cao. Hiện nay, ở một số cư dân vùng núi (như Tây Bắc, dọc Trường Sơn - Tây Nguyên…) vẫn tồn tại tập quán dùng Xôi trong bữa ăn hàng ngày. Xôi thường được đồ lẫn với lạc, đỗ đen, đỗ xanh (để làm Xôi xéo, Xôi hoa cau, Xôi ṿ), gấc, dừa, ngô, sắn...; ở miền núi c̣n có Xôi nếp cẩm (loại có màu tím) thường ăn với mật ong. Ở Nam Bộ có Xôi nướng (Xôi trắng, gói lá chuối tươi nướng trên than hồng). Ở nhiều dân tộc, Xôi là thức ăn ngon dùng để đăi khách. Xôi c̣n là lễ vật quan trọng dùng để dâng cúng tổ tiên và thần linh.

Rền
• Dẻo đều: Xôi rền; Bánh chưng rền.
• Liên tiếp từng hồi: Sấm rền; Đi chơi rền. Chẵn rền, lẻ rền. Chẵn liền hoặc lẻ liền mấy ván xóc đĩa.

Bài ca dao “Quả Xôi Rền” đă thay đổi hầu như toàn diện dù rằng vẫn giữ được kết cấu và ư nghĩa nguyên thủy của bài “Thúng Xôi Rền” – “Cha mẹ muốn cho con ḿnh được hạnh phúc trong đời sống hôn nhân dựa trên căn bản vật chất, tiền tài”
“Mẹ em tham thúng xôi rền (dền)” (Nguyên bản)
“Hai tay bưng quả xôi rền” (Dị bản Khánh Ḥa)

Bài nguyên gốc người con gái kết án ngay rằng người mẹ tham “thúng xôi rền” và:
“Tham con lợn béo, tham tiền Cảnh Hưng.” (Nguyên bản)

Nhưng dị bản th́ nhẹ nhàng hơn, v́ khi thấy sự kiện xảy ra:
“Hai tay bưng quả xôi rền”. (Dị bản Khánh Ḥa)

Dù nhẹ nhàng nhưng khi đi vào điểm chính th́ sự trách móc cha mẹ làm lỡ duyên ḿnh cũng gay gắt như nhau, có thể c̣n nặng nề hơn và đă kéo người cha vào trận:
“Cha ham con heo trắng, mẹ ham tiền cảnh Hưng” (Dị bản Khánh Ḥa)

Ở bản gốc: Người con gái than dù đă cương quyết bảo mẹ đừng nhận quà lễ của người ta:
“Em đă bảo mẹ rằng đừng” (Nguyên bản)

Người mẹ thấy con gái ḿnh ương ngạnh, bà đă nổi giận, bất chấp ư kiến của con:
“Mẹ hấm (lườm) mẹ hứ (nguưt) mẹ bưng ngay (xôi) vào” (Nguyên bản)

Trong khi dị bản Khánh Ḥa th́ nàng năn nỉ cha mẹ xin đừng nhận mâm lễ:
“Buổi xưa kia thưa thiệt xin đừng” (Dị bản Khánh Ḥa)

và cha mẹ không mắng mỏ mà chỉ khuyên ngọt:
“Cha mẹ ép uổng biểu ưng kẻo già (cho rồi)”

Ở bản gốc cho ta thấy rằng sau khi về nhà chồng người con gái mới chưng hửng là đức ông chồng của ḿnh thuộc loại người thiếu thước không cân xứng với tầm vóc của nàng.
“Bây giờ chồng thấp vợ cao
Như đôi đũa lệch so sao cho bằng (vừa)” (Nguyên bản)

Ở dị bản Khánh Ḥa hoàn cảnh của người vợ do sự sắp đặt của cha mẹ đă trở thành quá tồi tệ, nàng phải chịu bao đ̣n hằn v́ anh chồng thô lỗ cọc cằn.
“Bây giờ nghiệp báo oan gia
Nó đánh trong nhà, nó đánh ra sân” (Dị bản Khánh Ḥa)

Nàng rơi vào hoàn cảnh đau thương nhưng không biết làm sao để thoát khỏi cho nên đă thốt lên những lời cay đắng:
“Mồ cha tám kiếp nợ trần
Đi bán trầu héo mà bưng (mua) con về” (Dị bản Khánh Ḥa)

Trong thời phong kiến việc quyết định việc chung thân cho trai hay gái đều do bậc phụ huynh quyết định và tuyển chọn. Phận con cái chỉ biết cúi đầu vâng theo. Ngoài hai bài “Thúng Xôi Rền” và “Quả Xôi Rền” trên, kho tàng ca dao có rất nhiều bài tả duyên phận éo le trắc trở của người đàn bà:

Con chim bị ná,
Con cá bị câu,
Anh với em ư hợp tâm đầu,
Hai bên cha mẹ là sầu đôi ta
Đôi ta như lúa đ̣ng đ̣ng
Đẹp duyên nhưng chẳng đẹp ḷng mẹ cha
Đôi ta như chỉ xe ba
Cha mẹ xe ít, đôi ta xe nhiều

Dĩa nghiêng mài mực
Bút chực đề thơ,
Phụ mẫu ơi nghĩ lại cho con nhờ,
Khoan khoan hạ bút, kẻo hư tờ giấy thơm.

Trách ḷng cha mẹ vụng toan,
Bông búp chẳng bán để tàn ai mua

Sở dĩ đôi trai gái yêu nhau, thề nguyền sống với nhau cho đến đầu bạc răng long mà phải chịu cảnh chia ĺa cũng chỉ v́ Đạo Hiếu: Con cái không thể tự quyết định cho duyên phận của ḿnh:

Phụ mẫu sơ sinh để cho phụ mẫu định
Em nỡ nào trái lịnh mẹ cha
Phụ mẫu tôi già đầu bạc như hạt đậu nhành dưa
Ơn tôi chưa đền, nghĩa tôi chưa trả
Anh bảo tôi giục ngựa, buông cương sao đành

Anh thương em c̣n sợ nỗi mẹ cha
Thuở nay áo mặc khó qua khỏi đầu

Đạo mẹ cha mất đà khó kiếm
Nghĩa can thường chẳng hiếm chi nơi!

Dù t́nh đă nặng nhưng câu hỏi “liệu mẹ cha có bằng ḷng hay không?” vẫn đè nặng trong tâm tư của đôi lứa:

Tàu Nam Vang chạy ngang sông Hậu
Tàu Vĩnh Thuận hay đậu Tam B́nh
Đôi ta nặng nghĩa nặng t́nh
Biết cha với mẹ hay chuyện chúng ḿnh ra sao?
Để mong rằng cha mẹ thương tưởng mà tác thành cho!!!

Ḍm lên trời đang mưa, đang chuyển
Ḍm xuống biển bên đây lở, bên kia bồi.
Đôi ta thương lỡ nhau rồi
Chàng than, thiếp thở, phụ mẫu ngồi sao yên

Chữ môn đăng hộ đối là điều quan tâm lớn lao giữa bậc cha mẹ cho nên ngoài việc xét đến chọn một cô dâu hay chàng rể xứng hợp, đủ điều kiện vật chất bảo đảm được hạnh phúc và sự thịnh vượng cho gia đ́nh mới của con ḿnh hay không, sui gia cũng không kém phần quan trọng. Nhiều trường hợp, mọi sự đều tốt đẹp duy chỉ ông sui hoặc bà sui có chút bất ḥa nào đó th́ chuyện hợp duyên của đôi trẻ cũng bất thành, trong văn chương Tây Âu cũng có truyện Roméo and Juliette:

Cây đa trốc gốc, thợ mộc đương cưa
Anh với em bề ngang cũng xứng, bề đứng cũng vừa
Bởi tại cha với mẹ kén lừa sui gia.

Hai đứa ḿnh ḥa, phụ mẫu không ḥa,
Tỉ như nước lạnh, pha trà sao ra?

Và:

Nhà giàu ngồi mát bát vàng
Nàng tham chốn ấy anh sang làm ǵ.
Xưa kia nói nói thề thề
Cá trê chui ống lọt về giếng khơi
Mới hay lấy vợ trên đời
Chẳng tại trời, tại không tiền nằm không.
Dù em nên vợ nên chồng
Con bế con bồng nghĩ lại duyên xưa
Trời có mây mà chẳng có mưa
Sao em lại nỡ đong đưa với t́nh?
Mới hay duyên nợ ba sinh
Nhà giàu cướp cả cái t́nh đôi ta
Anh chẳng trách mẹ trách cha
Trách đời chênh lệch hóa ra thế này!

Trai gái khi đến tuổi yêu nhau dù thành hay không, ngoài trông nhờ vào người mai mối, trên phương diện tâm linh, ca dao thường nhấn mạnh đến một yếu tố đậm nét đó là Ông Tơ, Bà Nguyệt.

Theo điển tích: Ông Tơ, c̣n gọi là Nguyệt Lăo/Bà Nguyệt: Ông lăo tóc và râu bạc phơ ngồi dưới bóng trăng, tức vị thần xe duyên cho những cặp trai gái nào có căn tiền định, người ta gọi là Ông Tơ hay Bà Nguyệt.

Do sự tích ông Vi Cố trong lúc đi ngoạn cảnh vào một đêm trăng, thấy có ông lăo tóc bạc phơ ngồi dưới bóng trăng, trước một ṭa cổ miếu bên đường, tay ông lăo cầm một quyển sổ và mớ chỉ hồng. Thấy lạ, Vi Cố hỏi th́ ông lăo nói :" Ta đây là Nguyệt Lăo, cuốn hôn thư này dùng để ghi tên những đôi trai gái phải lấy nhau và những sợi chỉ hồng này dùng để cột họ lại thành đôi vợ chồng". Nói xong, Nguyệt Lăo cho Vi Cố xem, bên trong cuốn sổ có ghi chép rất nhiều tên tuổi của những đôi trai gái, mà họ sẽ được nên duyên chồng vợ với nhau.

Sẵn dịp, Vi Cố nhờ Nguyệt Lăo xem giùm căn duyên của ḿnh, th́ Nguyệt Lăo cho Vi Cố biết rằng, người vợ tương lai của Vi Cố sẽ là đứa con gái của mụ ăn mày trước chợ. Tin vào lời của vị tiên tri, nên Vi Cố sợ bị nhục, bèn lấy dao ra chợ chém vào đầu đứa con gái của mụ ăn mày, làm máu chảy đầm đ́a, rồi sau đó Vi Cố trốn đi mất.
Sau này Vi Cố lấy đứa con gái của một vị quan làm vợ. Khi t́nh cờ thấy trên đầu của người vợ ḿnh có vết thẹo lớn, hỏi ra mới biết nàng đúng là đứa con gái của mụ ăn mày trước chợ đă bị chính Vi Cố chém vào đầu, v́ bị bỏ rơi, nên đă được một vị quan mang về nuôi nấng cho đến ngày khôn lớn.

Người xưa tin rằng: chuyện duyên nợ là do Trời định, nên khi những cặp uyên ương đă trót thề nguyền yêu thương nhau, nhưng lại không được thành vợ thành chồng, là bởi Nguyệt Lăo không chịu xe duyên cho:

Căn duyên ai đă phá rồi
Ông Tơ ông buộc ông Trời biểu không
Phải gặp ông Tơ hỏi sơ cho biết
Gặp bà Nguyệt gạn thiệt cho rành
V́ đâu hoa nọ ĺa cành
Nợ duyên sớm hết cho đành dạ con
* Có bản khác: Căn duyên ai phá cho rồi

Bắc thang lên đến tận (lên hỏi) Trời
Bắt ông Nguyệt Lăo đánh mười cẳng tay
Đánh rồi lại trói vào cây
Hỏi ông Nguyệt lăo: đâu dây tơ hồng ?
Nào dây xe bắc xe đông
Nào dây xe vợ, xe chồng người ta
Ông vụng xe tôi lấy phải vợ già
Tôi th́ đốt cửa, đốt nhà ông đi

Bắt ông tơ đánh sơ vài chục,
Bắt bà nguyệt nếm mấy mươi hèo,
Người ta năm bảy vợ theo
C̣n tôi đơn chiếc như mèo cụt đuôi!

Ngoài các sự kiện nêu trên, để bảo đảm cho hạnh phúc tương lai của con ḿnh các cụ thường xem trọng “Bói toán”, và v́ bói toán cũng làm lỡ duyên bao cặp t́nh yêu nhau thắm thiết:

Cọp mà vật mấy ông thầy địa
Voi mà giày mấy lăo coi ngày
Trớ trêu họ khéo đặt bày,
Đôi ta thương nhau thiệt, lẽ nào trời không định đôi.

Nhiều cặp bất chấp những dị biệt, khó khăn trắc trở quyết cùng nhau đi hết đoạn đường đời với nhau.

Cá lưỡi trâu dầm trong nước mắm
Qua với nàng duyên thắm mấy trăng
Cha mẹ tuy chẳng bằng ḷng
Nợ duyên đă gắn, chữ đồng quanh năm

Bằng không th́:

Xin người hiếu tử gắng khuyên
Kịp thời nuôi nấng cho tuyền đạo con
Kẻo khi sông cạn đá ṃn
Thơ ngâm nga đọc có c̣n thấy chi

Hoặc:

Bước xuống ruộng sâu, sầu đầy tấc dạ
Tay ôm bó mạ, nước mắt hai hàng
Ai làm trễ chuyến đ̣ ngang
Cho sông cạn nước, đôi đàng biệt ly

Hà Phương Hoài (10-2009)

ThienQuang
12-06-2009, 04:32 PM
MÁ ƠI _
http://img183.imageshack.us/img183/2884/272029339so1.jpg

ĐỪNG GẢ CON XA
http://img300.imageshack.us/img300/5206/272031698pz3.jpg

CHIM KÊU
http://img183.imageshack.us/img183/20/272029365at9.jpg

VƯỢN HÚ
http://img258.imageshack.us/img258/9039/272029346hd3.jpg

BIẾT NHÀ MÁ ĐÂU
http://img83.imageshack.us/img83/6286/272029343uy6.jpg


:chopmat:MÁ ƠI _ ĐỪNG GẢ CON XA _ CHIM KÊU _ VƯỢN HÚ _ BIẾT NHÀ MÁ ĐÂU:chopmat:

Cho TQ ké một câu ca dao :thank3:
http://img18.imageshack.us/img18/3605/dayhoadep4.gif

hoangthymaithao
12-09-2009, 02:08 AM
Bắt đấu từ một câu ca dao ...



http://i834.photobucket.com/albums/zz268/vhp2010/bngcinhHP.jpg
Gió đưa cây cải về trời
Rau răm ở lại chịu lời đắng cay
http://i834.photobucket.com/albums/zz268/vhp2010/raurm.jpg


0000000


Đó là chuyện cách đây hai hôm bên Góc "TỤC NGỮ CA DAO VÀ QUÊ HƯƠNG" - nhà TV - VB. Số là HP bỏ thơ nhầm địa chỉ lần nữa ... cũng may là Đại Tỷ HVLN kịp thời "gơ đầu" HP mà nhắc nhở : tiểu muội của LN ơi, em vẫn c̣n trên mây phải không ? bài nầy chị đă mang về UNT quán 1 lần .. rồi thêm chị BH mang về 1 lần nữa ..
Ah, HP ta chợt tỉnh mộng liền liền . Điều trước tiên là phải "chữa cháy" .. nhà ... cái đă !

Chữa quán Ca Dao th́ chỉ c̣n mỗi cách là t́m cho ra một câu ca dao nào đó ? Và, thế là nhà PNV vẫn là nơi "cứu vớt" HP với "thiên hạ vạn sự" . Ngay trong trang đầu của mục "thắc mắc giải đáp ca dao" nhặt liền câu nào bắt mắt ḿnh nhất . Nhưng chỉ có hai câu ca dao - thấy ngắn ngủi quá .. HP ta liền nghĩ cách làm cho chị LN sẽ bật cười mới được . Cây cải th́ thiếu ǵ (v́ mới hồi tháng 5 vừa rồi HP cũng làm bấm-sĩ nên có cả một rừng hoa cải vàng xứ Pháp)... và rau răm cũng thế . Ấy nhưng, HP lục t́m trong mục cỏ cây hoa lá nhà PNV không hề thấy cây cải trong mục lục kia . Quay sang rau răm - thấy giàu sang ǵ đâu mà có đúng một cọng nhỏ xíu xiu ? Thôi th́ có c̣n hơn không .. mà nghĩ cho cùng một nhánh rau răm như vậy thôi cũng hay lắm .. v́ thấy chị PC để đúng một ḍng giải nghĩa về hai câu ca dao đó (nhưng lần này HP không dám đem cái link bên nhà PNV về bên VB nữa, v́ sợ bị bửt tóc bạc màu thi nhân ở cả hai nơi .. th́ khổ quá cho cái thân "con c̣ .. lặn lội bờ sông" ảo). Quay sang chuyện cây cải . Không có lẽ để một cánh đồng hoa cải bên cạnh một cọng rau răm, thấy không thể chấp nhận cho con mắt gọi là nghệ thuật tí nào ...Tự nhiên một ḍng kỷ niệm thật dấu yêu chạy về trong đầu ... HP chạy vội vào nhà chị BH (chèn ui ... cái nhà nầy chị BH đi chơi nhởi hội hè đ́nh đám khắp mọi nơi .. vậy mà nhà ḿnh th́ chị kệ cho cỏ xanh bát ngát tận cuối trời .. thu xa !!). Vào đó th́ chỉ cần nh́n ngày tháng đoạn nào đó rồi t́m được khoảng thời gian nào HP vào cuốc xới lung tùng beng trong đó (HP quen làm việc một ḿnh như thế rồi - chỉ cẩn biết ḿnh thích gieo trồng giống cây ǵ đó mà chắc chắn là cho nên trái ngọt, vị ngọt ḿnh ưa .. chứ cũng không cần biết việc ḿnh làm có bắt ai đó phải thích hay không thích ?). Và rất ngạc nhiên, khi thấy cũng lại đúng một cọng bông cải vàng tươi trong vườn nhà HP nữa mới sung sướng chứ !! Đó là bông cải cuối cùng trong mảnh vườn cũng nhỏ xíu xiu, nhưng có đầy rau cải mà chị BH đă phải ăn gần như tất cả mọi bữa cơm cùng với HP trong 10 ngày ở Paris năm ngoái (khi về Cali rồi, chị BH c̣n nói : chị nhớ rau cải và những bữa cơm rau cải rất ngon HP nấu, chứ không có nhớ người nấu rau cải đâu ..).

HP ta post "chữa cháy" được hai câu ca dao kia rồi th́ cũng chỉ biêt để lại hai nụ cười :smile::p kế sát nhau . Rồi HP chạy ù đi chơi chỗ khác!

Sau đó HP trở lại xem có bị anh HPH chủ nhà "quán Ca Dao" gơ đầu nhỏ HP về tội hai câu ca dao mà lại thêm hai h́nh ảnh kia không ? Nhưng lại thấy ngay Đại Tỷ HVLN với "Một Chút Tâm T́nh" thật là dễ thương ...

0000000


MỘT CHÚT TÂM T̀NH


http://i834.photobucket.com/albums/zz268/vhp2010/bngcinhHP.jpg


Cám ơn tiểu muội- Hoàng Thy Mai Thảo, đă mang h́nh hoa cải vàng vào vườn nhà. Cứ mỗi lần nh́n hoa cải vàng, ḷng LN lại bồi hồi nhớ về những ngày tháng xa xưa, từ thuở LN c̣n bé tí, tóc cắt ngắn kiểu bom bê, dáng người mũm mĩm, nên trông giống cô bé Nhật.

Nh́n hoa cải vàng, LN nhớ đến mùa Tết. LN nhớ lại, khi cây cải già, mà ở quê LN gọi là " cải ngồng ", nên trổ hoa vàng. LN thường thơ thẩn ngoài vườn vào buổi chiều, để kẽ hột mồng tơi, để trong một cái bát nhỏ, nh́n màu tím rịm của hột mồng tơi, mê thật là mê. Khi nào tinh nghịch, LN cầm ít hột mồng tơi, bóp ra tay, màu tím như mực tím trào ra trong kẽ tay, đệp làm sao! Và màu tím đầu đời, chính là b́nh mực tím, mang theo mỗi khi vào lớp tập đồ chữ bằng chiếc bút nhọn, có ng̣i bằng sắt, h́nh chữ V...

LN nhớ rất rơ, sáng ngày Mồng Một Tết, Mẹ đánh thức cả nhà dậy đi lễ sớm lúc ấy, các anh lớn đă hồi cư về Hanoi, chị Hồng Chi đă lấy chồng, chỉ c̣n lại Chị Hồng, Anh Ngân và LN mà thôi.

Sau khi đi lễ về, Thầy Mẹ LN ngồi ở sập gụ, 3 chị em LN khoang tay, lần lượt chúc Thầuy Me, và cứ sau mỗi con chúc Tết, Thầy Mẹ LN lại mừng tuổi cho bao ĺ x́ đỏ.

LN th́ thích hoa cải vàng, cho nên đă ra vườn hái một bó, bó lại rồi trao cho Thầy Mẹ bó hoa cải vàng, và chúc theo lời của chị Hồng, anh Ngân. Nào là tràn đầy ơn Chúa, khoẻ mạnh và riêng LN, sau khi chúc xong, trước khi nhận được tiền mừng tuổi, c̣n phải hứa, nào là sẽ chăm học, vâng lời và siêng năng đọc kinh, đi lễ...

Cầm phong bao đỏ xong, LN chạy vụt ra sân, để chỉ mở xem trong phong bao có bao nhiêu tiền, bằng hay thua anh Ngân...LN không dám so sánh với chị Hồng v́ biết rằng, chị sẽ được nhiều hơn, dù chị đă mừng tuổi cho anh Ngân và LN sau đó.

LN học không giỏi mà sao cứ phải thay cặp sách hoài. Cặp sách, mẹ mua cho, không phải bằng da hay bằng vải như thời ở Ha Nội, mà bằng cói đan. Cặp sách to cho các chị học lớp lớn, cặp sách nhỏ cho các em học từ lớp mẫu giáo đến lớp Nhất.

Lúc LN đă biết đọc, biết viết, th́ ở quê LN đă có phong trào Chống Nạn Mù Chữ, các bà già hiếu học, đêm đêm cũng cắp vở đến lớp, nhưng họ không mang cặp sách, mà vo tṛn vào cái chiếu manh, tức là cái chiếu nhỏ, bề ngang chỉ bằng hơn 2 gang tay, bề dài hơn 3 gang tay
người lớn mà thôi.

LN nhớ lắm, đi đâu cũng nghe:

O tṛn như quả trứng gà
Ô th́ đội mũ, Ơ th́ có râu...

Và các thầu cô đă dạy thuộc ḷng như:

A quả na
B con ḅ
C con chim ...

Vậy mà mỗi tối, các bà rủ nhau đi học cũng om x̣m cả xóm.

LN gọi họ là các cụ, chỉ v́ LN chừng 5,6 tuổi, nh́n họ chừng 30, 40 là đă thấy già quá rồi. Cho nên gọi họ là các cụ cũng đúng thôi.

Cũng nhờ có phong trào chống nạn mù chữ, mà số người mù chữ cũng bớt đi nhiều.

Khi LN sang Mỹ, đi học lớp ESL, cũng có nhiều chuyện buồn cười.

Phải công nhận, các cụ VN thông minh lắm.

Cô giáo Mỹ cho học 7 ngày trong tuần, bà ta đọc vanh vách:

Sắn đây, (Chủ Nhật)
Mâm đây, (thứ Hai)
Thuốc đây, (thứ Ba)
Ghen đây (thứ Tư)
Thớt đây, (thứ Năm)
Phay đây, (thứ Sáu)

LN quên mất ngày thứ Bảy của các học tṛ Cụ rồi. Nhưng học về mầu sắc cũng vui lắm. LN chỉ nhớ:

Dé lô, màu vàng
Rét, màu đỏ

Cái anh học dốt như LN lại hay nhớ những chuyện vui như vậy thôi. C̣n những bài học về lich sử Hoa Kỳ, hay những văn chương của tác giả này, tác giả nọ, th́ lại thành mù tịt.

Có dốt cũng đáng đời kiếp này, kiếp sau LN hứa, lại hứa :p sẽ học giỏi, giỏi dủ mọi thư khác nữa, như giỏi đàn, giỏi may thêu, giỏi nấu nướng... dù có v́ quá giỏi mà chết yểu cũng đành

HONG VU LAN NHI


0000000


Rồi sáng nay, 09/12/2009 - HP vào thăm quán ca dao như một chuyện thường lệ mà "bắt buộc" phải có, cho những thích thú nơi tṛ chơi chữ nghĩa của ḿnh . Và, HP lại được tặng thêm một món quà dễ thương nữa mà Đại Tỷ HVLN bỏ vô quán Ca Dao hồi đêm rồi (vậy là ḍng chữ giải nghĩa cho 2 câu ca dao rau răm và cây cải mà chị PC để lại trong nhà PNV là có lư do thật sự chứ không phải là truyền thuyết mà sau này người ta gán cho một câu nói nào đă có sẵn trước đó lâu rồi ?). Và HP lại xin một lần được cám ơn Net, cám ơn những con người dễ thương, cám ơn những cuộc đời đă để lại ư nghĩa đẹp trong nhân gian .
Dưới đây là bài chị HVLN post trong quán Ca Dao của anh HPH :


0000000


Gió đưa cây cải về trời
Rau răm ở lại chịu lời đắng cay!


Từ khi c̣n nhỏ bé, LN đă thích thơ thẩn ngoài vườn, nh́n những cây chuối nghiêng ngả v́ mang trên thân buồng chuối quá to v́ nhiều nải, hoặc nh́n giàn trầu không leo trên giàn nứa, và bên hông vườn là hai hàng cau thẳng tắp ở đàng sau vườn.

LN cũng thường quanh quẩn phía vườn rau, nào cà pháo, nào giàn mồng tơi có những trái tím rịm, nằm kè kè bên những trái mồng tơi xanh xanh...và không thể nào, không nh́n luống cải non xanh mướt, đang chờ bàn tay ai đó hái mang về nấu canh cá rô ... ôi sao mà món giản dị quê mùa mà sao lại ngon thế. LN như c̣n nh́n thấy U già, hái một rổ rau cải xanh mướt, một ít gừng, và luộc cá rô, lóc thịt nấu canh, U già c̣n đem giă đầu cá và xương cho nhuyễn, rồi lọc bằng cái rổ tre có những ô nhỏ li ti... U già nói, làm thế cho nước canh cải thêm ngọt.

Và U già đọc cho LN nghe:

Gió đưa cây cải về trời
Rau răm ở lại chịu lời đắng cay.

Những lời ca dao đă thấm sâu vào tâm hồn bé bỏng thơ mộng của LN. Làm sao LN quên được những trưa hè oi ả, ch́m lắng trong tiếng vơng kẽo kẹt đưa cọt kẹt, cọt kẹt, đều đều, lẫn trong tiếng ru à ơi, ạ ời, đă làm cho buổi trưa hè buồn vắng lặng lại càng buồn thê lương hơn.

Câu ca dao ấy đă theo LN qua bao ngày tháng trôi nổi, gập ghềnh. Trong một lần họp mặt bạn bè, LN hỏi một người bạn về ư nghĩa câu ca dao trên. Ít lâu sau, LN nhận được bài viết do anh gửi tới. Cám ơn bạn rất nhiều.

Nhân Hoàng Thy Mai Thảo post 2 câu ca dao trên, LN xin post bài " Gió đưa cây cải về trời ". không thấy tên tác giả, LN chỉ đọc được ở một đoạn sau, với câu: Theo Hoàng Long Hải/Tuệ Chương th́: LN xin nói lại cho rơ


***


http://i834.photobucket.com/albums/zz268/vhp2010/bngcinhHP.jpg

Gió đưa cây cải về trời


Cải là tên dân dă của một Hoàng tử con của Nguyễn Ánh (sau này là vua Gia Long), Răm là tục danh của bà Phi Yến (Lê Thị Răm), vợ thứ của ông này.

"Gió đưa cây cải về trời,
Rau răm ở lại chịu lời đắng cay"

là câu ca dao dân gian đặt ra để bày tỏ ḷng thương cảm đối với bà Phi Yến, một phụ nữ tài sắc, giàu ḷng yêu nước.

Sự tích của câu ca dao trên như sau:

Để đánh lại quân Tây Sơn, Nguyễn Ánh dự định gởi con cả là Hoàng tử Cảnh đi theo cố đạo Pháp (Bá Đa Lộc) sang Pháp cầu viện. Bà Phi Yến (Lê Thị Răm) là vợ thứ của Nguyễn Ánh đă can ngăn chồng, đừng làm việc "cơng rắn cắn gà nhà" để người đời chê trách. Nguyễn Ánh không những không nghe lời khuyên của Bà mà c̣n tức giận, nghi Bà thông đồng với quân Tây Sơn, nên định giết Bà. Nhờ quần thần can xin, Nguyễn Ánh đă tống giam Bà vào một hang đá trên đảo Côn Lôn nhỏ. Khi quân Tây Sơn đánh ra đảo, Nguyễn Ánh bỏ chạy ra biển, Hoàng tử Cải (c̣n gọi là Hoàng tử Hội An), con Bà Phi Yến lúc đó mới 4 tuổi đ̣i mẹ đi cùng. Trong cơn tức giận, Nguyễn Ánh đă ném con xuống biển. Xác Hoàng tử Cải đă trôi vào bải biển Cỏ Ống. Dân làng đă chôn cất Hoàng tử. Bà Phi Yến, theo truyền thuyết, được một con vượn và một con hổ cứu ra khỏi hang và về sống với dân làng Cỏ Ống để trông nom mộ Hoàng tử Cải. Một lần sau khi bị một kẻ xấu xúc phạm, Bà đă tự tử để thủ tiết với chồng.

Hiện nay ở Côn Đảo vẫn c̣n ngôi miếu An Sơn do dân đảo dựng vào năm 1785 (đến năm 1958 đă được xây dựng lại) để thờ bà Phi Yến.

Đây là một câu ca chắc hẳn nhiều người dù ở miền Bắc, Trung Nam đă được nghe một lần trong đời.

"Gió đưa cây cải về trời
Rau răm ở lại, chịu lời đắng cay…"

Câu ca thật buồn, chất chứa ắp đầy tâm trạng mà không sao giải thích nổi cặn kẽ v́ sao nhân gian lại chọn cây cải và rau răm để gửi gắm nỗi niềm cay đắng. ( sưu tầm trên net)


***

Phù !!! sau một hồi lục lọi có rất nhiều truyền thuyết về cội nguồn của câu ca này em thấy ư này khái quát hơn cả xin gửi tới các bác tham khảo:

Theo Hoàng Long Hải/Tuệ Chương th́:

Đời Hiển Tông nhà Lê, Nguyễn Ánh bị quân Tây Sơn đánh đuổi vào Nam, rồi chạy ra Côn Đảo (Pulau Condor). Bấy giờ Nguyễn Ánh thua thất điên bát đăo nhiều trận, thế cùng lực tận. Ông bèn nói với giám mục Bá Đa Lộc (Pignau De Behaine) đem con trai của ông là Hội An, tên tục là Cải, về Pháp để xin viện binh (Việc này xảy ra trước việc Hoàng tử Cảnh). Mẹ của Hội An (tức Cải) là bà Phi Yến, tên tục là Răm mới can rằng:

- “Việc đánh nhau với Tây Sơn là việc trong nhà, nên dấy nghĩa binh mà chống lại. Rước người ngoại quốc (Việt Cọng gọi là người nước ngoài) vào có thể gây hậu họa, sau nữa dân chúng chê cười.”

Nguyễn Ánh không những không nghe, c̣n nổi giận đùng đùng, cho rằng Phi Yến tư thông với giặc, ra lệnh chém. Quan quyền xông lại can, Nguyễn Ánh mới cho đem giam bà Phi Yến vào hang đá, chờ hậu xét. Khi bị đem đi giam, bà Phi Yến chỉ đem theo ít bánh, đủ ăn trong mười ngày (cũng giống như đi cải tạo, đem theo lương thực 10 ngày!!!) và một con vượn trắng làm bạn.

Ít bữa sau, quân Tây Sơn đánh tới. Nguyễn Ánh vực gia quyến và một ít tàn binh lên thuyền tính chạy ra Phú Quốc. Khi lên ghe, cậu Hội An đ̣i đem mẹ theo cho được, không th́ cho cậu ở lại với mẹ. Nguyễn Ánh giận lắm, cho là giống phản phúc, cũng theo mẹ mà tư thông với giặc thôi, bèn ném cậu xuống biển, nói:

- “Mày muốn theo mẹ mày th́ tao cho theo.”

Cậu Hội An chết đưối. May nhờ có con cọp đen mà cậu nuôi từ nhỏ, nhảy theo cậu xuống biển rồi lôi xác cậu vào bờ, moi đất mà chôn. Dân làng biết, bèn đến đắp mộ tử tế.

Do vậy mới có câu ca dao:
Gió đưa cây Cải về trời,
Rau Răm ở lại chịu lời đắng cay.

Cậu Cải (Hội An) chết sớm, mẹ cậu là Răm (tức bà Phi Yến) c̣n sống. C̣n lời đắng cay th́ do đâu mà ra? Sách của NTN cũng viết là "lời". Có thể đó là "Đời" mà không phải là "Lời" chăng? Chịu đời đắng cay là đời cô quạnh, con chết, chồng bỏ đó chăng? Người đàn bà có hai nỗi khổ lớn nhất trong đời họ: Một là con chết, hai là chồng bỏ. Bà Phi Yến gặp cả hai cảnh ngộ khổ đau này, không phải là "Đời đắng cay" đó sao? C̣n "lời đắng cay" là lời trách mắng, ch́ chiết, chê bai... th́ đâu có ai nói điều đó với bà Phi Yến đâu?

Chuyện kể tiếp rằng:

Một hôm cọp đi lang thang gặp vượn đi hái trái cây về cho bà Phi Yến, bèn nhận ra nhau là "bạn" (v́ được nuôi cùng một nhà từ nhỏ). Vượn đưa cọp về hang. Cọp lấy lưng mà đẩy tảng đá che cửa hang lại rồi cả ba về làng.

Một hôm, làng An Hải mở hội, bèn mời bà Phi Yến đến dự. Lúc đó bà mới 23 tuổi. Một tên vô lại họ Biện, thấy bà đẹp bèn đến nắm tay bà. Làng bắt tội nó, phải đ̣n. Riêng bà Phi Yến, theo tục lệ xưa, có chồng mà để cho người lạ nắm tay cũng là thất tiết với chồng nên bà cắn lưỡi tự tử. Dân làng chôn cất tử tế và xây đền thờ cả hai mẹ con.

Người ta đồn là hai mẹ con bà hiển thánh, thường hay cứu độ dân làng. Những đêm mưa to gió lớn, họ nghe vọng từ trên trời xuống tiếng hai mẹ con khóc than v́ số phận đắng cay của họ.


http://i834.photobucket.com/albums/zz268/vhp2010/raurm.jpg
Rau răm ở lại chịu lời đắng cay




:merci: Đại Tỷ HVLN
:rose1::heartbeat:
HP-HTMT
http://members.shaw.ca/SaiGon1977/XuanMT/h113.jpg

hoangthymaithao
12-10-2009, 04:23 PM
http://i834.photobucket.com/albums/zz268/vhp2010/NT-DauYeuMotThoi.jpg
Gió đẩy gió đưa cho vừa ḷng bạn
Song Ngân Hà chỗ cạn chỗ sâu.
http://i834.photobucket.com/albums/zz268/vhp2010/songtien.jpg

hoangthymaithao
12-12-2009, 08:18 AM
T́nh yêu trong văn học dân gian Việt Nam


» Tác giả: Tuệ Chương hoànglonghải

1. T́nh yêu trong văn học dân gian Việt Nam

Sự xung đột giữa chủ nghĩa phong kiến VN và chủ nghĩa cá nhân Tây phương do ảnh hưởng Tây hóa sau khi người Pháp truyền bá tư tưởng họ vào VN tạo nên một phong trào đổi mới đứng đầu là nhóm Tự Lực Văn Đoàn ở Hà Nội và đối kháng là những nhà văn c̣n trĩu nặng ảnh hưởng xă hội cũ như Nguyễn Công Hoan làm cho người ta thêm nghĩ rằng xă hội VN chịu ảnh hưởng Nho giáo nặng nề, qua đó t́nh yêu giữa trai gái bị ngăn cấm triệt để, đám thanh niên, nhất là con gái chẳng có một chút tự do nào trong chuyện yêu đương hay chọn người hôn phối. Câu tục ngữ “Cha mẹ đặt đâu con ngồi đó” trở thành câu nói đầu cửa miệng của những bậc cha mẹ muốn hoàn toàn kiểm soát và điều khiển việc hôn nhân của con cái. Nó cũng là câu nói đầu cửa miệng của những người muốn chống lại chế độ phong kiến hà khắc trong việc hôn nhân.

Thực ra, chỉ đối với một số gia đ́nh trung lưu và thượng lưu trong xă hội cũ - một số chứ không phải tất cả, muốn ǵn giữ cái mà họ là “gia phong” mới nắm lấy quyền quyết định hôn nhân con cái, mới có việc “cha mẹ đặt đâu con ngồi đấy” mà thôi.

Khi con cái khôn lớn, cha mẹ muốn chọn cho con người hôn phối làm thế nào để con cái có hạnh phúc về sau. Có lẽ đó là ư niệm trước nhất của họ. Nhưng hạnh phúc đó như thế nào? Đó là câu hỏi lớn với nhiều tiêu chuẩn chọn lựa mà tôi sẽ bàn trong đề tài hôn nhơn. Có lẽ những tiêu chuẩn đó làm nảy sinh ra việc ngăn cấm con cái yêu đương trước khi thành vợ chồng.

Từ những yêu cầu khắt khe đó, người con trai, con gái lớn lên sẽ không có t́nh yêu trước hôn nhân?

Trong những gia đ́nh như tôi vừa tŕnh bày ở trên, điều đó khá rơ. Dĩ nhiên, không thiếu những trường hợp ngoại lệ như chuyện t́nh giữa Phạm Thái và Trương Quỳnh Như trong lịch sử văn học ta. Ngoài ra, sự tích Trương Quân Thụy và Thôi Oanh Oanh trong lịch sử văn học Trung Hoa cũng có ảnh hưởng nặng nề trong văn học cũng như trong xă hội Việt Nam.

Ngay trong văn học bác học, một thứ văn học dành cho người có học, có nghĩa là trong xă hội cũ, ít ra, họ cũng thuộc từ giai cấp trung lưu trở lên th́ sự kiện “cha mẹ đặt đâu con ngồi đó” là hẳn nhiên. Bên cạnh đó, con trai, con gái vẫn cứ yêu nhau mà cha mẹ không biết, có khi trước hay ngoài cả hôn nhơn. Điều nầy rất rơ ràng.

Chẳng hạn như với cô Kiều trong “Truyện Thúy Kiều” tác phẩm nổi tiếng bậc nhất trong văn học chữ Nôm th́ gia tư Kiều thuộc “thường thường bậc trung” có nghĩa là thuộc giới trung lưu, và “thuộc ḍng nho gia”. Mặc dù cha mẹ có dạy “tường đông ong bướm đi về mặc ai” nhưng chính Kiều đă yêu ngay chàng Kim (Kim Trọng) khi hai người mới gặp nhau lần đầu, rồi “hẹn ḥ vườn thúy”, thậm chí Kiều c̣n lợi dụng lúc cha mẹ vắng nhà, “xăm xăm băng lối vườn khuya một ḿnh” sang nhà Kim Trọng, cắt tóc thề non hẹn biển, v.v...

Trong giới b́nh dân sự kiện ấy có khác đi chăng?
Quả thật là không!

Đọc những tác phẩm như “Đồng quê” của Phi Vân, giải thưởng Gia Long năm 1943, những tiểu thuyết của Hồ Biểu Chánh như “Ngọn cỏ gió đùa”, “Cha con nghĩa nặng” v.v... nói về đời sống dân quê ở trong Nam hoặc “Nhà quê” của Ngọc Giao, “Quê người” của Tô Hoài, “Sợ sống” của Lê Văn Trương, v.v... và một số bài thơ của Nguyễn Bính, nói về đời sống người dân quê ở miền Bắc, ta thấy người dân quê Việt Nam vượt ra ngoài cái mà người ta gọi là “Cha mẹ đặt đâu con ngồi đó.” Họ yêu nhau rất tự nhiên, cả trước khi cha mẹ biết và trước khi cưới. Trong cuốn tiểu thuyết “Tỵ Bái” của Nguyễn Hoạt, ông mô tả cảnh sống rất trụy lạc của một làng quê ngoài Bắc, cảnh mà trong truyện Kiều gọi là “Trên bộc, trong dâu”. Chủ ư của Nguyễn Hoạt là muốn nói lên cảnh sa đọa, bóc lột và bất công của xă hội Việt Nam thời tiến chiến, là chỗ đất tốt để Cộng Sản dễ gieo mầm khởi loạn.
Khung cảnh thiên nhiên trữ t́nh và môi trường xă hội nông nghiệp dễ làm nẩy sinh t́nh yêu. Trước hết, cảnh thiên nhiên nào mà chẳng đẹp! Một khung trời xanh biếc, một chiều vàng gió lộng với những tầng mây rực rỡ huy hoàng, cảnh đồng ruộng mênh mông với tiếng lúa ŕ rào, những ḍng sông hiền ḥa lặng lẽ, v.v... tác động không ít lên t́nh yêu thiên nhiên của người ta, khiến người ta mở rộng ḷng ra với đời. Thứ hai, việc đồng áng khiến trai gái dễ gần gũi, tiếp xúc với nhau, không chỉ có khung cảnh “Chồng cày vợ cấy con trâu đi bừa” mà thôi mà trai gái làm chung công việc đồng áng trên một thửa ruộng, trên một cánh đồng, trong sân phơi, trong vườn nhà. Công việc đồng áng nặng nhọc và cần nhiều nhân công trong một thời gian nhất định. Ví dụ: Khi cấy, gặt người ta cần tập trung nhiều người và công việc phải kết thúc trong một thời gian ngắn ngủi. Do đó, người nhà quê phải làm “vần công”, nhà nầy giúp nhà kia, rồi trao đổi luân phiên như thế. Hay là các bạn thợ cấy, thợ gặt đi làm mướn từ làng nầy qua làng khác. Đó là lúc trai gái làm việc chung với nhau, đùa giỡn, ca hát. Việc ca hát thịnh hành nhất là vào những đêm trăng giă gạo, trai gái chia hai phe hát đối đáp, v.v... Ngoài ra, trai gái nhà ở kế liền nhau cũng là cơ hội hai người gặp gỡ, chuyện tṛ, dẫn dắt đến t́nh yêu.

Sau đây, viện dẫn vài câu ca dao chứng minh những trường hợp trên:
Ví dụ 1:
Hỡi cô gánh nước quang mây
Cho anh một gáo tưới cây ngô đồng
Cây ngô đồng cành cao cành thấp
Ngọn ngô đồng là dọc lá ngang
Quả dưa gang ngoài xanh trong trắng
Quả mướp đắng ngoài trắng trong vàng
Từ ngày anh gặp mặt nàng
Ḷng càng ngao ngán, dạ càng ngẩn ngơ

Ở thôn quê, con gái phải ra giếng hoặc ra sông gánh nước. Nước giếng thường để uống, nước sông để tắm giặt hay tưới cây. Người con gái gánh nước đi qua chỗ người con trai. Anh chàng giả xin nước tưới cây ngô đồng. Thực ra, anh ta chỉ mượn ư cây ngô đồng để tỏ t́nh cùng nàng:
Quang là tiếng Bắc, tiếng Trung và Nam gọi là gióng. Gióng làm bằng cây mây. Anh ta dùng h́nh ảnh cây ngô đồng cành cao cành thấp hay lá ngô đồng chiếc dọc chiếc ngang, cũng như trái dưa ngoài vỏ trong ruột khác nhau. Tất cả đều giống như t́nh yêu của anh đối với nàng ngổn ngang nhiều thứ.

Ví dụ 2:
Hỡi anh đi đường cái quan
Dừng chân đứng lại em than đôi lời
Đi đâu vội mấy anh ơi
Cái quần cái áo như người nhà ta
Cái ô em để trong nhà
Khen ai mở khóa đưa ra cho chàng

Đây là lời hát diễu không hẳn là của người con gái mà có thể là bạn cô ấy. Hai người đang làm công việc đồng áng (cấy lúa hay gặt) bên đường cái quan. Đường cái là đường lớn (cái=lớn), đường của quan đi, đường chạy ngựa trạm đưa tin tức của các quan hay triều đ́nh. Người con gái giả bộ nh́n quen qua cái áo cái quần của người đi đường đang mặc, và cả cái ô (dù) người ấy đang cầm. Ai đem dù ra cho chàng đây, ư muốn trêu ghẹo rằng chính người bạn gái đang cùng làm việc đă đưa cho chàng dùng.

Ví dụ 3:
Nàng về giă gạo ba trăng
Để anh gánh nước Cao Bằng về ngâm
Nước Cao Bằng ngâm th́ trắng gạo
Anh biết em có liệu được chăng
Trần trần như cuội cung trăng
Biết rằng cha mẹ có bằng ḷng không
Để anh chờ đợi uổng công

Người con trai nói với người con gái hễ hai người lấy được nhau th́ đẹp đôi lắm, giống như lúa ba trăng ngâm với nước Cao Bằng th́ gạo trắng lắm. Lúa ba trăng là lúa trồng ba tháng th́ gặt. Nước Cao Bằng có nghĩa là nước đầu sông Hồng Hà, không đỏ như ở hạ lưu. Thế nhưng anh ta th́ nghèo, trần lưng không có áo mặc như chú cuội ngồi chăn trâu trên mặt trăng. Anh ta sợ cha mẹ cô gái chê nghèo mà không gă, khiến anh ta phải chờ đợi uổng công.

Ví dụ 4:
Nhớ ai con mắt lim dim
Chân đi thất thểu như chim tha mồi
Nhớ ai hết đứng lại ngồi
Ngày đêm tơ tưởng một người t́nh nhân

Khi yêu đương, người ta nhớ nhau là một điều rất thường. H́nh ảnh người yêu “Con mắt lim dim” và “đi thất thểu” làm người ta nhớ, nhớ ngày nhớ đêm đến người t́nh. Người ta không thể làm việc ǵ cho xong v́ nhớ quá, “hết đứng lại ngồi”.

Nói về nhớ người yêu, ca dao c̣n nhiều câu như sau:
Nhớ ai bổi hổi bồi hồi
Như đứng đống lửa như ngồi đống than

T́nh nhớ là t́nh nóng. Nó không lạnh bao giờ. Nhớ làm cho ḷng người ta “như lửa đốt”, “như đứng đống lửa như ngồi đống than.” Nhớ th́ vẫn nhớ nhưng phải giấu kín cha mẹ, sợ bị rầy la:
Nhớ ai em những khóc thầm
Hai hàng nước mắt đầm đầm như mưa
Nhớ ai ra ngẩn vào ngơ
Nhớ ai, ai nhớ bây giờ nhớ ai

Nói về sự nhớ nhung của trai gái yêu đương, có lẽ bài ca dao sau đây là một trong những bài hay nhất:
Khăn thương nhớ ai
Khăn rơi xuống đất
Khăn thương nhớ ai
Khăn vắt lên vai
Đèn thương nhớ ai
Mà đèn không tắt
Mắt thương nhớ ai
Mắt ngủ không yên

Bài ca dao dưới dạng câu hỏi nhưng thực ra đó là câu tán thán. Khăn vắt lên vai mà hờ hững rớt xuống đất là v́ nhớ! Đèn thương nhớ mà không tắt v́ “đêm đêm thắp ngọn đèn dầu, Ngọn đèn dầu khô cạn nước mắt nầy không khô”. Thắp đèn ngồi nh́n, nhớ người t́nh và khóc. Dù có tắt đèn đi ngủ cũng không ngủ được (Mắt ngủ không yên).

Những h́nh ảnh khăn vắt vai hờ hững, chong đèn ngồi nhớ, hay sững sờ quên việc là điều rất thường thấy trong t́nh trường. Người đàn bà nhà quê thường có khăn vắt vai để lau mặt, lau mồ hôi cho tiện khi đang làm công việc. Trong nam, họ thường dùng khăn rằn. Tục dùng khăn rằn ảnh hưởng từ chiếc khăn rằn của người Miên đồng bằng sông Cửu Long.

Người ta cũng nhớ tới lời thề “nguyện ước ba sinh”, sợ xa cách và sợ người yêu đi lấy chồng khác:

Ví dụ 5:
Nhớ lời nguyện ước ba sinh
Xa xôi ai có biết t́nh chăng ai
Khi về hỏi liễu Chương Đài (*)
Cành xuân đă bẻ cho ai một cành
Có yêu anh th́ bẻ quách cho anh

(*) Hàn Hủ đời Đường (Trung Hoa) có người vợ tên là Liễu thị. Ông đi làm quan xa để vợ ở lại tại phố Chương Đài, kinh thành Trường An. Viết thư, cho vợ: “Chương Đài liễu. Tích nhật thanh thanh kim tại phủ. Giả ưng phan chiết tha nhân thủ.” (Cây liễu Chương Đài xanh xanh ngày xưa nay c̣n không hay có kẻ khác bẻ mất rồi). Giặc Phiên chiếm Trường An bắt mất Liễu thi. Tướng Hứa Tuấn bắt lại được, nhà vua bèn trao về lại cho Hàn Hủ.

Ví dụ 6:
T́nh cờ mà gặp nhau đây
Mượn cắt cái áo, mượn may cái quần
May xong, anh trả tiền công
Bao giờ lấy chồng anh đỡ vốn cho
Giúp em một thúng xôi ṿ
Một con lợn béo, một ṿ rượu tăm
Giúp em đôi chiếu em nằm
Đôi chăn em đắp, đôi tằm em đeo
Giúp em quan tám tiền cheo
Quan năm tiền cưới lại đèo buồng cau.

Người con trai giả bộ làm quen để tỏ t́nh với người con gái. Những thứ anh ta gọi là “giúp”, thực sự đó là quà cưới của chàng rể sắm sửa cho cô dâu. Dù yêu nhau trước hôn nhân nhưng cũng cưới hỏi đầy đủ lễ nghi đàng hoàng.

Ví dụ 7:
Trèo lên cây bưởi hái hoa
Bước ra vườn cà hái nụ tầm xuân
Nụ tầm xuân nở ra xanh biếc,
Em có chồng em tiếc lắm thay
Ba đồng một miếng trầu cay
Sao em không hỏi những ngày c̣n không
Bây giờ em đă có chồng
Như chim vào lồng như cá cắn câu
Cá cắn câu biết đâu mà gở
Chim vào lồng biết thuở nào ra

Đây là lời đối đáp giữa hai người con trai và con gái nhà ở kế cận nhau. Người con trai yêu thầm người con gái, không dám bày tỏ. Khi người con gái đă lấy chồng chàng mới dám thố lộ t́nh yêu. Khi đó th́ đă trễ rồi, v́ cô ta đă có chồng, giống như “chim vào lồng”, như “cá cắn câu.”

Ví dụ 8:
Trăm năm diều(*) nỗi hẹn ḥ,
Cây đa bến cộ (*) con đ̣ khác đưa
Cây đa bến cộ c̣n lưa(*)
Con đ̣ đă thác (*) năm xưa tê (*) rồi.

(*) Tiếng địa phương Trị Thiên: diều=nhiều. Cộ=cũ. C̣n lưa=C̣n lại. Thác=chết (tiếng Việt cổ). Tê=kia.
Truyện kể ngày xưa có anh học tṛ trên đường về kinh đô Huế ứng thí, gặp cô lái đ̣ bên sông. Hai người yêu nhau và thề hẹn. Anh học tṛ thi hỏng, lưu lạc xứ người mấy năm. Đến khi trở về bến sông cũ th́ người con gái không c̣n giữ lời thề cũ nữa, đă đi lấy chồng.

Ví dụ 9:
Cây đa trốc gốc
Thợ mộc đang cưa
Gặp em đứng bóng ban trưa
Trách trời vội tối phân chưa hết lời.

Cây đa thường trồng ở đầu làng, đầu đ́nh, nơi linh thiêng, trai gái đến đó thề hẹn cùng nhau. Nay “cây đa trốc gốc, thợ mộc đang cưa”, có nghĩa là lời thề không c̣n, mối t́nh bị chia xẻ. Chàng gặp cô nàng đă trễ tràng (ban trưa), chưa kịp tỏ bày hết tâm sự th́ nàng đă đi lấy chồng hay qua đời sớm (trời vội tối).

Ví dụ 10:
Cầu Trường tiền (*) sáu vài mười hai nhịp
Em qua không kịp tội lắm người ơi
Chẳng thà không biết thời thôi
Biết rồi mỗi kẻ mỗi nơi cũng buồn.
(*) Cầu Trường Tiền hay Tràng Tiền ở Huế, kinh đô đời Nguyễn, nối hai bờ sông Hương.

Cầu nối liền hai bờ để hai người yêu đến với nhau. Nhưng một người qua không kịp cầu, có nghĩa là người kia đă kết hôn (cưới vợ hay lấy chồng). Yêu nhau mà không lấy được nhau chỉ làm cho thêm buồn ḷng.
Hỡi anh đi đường cái quan,
Dừng chân đứng lại em than đôi lời

Đây là lời người con gái muốn tỏ t́nh cùng con trai
Hỡi cô tát nước bên đàng
Cớ sao múc ánh trăng vàng đổ đi?

Lời người con trai trêu ghẹo và muốn tỏ t́nh cùng cô gái
Hết mùa “toóc” rạ (*) rơm khô
Bạn về quê bạn biết mô mà t́m
(*) “Toóc” hay rạ, phần dưới của cây lúa sau khi đă gặt (phần trên của cây lúa, có bông, gọi là rơm), dùng thay củi hay đốt để làm phân.

Hết mùa gặt, “toóc” rơm ngoài đồng đă khô, lúc đó, “bạn” (người yêu) về quê (sau khi gặt thuê), không c̣n gặp nhau được nữa.
Qua cầu ngả nón trông cầu
Cầu bao nhiêu dịp dạ em sầu bấy nhiêu

Cầu nối liền hai bờ, cho người hai bên sông qua lại gặp gỡ và yêu đương. Nay cầu vẫn c̣n mà t́nh không c̣n, cho nên cầu dài bao nhiêu th́ ḷng buồn bấy nhiêu.
Qua đ́nh ngả nón trông đ́nh
Đ́nh bao nhiêu ngói dạ thương ḿnh bấy nhiêu.

Đ́nh làng, chỗ thờ thành hoàng, người xây dựng lên làng đó, trai gái thường đến đó thề bồi. Nay t́nh yêu tan vỡ, trông đ́nh, nhớ lời thề cũ, càng thương ḿnh và thấy nhớ yêu người cũ.
Thương nhau cởi áo cho nhau
Về nhà mẹ hỏi qua cầu gió bay

T́nh yêu hai người khá mănh liệt, cô nàng dám cởi áo cho chàng để chàng giữ cái hơi. Rồi về nhà nói dối với mẹ.
Tóc mai sợ vắn sợ dài
Lấy nhau chẳng đặng thương hoài ngàn năm

Tóc mai là những sợi tóc ngắn ở trán, thường trang điểm cho khuôn mặt thêm đẹp, duyên dáng. Có thể đă cắt tóc nầy mà thề nguyện với nhau. Tóc c̣n đó mà không lấy nhau được, t́nh yêu có bao gờ quên!?
Lưu ư bạn đọc. Bây giờ nhiều người thường sửa chữ thương thành chữ yêu (“Thương nhau cởi áo...” thành “Yêu nhau cởi áo... ), như vậy là sai. Người xưa ít khi dùng chữ yêu mà hay dùng chữ thương. “Anh có thương tui không?” hoặc “Thương chàng lắm lắm chàng ơi.” “Thương nhau lắm, cắn nhau đau.” Chữ yêu là chữ của người có học, hay thường dùng trong văn chương. Giới b́nh dân dùng chữ thương. Thương là hy sinh, là cho mà không đ̣i lại, không so sánh nhiều ít, hơn thua, không giống như Xuân Diêu “Yêu là chết ở trong ḷng một ít” và “Cho rất nhiều song chẳng nhận bao nhiêu!”

Ngoại trừ một số bần nông, cố nông, sự cách biệt trong xă hội nông nghiệp Việt Nam không quá xa nên việc hôn nhân không nhiều trở ngại về giai cấp, giàu nghèo như trong xă hội phong kiến Ây Tây. Vả lại, mục đích chính của hôn nhân là hạnh phúc lứa đôi nên điều cần thiết để thành công trong đời sống vợ chồng không phải là giàu có hay địa vị mà chính là sự ḥa thuận yêu thương nhau của hai người. “Thuận vợ thuận chồng tát biển đông cũng cạn.” Từ ư nghĩa đó, quan điểm hôn nhân của người nhà quê Việt Nam thường ít khi khắt khe về giàu nghèo hay giai cấp. Chẳng hạn như trong truyện cổ tích “Chữ Đồng Tử và công chúa Tiên Dung” th́ Chữ Đồng Tử là một anh chàng đánh cá nghèo khổ đến nỗi không có cả cái khố mà mặc, trong khi đó Tiên Dung là một công chúa. Tuy nhiên, hai người vẫn yêu nhau ngoài ư kiến của vua cha (Chữ Đồng Tử lúc gặp công chúa th́ đă mồ côi cả cha lẫn mẹ). Trong đời sống vợ chồng họ thành công vượt bực v́ thuận ḥa với nhau. Theo quan điểm chung của người Việt, t́nh yêu đó, hôn nhân đó là do Trời sắp đặt.

Trong khi đó th́ chuyện t́nh giữa Trương Chi, anh thuyền chài và Mỵ Nương con quan tể tướng th́ tan vỡ. Mỵ Nương yêu tiếng hát của Trương Chi nhưng khi thấy Trương Chi th́ nàng thất vọng v́ chàng xấu xí (mặt rỗ) và nghèo. Yếu tố chính làm tan vỡ t́nh yêu là v́ chàng xấu trai quá chứ chưa chắc v́ chàng nghèo. Ngược lại, Trương Chi yêu Mỵ Nương v́ nàng đẹp chứ không phải v́ nàng là con quan tể tướng. Do đó, qua truyện nầy, yếu tố mỹ thuật (đẹp xấu) trở thành vấn đề quan trọng trong t́nh yêu. Tuy nhiên, Trương Chi vẫn yêu thầm cho đến chết và trái tim hóa đá. Yếu tố làm t́nh yêu tan vỡ là v́ Trương Chi xấu trai hay v́ sự xa cách giàu nghèo, người dân thường và gia đ́nh quan to?!

Suy cho cùng, đẹp vẫn thường là yếu tố không kém quan trọng trong t́nh yêu và hôn nhơn. Do đó, có câu tục ngữ an ủi cho ai lấy chồng “xấu trai”: “Củi tre dễ nấu, chồng xấu dễ sai.”
Trong truyện “Bích câu kỳ ngộ” (Tú Uyên -Giáng Kiều) có một yếu tố quan trọng khác thường thấy trong t́nh yêu của người Việt Nam. Đó là: “Trai tài. Gái sắc”. Tú Uyên học giỏi, có nghĩa là văn hay chữ tốt, Giáng Kiều là nàng tiên, -không có nàng tiên xấu bao giờ. Hai người yêu nhau trước khi thành hôn.

Tài, ngoài nghĩa văn hay chữ tốt c̣n có nghĩa là người chỉ huy. Người con gái ngoài cái đẹp c̣n phải buôn bán giỏi (Một yếu tố khác trong công-dung-ngôn-hạnh). Chẳng hạn “Trai khôn t́m vợ chợ đông, Gái khôn t́m chồng giữa đám ba quân.”

Truyện Từ Thức lại cho thấy một tiêu chuẩn khác nữa trong t́nh yêu: Tính hào hiệp của người đàn ông. Từ Thức cầm áo lấy tiền để chuộc nàng tiên khỏi bị bắt tội v́ làm găy cành hoa. Nàng tiên trong truyện “cảm” Từ Thức, trước hết không phải v́ Từ Thức đẹp trai. Trong truyện không mô tả Từ Thức đẹp hay không đẹp. Cũng không phải v́ Từ Thức học giỏi và làm quan. Hai người gặp nhau rất t́nh cờ, không ai biết quá khứ của ai. Nàng yêu chàng v́ chàng có ḷng cao thượng, hào hoa. Ngay khi ấy, có thể Từ Thức thấy nàng đẹp nhưng chưa yêu. Chàng từ quan trở về quê cũ không phải v́ người chàng yêu mà v́ chàng chán cảnh quan trường. Chàng đi “ngao du sơn thủy” không phải để t́m nàng mà v́ chàng thấm nhuần đạo Tiên (Lăo). Chàng gặp lại nàng là do sự sắp xếp của tiên mẫu, của Trời. Nếu chàng yêu thắm thiết nàng, có lẽ Từ Thức sẽ không xin vợ trở về dương thế. Sự kiện nầy làm cho mối t́nh hai người tan vỡ. Từ Thức không bao giờ gặp lại vợ nữa.

Chủ nghĩa cá nhân không phát triển mạnh trong xă hội Việt Nam. Yêu đương là điều tự nhiên của trai gái, nhưng mục đích cuối cùng của nó là hôn nhân. V́ vậy, họ yêu nhau không phải chỉ để yêu chơi, một tṛ chơi mà rất tôn trọng mối t́nh của họ. Do đó, trong t́nh yêu, người Việt Nam rất hay thề bồi. Ư nghĩa lời thề là giữ trọn ḷng chung thủy, không quên nhau, không bỏ nhau, v.v... Nơi họ thường đến thề thường là nơi thờ phượng linh thiêng, chẳng hạn như ở đ́nh làng là nơi thờ thành hoàng, người lập ra làng ấy, cây đa bên đ́nh hay ở đầu làng, ở đền chùa miếu mạo hay chỉ vào vầng trăng mà thề như trong truyện Kiều. Có khi những lời thề đó rất độc, đem tính mạng và danh dự để bảo đảm cho lời thề của ḿnh. Từ ư nghĩa đó, mỗi người chỉ có một nhân t́nh mà thôi.

Ca dao có câu:
Sông dài mà lắm đ̣ ngang,
Em nhiều nhân ngăi, em mang oán thù.

Không phải là không có sự phân biệt trong t́nh yêu của người Việt Nam. Khi người con gái đi lấy chồng, họ thuộc về gia đ́nh chồng, không c̣n thuộc gia đ́nh họ nữa. Lâu lâu, người con gái mới về thăm lại cha mẹ ḿnh c̣n thường th́ bận bịu lo công việc nhà chồng. Đặc biệt khi có con cái th́ họ chẳng có th́ giờ để về thăm cha mẹ nữa. Lấy chồng người cùng làng, hay gần làng c̣n có dịp lui tới. Lấy chồng xa, việc đi lại khó khăn, việc thăm viếng cha mẹ càng khó khăn.

Câu ca dao sau đây bảy tỏ ḷng trông ngóng, chờ mong của một người vợ lấy chồng ở xa:
Sáng trăng suông vằng vặc cái đêm hôm rằm
Nửa đêm và sáng trăng bằng ngọn tre
Em trót yêu anh cho trọn một bề
Để anh thấp thoáng ngồi kề bóng trăng
Sự t́nh nầy ai thấu cho chăng!
Để anh ngồi tựa bóng trăng chịu sầu
Gánh tương tư một dịp đôi ba cầu
Bắc Nam đôi ngă chịu sầu đôi nơi
Con chim khôn chết mệt v́ mồi
Chim kêu réo rắt gọi người t́nh chung
Hai chúng ta vấn vít sợi tơ hồng
Nồi đồng th́ úp vung đồng
Con gái xứ Bắc lấy chồng Đồng Nai
Giậm chân xuống đất kêu trời
Chồng tôi vô Quảng biết đời nào ra

Tục ngữ có câu “Nồi nào úp vung nấy” có nghĩa là cần có sự đồng nhất giữa hai vật, hai người, sự hài ḥa, ḥa hợp giữa hai bên. Trong ư nghĩa của câu ca dao trên th́ người Bắc nên lấy chồng miền Bắc hay người Nam lấy chồng người Nam. Vô Quảng không hẳn chỉ là tỉnh Quảng Nam ngày nay. Trong thời Trịnh Nguyễn phân tranh, xứ Nam tức là đạo Quảng Nam, là đằng Trong, là từ sông Gianh trở vào. Ngày xưa, phương tiện di chuyển khó khăn, việc đi lại hai miền rất nhiều cách trở, cho nên lấy chồng xa xứ là một điều rất trở ngại làm cho hai vợ chồng nhiều khi phải sống xa nhau, người chồng đi xa lâu không thấy về.

Điều cấm kỵ thứ hai là kết hôn với những người làm nghề ca xướng. Tục ngữ có câu “Xướng ca vô loại.” Trong truyện Nguyễn Kỳ và người ca nữ, cuối cùng hai người không lấy dược nhau cũng bởi lư do nầy.
Nh́n chung, Việt Nam là một xă hội tôn trọng luân lư, có khi v́ ảnh hưởng Nho giáo, nhất là Tống Nho, nên có nghiêm khắc trong vấn đề quan hệ nam nữ, nhưng cũng không quá khắt khe đến độ có thể triệt tiêu t́nh cảm của con người, nhất là t́nh yêu trai gái là t́nh yêu tự nhiên trong cuộc sống của con người và sự tồn tại của nhân loại. Trong viễn tượng đó, trong con người Việt Nam, nhất là ở nông thôn, t́nh yêu lứa đôi nảy nở rất tự nhiên, trong sáng và chung thủy, không thiên về vật dục như trong xă hội Âu Mỹ. T́nh yêu của họ có mục đích rơ rệt là nhằm tiến tới hôn nhân và xây đắp tương lai, thiên về trách nhiệm đối với gia đ́nh và xă hội, chứ không quá trọng về mục đích hưởng thụ khoái lạc như người Âu Tây.

Tuy nhiên, qua việc Âu hóa và qua nhiều cuộc chiến tranh lâu dài, mục đích hướng thượng đó ngày nay trong xă hội Việt Nam bị vẩn đục đi rất nhiều. Đó là một điều đáng tiếc vậy.

hoànglonghai

hoangthymaithao
12-15-2009, 11:46 AM
Con c̣ trong ca dao Việt Nam


Nước Việt Nam nhà là một nước nông nghiệp, trên 90% dân chúng sống và làm lụng giữa thiên nhiên đồng nội, th́ việc những lũy tre xanh, những đàn c̣ trắng xuất hiện trong ca dao chẳng có chi là lạ. Thật ra trên thế giới thiếu ǵ những nước căn bản nông nghiệp; đặc biệt những nước thuộc Á Châu với những nét văn hoá tương đồng với nước ta, vậy mà trong suốt khoảng thời gian hai năm – từ 1966-1968 trong công việc nghiên cứu về văn chương nhi đồng quốc tế, phải t́m đọc tài liệu ca dao, truyện cổ tích quốc tế tại nhiều thư viện lớn Hoa Kỳ, kể cả Library of Congress tại Hoa Thịnh Đốn, soạn giả nhận thấy rằng h́nh ảnh con c̣ được nhân cách hoá một cách gần gũi, thân mật nhường kia quả là một sự kiện độc đáo của riêng ca dao Việt Nam, khi th́ tượng trưng người mẹ quê, khi là cô gái quê, khi là em bé quê, khi th́ chỉ dùng làm một h́nh ảnh khởi hứng …

Chính v́ tính cách vừa trong sáng, vừa ngộ nghĩnh của h́nh ảnh đó mà tất cả những bài ca dao nói tới con c̣, hoặc một vài loài điểu tương tự đều được soạn giả xếp thành một đề mục riêng của ca dao nhi đồng Việt Nam.

Sau con c̣, trong những bài ca dao nhi đồng Việt Nam, nhiều lần ta c̣n bắt gặp h́nh ảnh một loài cá nhỏ cũng được nhân cách hoá, đó là cá bống. Tục ngữ có câu : “Bống có gan bống”. Truyện cổ tích “Tấm cám” của ta cũng có bóng dáng cá bống xuất hiện:

“Tấm nghe lời Bụt mang con cá bống c̣n sót ở giỏ về thả xuống giếng nhà, ngày ngày hai bữa bớt phần cơm của ḿnh mang ra giếng gọi bống lên ăn.

Gọi rằng :


“Bống ơi bống!
“Bống lên ăn cơm vàng cơm bạc nhà ta,
“Đừng ăn cơm hẩm cháo hoa nhà người …”


Và ca dao nhi đồng có những bài :


“Cái bống là cái bống bang”, “Cái bống là cái bống b́nh”


Soạn giả có ư nghĩ cho rằng “cái bống” sở dĩ được nhân cách hoá trong một số bài không phải v́ h́nh ảnh “cái bống” cũng gần gũi quen thuộc với người dân quê như h́nh ảnh “cái c̣ bay bổng bay la”, mà v́ âm thanh của “cái bống” gần gũi âm thanh tiếng ru hời. Các bà mẹ Việt khi ôm con vỗ về t́m câu hát ru thường vẫn khởi sự bằng tiếng ru hời : “ạ ơi à ơi” hay “bồng bống bông bang…” có thể thoạt chỉ là :


Ạ ơi à ời …
Bồng bồng mà nấu canh khoai,
Aên cho mát ruột đến mai lại bồng


Hay


Ạ ơi à ơi …
Bồng bồng mà nấu canh tôm
Aên cho mát ruột đến hôm lại bồng


Rồi do sức hút của vần điệu “cái bống” đi vào ca dao lúc nào không biết :


Cái bống là cái bống bàng,
Mẹ bống yêu bống, bống càng làm thơ.


Trong ca dao của trẻ Việt có lần ta c̣n thấy con (chuột) cống và con ong được nhân cách hoá, rồi một bài khác là con cáo. Thật ngộ nghĩnh !


Nu na nu nống
Cái cống nằm trong
Cái ong nằm ngoài
Củ khoai chấm mật

Cái cáo, mặc áo em tao
Làm tổ cây cà
Làm nhà cây chanh,
Đọc canh bờ giếng,
Mỏi miệng thổi kèn


*Trích đoạn trong CA DAO NHI ĐỒNG từ TUYỂN TẬP VĂN CHƯƠNG NHI ĐỒNG của nhà văn DOĂN QUỐC SỸ

hoangthymaithao
12-15-2009, 11:49 AM
Cái C̣ (http://www.youtube.com/watch?v=E_6fk6F0yVQ)

Nữ Nhạc Sĩ : Nguyệt Ánh
Ca Sĩ : Băng Tâm


http://i35.tinypic.com/2e1zzly.jpg

hoangthymaithao
12-15-2009, 11:53 AM
Câu chuyện sau đây là h́nh ảnh một con c̣ đực trong kho tàng truyện cổ dân tộc thiểu số



Con C̣ Trắng


Truyện cổ dân tộc Mèo (M' Nông)


Ngày xưa, có một bác nhà nghèo, cứ sau mùa gặt, thường đi săn. Một hôm bác đi suốt buổi, xuyên rừng này, leo núi nọ, vượt suối kia, mà chẳng gặp được con mồi nào. Bác cứ đi, đi măi, đi miết, đến một cái hồ ở một thung lũng xa xôi. Nước hồ trong suốt đến đáy. Trên bờ chỉ có một chú c̣ trắng gầy g̣, yếu đuối đang chăm chú t́m mồi. Đàn cá tung tăng bơi lội ngoài xa. Con chó đi theo bác bỗng sủa rối lên. Bác lôi nó đi nó cũng không chịu đi, cầm gậy đánh, nó vẫn cứ cố giằng lại. Bực ḿnh, bác bỏ mặc con chó bướng bỉnh, đi về. Nhưng càng đi, càng nghe tiếng chó cắn dữ. Loanh quanh qua nhiều núi, không hiểu sao cái chân lại đưa bác về cái hồ. Con chó vẫn đứng sủa. Không có cách ǵ làm cho con chó im tiếng, bác nghĩ bụng: hay là ta bắt con c̣ về nuôi. Bác đỡ lấy c̣ bỏ vào gùi, con chó bỗng thôi sủa.

Vợ bác ở nhà, thấy chồng về ra đón như mọi khi. Hai vợ chồng bác không có con, nên tuy thấy chồng không săn được ǵ ngoài con c̣ gầy yếu ra, bà vẫn mừng rỡ cho chồng vui và bà cũng nói thích nuôi một chú c̣ thêm vui nhà cửa. Từ đó, c̣ được chăm sóc không phải như con gà, con vịt mà như con cái trong nhà. Thốt nhiên, một hôm họ không thấy c̣ đâu nữa, mà lại thấy một chàng trai gầy c̣m, yếu đuối, xấu xí, lông lá đầy người ngồi trong nhà. Hai vợ chồng bác rất ngạc nhiên nhưng sau thấy chàng trai hiền lành th́ cũng vui, cũng mến. Chàng trai ấy có tên là Cơ Lang Cót. Từ đó mọi công việc trong nhà có đôi bàn tay khéo léo của Cơ Lang Cót thêm vào. Đun nước, nấu cơm, quét dọn, trông coi lợn gà không có việc ǵ là Cơ Lang Cót không làm thành thạo khéo léo.

Làm việc nhà xong, Cơ Lang Cót lại xin cha mẹ cho đi chăn trâu. Trên băi chăn trâu, trai làng nô đùa vui vẻ. Họ bày đủ thứ tṛ chơi. Bữa đó, khi Cơ Lang Cót đưa trâu ra chăn cũng là lúc mọi người đang chơi một tṛ chơi đặc biệt. Giữa băi chăn trâu có một cây khô, thân cây có một hốc nhỏ. Trước kia, đó là tổ chim Xim Pốt một loại chim lông xanh như lá cây. Bọn con trai đua nhau lấy đá ném vào hốc cây. Ai ném trúng sẽ được nàng Hơ Via yêu dấu lấy làm chồng. Hơ Via đứng đó, mặc quần áo đẹp, mắt trong như nước suối, miệng cười như hoa nở, da óng ánh vàng như nghệ non. Hơ Via là con Mơ Tao, chủ làng. Hơ Via đứng đó như ra chiều khuyến khích mà cũng lại như giễu cợt.

Cơ Lang Cót cũng tới xem. Bọn trai làng ném đă mỏi tay, không một ai ném trúng. Ném chán, họ xoay ra trêu Cơ Lang Cót:

- Sao mày không ném đi

- Tôi không ném, Cơ Lang Cót trả lời

- Mày cứ ném đi, có sao đâu!

- Tôi xấu xí thế này, lỡ ném trúng, lấy được Hơ Via, người ta lại đánh tôi.

- Không lo đâu, chỉ sợ mày nói khoác, chúng tao sẽ không để ai đánh mày.

Họ nói măi, Cơ Lang Cót cầm một ḥn đá nhẹ nhàng tung lên. Như con chim Xim Pốt khéo léo khi chui vào tổ, ḥn đá lọt gọn vào hốc cây.

Hơ Via tức bực và xấu hổ. Biết bao chàng trai giàu có, khỏe mạnh, đẹp người đều ném không trúng, thế mà một đứa gầy g̣, xấu xí lông chim mọc đầy người lại ném được. Thế là Cơ Lang Cót bị một trận đ̣n về tội dám chơi trội, nhất là lại dám ném được đá vào hốc cây. Lũ trai làng chẳng những không bênh ǵ cho Cơ Lang Cót như chúng đă hứa, mà c̣n xúm lại reo cười, chế giễu.

Từ đó, Cơ Lang Cót không dám đi chăn trâu với lũ trai gái trong làng nữa. Chàng chăn trâu riêng ra một băi xa. ở đó chàng cắm một cái gậy, làm một cái cḥi nhỏ kề bên. Trâu ḅ như có dây buộc vào cây gậy, không con nào đi ăn xa. Cơ Lang Cót lên cḥi, cởi bộ áo lông chim ra, hiện nguyên h́nh là một chàng trai rất đẹp. Chàng lấy ống sáo ra thổi. Tiếng sáo kỳ diệu làm say mê cả đàn trâu ḅ đang gặm cỏ. Chúng quên ăn, đứng lặng như bầy trâu ḅ đá. ở băi cỏ rộng đằng xa, trai gái làng cũng quên hết công việc. Hơ Via như người mất hồn. Nàng bổ đi t́m người thổi sáo. Chân nàng đeo ṿng vàng, mỗi bước đi tiếng vang lên leng keng nhè nhẹ. Nghe tiếng động, Cơ Lang Cót vội mặc bộ áo lông vào. Và tiếng sáo vụt tắt như chưa bao giờ có. Hơ Via ngẩng lên cḥi hỏi:

- Ơ! Cơ Lang Cót, tiếng sáo vừa rồi là của ai?

- Tôi không biết, chắc có người đi đường qua đây thôi. Hơ Via thờ thẫn ra về. Nàng không thể ngờ rằng tiếng sáo ấy là của chàng trai xấu xí nọ. Hơ Via đi xa th́ tiếng sáo lại vọng lên. Mấy lần nàng t́m kiếm, mấy lần đều không thấy. Gan ruột Hơ Via bồn chồn, đứng ngồi không yên. Nàng tự nghĩ: " Rơ ràng tiếng sáo bay ra từ cḥi Cơ Lang Cót" . Nàng cúi đầu tháo đôi ṿng chân rón rén ngồi ŕnh ở một chỗ khuất. Nàng nh́n lên cḥi thấy Cơ Lang Cót trút bỏ áo lông, biến thành một chàng trai đẹp, rồi ngồi vắt chân thổi sáo. Tiếng sáo vi vu như gió thoảng, mơn man trên ngực nóng bỏng, hồi hộp của Hơ Via. Chợt nghe tiếng động, Cơ Lang Cót lại trở về lốt người chim. Hơ Via không rụt rè nữa. Nàng đến gần Cơ Lang Cót, ngập ngừng ngỏ lời xin lỗi và xin chàng cho được ngồi gần để nghe tiếng sáo. Cơ Lang Cót nói:

- Tôi xấu xí, Hơ Via đă đánh tôi gần chết. Bây giờ Hơ Via lên đây lũ làng biết, họ sẽ cười cho.

Hơ Via nhất định đ̣i được lên cḥi, được gần Cơ Lang Cót. Nàng lên cḥi chụm củi, nấu nướng cho Cơ Lang Cót ăn. Chiều về nhà, Hơ Via lấy chăn trùm kín cả người, không ăn, không uống, không nói không rằng, nằm luôn như thế hai ngày ba đêm. Cha mẹ nàng lo lắng quá, hỏi gặng măi:

- Con yêu ai th́ con cứ nói, mẹ cha sẽ t́m cho con.

Cha mẹ nàng cho gọi tất cả trai làng đến thăm hỏi con. Hơ Via không nh́n một ai, cũng chẳng nói chuyện với ai. Trai làng đă đến đủ chỉ c̣n Cơ Lang Cót, nhưng không ai nghĩ đến Cơ Lang Cót. Hơ Via vẫn bỏ ăn. Không c̣n cách nào khác, bố mẹ nàng phải cho đi t́m Cơ Lang Cót.

Bố mẹ Cơ Lang Cót không dám cho chàng đi, sợ chàng bị người ta đánh đập. Người đi mời cứ năn nỉ măi, hứa là sẽ không có ai đánh đập Cơ Lang Cót. Từ chối măi không được, ông bà đành phải để con đi. Cơ Lang Cốt ra đi vẫn giữ h́nh thù gầy g̣ xấu xí.

Hơ Via trông thấy Cơ Lang Cót đến th́ liền chạy ra cửa nắm tay chàng kéo vào. Cơ Lang Cót tưởng là sẽ bị một trận đ̣n nữa, vội vàng giằng tay để chạy. C̣n lũ làng th́ không nghĩ thế. Họ ngơ ngác không hiểu sao Hơ Via xinh đẹp lại đi yêu một anh chàng xấu xí đến thế. Mẹ cha Hơ Via cũng buồn phiền nhưng thương con đành phải chiều. Thế là Hơ Via và Cơ Lang Cót thành vợ chồng.

Trước mặt mọi người Cơ Lang Cót vẫn là một chàng xấu xí.

Đến mùa phát rẫy, mọi người đi làm cả. Cơ Lang Cót cũng xin đi. Không ai tin là Cơ Lang Cót có thể làm được. Không ngờ, chỉ một loáng, Cơ Lang Cót đă làm xong một rẫy, chim bay mỏi cánh. Cơ Lang Cót mời dân làng lên xem, chẳng ai muốn đi cả. Nể ḷng, bố mẹ vợ đi xem. Tới nơi, ông bà thấy lúa đă chín vàng, ngô chi chít hạt, bí đỏ rức, ớt như hoa... Tất cả hiện ra như trong giấc mơ.

Ông bà về nói chuyện, cả buôn làng kéo lên xem. Mọi người mới biết Cơ Lang Cót là chàng trai khỏe mạnh, tuấn tú và có tài.


* BCN / TV-VB

hoangthymaithao
12-15-2009, 11:55 AM
Con C̣ Mà Đi Ăn Đêm


Bài ca dao “Con c̣ mà đi ăn đêm…”:
“Con c̣ mà đi ăn đêm,
Đậu phải cành mềm lộn cổ xuống ao.
Ông ơi ông vớt tôi nao,
Tôi có ḷng nào ông hăy xáo măng.
Có xáo th́ xáo nước trong
Đừng xáo nước đục đau ḷng c̣ con”.
Cánh c̣ trong ca dao sao đẹp thế! Màu xanh của lúa điểm trắng cánh c̣ sớm sớm chiều chiều. “Con c̣ bay lả bay la – Bay từ cửa phủ bay ra cánh dồng…” Con c̣ là người bạn thân thiết, hiền lành của nhà nông. Con c̣ trong ca dao là hiện thân của người dân cày quê ta: chất páhc, siêng năng, cần mẫn, trải qua nhiều vất vả, gieo neo. Cánh c̣ từ hàng ngàn năm xa xưa đă nhập vào tâm hồn tuổi thơ qua lời ru êm ái, ngọt ngào của mẹ:
“Con c̣ mà đi ăn đêm,
Đậu phải cành mềm lộn cổ xuống ao.
Ông ơi ông vớt tôi nao,
Tôi có ḷng nào ông hăy xáo măng.
Có xáo th́ xáo nước trong
Đừng xáo nước đục đau ḷng c̣ con”.
Bài ca dao mượn tiếng kêu thương của con c̣ lâm nạn đẻ nói lên thân phận vất vả, bất hạnh của nhà nông, ca ngợi một tâm thế đẹp, thà chết trong c̣n hơn sống đục.
Câu đầu nói về một cuộc đời, về một thân phận. Câu da đọc lên nghe nhiều thương cảm, ai oán”
“Con c̣ mà đi ăn đêm”
Vạc mới đi ăn đêm, chứ c̣ th́ kiếm ăn ban ngày. C̣ phải đia ăn đêm, đó là một nghịch lư trong cuộc đời. Cuộc sống của c̣ nhiều lận đận, vất vả. Chữ “mà” trong câu ca làm nổi bật cấu trúc tương phản, gợi lên nhiều xót xa cảm thương cho một đời c̣! Tục ngữ, ca dao của Vũ Ngọc Phan ghi là: “Con c̣ mày đi ăn đêm”.
Cần cù, chịu khó kiếm ăn tưởng sẽ được ấm no, hạnh phúc? Bầy c̣ con chắc sẽ được mẹ c̣ tha mồi về tổ cho nhiều hơn? Cuộc đời vất vả gian truân thế, c̣ c̣n phải trải fqua nhiều bất hạnh đắng cay, nhiều hoạn nạn đau đớn không thể nào kể xiết! C̣ đă “đậu phải cành mềm lộn cổ xuống ao”. C̣ có cánh, c̣ bay giỏi, c̣ có rơi xuống ao th́ vẫn bay lên được. Hai từ “lộn cổ” nói lên tai họa c̣ gặp phải. C̣ không thể nào thoát hiểm được khi bị “lộn cổ xuống ao”. Tiếng c̣ cất lên trong đêm khuya sao mà thảm thương thế. Câu cảm thán diễn tả tiếng kêu cứu, lời phân trần của c̣:
“Ông ơi ông vớt tôi nao.
Tôi có ḷng nào ông hăy xáo măng”.
Ba từ “ông”, hai từ “tôi” được điệp lại như nốt nhấn bi thảm của bài ca. C̣ mong “ông” cứu vớt, đoái thương. “Tôi có ḷng nào…” là lời phân trần: c̣ đi ăn đêm… nhưng c̣ không phải là kẻ bất lương, mà c̣ hiền lành, lương thiện.
Con c̣ trong bài ca dao là h́nh ảnh ẩn dụ, là biểu tượng về người nông dân “hai sương một nắng”. Đó là những con người hiền lành, chất phác cần cù, lam lũ, chịu thương chịu khó trong cuộc đời. Bất hạnh của con c̣ “lộn cổ xuống ao” cũng là những bất hạnh, hoạn nạn của nhà nông đứng trước mọi thế lực thống trị và áp bưc trong xă hội. Sưu cao thuế nặng. Ách thống trị nặng nề của bọn vua quan. Nạn áp bức, ḅn rút của bọn địa chủ, cường hào. “Phần thuế quan Tây, phần trả nợ” - Nửa công đưa ở, nửa thuê ḅ” (Nguyễn Khuyến). Trải qua hàng ngàn năm, người nông dân Việt Nam đă đổ mồ hôi vất vả làm ra củ khoai, hạt gạo nuôi sống nhân dân, nhưng cuộc đời của họ có khác ǵ thân phận con c̣ trong bài ca dao nay. Tiếng kêu thương của con c̣ đă vọng vào cuộc đời theo thời gian năm tháng. Bài ca dao đă gieo vào ḷng chúng ta sự xót thương, đồng cảm với bao nạn nhân trong xă hội, nhất là đối với số phận người nông dân Việt Nam đêm trước cách mạng Tháng Tám.
Bài ca dao càng trở nên sâu sắc và thấm thía khi chúng ta đọc đến hai câu cuối:
“Có xáo th́ xáo nước trong,
Đừng xáo nước đục đau ḷng c̣ con”.
Gặp tai họa chưa chắc đă thoát hiểm: tính mạng ngh́n cân treo sợi tóc. Trước cái chết cầm chắc trong tay, thế mà c̣ chỉ nghĩ đến bầy con thơ, thương bầy con nhỏ tội nghiệp. C̣ giàu t́nh thương yêu, giàu đức hy sinh và vị tha. C̣ cam chịu số phận. Những phẩm chất ấy của c̣ cũng là những đức tính của nhà nông quê ta.
Cái đặc sắc của bài ca dao là ngoài t́nh cảm nhân đạo c̣n hàm chứa tư tưởng rất đẹp. Đă có câu tục ngữ nêu lên cách ứng xử “đói cho sạch, rách cho thơm”. Đă có bài ca dao ca ngợi một tâm thế thanh cao “gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bun”. Đă có một thế đứng cao đẹp như dáng trúc trước hoạn nạn: “Trúc dẫu cháy, đốt ngay vẫn thẳng”. Ở đây cũng vậy, qua thân phận con c̣, nhà thơ dân gian đă nêu lên một triết lư nhân sinh tuyệt đẹp, ca ngợi tâm hồn trong sáng, hồn hậu: thà chết trong c̣n hơn sống đục! Hai chữ “trong” và “dục” tương phản nhau, lời nguyền của kẻ tử nạn trở nên thống thiết, khẳng định một lẽ sống đẹp. Chữ “xáo” được điệp lại 4 lần, ư thơ được nhấn mạnh diễn tả sự đinh của người bất hạnh trong cảnh ngộ đáng thương.
Cuộc đời của anh Pha, chị Dậu, lăo Hạc… có khác ǵ cuộc đời và thân phận con c̣ “lộn cổ xuống ao” trong bài ca dao này? Lăo Hạc “thà chết trong c̣n hơn sống đục”; trước lúc kết thúc cuộc đời bằng cái bả chó, lăo đă gửi lại ông giáo mảnh vườn cho đứa con tra tha hương chưa về, gời lại tiền cho ông giáo để lo việc tang ma… Người nhà quê tuy nghèo khổ nhưng tâm thế của họ đẹp lắm, đáng tự hào lắm.
Bài ca dao này cũng như phần lớn các bài ca dao dân ca đều được viết bằng thẻ thơ lục bát. Bốn câu đầu, cách gieo vần rất sáng tạo độc đáo. Chữ cuối câu lục không vần với chữ thứ 6 câu 8 như thường lệ mà lại vần với chữ thứ 4 câu bát. Người ta gọi đó là lục bát biến thể”
“Con c̣ mà đi ăn đêm,
Đậu phải cành mềm lộn cổ xuống ao.
Ông ơi ông vớt tôi nao.
Tôi có ḷng nào ông hăy xáo măng…”
Âm điệu bài ca như tiếng nấc, đọc lên nghe thật là ai oán, cay đắng nghẹn ngào. Các biện pháp nghệ thuật như ẩn dụ, điệp từ và cảm thán đă góp phần làm tăng tính thẩm mĩ và biểu cảm của bài thơ dân gian này.
Thương con c̣ lâm nạn “lộn cổ xuống ao…”, thương “con c̣ đi đón cơn mưa…”, thương “con c̣ chết rũ trên cây…”, chúng ta ngh́n lần thương yêu, kính phục người dân cày Việt Nam. Hơn 80% dân số nước ta làm nghề nông. Nghề nông là nghề căn bản của dân tộc.

* HPH / TV-VB

hoangthymaithao
12-17-2009, 03:55 PM
CÁI C̉ LẶN LỘI
(Egretta garzetta)

http://i834.photobucket.com/albums/zz268/vhp2010/cic.jpg

Chiều chiều én liệng c̣ bay,
Bâng khuâng nhớ bạn, bạn rày nhớ ai?
Bạn rày nhớ củ, nhớ khoai,
Nhớ cam, nhớ quít, nhớ xoài cà lăm...

Cái c̣ lặn lội bờ sông,
Gánh gạo đưa chồng tiếng khóc nỉ non...
"Nàng về nuôi cái cùng con,
Để anh đi trẩy nước non Cao Bằng..."
Chân đi những dạ dùng dằng,
Nửa nhớ Cao Bằng, nửa nhớ vợ con!..
(Ca Dao)

Con c̣ (c̣) bay lả (lả) bay la,
Bay ra (ra) cửa phủ, bay vào (vào) Đồng Đăng...
(T́nh tính tang, tang tính t́nh...)
Dân làng rằng, dân làng ơi,
Rằng có biết, biết hay chăng...

Đồng Đăng (đăng) có phố (phố) Kỳ Lừa,
Có nàng (nàng) Tô Thị, có chùa (chùa) Tam Thanh...
Ai lên (lên) xứ Lạng (Lạng) cùng anh,
Tiếc công (công) bác mẹ sinh thành (thành) ra em...
Tay cầm (cầm) bầu rượu (rượu) nắm nem,
Mảng vui (vui) quên hết lời em (em) dặn ḍ...
Gánh vàng (vàng) đi đổ (đổ) sông Ngô,
Đêm nằm (nằm) tơ tưởng đi ṃ (ṃ) sông Thương...
(T́nh tính tang, tang tính t́nh...)
(Dân Ca C̣ Lả)

--------------------------------------------------------------------------------

Tên Việt: c̣ trắng
Tên Hoa: 小白鷺(tiểu bạch lộ), 白翎鷥(bạch linh tư)
Tên Anh: little egret
Tên Pháp: aigrette blanche
Tên khoa học: Egretta garzetta L.
Họ: Ardeidae
c̣ trắng 大白鷺(đại bạch lộ) Egretta alba L. (great white egret); c̣ ruồi 黃頭鷺(hoàng đầu lộ) Bubulcus ibis (cattle egret); c̣ xanh 綠簑鷺(lục thoa lộ) Butorides striatus L. (green-backed heron); c̣ ngàng lớn 大白鷺(đại bạch lộ) Casmerodius albus L. (great egret); c̣ ngàng nhỡ 中白鷺(trung bạch lộ)Mesophoyx intermedia Wagler (intermediate egret); c̣ bợ 池鷺(tŕ lộ) Ardeola bacchus Bonaparte (Chinese pond-heron);

© image from Pascal DUBOIS
Côté Nature - Galleries de photos nature
鷺 lộ [sc: 鹭][lu4] 23(11/12), 9DFA bộ điểu (鳥) 1. Con c̣ trắng. Cũng gọi là lộ tư 鷺鷥 hay bạch lộ 白鷺. 鷀 từ [ci2, zi1] [鹚] 21(11/10), 9DC0 bộ điểu (鳥) Lô từ 鸕鷀 một giống chim ở nước, lông đen mỏ dài, hơi khum khum, tài lặn xuống nước ṃ cá ăn. Cũng viết là lô từ 鸕鷥. Một tên là ô quỷ 烏鬼. Tục gọi là thủy lăo nha 水老鴉. 翎 linh [ling2]1 (6/5), 7FCE bộ vũ (羽) 1. Lông cánh chim. 2. Cái vầy tên. 3. Hoa linh 花翎, lam linh 藍翎 một thứ mũ trang sức của nhà Thanh 清, để thưởng cho các người có công. [Tự Điển Thiều Chửu Online & CEDICT]


* s/t Net

hoangthymaithao
12-19-2009, 09:32 AM
http://i834.photobucket.com/albums/zz268/vhp2010/nghiatrangquandoi.jpg

Người đời hữu tử, hữu danh
Sống lo xứng phận thác dành tiếng thơm.
Người đời phải xét thiệt hơn
Đừng nghe tiếng sáo tiếng đàn mà sai.

(ca dao Bạc Liêu)

hoangthymaithao
12-22-2009, 01:07 PM
Vui Ca Dao Tục Ngữ Đầu Tuần


Họ tên: Lao Như Tên Bắn.

Tuổi và giới tính: Gái mười bảy bẻ găy sừng trâu.

Nơi sinh: Đất lành chim đậu.

Vóc dáng: Ở bầu th́ tṛn, ở ống th́ dài.

Nhan sắc: Chim sa cá lặn.

Trang phục: Đi với bụt mặc áo cà sa, đi với ma mặc áo giấy.

Tổng thể: Gái một con trông ṃn con mắt.

Gia đ́nh: Nhất mẹ, nh́ cha, thứ ba bà ngoại.

Họ hàng: Giọt máu đào hơn ao nước lă.

Bạn bè: Thua trời một vạn không bằng thua bạn một ly.

Láng giềng: Một câu nhịn, chín câu lành.

Học hành: Ăn vóc học hay

Bằng cấp: Đi một ngày đàng, học một sàng khôn.

Triết lư: Gà cùng một mẹ chớ hoài đá nhau

Thói quen: Ăn cỗ đi trước, lội nước theo sau.

Tật xấu: Tham thực cực thân.

Khuyết điểm: Khôn ba năm, dại một giờ.

Nguyên nhân: Ngọt mật chết ruồi.

Nghề nghiệp: Phi thương bất phú.

Chuyên doanh: Bán họ hàng xa, mua láng giềng gần.

Quan điểm: Ăn cho buôn so.

Phương thức: Mua quan tám, bán quan tư.

Quá tŕnh hoạt động: Sai một ly, đi một dặm.

Hậu quả: Mất cả ch́ lẫn chài.

Bài học được:

Bắc thang lên hỏi ông trời,
lấy tiền cho gái có đ̣i được không

Hiện trạng: Nhà dột cột xiêu.

Hướng phấn đấu: Thua keo này, bày keo khác.

Định hướng tương lai: Chở củi về rừng.

Niềm tin: Hết cơn bĩ cực tới hồi thái lai.

Khuyết Danh

hoangthymaithao
12-29-2009, 07:50 AM
http://i834.photobucket.com/albums/zz268/vhp2010/Tang-NT.jpg

Khuyên chàng đọc sách ngâm thơ
Dầu hao thiếp rót, đèn mờ thiếp khêu.

(ca dao Bạc Liêu)

hoangthymaithao
12-31-2009, 07:58 AM
H̀NH THỨC NGHÊ THUẬT
MANG TÍNH NGHỊCH LÍ TRONG THƠ CA

Trong văn chương nói chung và thơ ca nói riêng, ta thường gặp những h́nh thức nghệ thuật mang tính nghịch lí. Nghĩa là h́nh ảnh trong thơ, là h́nh ảnh phi lí, trái ngược với đời sống tự nhiên, hoặc cuộc sống của con người.Ví dụ:

....................
Trong bài ca dao ''Trèo lên cây bưởi hái hoa..'', h́nh như cũng có h́nh ảnh phi lí ấy:
''...Bước xuống vườn cà, hái nụ tầm xuân
Nụ tầm xuân nở ra xanh biếc...''
Tại sao bươc xuống vườn cà, lại t́m hái nụ tầm xuân? hoa tầm xuân,vốn màu hồng như có pha sắc tím, sao lại là ''xanh biếc''?
Quả là lắt léo, như thách đố tài năng người cảm thụ thơ ca.

Trần Thanh Xuân




Không phải lúc nào thấy nghịch lư mà đúng là nghịch lư như trường hợp "Nụ tầm xuân nở ra xanh biếc"

Mời xem bài tiểu luận sau đây nói về hoa tầm xuân:



Nụ Tầm Xuân Nở Ra Xanh Biếc

Tác Giả : Phan Bảo Thư

Chúa Nhật, 13 Tháng 12 Năm 2009 08:03
Trèo lên cây bưởi hái hoa,
Bước ra vườn cà hái nụ tầm xuân,
Nụ tầm xuân nở ra xanh biếc,
Em lấy chồng anh tiếc lắm thay...

Những câu ca dao với lời và y' thật thanh nhă đă được nhạc sĩ Phạm Duy phổ nhac đóng góp vào những bản nhạc xuân. Từ ngữ "xuân " trong danh từ "nụ tầm xuân " dễ gợi cho mọi người những ư nghĩ về tuổi trẻ; những hoài niệm về thuở ầu thơ với những tưởng tượng mơ hồ về hính dáng của loài hoa: HOA TẦM XUÂN hay NỤ TẦM XUÂN NỞ RA XANH BIẾC. Nhưng, ...thật sự có thứ nu tầm xuân nở ra xanh biếc hay không ? V́ nhiều người cho rằng nụ tầm xuân chỉ là những cánh hoa hồng dại làm ǵ có màu xanh biếc ?

http://e-cadao.com/tieuluan/images/clitoria_ternatea-tamxuan.jpg

Để nhận ra xem có c̣n loài hoa tầm xuân nào mà nụ nở ra xanh biếc nữa chăng bài viết này sẽ đề cập đên những dữ kiện liên quan đến nụ tầm xuân.

Trước hết như nhiều người công nhận rằng hoa tầm xuân chỉ là một chi nhánh của loài hoa mọc hoang dại trong họ hoa hồng. Tầm Xuân c̣n có những tên khác là: thích hoa, bạch tàn hoa, thích mi, ngưu cúc, thập tỉ muội, thất tỉ muội, dă tường vi. Hoa co' màu trắng hay hồng; c̣n màu "xanh biếc" trong câu thơ th́ tac giả đă túng vận nên chỉ nói cho suôn, cho hợp với vần "iếc" trong từ ngữ "tiếc" của câu sau. Chuyện túng vận đúng hay sai sẽ được đề cập ở phần sau. Và trong nhóm hoa thuộc họ nhà hồng này có những loài có tên khoa học là Rosa tunquinesis hay Rosa cymosa hay Rosa multiflora (Wikipedia) và có nguồn gốc từ Âu châu, Tây Á.

Sách Và tài liệu của Giáo sư Phạm Hoàng Hộ cũng như Vơ Văn Chi và Lê Khả Kế chỉ cho thấy Tầm Xuân thuộc họ nhà Hồng (Rosaceae) với các loài sau: Rosa tunquinensis (Tầm Xuân Bắc hay c̣n gọi là Quầng quầng), Rosa cymosa (Tầm xuân-hồng choắt-hồng roi), Rosa multiflora (Tầm xuân đa hoa). Tự điển của Nguyễn Đ́nh Hoà dịch chữ Tầm Xuân sang tiếng Anh là dogrose: hồng chó hay hồng cẩu, thật không thanh lịch lăng mạn ǵ hết v́ tất cả các loài hoa hồng này chỉ là những loài hoa mà cành cây đầy gai góc và màu hoa th́ từ trắng đến màu hường nhạt không có loài nào nở ra xanh biếc.

Từ Nguyên tự điển chỉ ghi Tầm Xuân là đi t́m mùa xuân, có mấy câu thơ liên quan đến ư nghĩa của hai chữ Tầm Xuân:

Tầm Xuân du thượng lộ
Truy yến nhập tiên gia [ Trần Tử Ngang]

hay: .Ngu hanh` tương cấm hoa
Thập bộ tưởng tầm xuân [Mạnh Hạo Nhiên].

Thi nhân của nền Văn chương Hoa Việt cũ không có nhiều cảm hứng trước loài hoa tầm xuân v́ nó hiếm hoi hay v́ hương sắc quá khiêm nhường trước những mẫu đơn, hải đường, hoàng mai, tịnh lan, ...nhưng dù hiếm hoi th́ "nụ tầm xuân' cũng đă có tên trong nền văn chương Đai Việt. Như đă nói, t́nh, ư gởi gắm trong mấy câu ca dao thật yêu kiều và lăng mạn và cũng đă có một giai thoại của lịch sử về chúa Trịnh Tráng ở Đàng Ngoài và vị khai quốc công thần Đào Duy Từ ở Đàng Trong trong giai đoạn mở đầu của thời Trịnh - Nguyễn phân tranh.

Là một đấng thiên tài nhưng lại sinh ra từ một gia đ́nh xướng ca họ Đào không thể tiến thân bằng con đường khoa cử nơi đất Bắc, đành phải dung thân, t́m chân chúa nơi "Đạo Hoành-sơn ". Noi theo chí lập thân của người xưa, theo cách cũ của Bách Lư Hề, Ninh Thích gơ sừng trâu mà đủng đỉnh ngâm khúc "Ngoạ Long Cương ". Chúa Săi Nguyễn Phúc Nguyên đă "già " đoán anh hùng giữa chốn trần ai. Rồng mây gặp hội, Đào Duy Từ đă đem hết tài kinh luân giúp chúa Nguyễn an bang tế thế, vững bền biên thuỳ một cơi nguy nga ở phương Nam, sá ǵ Trịnh phủ hiếp đáp vua Lê ở Bắc Hà mà không dám đương đầu : dư bất thụ sắc!

Thành tích và chiến công của Đào Duy Từ đến tai chúa Trịnh, Trịnh Tráng sai người mang lễ vật cho Đào Duy Từ với lời ân hận đă bỏ lỡ cơ hội cho cuộc tương phùng:

Trèo lên cây bưởi hái hoa,
Bước ra vườn cà hái nụ tầm xuân;
Nụ tầm xuân nở ra xanh biếc,
Em lấy chồng anh tiếc lắm thay.

Lễ vật và t́nh ư không chiêu dụ được Đào v́ ông đă t́m ra chân chúa, ông đă trả lời Trịnh Tráng:

Ba đồng một mớ trầu cay,
sao anh không hỏi những ngày c̣n không ?
Bây giờ em đă có chồng,
Như chim vào lồng, như cá cắn câu.
Cá cắn câu biết đâu mà gỡ,
Chim vào lồng biết thuở nào ra !

Lời từ chối nhẹ nhàng nhưng khéo léo; Trinh Tráng lại cho người chiêu dụ một lần nữa; lần này ho Dao`quyết liệt hơn:

Có ḷng xin tạ ơn ḷng,
Đừng đi lại nữa mà chồng em ghen.

Trinh Tráng không c̣n kiên nhẫn nữa; tức giận:

Có ai vể tới Đàng Trong,
Nhắn nhe Bố Đỏ liệu trông đường về;
Măi tham lợi bỏ quê quán tổ,
đất nước người dù có như không.

Không biết ai là tác giả của những câu ca dao ấy, Trinh Tráng và Đào Duy Từ sáng tác hay là chỉ góp nhặt từ trong dân gian như viên đá quư trong đám sỏi đá của văn chương b́nh dân mà họ đă gặp trên đường đi. Cho dù tác giả là ai th́ những viên đá hay những thanh kiếm bắt gặp trong án thư của vương phủ hay của một đại thần phải là một viên đá quư không có tỳ vết hay là thanh bảo kiếm không hoen rỉ. Chúa Trinh đă dùng lời lẽ trong mấy câu thơ để chiêu dụ hiền tài th́ đó không thể là cau thơ của một thi sĩ túng vận. Một chút dài ḍng văn tự trên đây chắc cũng đủ để nhận chân giá trị bài thơ.

Tô Đông Pha chắc phải thẹn thùng nhiều lắm về chuyện sửa câu thơ của Vương An Thạch sau khi nhận ra sự hiện hữu của loài chim có tên Minh Nguyệt và loài sâu có tên Hoàng Khuyển. Hy vọng chúng ta không phạm phải lỗi lầm của người xưa; chớ vội nói rằng câu ca dao câu ca dao trên đă có sự túng vần trước khi nhận dạng ra một loài hoa Tam Xuân nở ra xanh biếc.

Thật vậy.

Bàn trở lại về cách gieo vần của bài thơ, đây là bài thơ theo thể lục bát thất ngôn, vần iếc trong chữ biếc của câu thứ ba[câu thất thứ nhất] sẽ được nối vần với chữ thứ năm của câu thất thứ hai [chữ tiếc]. Khi đưa ra chữ biếc để gieo vần tác giả có hoàn toàn tự do v́ chưa phải t́m vần. Nếu chữ tiếc, chữ thứ năm của câu thất thứ nh́ [câu thứ tư của bài thơ] gieo đúng vần với chữ biếc mà không có nghĩa th́ mới nói là câu thơ bị ép vần v́ thi sĩ đang bị túng vần. Tóm lại ở đây thi sĩ có hoàn toàn tự do để viết (nói ) ra rằng nụ tầm xuân nở ra xanh biếc. Phải có một thứ Nụ Tầm Xuân nở ra xanh biếc

Lịch sử c̣n đó, Thanh Đô Vương Trịnh Tráng và Nội tán Lộc Khê Hầu Đào Duy Từ đă đi vào lịch sử, chuyện chiêu dụ và khước từ cũng đă rơ ràng nhưng câu chuyện văn chương th́ vẫn c̣n là những ẩn khuất. lấy ǵ làm bằng chứng rằng hai bậc vương hầu Trịnh-Đào đă đối đáp với nhau bằng những câu ca dao như thế. Văn khố nào lưu giữ bút tích của người xưa ? Chắc là khó v́ xét cho cùng th́ đó là những bí mật quân sự. Khó t́m thấy câu chuyện văn chương này trong những thư tịch khả tín nhưng giai thoại th́ vẫn đồn đăi, lưu truyền trong dân gian. Không có lửa sao có khói hay là chúng ta dễ dăi một chút, chấp nhận câu chuyện qua lời truyền tụng của nhân gian. Tư-mă Thiên, đệ nhất sử gia Trung quốc đă không t́m tài liệu từ những lời nói lưu truyền trong dân gian đó sao ! Và rồi nếu câu chuyện văn chương có thật th́ hoa tầm xuân nở ra xanh biếc cũng có thật. Phần khẳng định này phải nhờ đến những nhà nghiên cứu văn học và những nhà thực vật hoc

Sách Và tài liệu của Giáo sư Phạm Hoàng Hộ cũng như Vơ Văn Chi và Lê Khả Kế chỉ cho thấy Tầm Xuân thuộc họ nhà Hồng (Rosaceae) với các loài sau: Rosa tunquinensis (Tầm Xuân Bắc hay c̣n gọi là Quầng quầng), Rosa cymosa (Tầm xuân-hồng choắt-hồng roi), Rosa multiflora (Tầm xuân đa hoa). Tự điển của Nguyễn Đ́nh Hoà dịch chữ Tầm Xuân sang tiếng Anh là dogrose: hồng chó hay hồng cẩu, thật không thanh lịch lăng mạn ǵ hết v́ tất cả các loài hoa hồng này chỉ là những loài hoa mà cành cây đầy gai góc và màu hoa th́ từ trắng đến màu hường nhạt không có loài nào nở ra xanh biếc.

Vậy tai sao c̣n có một nhà thơ vẫn ngâm nga:

Chạm vào một nhánh Tầm Xuân,
Vẫn xanh biếc nụ, vẫn ngần ấy hương.

" vẫn xanh biếc nụ, vẫn ngần ấy hương" xem ra th́ thi sĩ đă quen thuộc với hoa Tầm xuân lắm và hy vọng rằng lần này thi nhân nhắc đến tên tầm xuân với màu xanh biếc không phải là một sự mô tả theo lối ước lệ v́ tác giả câu thơ đă từng quen nh́n tầm xuân nên thấy "vẫn" xanh biếc nụ và đă từng quen thuộc với mùi hương hoa nên cũng chỉ ngửi thấy "ngần ấy hương". Và như vậy th́ phải có một loại hoa tầm xuân có màu xanh biếc.

Theo công tŕnh nghien cứu của Nguyễn Xuân Đức th́ có một loại hoa họ đậu được phân phối nhiều ở duyên hải miền Trung Việt nam có tên là Tầm Xuân hay c̣n gọi là hoa Đâu biếc có màu xanh tím.

Theo những nghiên cứu của Nguyễn Xuân Đức th́ hoa Tầm Xuân có nhiều ở duyên hải miền trung Việt nam từ Thanh hoá Nghệ an đến B́nh Thuận. Hoa thuộc họ đậu sắc màu xanh tím nên c̣n có tên là hoa đậu biếc.

Theo nhà thực vật học, giáo sư Nguyễn Thiện Tích ở Đai Học Khoa Học đường Saigon [nay là Trường Đại Học Khoa Học Tự Nhiên] th́ giống hoa này có chung một họ mà tên khoa học là Clitoria . Cái tên thật dễ gợi đến phần nhạy cảm nhật trong cái "vưu vật tôn nghiêm" của cơ thể phụ nữ: "Clitoris". Thuộc ḍng ho Clitoria này có những chi mariana, blue pea, vine, fragan, macrophylla, alba, ... Có lẽ ví lư do thỗ nhưỡng, khí hậu mà loài hoa chỉ xuất hiện ở duyên hải miền trung Việtnam. Có lẽ vùng Thanh hoá Nghệ an, miền đất tổ của Thanh Đô Vương Trịnh Tráng không hiếm loài hoa này và Thanh Đô Vương đă có dịp hội kiến loài hoa mang nhiều đặc tính lăng mạn, hoa Tầm Xuân

Tự điển Việt Anh của Nguyễn Đ́nh Hoà dịch tên Tầm Xuân từ tiếng Việt sang tiếng Anh là dogrose. Cái tên dễ làm thất vọng những ai có tâm hồn lăng mạn v́ nó đă làm mất đi tất cả những thi vị của tên gọi Tầm Xuân

Nhưng ngoài câu ca dao trên c̣n vài câu thơ như là :

Dáng tầm xuân uốn trong tranh tố nữ
Ôi tiên nương nàng lại ngự nơi đây,
Mắt ngời châu rung ánh sáng nghê thường, [ Bích Khê- Bức Tranh Tố Nữ].

Loài hoa hồng th́ chắc là không thể khêu gợi, uốn éo như lời thơ của Bích Khê . Có lẽ Bích Khê, thi sĩ của thi sĩ sinh trưởng trên vùng đất của sông Thu bồn, núi Thiên ấn có dịp ngắm nh́n những đoá Tầm Xuân thuộc họ đậu lăng mạn Clitoria mariana hay Clitoria ternatea này chăng?

http://e-cadao.com/tieuluan/images/Clitoria-ternatea-tamxuan2.JPG

Xem như thế th́ có hai nhóm hoa Tầm Xuân: nhóm thứ nhất thuộc loại nhà hồng với Rosa cymosa, Rosa multiflora, Rosa tunquinensis và nhóm thứ hai thuộc họ đậu như: Clitoria mariana, Clitoria ternatea, ... Không biết nhạc sĩ Xuân Tiên đă dề cập đến loài hoa Tầm Xuân nào khi soạn "Khúc Ca Ân T́nh" ..."một ngày t́m về phương Bắc, hái hoa Tầm Xuân trao nàng..."

Hoa cỏ th́ đă có từ bao nhiêu triệu năm trước khi loài người xuất hiện trên hành tinh này, xét cho cùng th́ cũng chỉ là những thứ hữu thể vô thường. Có thể chúng ta đă chiêm ngưỡng với nét đẹp tưởng tượng qua mấy ca dao trước khi thực chứng căn cước của loài hoa của Hoa Tầm Xuân. Nét đẹp trong huyễn tưởng bao giờ cũng lăng mạn và mỹ miều hơn trong thực tế và nhắc nhở nhiều đến những hoài niệm ấu thơ.

Nụ Tầm Xuân rộn hương ngày cũ,
Hoa bưởi thơm trắng tụ vườn xưa.
Để trời đừng nắng đừng mưa,
Chỉ hiu hiu gió cho vừa nhớ thương

hoangthymaithao
01-08-2010, 02:58 PM
http://www.webmakeeasy.com/images/cop.jpg

Chỉ c̣n một tháng bảy ngày nữa là ta đón năm mới năm "Canh Dần" theo tiếng nói thông thường th́ ta gọi là năm "Cọp" hay năm "Ông Cọp". Qua dân gian cọp c̣n được gọi bằng nhiều tên khác nữa như: Kễnh, Khái, Hổ, Ông Ba Mươi v.v... Từ nay cho tới ngày Tết mong quư vị giúp t́m cho những câu Ca Dao "Cọp"

Để mở đầu xin đưa lên đây một trích đoạn bài nói về đất Nam Việt trong thời kỳ khai phá của Trần Văn Nam.... Ca dao Nam Bộ...



Ca dao Nam Bộ - Ca dao của vùng đất mới

Trần Văn Nam

1. Vẻ hoang vu của thiên nhiên - một dấu ấn trong những bài ca của thiên nhiên đất nước.

Vùng Nam Bộ giàu đẹp đáng tự hào ngày nay lại là vùng đất bỏ hoang hàng ngàn năm từ sau khi đế quốc Phù Nam tan ră vào thế kỷ thứ VI. Bao nhiêu thế kỷ trôi qua, mảnh đất màu mỡ này vẫn ngủ yên v́ người bản địa vốn quá thưa thớt lại lạc hậu về kỹ thuật nông nghiệp. Cũng có thể một phần do thiên nhiên sẵn giàu có, ưu đăi nên họ không cần khai thác thêm. Những vùng đất cao đủ trồng tỉa, những con rạch thừa cá tôm, những cánh rừng thừa hương liệu, gỗ... đă đảm bảo cho đời sống. Măi đến thế kỷ thứ XVII, những người Việt đầu tiên "đi mở cơi" đến vùng đất mới, nhận ra ngay vẻ hoang sơ của nó:

“Muỗi kêu như sáo thổi
Đỉa lội như bánh canh
Cỏ mọc thành tinh
Rắn đồng biết gáy”

Cảnh

“Rừng thiêng nước độc thú bầy
Muỗi kêu như sáo thổi, đỉa lội đầy như bánh canh”

Nét hoang sơ của thiên nhiên Nam Bộ buổi đầu khai phá thể hiện ở môi trường khắc nghiệt “rừng thiêng nước độc”:

“Tháp Mười nước mặn, đồng chua
Nửa mùa nắng cháy nửa mùa nước dâng”

Sấu và Cọp là hai loại tượng trưng cho sức mạnh hoang dă luôn luôn đe dọa con người.

Tục ngữ “xuống sông hớt trứng sấu, lên bờ xỉa răng cọp” và thành ngử “hùm tha, sấu bắt” khá phổ biến trong lời ăn tiếng nói của nhân dân măi cho đến ngày nay. Ca dao nói nhiều về hai loài này. Trên cạn có cọp, “cọp đua”, “cọp um”.

U Minh, Rạch Giá thị quá sơn trường
Dưới sông sấu lội trên rừng cọp đua.

Cà Mau khỉ khọt trên bưng
Dưới sông sấu lội trên rừng cọp um.

Cọp sống ở khắp nơi từ miền Đông Nam Bộ (đất giồng) xuống tận miền Tây śnh lầy, nước mặn của rừng U Minh, Rạch Giá. Người dân kính nể, gọi cọp bằng ông, thậm chí tôn lên làm hương cả, nhưng có lúc lại coi thường, giết cọp bằng nhiều cách. Cọp cũng là loài thú giữ quyết tâm bám giữ địa bàn sinh sống cho dù phải chạm trán với con người. Đối lại, lúc mới khẩn hoang, dù cọp tới lui là mối nguy hiểm nhưng con người cũng phải bám đất để sinh cơ lập nghiệp. Nhiều giai thoại dân gian về chuyện đấu với cọp vẫn c̣n.

Nếu trên bờ có cọp th́ dưới nước có sấu, “sấu lội”, “sấu cắn chưng” và “sấu vẫy vùng”.

“Tháp Mười sinh nghiệp phèn chua
Hổ mây, cá sấu thi đua vẫy vùng”.

Nét hoang dă của đất nước Nam Bộ c̣n thể hiện gián tiếp qua tâm trạng lo sợ của người đi khai hoang, cảnh vật lạ lùng khiến cho người ta sợ mọi thứ:

“Tới đây xứ sở lạ lùng
Chim kêu cũng sợ, cá vùng cũng ghê”

“Chèo ghe sợ sấu ăn chưng
Xuống bưng sợ đỉa, lên rừng sợ ma”.

..................

Trần Văn Nam

hoangthymaithao
01-09-2010, 08:52 AM
Cư Sĩ NGUYỄN ĐỨC CAN

Nhân dịp mọi người dân Việt ở quê nhà cũng như hải ngoại đang nhộn nhịp chuẩn bị đón xuân, tôi viết lại những kỷ niệm đă qua của những ngày Tết truyền thống trong năm với mùa xuân dân tộc, hầu góp phần lưu lại tập quán cổ truyền của quê nhà cho thế hệ trẻ Việt Nam đang sống nơi hải ngoại cũng như ở trong nước.
Đối với dân tộc Việt Nam, hương vị mùa xuân được coi như là một truyền thống văn hóa của tổ tiên ta để lại từ thời lập quốc và cứ mỗi năm lại bồi đắp thêm những ư đẹp, lời thơ cho thật trang nghiêm long trọng với một niềm vui vô tận, để truyền bá lại cho hậu thế noi theo.

I)-TẾT NGUYÊN ĐÁN VỚI XUÂN DÂN TỘC :

Hàng năm dân tộc Việt Nam có một cái TẾT gọi là TẾT Nguyên Đán, vào ngày cuối năm âm lịch, đây là những ngày lễ long trọng nhất của nhân dân Việt Nam, kéo dài từ ngày 30 tháng chạp âm lịch đến hết ngày 3 tháng giêng, có nơi ăn tết đến ngày 7 tháng giêng.

Tết Nguyên Đán là những ngày hội lớn, đánh dấu sự trở lại của một chu kỳ thời gian một năm trọn. Ngôn từ về mùa xuân và Tết hết sức phong phú, mùa xuân và Tết đồng nghĩa với thanh b́nh, hy vọng, sum họp, ước mơ, tin tưởng, thương yêu, vui vẻ, trẻ trung, t́nh tứ : Sắc xuân, t́nh xuân, ư xuân, tuổi xuân....

Tết cũng có thể coi là ngày lễ sinh nhật chung. Sinh nhật của thiên nhiên, đất nước và dân tộc. Trước đây ta tính tuổi theo Tết chứ không theo ngày sinh chính thức.. Đến Tết mỗi người thêm một tuổi... Chữ Tết là do chữ Tiết đọc chệch ra. Ví dụ như thời tiết, tiết nhật, tiết chế, tiết lệnh, tiết hạnh...

Tết Nguyên Đán (Nguyên là đầu, Đán là sớm mai. Nguyên Đán có nghĩa là buổi sớm mai đầu năm). Trước đây, Tết Nguyên Đán ở nước ta có 7 ngày. Người xưa quan niệm rằng 7 ngày Tết, trời cho đất sinh ra mọi vật để nuôi sống con người, ngày thứ nhất, trời đất sinh ra gà, ngày thứ hai sinh ra chó, ngày thứ ba sinh ra dê, ngày thứ tư sinh ra heo (lợn), ngày thứ năm sinh ra trâu, ngày thứ sáu sinh ra ngựa, và ngày thứ bẩy sinh ra lúa. Sau này v́ công việc bận rộn, dân ta chỉ ăn Tết có 3 ngày.

Ngày 30 mươi Tết là ngày bận rộn nhất. Mọi nhà đều dọn dẹp, sắm sửa cho chu tất trước khi đón gia tiên, ông bà về ăn Tết. Ngày trước, chiều 30 Tết, người ta dựng cây nêu trước cửa nhà.

Cú kêu ba tiếng cú kêu,
Kêu mau đến Tết, dựng nêu ăn chè.

Trưa 30 Tết, cúng mặn rất thịnh soạn, trên bàn thờ trang hoàng rất trang nghiêm, để đón Ông Bà, gia tiên, đây là sự tỏ ḷng biết ơn của con cháu đối với Ông Bà, Cha Mẹ đă khuất. Ngày 1 TẾT tất cả mọi gia đ́nh đều ăn chay, đi Chùa lễ phật, hai lộc cầu may, xin xăm cầu tài, Ngày 3 cúng mặn gia tiên ở nhà, để tiễn đưa Ong Bà, Gia Tiên nội ngoại.

Đặc biệt đêm 30 TẾT ngày cuối cùng của năm âm lịch, hầu hết tất cả các gia đ́nh đều thức suốt đêm, để đón giao thừa vào đúng 12 giờ đêm, trong nhà cúng gia tiên, ngoài sân cúng giao thừa đón xuân, với những tiếng pháo nổ ran để mừng năm mới.

Để chuẩn bị đón xuân, từ thành thị đến thôn quê mọi gia đ́nh đều sửa soạn nhà cửa, sơn phết quét vôi, ngoài sân được các chủ nhà vẽ các cung, tên bằng vôi bột trăng xoá, mũi tên đều hướng ra ngoài ngơ (cổng), được truyền tụng rằng đó là cung tên bắn các ma qủi không cho xâm nhập vào nhà, để xua đuổi những cái rủi ro, xui xẻo của năm đă qua hầu đón nhận một mùa xuân mới với niềm hy vọng cho tương lai tốt đẹp hơn.

Để chuẩn bị cho những ngày TẾT, đón xuân mới, trẻ, già, trai gái lo sắm sửa lễ vật, sửa soạn bàn thờ gia tiên, để rước ông bà về thờ cúng những ngày đầu xuân hầu tỏ ḷng biết ơn đến các vị sinh thành và cầu xin gia tiên nội ngoại phù hộ độ tŕ cho năm mới được vạn sự an lành, hạnh phúc, làm ăn phát đạt, cho nên dân gian có truyền lại lời thơ, ư đẹp như sau:

Tết đến nhộn nhịp thành quê
Trẻ già, trai gái hướng về hân hoan
Cửa nhà đă được sửa sang
Bàn thờ bông trái trầm nhang thơm lừng
Mứt kẹo, bánh tét, bánh chưng
Cỗ bàn phẩm vật chúc mừng lẫn nhau
Mọi người khoẻ mạnh sống lâu
Bán buôn tài lộc sang giầu vẻ vang
Đầu năm ta đón xuân sang
Giao thừa cúng lễ rộn ràng niềm vui.

Ư nghĩa mùa xuân đến với nhân dân ta thật là vô tận, ngoài Bắc th́ trồng nêu, cây đào, bánh chưng, bánh ṇng, mứt kẹo ....Trong Nam cành mai, bánh tét, dưa hấu, kẹo mứt....Nhà nhà, người người đều nhộn nhịp đón Xuân với vẻ đẹp niềm vui, hương sắc mùa xuân tỏa ngát bốn phương trời.

Quê tôi một năm có 4 mùa : Xuân, Hạ, Thu, Đông mỗi mùa có 3 tháng. Mùa Xuân tháng giêng, hai, ba. Tục ngữ quê tôi có truyền rằng:

Tháng giêng là tháng ăn chơi
Tháng hai cờ bạc, tháng ba hội hè...

Mùa Xuân là mùa đẹp nhầt, khí hậu ôn hoà, mát mẻ. Không mưa, không nắng bầu trời trong sáng, cây trái xanh tươi, bông hoa nở rộ để cùng tô điểm thêm hương sắc của một mùa xuân cho nên Ong Nguyễn Công Trứ đă tận hưởng thú vui xuân thể hiện các câu thơ lục bát như sau:

Chơi xuân kẻo hết xuân đi
Xuân tàn hoa rụng c̣n ǵ vui xuân..

Cùng một ư niệm vui xuân chị em Thuư Kiều đă đua nhau trưng diện son phấn, áo quần, xe ngựa vui xuân trẩy hội, đă được thi hào Nlguyễn Du diễn tả như sau:

Gần xa nô nức yến anh
Chị em sắm sửa bộ hành chơi xuân
Dập d́u tài tử giai nhân
Ngựa xe như nước, áo quần như nêm.

Dân tộc Việt Nam vui Xuân, đón Xuân bằng ăn tết ở nhà, lên Chùa Lễ Phật và hái lộc cầu may đă thể hiện hai câu thơ sau:

Tháng giêng ăn tết ở nhà
Lên Chùa lễ Phật ṭan gia an lành.

Mỗi độ Xuân về lúc c̣n thơ ấu, tôi lại có dịp đi xông nhà, chúc tết, lễ gia tiên ở nhà thờ họ và đi Chùa lễ Phật, cái vui của thời thơ ấu thật là hồn nhiên, không lo, không nghĩ, không phiền đến ai. Nay th́ tuổi đă trên thất thập ngũ cổ lai hy, vương vấn trần ai nặng một ḷng. Tôi cố gắng quên đi, để nhớ lại những kỷ niệm ngày xuân của tuổi ấu thơ, trong thời thanh b́nh nơi quê tôi, hầu tạo cho sự thanh thản cho tâm hồn trong những ngày xuân dân tộc.

Tôi c̣n nhớ, nhớ măi không bao giờ quên những ngày “Trẩy Hội Mùa Xuân” có rất nhiều hội hè, đ́nh đám. Các nơi đua nhau tổ chức vui xuân với những tṛ chơi có tính chất thể dục, thể thao và mở mang trí tuệ như: đánh đu, cầu thùm, leo giây nhẩy bao bố, đấu vật, múa lân, đá cầu, đá gà, đua ghe, thả diều, vơ thuật, đấu cờ tướng (cờ người),

A)-CỜ NGƯỜI :

Cờ người đây là người thật, được tuyển chọn 16 nam và 16 nữ, tuổi từ 16 đến 20, được ăn mặc theo đúng các quân cờ, có nhiêu mầu sắc như Tướng, Sĩ, Tượng, Xe, Pháo, Mă và Tốt. Mỗi người đều cầm một cây cờ bàng gỗ, sơn son, thiếp vàng trông rất trang nghiêm và lịch sự. 2 người đấu cờ là 2 ông giỏi nhất sau khi đă được tuyển chọn sơ kết, chung kết, mới được thi đấu.

Người trọng tài là một danh thũ đă từng đoạt giải quán quân ở các năm trước, sau khi dàn quân theo vị trí trên bàn cờ đă được vẽ (kẻ) trên sân rộng trước cửa đ́nh làng. Trọng tài có nhiệm vụ khởi xướng, 3 hồi chiêng trống vang dội chấm dứt, lúc đó bên nào đă bốc thăm được đi trước bắt đầu xướng thí dụ:

Chốt 3 tấn 1, Pháo 2 b́nh 4, mă 1 tấn 2, xe 1 b́nh 1, ....Trong cờ tướng có muôn h́nh vạn trạng của các thế cờ, biến hoá như rồng bay phượng múa. Sau đây là một thế cờ tuyệt hảo “ Đại Xa Mă” trong bách cuộc tượng kỳ gọi đây là thế cờ “Đả Mă Tháo Điền”. Nhưng trong Trúc Hương Trai và nhiều tài liệu khác đều cho là “Đại Xa Mă” như xa 2 tấn 4, mă 3 tấn 4, xa 3 tấn 1, mă 4 tấn 5....mỗi lần hô như vậy người cầm quân cờ có nhiệm vụ di chuyển cùng với quân cờ đến chỗ quy định theo tiếng hô của ông đấu cờ, cứ như thế tiếp tục cho đến khi một bên bị thua.

Không bên nào được nghĩ quá 1 phút tuỳ theo giao ước. Nếu chậm quá thời gian quy định th́ trống bỏi (trống con) lại đánh bong bong bên tai thúc dục người đấu cờ, đây là môn chơi đấu trí, tổ chức rất công phu và thu hút nhiều người xem nhất.

B)-TRẨY HỘI CHÙA HƯƠNG:

Mùa Xuân c̣n là mùa trẩy hội, đi hành hương ở các nơi xa xăm như đi “Trẩy hội Chùa Hương”. Chùa Hương là một “Đệ nhất danh lam thắng cảnh”, thơ mộng tuyệt vời, sơn thuỷ hữu t́nh. Từ làng tôi dến Chùa Hương Tích khoảng cách độ 80 mai, (trên 100 cây số,) có thể đi bằng đường bộ hoặc đường thuỷ, các cụ làng tôi thường hay tổ chức đi đường thủy bằng những chiếc thuyền (ghe) nho nhỏ.

Mỗi chiếc chở được 15 đến 20 ngưởi. Một đoàn thuyền khoảng 10 đến 15 cái mang theo đủ các phẩm vật với những dàn trống, chiêng, nhạc cổ truyền và mọi người ăn mạc rất sang trọng, loè loẹt. Đoàn thuyền với những mái chèo hai bên đua nhau chạy dọc theo sông cái từ phủ Kinh Môn lên Chí Linh ngược lên sông Hồng Hà qua Hà Nội đến sông Hương tới Chùa - vừa đi vừa kèn trống, ḥ hát vang dội khắp con sông thật là nhộn nhịp và vui thú biết bao.

Đến Chùa Hương tất cả các du khách từ bốn phương đổ về gặp nhau trong một trái tim. Cảnh sơn núi hữu t́nh, nên thơ. Trai gái trẻ già dập d́u dắt nhau lên Chùa lễ Phật thật là “Bầu Trời Cảnh Bụt” bao la với từng đ̣an thiện nam, tín nữ từ khắp nơi đổ về hành hương chiêm bái mà như thơ Tản Đà, đă diễn tả:

Chùa Hương trời điểm lại trời tô
Một bức tranh t́nh trải mấy thu
Xuân lại Xuân đi bao dấu vết
Ai về ai nhớ vẫn thơm tho.

Phong cảnh Chùa Hương thật hữu t́nh, thơ mộng nhớ đến Bến Đục, Suối Yên, với gịng nước chẩy nhẹ nhàng trên sông, in bóng những dẫy núi chập chờn tô điểm cảnh thiên nhiên. “Trẩy Hội Chùa Hương”, không những đến lễ Phật câu may, xin xâm cầu tài, mà c̣n là nơi trai tài gái sắc có dịp gặp nhau trao đổi tâm t́nh, ôn lại cảnh cũ người xưa, chúc nhau trăm tuổi bạc đầu râu, hạnh phúc trăm năm đến với nhau.
Ai ai cũng hái lộc cầu may, xin xâm cầu tài, xem tướng, xem bói để biết thời vận hên xui, tương lai may rủi đến với ḿnh. Mọi người đều hân hoan với niềm hy vọng tràn đầy:

Du Xuân lễ Phật đầu năm
Lên Chùa Lễ Phật xin xâm cầu tài
Nguyện cầu Phật Tổ Như Lai
Phù hộ thân quyến trong ngoài b́nh an.

Và tôi cũng luôn luôn nhớ đến quê tôi, mỗi độ xuân về :

Quê tôi có gió bốn mùa
Có trăng giữa tháng, có Chùa quanh năm
Chuông kêu, gió sớm, trăng rằm
Chỉ thanh đạm thế, âm thầm thế thôi
Lâu ngày tôi bỏ quê tôi
Bỏ trăng, bỏ gió, chao ôi, bỏ Chùa
Đem thân đi với giang hồ
Trên đường phẳng lặng, bến đ̣ lênh đênh.

C)-MÚA LÂN - MÚA RỒNG :

Theo một số tư liệu có tính khảo cứu, người ta cho rằng múa lân ra đời rất sớm, có thể nói là từ lúc mà người nguyên thủy có tục lệ thờ cúng vật tổ. Căn cứ vào h́nh thù quái dị của chiếc đầu lân th́ có thể là một h́nh tượng nghệ thuật được thêu dệt lên từ trí tưởng tượng của người xưa. Đầu lân được sơn vẽ đủ các mầu : xanh, đỏ, tím, vàng, đen, ...cái sừng nhô lên như sừng con tê giàc ở phía gáy nó. Cái mũi rất to nhô lên. Khắp trên trán, trên má, người ta đính những chiếc gương nhỏ ...

Người mang đầu lân là một nhân vật chính, kèm theo là người cầm đuôi, để rồi cả hai tuỳ theo nhịp trống, thanh la mà uốn lượn, khi lồng lên, khi giương oai, khi thu ḿnh để nghỉ,..Hàm dươi của lân có rất nhiều râu và râu dài. Cái miệng lúc nào cũng hớp hớp theo nhịp trống ....

Đặc biệt trong múa lân có một nhân vật rất kỳ lạ, gọi là ông Địa, mặt to, tai lớn, bụng phệ, cười rất vui, một tay dương cao cây gậy trên có quả cầu, một tay phe phẩy chiếc quạt giấy. Có người cho rằng ông Địa là một nhân vật biểu hiện của niềm lạc quan, yêu đời, vui vẻ. Có người lại cho rằng ông Địa phản ảnh ước mơ của người xưa muốn thông qua vật tổ của ḿnh để chinh phục thiên nhiên.

Trong dịp Tết Nguyên Đán và Tết Trung Thu thường có tổ chức múa lân “Tùng xoèng, tùng xoèng..”đội múa lân đi đến đâu, phố phường, làng xóm nhộn nhịp đến đó, trẻ em, người lớn đổ ra xem, thật là nhộn nhịp trong những ngày vui xuân.

Bây giờ ở các thành phố vào những ngày Tết, hay Trung Thu, cả những ngày khai trương cửa hàng cũng mời các đội múa lân đến múa, các hiệu buôn tuỳ theo khả năng mà treo giải lớn, nhỏ, có chủ hiệu treo giải cực to để lấy tiếng và quảng cáo. Thường lân đến múa nơi nào th́ nơi đó có đốt pháo, hoặc do chính đội lân mang pháo đến đốt.

Múa Rồng là điệu múa của một số nước phương Đông, nhưng ở Việt Nam điệu múa này có bản sắc riêng. Người Hoa ở nước ta rất thích múa Rồng. H́nh con rồng Việt Nam thân dài, uyển chuyển uốn khúc như thân rắn, nhưng có nguồn gốc từ h́nh cá sấu. Việt Nam là xứ sở nông nghiệp, trồng lúa nước lâu đời, nên rất thích rồng v́ nó là biểu tượng của vị thần làm ra nước, sấm chớp, để luá má tốt tươi, vạn vật sinh sôi, nẩy nở. V́ vậy múa rồng rất phổ biến trong dân gian.

Hính con rồng ta thường thấy trong các đội múa ngày nay mang dáng dấp con rồng truyền thống, là con rồng của thời Lư, Trần (1009-1400). Thân của những con rồng này dài, mềm mại, có vây, vẩy, dọc lưng đến đuôi có hàng gai. H́nh rồng được làm bằng vải mầu vàng, vẩy, vẽ bằng mầu đen, mắt cũng mầu đen. Thường có 8 người đội h́nh rồng : Một người đội đầu, sắu người đội thân và một người đội đuôi. Những người này múa theo nhịp trống dân gian

D)-THẢ DIỀU :

Chơi thả diều là một thú tao nhă,và có rất nhiều người rất thích thú, say mê và c̣n thi đua làm diều. Diều người ta chế ra nhiều loại : Diều sáo, diều cánh phản, diều chuồn chuồn.....theo sử liệu diều có từ lâu đời. Nhưng có tài liệu nói nguồn gốc chơi diều ở Trung Quốc và một số nước Tây phương.
Ngoài Bắc có câu ca dao :

Cầm dây cho chắc,
Lúc lác cho đều,
Để bố đâm diều,
Kiếm gạo con ăn,

C̣n thi sĩ Tản Đà th́ không quên được cánh diều :

Nước gợn sông Đà con cá nhẩy,
Mây trùm non Tản cái diều bay,

Con diều thật là một giống chim thuộc bộ cắt, họ Ưng chuyên ăn thịt, Ở nước ta có khoảng 20 loài của họ Ưng. Từ diều trắng, diều lửa, diều hâu, đến kên kên, ...Diều ta thường thấy mầu hung, cánh đen, bụng đỏ nhạt, mắt rất tinh, chân đầy móng sắc, các con thú nhỏ như chim, chuột, gà con, vịt con, đều là mồi ngon của diều. Diều bay lượn rất đẹp và có tốc độ cao, từ 70 đến 80 cây số giờ.

Trong dịp Hội đ́nh làng tháng ba năm 1998 tôi có về thăm quê và dự “Đại Hội Truyền Thống Đ́nh Làng” trong dịp này tôi cũng vui chơi với một số các cụ và dân làng đi thả diều đây là một dịp tôi hồi tưởng lại cái thú vui xuân của thời kỳ thơ ấu, Nghề chơi diều có sức lôi cuốn ghê gướm và cũng lắm công phu. Ở Pháp có liên đoàn chơi diều gồm 6 hiệp hội với khoảng 600 thành viên.

Trên đây tôi chỉ tưởng nhớ lại một số tṛ chơi tao nhă và thú vị theo sở thích của tôi lúc c̣n thiếu thời sống trong cảnh thanh b́nh, thịnh vượng xưa kia ở tại quê nhà, ngoài các tṛ chơi trên c̣n nhiều môn chơi khác như : Đánh đu, leo cầu thùm, đấu vật, các cụ th́ tổ tôm, tài bàn, xóc đĩa, chắn cạ...đấu vơ. Vơ nghệ cũng rất quan trọng đối với nhân dân ta. Từ ngàn xưa, dân tộc Việt Nam ta vốn có truyền thống thượng vơ. Vơ được xếp ngang hàng với văn chương.

Theo truyền thống từ ngàn xưa của thời thanh b́nh nơi quê tôi, quả thực vô cùng thích thú với tuổi thanh xuân. Một năm các cụ trong dân gian có tám cái Tết, tôi xin ghi lại đây để truyền bá lại cho các thế hệ mai sau biết về truyền thống văn hoá cua dân tộc ḿnh. Dù ngày nay người Việt Nam sống ở bất cứ thời gian hay không gian nào cũng cần phải biết đến truyền thống ṇi giống của dân gian từ bao đời để lại.

Tết Nguyên Đán là tết khởi đầu của một năm. Ư nghĩa tôi đă dẫn giải nêu trên, bây giờ xin quí độc giả hăy cùng tôi điểm sơ lược về ư nghĩa và mục dích của các ngày Tết tiếp theo trong năm :

2)-TẾT HÀN THỰC :

Tết Hàn Thực (Hàn thực nghĩa là ăn đồ lạnh) được tổ chức vào ngày 3 tháng 3 âm lịch mỗi năm. Trong dịp này người ta nấu bánh trôi, bánh chay để cúng gia tiên. Ta du nhập tục lệ này của người Trung Hoa. Người Trung Hoa tổ chức Tết Hàn Thực (ngày không đốt lửa, không có lửa th́ tức là không nấu nướng, nên dùng đồ ăn nấu sẵn từ ngày hôm trước) để kỷ niệm vị công thần tên là Giới Tử Thôi (thường gọi tát là Giới Tử) thuộc nhà Tần đời Xuân Thu bị chết thiêu.

3)-TẾT THANH MINH :

Tết Thanh Minh được tổ chức vào tháng 3 âm lịch hàng năm. Thanh Minh nghĩa là tiết trời mát mẻ trong sáng, không mưa, không nắng. Trong dịp này người ta đi tảo mộ, tức là thăm mộ thân nhân, nhổ sạch cỏ hoang, đáp lại mộ Ông Bà gia tiên nội ngoại, thân bằng quyến thuộc đă quá văng. Thắp nhang bày hoa quả cúng mộ. Sau khi tảo mộ, người ta về nhà làm cỗ cúng gia tiên. Trong những tài liệu nói về phong tục Việt, người ta không đề rơ ngày nào là ngày thanh minh. Nguyễn Du cũng chỉ nói : Thanh Minh trong tiết tháng ba – Lễ là tảo mộ, hội là Đạp Thanh (Kiều câu 43-44)-. Thanh Minh vừa là ngày Tết và vừa là ngày lễ hội vui như ngày Tết. Chính v́ thế người ta mới coi ngày Thanh Minh như ngày Tết. Tuy nhiên theo lịch ta, nhà làm lịch đă tuỳ theo thời tiết để ấn định ngày nào là ngày Thanh Minh. Mỗi năm có ngày Thanh Minh khác nhau.

4)-TẾT ĐOAN NGỌ (VÀO NGÀY 5 THÁNG 5 ÂM LICH).

Tết Đoan Ngọ hay Đoan Dương mà người ta c̣n gọi Tết giết sâu bọ, được tổ chức vào ngày 5 tháng 5 ta. Trước ngày Tết này độ 3 ngày người ta làm rượu nếp để cúng và ăn vào sáng ngày 5 Tết. Đây là món ăn tiêu biểu cho ngày Tết Đoan Ngọ của Việt Nam ta để “giết sâu bọ”. Ngoài ra dân ta c̣n nấu bánh đa kê và mua các trái cây như mận, xoài, dưa hấu, chanh,...để cúng gia tiên và cho các trẻ con và người lớn ăn để “giết sâu bọ”. Sáng ngày 5 mọi người đi hái lá cây như lá cối xay, và lá vối đem phơi khô nấu nước uống để trừ bệnh hoạn. Trong dịp này nhiều người c̣n mua bùa đeo vào cổ cho trẻ con để trừ tà ma nữa.

5)-TẾT TRUNG NGUYÊN :

Tết Trung Nguyên được tổ chức vào ngày 15 tháng 7 ta. Tết này c̣n được gọi là Tết rằm tháng bẩy, “Lễ Vu Lan. Mùa báo hiếu”, ngày nhớ ơn sinh thành của Ông, Bà, tổ tiến đă quá văng và cha mẹ hiện tiền, cũng là ngày cúng các cô hồn và xá tội vong nhân. Để biết rơ về “Tết Trung Nguyên” xin mời xem bà́ “Ư Nghĩa ngày Lễ Vu-Lan Bồn” và nhiều bài khác, tôi đă viết có đăng trên các trang website www.vngarden.com/forums (mục Buddhist Club);
www.quangduc.com/tacgia/nguyenduccan/html và www.daophatngaynay.com

[8)TẾT TRUNG THU :

Tết Trung Thu được tổ chức vào ngày 15 tháng 8 ta. Tết này c̣n được gọi là Tết Rằm Tháng Tám, Tết Nhi Đồng, hay Tết trẻ em. Vào đêm rằm tháng tám trăng Trung Thu rất tṛn và trong sáng tỏ rơ, thời tiết mát mẻ, khí hậu ôn hoà. Trong dịp này có nhiều thú vui để cho trẻ em và người lớn hoà nhịp chung vui. Trẻ em th́ rước đèn, ca hát các bài hát Trung Thu, và vui hưởng bánh kẹo (đặc biệt loại bánh Trung Thu, như bánh nướng, bánh dẻo, chỉ ngày Tết Trung Thu mới có) cùng các thứ trái cây do cha mẹ bầy ở ngoài sân trong đêm Trung Thu dưới h́nh thức mâm cỗ. Theo tục lệ, việc trẻ con thưởng thức bánh kẹo trái cây này được gọi là “phá cỗ”. Người lớn th́ tổ chức các đội muá lân, múa rồng (như tôi đă nói ở mục Tết Nguyên Đán) nêu trên. ăn bánh Trung Thu, uống nước trà tầu thưởng trăng, ngám trăng, sao để tiên đoán được thời tiết và vận mệnh của đất nước trong năm.

“Tết Trung Thu trăng tṛn vằng vặc,
Nhớ mẹ cha canh cách bên ḷng”
“Cha c̣n như ngọn đèn trong,
Mẹ c̣n như ánh trăng rằm Trung Thu”

7)-TẾT TRÙNG CỬU : (Tết được tổ chức vào ngày 9 tháng 9 ta).

Tết Trùng cửu c̣n gọi là Tết Trùng Dương được tổ chức vào ngày 9 tháng 9 ta (số 9 là số Dương). Tết này lấy sự tích từ câu chuyện lánh nạn của Hoàng Cảnh, đời Hậu Hán bên Tầu, Hoàng Cảnh theo học đạo tiên với Phi Trường Pḥng, một hôm Phi Trường Pḥng bảo Hoàng Cảnh là đến ngày 9 tháng 9, gia đ́nh của anh ta sẽ gạp tai nạn. Muốn tránh nạn th́ cả nhà phải đi lên núi chơi vào ngày hôm ấy, nhớ mang theo rượu hoa cúc để uống, phải đeo ở tay mỗi người một túi đỏ để đựng hạt tiêu và ở chơi trên núi cao tối mới trở về. Quả thực tối mọi người trở về đến nhà th́ thấy các gia súc đều chết hết. Chính v́ sự tích này mà Tết Trùng Cửu, người ta có tục bỏ nhà lên núi uống rượu cúc. Sau này không ai tổ chức Tết Trùng Cửu, v́ nó hoàn toàn theo tục lệ của người Tầu. Tuy nhiên, các tao nhân mạc khách thường mượn dịp này lên núi uống rượu làm thơ.

8)-TẾT TRÙNG THẬP : (song thập vào ngày 10 tháng 10 ta)

Tết Trùng thập là tết được tổ chức vào ngày 10 tháng 10 ta. Tết này cũng là tết của người Tầu, (hiện nay ở Đài Loan vẫn tổ chức Tết song thập) ít được người Việt ḿnh theo. Chỉ có các nhà đồng cốt (người lên đồng bóng) và các thầy thuốc ta c̣n theo phong tục này. Ở nhà quê cũng có một số nơi người Việt ta ăn Tết Trùng Thập, Người ta thường làm bánh dầy và chè kho để cúng gia tiên và cúng thần trong dịp Tết Trùng Thập.. Có nơi ăn Tết Trùng Thập vào ngày 31 tháng 10 để nhớ đến công Tiên Nông và để ăn mừng công việc thu hoạch vụ mùa đă xong.

9)-TẾT TÁO QUÂN : (ngày 23 tháng 12 (chạp) hàng năm)

Tết Táo Quân (Táo Quân là vua bếp) được tổ chức vào ngày 23 tháng chạp (tháng 12) ta. theo tục truyền ngày ấy vua bếp lên chầu “Ngọc Hoàng Thượng Đế” để tâu việc thiện ác của trần gian. V́ thế người ta làm lễ tiễn Táo Quân vào ngày đó. Ở quê tôi thời xưa nhà nào cũng thay mấy ông đầu rau bếp cũ đem liệng xuống ao, hồ và thay thế các ông đầu rau mới thường làm bằng đất xét. Mỗi bếp có 3 ông đầu rau (là một khối gạch nung, được nặn với h́nh thể riêng biệt dùng cho nhà bếp, khối gạch này phía dưới đáy phẳng và lớn, phía trên th́ cong, nhỏ lại và xéo để vừa vặn ăn khớp với đáy nồi, người ta xếp ba ông đầu rau ở ba phía, giữa là khoảng trống để đốt rơm hay củi mà nấu nướng) Trong lễ cúng ngoài các phẩm vật, cỗ bàn thường lệ ra c̣n phải có con cá chép để làm ngựa cho Táo Quân cưỡi về trời. để tâu Ngọc Hoàng như:

Khởi tấu Ngọc Hoàng, Thần Táo sức sống, Đến năm đúng ngày. Hai ba tháng chạp, Khẩn đầu trước bệ, Tŕnh tấu mọi bề, Chuyện ở trần gian..........

Trên đây là các ngày Tết của một năm, khởi đầu là Tết Nguyên Đán. Tôi sưu tầm và dẫn giải nêu trên với mục đích truyền lại cho các thế hệ trẻ sau này t́m hiểu về nguồn gốc của dận tộc ḿnh do tiền nhân để lại./.

Cư Sĩ Tuệ Minh Đạo NGUYỄN ĐỨC CAN

hoangthymaithao
01-11-2010, 06:18 AM
Lang thang một dăy sáu cô
Cưới cô chín giữa mích ḷng năm cô
Phải chi tôi có lúa bồ
Tôi ra tôi cưới sáu cô một lần
Cô hai mua tảo bán tần
Cô ba xách nước dưỡng nuôi mẹ già
Cô tư dọn dẹp trong nhà
Cô năm phân nước pha trà
Cô sáu trải chiếu giăng mùng
Cô bảy là nghĩa t́nh chung với ḿnh
Cô bảy phân hết sự t́nh
Trai năm thê bảy thiếp vợ của ḿnh rất đông.

(ca dao Bạc Liêu)

hoangthymaithao
01-12-2010, 02:32 PM
Nhân đọc bài T́nh Yêu trong Văn Học Dân Gian thấy bài ca dao dài mười lăm câu nói đến t́nh yêu của người con gái xứ Bắc đối với người t́nh phải xuôi Nam. Cũng giống như người chinh phụ trong “Chinh Phụ Ngâm Khúc”, bài văn tả lại những hồi tưởng phút êm đẹp bên nhau, nhưng bây giờ Bắc Nam đôi ngả. Nàng hối tiếc đă để cho chàng đi vào Nam, lời than văn giống như một thông điệp khuyên người chớ lấy chồng trong Nam

Sáng trăng suông vằng vặc cái đêm hôm rằm
Nửa đêm và sáng trăng bằng ngọn tre
Em trót yêu anh cho trọn một bề
Để anh thấp thoáng ngồi kề bóng trăng
Sự t́nh nầy ai thấu cho chăng!
Để anh ngồi tựa bóng trăng chịu sầu
Gánh tương tư một dịp đôi ba cầu
Bắc Nam đôi ngă chịu sầu đôi nơi
Con chim khôn chết mệt v́ mồi
Chim kêu réo rắt gọi người t́nh chung
Hai chúng ta vấn vít sợi tơ hồng (11)
Nồi đồng th́ úp vung đồng
Con gái xứ Bắc lấy chồng Đồng Nai
Giậm chân xuống đất kêu trời
Chồng tôi vô Quảng biết đời nào ra (15)

Hai câu đầu của bài trên thấy văn có vẻ ngượng không giống ca dao cho lắm mới đi t́m xem nguyên nhân. Trong trang mạng http://www.e-cadao.com/cadaomain.asp và trang Dũng Lạc đưa ra một bài tương tự có thể loại hát xẩm chỉ có 12 câu:

Sáng trăng vằng vặc cái đêm hôm rằm
Nửa đêm là đêm về sáng, chứ mới trăng bằng là ngọn cây tre.
Anh trót yêu em cho trọn chứ bên một bề
Để em là em thơ thẩn chứ mới ngồi kề trăng này bóng trăng
Cái sự t́nh này ai thấu chăng là cho chăng?
Để em là em thề nguyền chứ với bóng trăng em chịu sầu
Cái mối tương tư một dịp chứ đôi ba cầu,
Bắc nam mà hai ba ngả, chứ chịu sầu đôi ba nơi.
Chim khôn chết mệt về mồi,
Nó kêu réo rắt ghẹo người t́nh nhân.
Bấy lâu nay vằng vẻ Châu Trần,(11)
Để em tạm chút chơi xuân kẻo già (12)

Bài t́m được có 12 câu, diễn tả tâm sự của nàng một đêm trăng sáng nàng thao thức nhớ đến người yêu đă xuôi Nam, nàng thề với bóng trăng là nàng chịu mang mối sầu một ḿnh mà chẳng có ai thấu cho nàng thôi th́: “Để em tạm chút chơi xuân kẻo già (12)”

Hai bài nầy na ná giống nhau chỉ từ câu số 11 th́ hoàn toàn khác với bài trích dẫn từ “T́nh Yêu trong Văn Học Dân Gian”

Bấy lâu nay vằng vẻ Châu Trần,(11)
Để em tạm chút chơi xuân kẻo già (12) (bài t́m được)

Hai chúng ta vấn vít sợi tơ hồng (11)
Nồi đồng th́ úp vung đồng
Con gái xứ Bắc lấy chồng Đồng Nai
Giậm chân xuống đất kêu trời
Chồng tôi vô Quảng biết đời nào ra (15)(Bài trích dẫn)

Nguyên Nhân “chồng Bắc vợ Nam"

Ta ai ai cũng biết trong quá tŕnh mở mang bờ cơi vào phương Nam, tiền nhân của chúng ta nới rộng lănh thổ đem thêm nhiều tài nguyên cho con dân mẹ Việt. Mang được lợi ích cho quốc gia nhưng cũng gây nhiều xáo trộn trong tâm thức của người dân. Từ thời Châu Ô, Châu Lư ta đă được nghe người dân thương hương tiếc ngọc:

Tiếc thay cây quế giữa rừng,
Để cho thằng Mán thằng Mường nó leo

V́ quyền lợi tối thượng của tổ quốc nàng công chúa của Nhà Trần đă phải hy sinh t́nh yêu và đời ḿnh để làm cây quế cho kẻ ngoại tộc dày ṿ. Nàng công chúa chịu khổ th́ người dân càng khổ hơn nhất là vào thời Chúa Nguyễn Hoàng vào Nam lập nghiệp ở hai châu Ô Lư, th́ chuyện t́nh duyên cách trở lại càng đâm nét hơn nhiều. Chàng theo Chúa Nguyễn vào Nam, nàng ở lại quê nhà nuôi mẹ chồng:

Anh đi em ở lại nhà
Biển sâu em lặn lội nuôi mẹ già đợi anh

Sau khi nhà Tây Sơn thống nhất đất nước rồi đến nhà Nguyễn đăng quang, miền Nam đă được khai phá cho tới mũi Cà Mau nhiều người miền Bắc đă vào Nam v́ công vụ hay kiếm sống. Có lẽ họ đă mang theo bài hát xẩm nói lên tả cảnh hữu t́nh giữa chàng và nàng:

Sáng trăng vằng vặc cái đêm hôm rằm
Nửa đêm là đêm về sáng, chứ mới trăng bằng là ngọn cây tre.
Anh trót yêu em cho trọn chứ bên một bề
Để em là em thơ thẩn chứ mới ngồi kề trăng này bóng trăng
Cái sự t́nh này ai thấu chăng là cho chăng?
Để em là em thề nguyền chứ với bóng trăng em chịu sầu
Cái mối tương tư một dịp chứ đôi ba cầu,
Bắc nam mà hai ba ngả, chứ chịu sầu đôi ba nơi.
Chim khôn chết mệt về mồi,
Nó kêu réo rắt ghẹo người t́nh nhân.
Bấy lâu nay vằng vẻ Châu Trần,
Để em tạm chút chơi xuân kẻo già

Nhưng sau qua một thời gian họ v́ quên hay hoặc v́ hoàn cảnh sống mà bài hát xẩm trên đă biến dạng cho hợp với không gian và thời gian:

Sáng trăng suông vằng vặc cái đêm hôm rằm
Nửa đêm và sáng trăng bằng ngọn tre
Em trót yêu anh cho trọn một bề
Để anh thấp thoáng ngồi kề bóng trăng
Sự t́nh nầy ai thấu cho chăng!
Để anh ngồi tựa bóng trăng chịu sầu
Gánh tương tư một dịp đôi ba cầu
Bắc Nam đôi ngă chịu sầu đôi nơi
Con chim khôn chết mệt v́ mồi
Chim kêu réo rắt gọi người t́nh chung
Hai chúng ta vấn vít sợi tơ hồng
Nồi đồng th́ úp vung đồng
Con gái xứ Bắc lấy chồng Đồng Nai
Giậm chân xuống đất kêu trời
Chồng tôi vô Quảng biết đời nào ra

Hai câu cuối cùng của nguyên bản:

Bấy lâu nay vằng vẻ Châu Trần,
Để em tạm chút chơi xuân kẻo già

đă biến thành năm câu với ư nghĩa khác biệt ư muốn nói “ Nồi nào th́ úp vung đó” bằng không có hối cũng đă muộn. Con gái xứ Bắc đi theo chồng Vào Nam v́ đường xa cách trở mà muốn đi thăm th́ cũng không đi thăm được:

Thương anh em cũng muốn vô
Sợ truông Nhà Hồ, sợ phá Tam Giang

Và người đi cũng khó mà trở lại quê nhà cho nên đă khuyến khích:

Nồi đồng th́ úp vung đồng
Con gái xứ Bắc lấy chồng Đồng Nai
Giậm chân xuống đất kêu trời
Chồng tôi vô Quảng biết đời nào ra

Hồi thời đó đường xa xôi cách trở phương tiện di chuyển chỉ có đi bộ hay đi bằng đường thủy cho nên người xứ Bắc coi Quảng hay Đồng Nai cũng như nhau. Ở đó chỉ là rừng thiêng nước độc

Đồng Nai xứ sở lạ lùng
Dưới sông sấu lội, trên rừng cọp um

Hoặc

Tới đây xứ sở lạ lùng
Con chim kêu phải sợ, con cá vùng phải kinh.

Chính quyền đă bắt dân phải đào kênh, để thuần hóa đất đai cho khỏi phèn. Nhờ sức cần cù của lớp trước đào kênh, dẫn nước tạo cho lớp sau những tiện nghi đa dụng, ruộng lúa ph́ nhiêu. Do đó ca dao trong nam là ca dao t́nh yêu trên sông nước và kênh đào.

Bơi xuồng qua kinh Mới, bơi dọc kinh Ngang
Em thương anh ăn nói dịu dàng
Trách anh không mai mối, để lỡ làng đôi ta! (Vĩnh Long)

Kinh Ngang nó nhớ kinh Xuôi
Anh biết em cḥm xóm lâu rồi
Như con sông Cổ Chiên thầm lặng
Cảm thương người có chồng xa xứ biệt tăm? (Vĩnh Long)

Cá trê trắng nấu với rau cần,
Muốn về Kinh Xáng cho gần với em. (Cần Thơ)

Chèo dài kinh hẹp khó lùa,
Thấy em ở ruộng quê mùa anh thương. (Châu Đốc)

Chiều chiều én liệng bờ kinh
Ếch kêu giếng lạnh thắm t́nh đôi ta (Châu Đốc)

Chiều chiều ra đứng đầu kinh
Thương ḿnh mà chẳng thấy ḿnh nơi đâu. (Đồng Tháp)

Đèn treo trong quán, tỏ rạng bờ kinh
Em có thương th́ em nói thiệt t́nh
Đừng để anh lên xuống một ḿnh bơ vơ. (Tiền Giang)

Đèn treo Vàm Láng tỏ rạng vàm kinh
Anh ra đây sao chịu chữ làm thinh
Hay là anh chê tôi không xứng làm người t́nh của anh. (Tiền Giang)

Nhờ đó Xứ Nam thành nơi rừng vàng biển bạc. Người ta bắt đầu cổ động cho việc xuôi Nam

Làm trai cho đáng nên trai
Phú Xuân cũng trải, Đồng Nai cũng từng.

Nhà bè nước chảy phân hai
Ai về Gia Định, Đồng Nai th́ về

Gạo Cần Đước, nước Đồng Nai
Ai về xin nhớ cho ai theo cùng.

Đồng Nai đă trở thành đất của cơ hội. Nơi đó đất cát ph́ nhiêu ruộng c̣ bay thẳng cánh, chẳng thiếu một thứ ǵ.

- Ai ơi về Đại Phố Châu
Thăm núi Châu Thới, thăm cầu Đồng Nai.

- Ai về Phú Hội, Phước Thiền
Chôm chôm xóm Hố, sầu riêng xóm Vườn.

- Sông Đồng Nai nước trong lại mát
Đường Hiệp Ḥa lắm cát dễ đi
Gái Hiệp Ḥa xinh như hoa thiên lư
Trai Hiệp Ḥa chí khí hiên ngang.

- Đồng Nai gạo trắng nước trong
Ai đi đến đó thời không muốn về.

- Đồng Nai nước ngọt gió hiền
Biên Hùng muôn thuở tiếng truyền an vui.

-Ăn bưởi th́ hăy đến đây
Đến mùa bưởi chín vàng cây trĩu cành.

- Đồng Nai nguồn mọi cao sang
Chảy xuống hai hàng, hàng Đại, hàng Sâm.

- Trà Phú Hội, nước Mạch Bà;
Sầu riêng An Lợi, chuối già Long Tân;
Cá bui, ṣ huyết Phước An;
Gạo thơm Phước Khánh, tôm càng Rạch Nhum.

Hết gạo th́ có Đồng Nai
Hết củi th́ có Tân Sài chở vô.

- Nước Đồng Nai sóng dồi lên xuống
Cửa Đồng Môn mây cuốn cánh buồm xuôi.

- Ngó lên Châu Thới có đám mây bạch
Ngó xuống Rạch Cát thấy con cá trạch đỏ đuôi.

Chị Hươu đi chợ Đồng Nai,
Đi qua Bến Nghé ngồi nhai thịt ḅ.

Khi quân Pháp tấn chiếm Nam kỳ lục tỉnh rồi biến miền Nam thành Nam Kỳ tự trị, thực dân Pháp phát triển kỹ nghệ canh nông với đồn điền Cao su, trà và Cà phê đă tạo ra những cảnh gia đ́nh ly tán v́ chính sách mộ phu của thực dân.

- Đường về đất đỏ miền Đông
Cao su bao lá hận ḷng bấy nhiêu.

- Trần gian địa ngục là đây
Đồn điền Đất Đỏ nơi Tây giết người.

Cao su đi dễ khó về
Khi đi trai tráng khi về bủng beo

Cao su đi dễ khó về
Trai đi mất vợ gái về thêm con

Thà ăn rau má, rau lang
Hơn theo Bá Cừ (l) thác oan uổng đời.
* Năm 1925, Lê Bá Cừ từ Huế vào Quảng Nam mộ phu đưa vào Nam Bộ làm đồn điền đồn điền cao su

Người dân không chịu nổi ách đô hộ của ngoại nhân đă nhất quyết đứng dậy đuổi quân thù ra khỏi bờ cơi:

- Ngày xưa giặc Pháp sang đây
La Ngà máu đổ chôn thây quân thù.

- Nhà Bè nước chảy phân hai
Ḷng Tàu, Soài Rạp, Đồng Nai oai hùng.

-Bao giờ cạn nước Đồng Nai
Nát chùa Thiên Mụ mới sai lời nguyền

Qua chiều dài lịch sử nam tiến hơn 400 năm, Ca dao, nền văn hóa của dân tộc cũng lớn mạnh và được tài bồi theo đà mở mang bờ cơi. Cũng v́ sự lớn mạnh của đất nước Ca dao đă tích lũy, thay đổi và biến dạng nhưng vẫn giữ được bản sắc của gịng giống Lạc Hồng, để bây giờ ta có được một kho tàng đầy ắp những bài học sống mà chúng ta có bổn phận phải bảo tồn. Chủ thuyết chung một bọc mẹ Âu Cơ, linh hồn của dân tộc sẽ đánh bạt mọi chủ thuyết ngoại lai.

Hà Phưong Hoài - Đông 2009

hoangthymaithao
01-14-2010, 01:45 PM
http://www.sinhcafehn.com/UserFiles/Image/Tin%20tuc/1/1/Trau%20cau.jpg

Trầu têm cánh phượng là h́nh ảnh đẹp, gợi về truyện cổ tích Tấm Cám và tục ăn trầu đă trở thành tập quán, truyền thống của dân tộc Việt. Từ xa xưa, miếng trầu đă đi vào thơ ca, huyền thoại, cổ tích... phản ánh nhiều nét đẹp văn hóa, thăng hoa t́nh cảm, t́nh yêu thương con
người, h́nh thành văn hóa vùng rơ rệt.

Trước hết, miếng trầu gợi về những sự tích, những câu chuyện cổ được lưu truyền rộng răi trong nhân dân, mang đậm bản sắc dân tộc. Truyện Trầu cau, qua truyền miệng thêm bớt của nhiều thế hệ, những t́nh tiết “nguyên thủy” đă được khoác cái áo của lễ giáo cho phù hợp với
đạo Khổng - Mạnh. Đến nay, chủ đề của Trầu cau lại trở thành câu chuyện luân lư, đạo đức, khuyên con người xích lại gần nhau hơn, vị tha hơn để sống chan ḥa, nhân ái trong cuộc sống hội nhập.

Câu chuyện Trầu cau khép lại bằng tục ăn trầu - một phong tục truyền thống của nhân dân ta để tô đậm t́nh cảm sắt son, thủy chung đẹp đẽ. Miếng trầu bao giờ cũng là "đầu câu chuyện” để bắt mối lương duyên và những khi có lễ nhỏ, lễ lớn, cưới xin, hội hè, ma chay...
đều không thể thiếu miếng trầu. V́ thế mà truyện Trầu cau đă bất chấp thời gian mà sống măi với nhân gian.

H́nh tượng trầu têm cánh phượng của cô Tấm trong truyện cổ tích Tấm Cám cũng có từ rất xưa. Truyện được nảy sinh từ vùng đất Kinh Bắc. V́ thế, cô Tấm có dáng dấp của Chị Hai quan họ. Rất hiếu thảo, duyên dáng, t́nh tứ và khéo léo. Miếng trầu của cô Tấm đă trở thành
một h́nh tượng đẹp, có sức quyến rũ độc đáo và mang đậm sắc thái văn hóa vùng, rất đáng trân trọng. Miếng trầu têm cánh phượng c̣n mang nét đẹp biểu trưng, đầy tự hào của người Kinh Bắc. Có thể nói, mỗi câu chuyện đều thắm đượm t́nh người, có giá trị nhân bản và nhân
văn sâu sắc.


http://vietsciences.free.fr/vietnam/vanchuong/truyen_ngan/images/khaytrau.jpg

Trầu là món ăn không giải quyết việc đói, no. Người ta ăn trầu là để thưởng thức vị cay thơm của lá trầu không, vị chát của vỏ, vị ngọt bùi của cau, vị nồng nàn của vôi... tất cả ḥa quyện với nhau trong một màu đỏ sẫm. Nhiều người ăn trầu đă thành thói quen, rồi thành nghiện-nghiện trầu. Nhưng điều ḱ diệu của thói nghiện trầu phải chăng là ở chỗ, người ăn thấy nó gắn bó với số phận con người; bởi tách riêng, th́ cay đắng, éo le, nhưng khi đă ḥa chung th́
t́nh cảm của họ lại thắm tươi, đẹp đẽ:


“Tách riêng, th́ đắng, th́ cay.
Ḥa chung, th́ ngọt, th́ say ḷng người.
Tách riêng, xanh lá, bạc vôi.
Ḥa chung, đỏ thắm máu người, lạ chưa?
.... Chuyện t́nh ngày xửa, ngày xưa!...”.
(Sự tích Trầu cau - Hồng Quang)

Theo phong tục Việt Nam, miếng trầu rất quen thuộc, dễ kiếm. Trầu tuy rẻ tiền nhưng chứa đựng nhiều t́nh cảm, nhiều ư nghĩa. Giàu nghèo ai cũng có thể có, vùng nào cũng có, từ Bắc chí Nam. Ăn trầu là một phong tục truyền thống, nhưng cách têm trầu th́ lại mang rơ dấu ấn văn hóa của vùng miền.

Nói đến trầu têm cánh phượng là nói đến miếng trầu vùng Kinh Bắc. Cũng vẫn nguyên liệu ấy, nhưng cách têm đẹp, kiểu cách, đă thể hiện sự khéo léo của những liền chị-người gái quê Kinh Bắc. V́ thế, miếng trầu có sức hấp dẫn đặc biệt và để lại ấn tượng sâu sắc cho bất cứ ai, dù chỉ một lần được mời.

Trong giao tiếp ứng xử, “miếng trầu là đầu câu chuyện”. Miếng trầu thường đi đôi với lời chào và một thái độ của người mời khách. Người lịch sự không “ăn trầu cách mặt”, nghĩa là đă tiếp, th́ tiếp cho khắp -


“Tiện đây ăn một miếng trầu.
Hỏi rằng quê quán ở đâu chăng là?”.

http://du-lich.chudu24.com/f/d/091008/3-3.jpg?c=1&w=450

Việc mời trầu cũng thể hiện sắc thái t́nh cảm tinh vi, tế nhị. Quư nhau mời trầu, ghét nhau theo phép lịch sự, cũng mời trầu. Ca dao có câu:


“Yêu nhau cau sáu bổ ba;
Ghét nhau cau sáu bổ ra làm mười”.

C̣n không có trầu mà tiếp khách vẫn mời trầu như Nguyễn Khuyến, là một trường hợp lạ -


“Đầu tṛ tiếp khách, trầu không có.
Bác đến chơi nhà, ta với ta”.

Đặc biệt nữa là miếng trầu hôi đăi khách của Hồ Xuân Hương. Miếng trầu có cái ǵ thật khác thường, chất chứa đầy sự thách thức và một bản lĩnh của người mời:


-“Quả cau nho nhỏ miếng trầu hôi.
Này của Xuân Hương đă quệt rồi.
Có phải duyên nhau th́ thắm lại.
Đừng xanh như lá bạc như vôi”.
(Mời trầu - Hồ Xuân Hương)

Bài thơ chưa đưa nữ sĩ vào con đường tuyệt vọng, nhưng vẫn ngân lại trong ḷng người một nỗi buồn lai láng. Nó phản ánh số phận không mấy suôn sẻ, thể hiện bản lĩnh người phụ nữ trong cuộc sống của xă hội tự khiêm.

Nét đặc trưng tiêu biểu của miếng trầu là được dùng nhiều trong lối ứng xử giao duyên giữa trai thanh gái lịch và được thể hiện khá nhiều trong thơ ca:


-“Trầu vàng nhá lẫn cau xanh
Duyên em sánh với t́nh anh tuyệt vời”.

(Ca dao)

Có thể t́nh yêu làm họ gắn bó, ḥa quyện, cùng nhau làm nên cái mùi vị thơm cay, cái hơi men nóng bừng, cái sắc đỏ đẹp tươi ấy:


“Có trầu mà chẳng có cau.
Làm sao cho đỏ môi nhau th́ làm!”

hoặc


“Thôn Đoài ngồi nhớ thôn Đông.
Cau thôn Đoài nhớ trầu không thôn nào?”...
(Tương tư - Nguyễn Bính).

Mời trầu không ăn, th́ trách móc nhau:


“Đi đâu cho đổ mồ hôi;
chiếu trải không ngồi, trầu để không ăn;

- Thưa rằng bác mẹ tôi răn!
Làm thân con gái, chớ ăn trầu người” -
(Ca dao).

http://farm4.static.flickr.com/3328/3519197464_3f5fe81889.jpg

Một khi đă quen hơi bén tiếng, trai gái cũng mượn miếng trầu để tỏ t́nh, để tán tỉnh:


- “Từ ngày ăn phải miếng trầu,
Miệng ăn môi đỏ, dạ sầu đăm chiêu.

- Một thương, hai nhớ, ba sầu,
Cơm ăn chẳng được, ăn trầu cầm hơi”.
(Ca dao)

Nếu yêu nhau mà không lấy được nhau, th́ chẳng khác ǵ


“có trầu, có vỏ, không vôi.
Có chăn, có chiếu, không người nằm chung”.
Ca dao than rằng -


“yêu nhau chẳng lấy được nhau.
Con lợn bỏ đói, buồng cau bỏ già”.

Miếng trầu không đắt đỏ ǵ, chỉ “ba đồng một mớ trầu cay”, thế nhưng cũng rất có thể “miếng trầu nên dâu nhà người”.

Ngày nay, để răng trắng, có thể nhiều người không biết ăn trầu, nhưng theo phong tục trong ngày hỏi cưới, giỗ chạp... nhà ai cũng có trầu. V́ miếng trầu là tục lệ, là t́nh cảm nên dẫu ăn được hay không ăn cũng chẳng ai từ chối -


“Cho anh một miếng trầu vàng;
mai sau anh trả lại nàng đôi mâm”.

Ngày xưa, ăn trầu c̣n sợ bị bỏ “bùa mê”, “bùa yêu” nên ta có thói quen


“ăn trầu th́ mở trầu ra;
một là thuốc độc, hai là mặn vôi”.

V́ “miếng trầu là đầu câu chuyện”, là “đầu tṛ tiếp khách”, lại là biểu tượng cho sự tôn kính được phổ biến dùng trong các lễ tế thần, tế gia tiên, lễ tang, lễ cưới, lễ thọ, lễ mừng... nên têm trầu cũng đ̣i hỏi phải có mỹ thuật. Nhất là lễ cưới, lễ hội vùng Kinh Bắc, trầu thường được têm nhiều theo kiểu cánh phượng - miếng trầu cô Tấm.


http://du-lich.chudu24.com/f/d/091008/2-3.JPG?c=1&w=450

Trầu têm cánh phượng đă thành tục lệ truyền thống lâu đời, có “cau róc trổ hoa, cau già dao sắc”; từ lá trầu, quả cau, cho đến cách bổ, cách têm trầu cũng thật nhiêu khê! Có trầu quế, trầu hồi; cũng có trầu cay, trầu hôi; có cau tươi, cau khô, cau già, cau non, cau quả to, cau quả nhỏ; cau tiễn chũm long đào...

Trầu têm cánh phượng thường dùng để đăi khách quư, được têm bằng cau tiễn chũm ḷng đào. Cách têm này cũng đ̣i hỏi phải chọn lá trầu quế vừa tầm để cắt tỉa cánh phượng, chọn vỏ đỏ dày để cắt trang trí phần đuôi. Muốn cho miếng trầu thêm đẹp, người ta thường cài thêm vào cùng miếng vỏ một cánh hoa hồng, tạo thành đuôi phượng, làm miếng trầu thêm lộng lẫy với sắc màu sặc sỡ, tươi tắn.

Trầu cánh phượng thường được bày trên đĩa đặt ở bàn tiệc, dùng làm vật trang trí. Mỗi đĩa trầu có thể bày từ 5 đến 10 miếng, đầu châu vào giữa, đuôi có cánh hồng ở phía ngoài, trông rất sang trọng, lịch thiệp và đẹp. Có nơi người ta bày trầu theo kiểu khác. Trầu được cắm
trong lọ hoặc li thủy tinh; trong li không đựng nước mà đựng gạo. Mỗi miếng trầu cánh phượng được cắm bằng que tre nhỏ dài chừng 20 cm vào đầu cau, trông như một cành hoa lạ. Tùy theo cỡ bàn to nhỏ mà cắm nhiều ít cho phù hợp; mỗi lọ ít nhất cũng cắm từ 5 đến 7
“bông”, thành một lọ hoa đẹp! Có thể đặt trang trí trên bàn tiệc cùng hoa tươi, trông rất kiểu cách, ấn tượng.


http://i88.photobucket.com/albums/k195/NGOBAP/betel-la.jpg

Ngày nay, trong tiệc cưới ở một số làng quê Kinh Bắc, trầu cánh phượng được têm rất cầu kỳ; mỗi miếng đựng trong một hộp nhựa màu trong suốt, h́nh vuông hoặc trái tim. Trước khi tiễn quư khách ra về, chủ nhà mời mỗi người một miếng trầu tính trầu t́nh, -


“trầu têm cánh phượng xinh xinh,
chở trao cho thắm môi ḿnh, ḷng say”.

Để khi cầm miếng trầu têm cánh phượng trên tay, ai cũng bùi ngùi, phấn chấn, cảm động đến khó tả, dù chỉ một lần được nhận.

H́nh tượng trầu têm cánh phượng của cô Tấm trong truyện Tấm Cám không chỉ c̣n là huyền thoại, là ảo ảnh siêu thực. Miếng trầu têm cánh phượng đă bước từ cổ tích ra ngoài cuộc sống. Rất b́nh dị, gần gũi, nhưng cũng không kém phần cao sang quyến rũ, vẫn tồn tại qua
thời gian để thăng hoa nét đẹp truyền thống một vùng quê.

Nh́n các liền chị têm trầu mà cứ ngỡ là cô Tấm vừa chui ra từ vỏ thị, đang sống giữa cuộc đời, thiết tha t́nh tứ, giăng mắc cùng lời ca Quan họ -


“Dao vàng bổ miếng cau hoa.
Bày lên đĩa sứ, mang ra thết chàng”.

Miếng trầu cánh phượng v́ thế mà đậm đà bản sắc văn hóa Kinh Bắc, thấm đượm t́nh người, có giá trị nhân bản và nhân văn sâu sắc.

Hồng Vũ Lan Nhi

hoangthymaithao
01-20-2010, 08:30 AM
MƯỜNG GIANG . Việt Báo Thứ Năm, 1/14/2010, 12:00:00 AM

Cọp là loài thú to lớn và mạnh khỏe nhất trong họ mèo, gồm tám giống thường sống đơn độc trong các khu rừng thưa có nhiều cỏ tranh ngoại trừ thời gian động đực nuôi con. Địa bàn hoạt động của cọp chủ yếu là Châu Á trải rộng từ Siberia, Mông Cổ, Trung Hoa tới bờ đông Măn Châu, xuống tận vùng Tiểu Á, Trung Đông, Ba Tư, Ấn Độ, Đông Nam Á, các quần đảo Nam Dương, Phi Luật Tân..

Trước đây con người chưa có đủ phương tiện để trấn áp các loại dă thú rừng xanh như beo cọp nên một số nước đông phương trong đó có Trung Hoa, VN đă thần thánh và xem nó như một linh vật để cúng tế và đắp tượng thờ tại các đ́nh chùa. Trong dân gian cũng như lĩnh vực văn học nghệ thuật, có ghi lại rất nhiều câu chuyện thần kỳ nói về sự liên quan mật thiết giữa người và cọp đầy bí mật và huyền thoại.
Nhưng điều oái oăm hiện nay chính là những truyền thuyết huyền thoại, mà bao đời con người dành cho cọp không biết là thật hay sự tưởng tượng ngẩu hứng, giờ đă trở thành tai họa cho loài thú này. Thêm vào đó loài người càng lúc càng sinh sôi nẩy nở, phải phá rừng xẽ núi để sản xuất trồng trọt, nên lấn chiếm dần hết giang sơn của chúa sơn lâm, khiến ác thú càng lúc càng bị dồn vào thảm họa diệt chủng. Theo thống kê cho biết hiện nay khắp thế giới c̣n không quá 5000 cọp. Điều này đă khiến cho Liên Hiệp Quốc phải lên tiếng báo động và xếp nó vào loài động vật quư hiếm cần được bảo vệ.

+ Cọp : Chúa Tể Của Sơn Lâm

Cọp là loài dă thú có sức mạnh và sự tinh khôn gần bằng con người. Theo kinh nghiệm của giới thợ săn và làng vơ, những nhân vật từng chạm trán với ác vật trên cho biết tính nết cọp rất kỳ lạ. Đó là khi vồ mồi (bất kể là người hay thú vật) nếu bắt trúng ‘ tai ‘ th́ cọp bỏ đi. Khi đă bắt được mồi, bao giờ cọp cũng dựng xác người hay vật ở tư thế ngồi hay nằm rồi mới ăn thịt và luôn luôn moi lục phủ, ngủ tạng ăn trước. Cọp nào làm ngược những qui tắc trên, được giới thợ săn gọi là ‘ cọp trở mồi ‘ , một báo hiệu cho biết nó sắp bị giết bởi thợ săn hay sập bẫy. Ngoài ra khi thấy cọp qú chân sau chống chân trước là lúc cọp sắp tấn công. Khi vồ mồi, cọp chạy theo thế ḅ sát và phóng tới, cái đuôi phe phẩy theo hướng nào là cọp tấn công theo hướng đó. Sau cùng lúc cọp nằm ngữa bụng lên trời là để dưỡng sức đợi dịp tấn công tiếp đối thủ. Nhưng cọp cũng rất yếu bóng vía khi bị tấn công bất thần. Những lúc đó thường cong đuôi bỏ chạy và khi hườn hồn, lại quay về nẽo cũ để bắt mồi.

Với người VN, cọp được gọi bằng nhiều danh xưng như Hổ (miền Bắc), cop miền Nam) hay ông ba muơi, ông Kễnh, ông Hùm.. Cọp thuộc họ Mèo với 240 loài là thú ăn thịt sống lớn nhất hiện nay gồm chó, mèo, chồn, gấu.. Chúng có bộ răng và móng chân đặc biệt để thích nghi trong việc xé mồi sống ăn thịt. Bộ răng gồm răng cửa nhỏ nhưng sắc bén dùng để róc xương, c̣n răng nanh vừa nhọn lại dài, lớn dùng để xé mồi. Riêng răng hàm được cấu tạo như lưởi kéo có nhiều mấu sắc nên có thể nhai nát thịi lẫn xương. C̣n các móng chân của bộ ăn thịt đều có vuốt cong được đệm bằng lớp thịt dầy nên bước đi của chúng rất nhẹ nhàng uyển chuyển, thích hợp cho sự ŕnh mồi. Loài nay có bán cầu năo lớn mang nhiều nếp nhăn, con thú mới sinh rất yếu nên thường bị chết yểu.

Họ Mèo (Falidae) là loài thú tiêu biểu nhất trong bộ thú ăn thịt gồm có cọp, beo, sư tử và mèo. Chúng săn mồi bằng cách ŕnh rập và tấn công bất thần vào đối thủ (người hay vật) qua hành động nhảy cao và xa v́ hai chân sau của chúng dài hơn chân trước. Chuyên săn mồi vào ban đêm nhờ có thị và thính giác cực mạnh, c̣n râu chỉ là cơ quan xúc giác phụ mà thôi. Trừ thời gian động dục và nuôi con, hầu hết các thú thuộc họ Mèo sống đơn độc.

CỌP (Panthera Tigris) hay Hổ là loài thú có kích thước lớn nhất trong họ Mèo. Một con cọp xứ Bengale (Ấn Độ) vào tuổi trưởng thành có trọng lượng hơn 250 kg, dài gần 2m và để nuôi thân, mỗi tuần phải ăn một con nai hay heo rừng. Trong 11 loài cọp c̣n tồn tại, nhỏ nhất là loài cọp sống trên đảo Sumatra (Nam Dương) nặng chừng 120 kg, c̣n loài lớn nhất hiện nay là cọp Tây Bá Lợi Á (Amua Panthera Tigris Longipilis) dài 3m và nặng trên 320 kg. Trong rừng xanh cọp là chúa tể muôn loài trừ voi, sư tử, tê giác và trâu rừng.

Cọp Tây Bắc Á sinh sống tại Nga, Tàu và Bắc Cao Ly, trước đây được mệnh danh là lănh chúa của rừng Taiga, nay cũng sắp bị diệt vong trước mũi súng của phường săn. Tại Trung Hoa, chúng sống ở hai tỉnh Hắc Long Giang và Cát Lâm (Măn Châu) có bộ lông phát triển rất mạnh kể cả phần đuôi, biến đổi theo thời tiết từng mùa từ vàng nhạt sang đậm. Tại Tây Bá Lợi Á, cọp Siberia rất hung dữ và là kẻ thù không đội trời chung với chó sói, nên nếu có sự hiện diện của cọp trong vùng th́ sói bỏ đi nơi khác để kiếm ăn.

Hơn một thế kỷ trước tại Ấn Độ có chừng 40.000 cọp, nay chỉ c̣n lại 3000 trong số 6000 khắp thế giới v́ hầu hết cọp sống tại Bali, biển Caspienne và Java sắp bị tuyệt chũng. May mắn nhất có lẽ là loài cọp Felis Paleosinensis cũng thuộc giống Siberia sống ở miền nam nước Tàu, Ấn Độ và vùng Đông Nam Á hiện phân bố thành 8 loài khác nhau qua màu lông, kích thước. Một số cọp Siberia được nuôi dưỡng trong khu vực có rào sắt tại tỉnh Vladisvostok (Nga) và vườn thú Minnesota (Mỹ) nhưng đặc biệt nhất là tại Vân Nam (Trung Hoa), cọp rất được người thiểu số Lolo thuộc bộ tộc Di trọng vọng v́ coi nó như vị thần hộ mạng.

Là loài thú sinh sản rất hạn chế, cop nhỏ lên tới 4 tuổi mới trưởng thành. Cọp cái mỗi lần sinh đẽ với khoảng cách 2,3 năm và trong đời chỉ sinh tối đa là 7 lần và tới năm 20 tuổi là chấm dứt. Cọp cái mang thai khoảng 4 tháng th́ sinh nở mỗi lứa từ 1-5 con nhưng tới đa chỉ vài con sống sót.Tuy là loài thú dữ nhưng cọp cái rất thương con nên chăm sóc kỹ càng tới năm 3-4 tuổi, cọp con mới rời mẹ để sống một ḿnh.

Về nguồn gốc, theo các nhà động vật học th́ cách đây hơn 300.000 năm, tại vùng rừng núi Siberia c̣n ôn ḥa ấm áp nên đă thấy cọp xuất hiện. Chúng là hậu duệ của loài Creodon sống cách đây hơn 60 triệu năm nay đă tuyệt chũng. Sau đó khí hậu vùng này càng lúc càng lạnh lẽo băng giá nên loài cọp mới di cư tới nơi khác ngoại trừ giống cọp to khoẻ Siberia chịu đưng được thời tiết nên ở lại tới ngày nay. Chúng chia thành hai nhóm đi về hướng tây nước Nga tới vùng biển Caspienne, Ba Tư, Thổ Nhĩ Kỳ, Afghanistan.. Nhóm khác đi về hướng đông vào Tân Cương, Trung Hoa, Măn Châu và xuống tận miền Nam vào Ấn Độ hơp với nhóm một, thiên di tới các nước Đông Nam Á ra tận các hải đảo Nam Dương, Phi Luật Tân.. Đó cũng là cuộc di cư cuối cùng của ḍng họ cọp. Hiện các nhà khoa học chọn giống cọp Bengale làm con vật trung gian giữa giống cọp lớn nhất (Siberia) và nhỏ nhất (Bali) để đại diện cho ḍng họ cọp, v́ nó mang đủ các sắc tố điển h́nh của hai loài cọp trên về sức nặng, kích thước, màu lông và các yếu rố tâm sinh lư. Đặc biệt là loài cọp trắng mắt xanh, chỉ có tại Ấn Độ. Ngoài ra c̣n có Liger là loài cọp được lai giống từ sư tử đực và cọp cái. Nó có cơ thể giống sư tử với những sọc vằn và thích bơi lội như cọp. Một con thú lai thứ hai giữa cọp đực và sư tử cái được gọi là Tigon, mang đặc tính loài cọp.

VN trước đây có nhiều cọp nhưng nổi tiếng có cọp Ḥa B́nh, Tuyên Quang, Bắc Cạn, Quảng Trị, Khánh Ḥa, Mỹ Tho, Bến Tre, Cà Mau..

+ Cọp Trong Đời Sống Con Người :

Trong ngành thiên văn học, nếu các nhà chiêm tinh phương Tây xác nhận thái dương hệ có một vành đai gọi là ‘ Ṿng Động Vật (Zodiac) ‘ là vành đại mở rộng của ṿng Hoàng Đạo mà người Trung Hoa cổ đă chia nó thành 12 cung hay 12 con giáp qua tên gọi Tư, Sữu, Dần.. Hợi. Sao Mộc (Jupiter) chuyển động quanh mặt trời với chu kỳ gần đúng 12 năm và hằng năm khi sao đó đi vào cung nào trên ṿng Hoàng Đạo, chẳng hạn như năm 2010 vào cung Dần nên được gọi là năm Dần.. Ngoài ra người Tàu c̣n lấy tên các con vật quen thuộc với người như chuột, trâu, cọp, mèo.. ghép vào các cung tương ứng theo thứ tự đă định sẳn, để cho phù hợp với nguyên lư từng cặp âm dương (căn cứ vào các ngón chẳng ‘ âm ‘ và lẻ ‘ dương ‘) của con vật.

Nước ta từ khi lập quốc tới ngày nay luôn chứng tỏ là một dân tộc có tinh thần thượng vỏ, nên đời nào cũng đều có tổ chức những cuộc giao đấu thú dữ như voi cọp qua tên gọi ‘ Hổ Quyền ‘.Đại Việt Sử Kư Bản Kư có ghi chuyện Thái Thương Hoàng Trần Thánh Tông và vợ là Khâm Từ Bảo Thái Hậu v́ mê coi cọp voi đấu, suưt bị thú dữ làm hại/ Đời Hậu Lê trường Hổ Quyền được thiết lập tại kinh đô Thăng Long trước sân diễn vơ. V́ sợ cọp hung dữ làm hại mọi người, nên ba ngày trước thời hạn giao đấu, quan Phủ liêu ngầm ra lệnh dùng ḱm cắt hết móng vuốt của cọp. Do đó cọp chỉ đấu được vài hiệp th́ bị voi hạ chết.
Đời Nguyễn hằng năm đều có cuộc giao đấu giữa voi và cọp với mục đích huấn luyện cho voi thêm dạn dĩ kinh nghiệm khi đụng trận thật sự. Sân đấu có chu vi h́nh tṛn đường kính gần 40 trượng, được dựng trên một g̣ đất rộng ở Long Thọ thuộc làng Nguyệt Biều, kế một cái chợ cùng tên. Các chuồng voi và cọp ở gần hai cổng phụ nằm kế bên cổng chính với cửa thông tới hổ quyền. Khán đài để vua quan ngự lăm được dựng trên bức tường cao phía sau hướng về giữa sân khấu có căng màn che mưa nắng.

Ngày đấu dân chúng địa phương đă bày hương án cũng như có một đội quân mặc lễ phục, để chào đón vua quan từ bờ sông Hương tới cổng chính hổ quyền được trải chiếu hoa. Từ sáng sớm người dân Huế cũng như các vùng phụ cận nô nức kéo về xem cuộc đấu qua hai cổng phụ. Đúng ngọ vua rời thuyền rồng dùng kiệu được tiền hô hậu ủng tới hổ quyền dùng cổng chính lên khán đài ra lệnh nổi trống mở màn cuộc đấu.
Tức th́ hai cánh cửa chuồng hai bên được mở rộng, một con cọp vằn to lớn nhanh nhẹn nhảy ra dương oai diệu vơ gầm thét kinh hồn như muốn ăn tươi nuốt sống con voi đang đối diện. Cuộc ác đấu xăy ra giữa hai con vật hùng dũng nhất rừng xanh, cuối cùng voi cũng hạ chết cọp nhờ sức khỏe, trước sự vui mừng vừa ư của vua quan và dân chúng có mặt. Tuy nhiên không phải cuộc đấu nào cũng suông sẽ mà không gặp phải tai nạn như vào thời vua Gia Long, do một con cọp quá dữ dằn đă gây chết chóc viên quản tượng và nhiều binh lính tại đấu trường. Sau cùng quan chỉ huy phải ra lệnh giết cọp mới yên.

Tả quân Lê Văn Duyệt lúc làm Tổng trấn Gia Định cũng cho xây hổ quyền để nuôi voi và cọp, với mục đích cho cọp đấu với các vơ sĩ trước mặt các sứ thần ngoại quốc, làm tăng thêm quốc thể VN thời đó. Lê Văn Khôi là một trong những hảo hán đương thời, đă dùng tay không để bắt cọp , câu chuyện thần kỳ này tới nay vẫn c̣n truyền tụng qua tác phẩm của Lê Đ́nh Chân viết về ‘Tả Quân Lê Văn Duyệt‘. Ngày hổ quyền chính thức bị băi bỏ vào cuối đời vua Tự Đức.

Tỉnh Khánh Ḥa nổi tiếng về cọp không phải ở đây loài ác thú này dữ và nhiều hơn các nơi khác mà do hai câu chuyện thần kỳ tới nay vẫn c̣n được truyền tụng : Đó là việc cọp náo loạn pháp trường cứu chủ và sự tích ‘ ông ba mươi ‘ được dân điạ phương mời làm lư trưởng. Nghề bắt cọp tại Thủy Ba nổi tiếng khắp nước nên hằng năm theo lệnh vua, dân làng này vào Thừa Thiên để bắt cọp đem về kinh đô Huế đấu với voi tại Hổ Quyền. Theo huyền thoại c̣n lưu truyền trong dân gian, th́ thuở đó người Thủy Ba bắt cọp bằng lưới bén được làm từ một loại cây mềm mọc tận rừng sâu. Loại cây này rất dẽo và bền nên cọp không thể nào cắn xé đứt được. Lệnh làng bắt buộc thanh niên nam nữ trong thôn xóm (trừ chức sắc, khoa cử, học tṛ) đều phải tham gia các đội bắt cọp để bảo vệ và canh giữ làng mạc.

Thịt cọp ngon bổ, da thuộc để trang trí hay nhồi thành hổ giả. Theo các thầy thuốc Ấn Độ và Trung Hoa, th́ hầu hết các bộ phận trong cơ thể đều có nhiều khả năng kỳ diệu, chứ không phảichỉ có cao hổ cốt c̣n xương cọp dùng để nấu cao hổ cốt với công dụng trị đau xương, tê thấp, đau nhức. Mỡ cọp chế thành thuốc trị suy nhược, gan cọp ăn sống tăng thêm can đảm, mắt cọp chế thành thuốc viên trị chứng co giật.. Với các thú ăn thịt khác th́ chỉ săn mồi lúc đói nhưng cọp lại rất tham lam v́ no vẫn giết con mồi để dự trữ ăn dần.

Thế nhưng trong số 1001 món tráng dương bổ thận, ‘Dịch Hoàn Hổ ‘ được nhân gian đánh giá là món ‘ dược thiện ‘ thượng hảo hạng mà người thường khó ḷng nếm nổi v́ chỉ dành cho vua chúa thời xưa trong thực đơn hàng ngày. Dịch hoàn của cọp đực vùng tây bắc to bằng cái bánh bao, được chế biến thành ‘ thanh thang ‘ bằng cách chưng cách thủy suốt mấy giờ liền. Khi ăn bỏ lớp da bọc ngoài rồi cắt thành từng lát mỏng bỏ vào nước muối rồi nhăm nhi với rượu th́ dù tuổi già vẫn cai quản nổi ‘ tam cung lục viện ‘ hằng ngày. Ngoài ra c̣n món ‘ canh hầm dương vật cọp ‘ mỗi chén hơn 300 đô la Mỹ.

Cọp Trong Ngôn Ngữ :

Trong các loài dă thú và gia súc liên quan tới người th́ cọp là con vật được nhắc nhớ nhiều nhất trong văn chương và huyền thoại. Từ ngàn xưa, cọp qua h́nh ảnh to lớn với sức khỏephi thường đă hằn sâu trong tâm trí của nhân loại. Điều trên đă được xác thực qua những khai quật của người tiền sử Gordis, sống cách đây hơn 6000 năm bên bờ sông Amua trong vùng Tây Bá Lợi Á (Nga). Từ đó mới phát hiện được nhiều minh họa và vật dụng về cọp. Cũng tại vùng Bikin là địa bàn sinh sống của người Udages có nhiều danh từ liên quan tới con vật này và loài cọp Siberia, được coi là hai vị thần hộ mệnh tại Primosky và Kharbarovsk.

Trong thần thoại Ấn Độ có nử thần Durga cưỡi cọp nhưng trên hết vẫn là các loại sách truyện của người Tàu viềt về sự tái sinh của cọp qua nhân vật Lư Nhĩ là tổ sư của Lăo giáo với mục đích chống lại tà thần. Ngoài ra c̣n có các loại ‘ Hiếu Tử truyện ‘ ca tụng sự ‘ đền ơn đáp nghĩa ‘ của cọp đối với người đă cứu giúp chúng ‘ cứu vật vật trả ơn, cứu nhơn nhơ trả oán ‘.VN cũng có nhiều câu chuyện truyền kỳ được ghi trong sách vở như ‘ Đại Nam Nhất Thống Chí hay Chuyện Đời Xứ của Trương Vĩnh Kư.. ’ ’ liên quan tới cọp giúp người được triều đ́nh phong chức lập miễu thờ cúng. Ngoài ra Việt sử cũng đề cập tới nhiều danh nhân liên quan tới cọp như Đinh Tiên Hoàng Đế, Bùi Tá Hân, Nguyễn Hữu Tiến, Dương Cọng Trừng, Tăng Ân..

- Cọp Trong Ca Dao, Tục Ngữ : cọp, hổ, hùm, ông ba mươi.. cũng chỉ là một danh từ dùng để chỉ chúa sơn lâm. Cáo mượn oai hùm : mượn oai của kẻ mạnh để hù dọa thiên hạ. Chưa qua truông đă trật lọ cho khái : câu này đuợc lưu hành trong vùng Nghệ Tĩnh với các danh từ truông đèo núi), lọ (bộ phận sinh dục đàn ông) và khái (cọp). Nghĩa đen ‘ chưa qua khỏi núi đă ra mặt coi thường cọp ‘ c̣n nghĩa bóng nói ‘ việc chưa hoàn thành đă vội tuyên bố kiêu căng mà không hề nghĩ tới những tai họa trước mắt đang chờ sẳn.

Hổ trướng dựa theo điển tích trong ‘ Nam Đường truyện ‘ ghi Vương Từ đời Lương dùng da cọp làm lều trại họp thuộc hạ bàn cguyện quân cơ được đời sau gọi là trướng hổ. Hổ Trướng Xu Cơ là tên của một bộ sách quân sự do Đào Duy Từ (1572-1634) sáng tác. Ông là người có công giúp Chúa Săi vương xây dựng các lũy Thầy và Trường ục tại Quảng B́nh để ngăn chống quân Trịnh. Hổ Bảng là nơi niêm yết danh sách các tân tiến sĩ đời Đường c̣n được gọi là long hổ bảng hay hổ bảng.

Hổ Vi tên gọi trường Quốc Tử Giám. Hổ Bôn chỉ đạo quân thiện chiến anh dũng.Đời Hán có chức hổ bôn lang, hổ bô trung lang tướng chỉ huy quân hổ bôn túc vệ. Hổ khẩu là chỗ ngón tay cái giáp với ngón tay trỏ. Hổ bộ là bộ vơ dựa theo dáng đi của cọp. Hổ phù chỉ binh phù của các vơ tướng thời phong kiến. Hổ khê là khe nước trước chùa Đông Lâm trên núi Cam Lộ thuộc Cửu Giang tỉnh Giang Tây (Tàu) nơi ghi chuyện Đào Tiềm cùng hai nhà sư Lục Tu Tĩnh và Túc Viễn qua khe cọp. Hổ phách nhựa cây tùng. Hổ hà con tôm hùm. Hổ cứ là con cọp ngồi ư nói địa h́nh hiểm trở. Hổ cốt xương cọp dùng nấu cao. Hổ đầu là đầu cọp chỉ người có tướng mạo hùng vĩ. Hổ lang chỉ cọp và chó sói để gọi những kẻ giang ác tán tận lương tâm. Hổ lĩnh là chân cọp dùng để gọi các vơ tướng xưa có sức mạnh khác người. Hổ môn cửa vào dinh soái tướng. Hổ quyền chỗ nuôi cọp.

- Cọp Trong Thành Ngữ và Điển Tích :

‘Bất nhập hổ huyệt, yên đắc hổ tử ‘ thành ngữ rút từ điển tích Ban Siêu thời Đông Hán theo Đậu Cố đánh giặc Hung Nô có công nên được vua cử đi sứ để chiêu dụ các nước khác ở Tây Vực. Vua nước Thiện Thiện v́ theo Hung Nô nên đối xử không tốt với sứ giả . Ban Siêu biết được nên bàn kế với thuộc hạ lúc ấy chỉ có 16 người, đột nhập vào lều tạm trú của sứ bộ Hung Nô lúc đó cũng có mặt giết sạch. Vua quan Thiện Thiện thấy vậy rất sợ nên tuân phục nhà Hán. Đời sau căn cứ vào câu chuyện trên, rút ra thành ngữ ‘ không vào hang cọp sao bắt được cọp con ‘.

‘Vị hổ tắc trành ‘ là truyền thuyết đă có từ xa xưa nói về linh hồn của người bị cọp ăn thịt không siêu thoát được nên cứ phải quấn quit theo nó dẫn đường để giết hại người khác thế chỗ cho ḿnh. Từ chuyện trên, sách ‘ Thinh vũ kư đàm ‘ chép rằng ‘ Nhân ngộ hổ, y đái tự giăi, giai trành sỡ vi ‘ nghĩa là người bị cọp bắt, được ma trành cởi quần áo giây lưng ra cho cọp ăn thịt. C̣n linh hồn theo dẫn đường cho cọp bắt người, được gọi là quỷ hay ma trành. Từ truyền thuyết trên, người sau rút ra thành ngữ ‘ vị hổ tắc trành ‘ ám chỉ những kẻ phù trợ bưng bợ đồng lỏa giúp phường ác làm điều bậy.
‘Dưỡng hổ di hoạn‘ Lưu Bang và Hạng Vơ cùng khởi binh diệt bạo Tần. Sau đó hai người trở mắt coi như kẻ thù không đội trời chung. Cuối cùng lấy giải ḥa, lấy Giả Cổ Hà thuộc huyện Huỳnh Dương tỉnh Hà Nam làm ranh giới. Nhưng dù đă cam kết, Lưu Bang vẫn không giữ lời hứa v́ nghe theo lời Trương Lương và Trần B́nh khuyên nên lợi dụng thời cơ đánh úp Sở. Nếu không sẽ nuôi hổ để tự ḿnh rước họa vào thân. Qua điển tích này, người sau rút ra được thành ngữ ‘ dưỡng hổ di hoạn ‘ nói về sự dung dưỡng kẻ thù địch ác gian, để tự ḿnh rước họa về sau.

‘Hổ giă hổ uy‘ Sở Hoàn Vương thời Chiến Quốc hỏi quần thần, về lư do tại sao các nước phương Bắc ai cũng sợ Đại Chiêu Hề Tuất ? th́ được Giang Ất đem câu chuyện ngụ ngôn ‘ con cáo sắp bị cọp ăn thịt, nên nói láo là ḿnh được trời sai xuống thống trị muôn loài kể cả cọp, nên ai làm hại nó sẽ bị trời phạt. Để cọp tin, cáo cùng cọp đi khắp nơi quả nhiên các loài thú khác thấy cọp hoảng sợ bỏ trốn hết. Thây vậy cọp tưởng thiệt cũng cong đuôi chạy mất. Ư của Giang Ất noí với nhà vua là Đại Chiêu Hề Tuất hiện được vua giao hết binh quyền nên dân chúng sợ Sở Hoàn Vương chứ đâu sợ hắn. Từ điển tích trên, đời sau rút được thành ngữ ‘ hổ giă hổ uy; đồng nghĩa với câu tục ngữ VN ‘ cáo đội lớp hùm ‘ để chỉ hạng người hèn kém xấu xa nhờ dựa vào thời cơ thế lực kẻ khác, để lên mặt hiếp đáp đồng bào.

‘Họa hổ thành khuyển ‘ Mă Viện đời Đông Hán viết thư khuyên con cháu noi gương hai người tốt đương thời Long Bá Cao và Đổ Quư Lương để học hỏi. Sau khi phân tích lợi hại giữa hai người trên, Viện khuyên nên theo Bá Cao v́ cho rằng dù không học hết nơi ông này th́ ít ra cũng học được phẩm hạnh. C̣n nếu theo Quư Lương khi thất bại coi như mất hết, giống như một họa sĩ muốn vẽ con cọp nhưng vô tài nên thành con chó. Từ đó người sau rút được thành ngữ ‘ họa hổ thành khuyển ‘ để chỉ người muốn làm chuyện lớn nhưng đă thất bại dù lúc nào cũng tin tưởng sẽ thành công.

‘Dữ hổ mưu b́‘ Thời Chu có người muốn mở đại tiệc toàn bằng thịt dê nên đến thương lượng với loài này làm chúng sợ hăi bỏ trốn hết vào rừng. Lần khác anh ta lại muốn có chiếc áo hồ cừu (cao nên t́m loài này để lột da, cáo biết được bỏ trốn hết. Hai câu chuyện ngụ ngôn trên trích ra từ sách Phu tử được người sau rút làm thành ngữ ‘ dữ hổ mưu b́ ‘ ám chỉ một sự việc chẳng hạn như tới xin lột da cọp, là điều không bao giờ thực hiện được, giống như đi xin xơ ḷng thương nơi kẻ ác độc nham hiểm, rốt cục chỉ chuốc nhục họa vào thân.
‘Bạo hổ bằng hà‘ chỉ hai hành động cực kỳ nguy hiểm là đánh cọp bằng tay không (bạo hổ) và vượt sông không có thuyền (bằng hà). Thành ngữ trên rút ra từ sách Luận ngữ lúc Khổng Tử và hai đệ từ là Nhan Hồi và Tử Lộ bàn thế sự . Ngài diễn giải cho hai đệ tử phải hành xử sao cho đúng đạo lư, phải biết suy nghĩ đắn đo trước khi làm chứ không ỷ vào sức mạnh dễ bị thất bại. Tóm lại người xưa dạy ta phải biết tuỳ thời để xử dụng vơ lực hay tài trí để giải quyết câu chuyện cho hợp lư.

‘Hà Đông sư tử ‘ Trần Tạo đời Tống có vợ họ Liễu hay ghen tuông dữ dội nhưng tánh Tạo hào hoa nên nhà thường có tiệc tùng lại mời kỷ nữ tới xướng ca. Liễu thị ở trong pḥng tức tối phá phách gầm thét như sử tử, khiến cho Tạo sợ quá làm rớt cây gậy đang cầm. Tô Đông Pha thấy thế có làm bài thơ đùa bạn trong đó có câu ‘ Hốt văn Hà Đông sư tử hống, trụ trượng lạc thủ tấm mang nhiên (bổng nghe sư tử Hà Đông hống, kinh hoàng bỏ gậy rớt rơi đâu ?). Đời sau dùng thành ngữ ‘ Hà Đông sư tử ‘ để chỉ loại đàn bà dữ dằn như cọp cái, quen ghen tương dữ dội hiếp đáp chồng con.

‘Điệu hổ ly sơn‘ là một trong tam thập lục kế của người xưa, dụ cọp ra khỏi hang ổ để hạ sát dễ đàng hơn, hoặc đánh đuổi cọp đi khác để dễ dàng hạ các loài chồn cáo hồ ly tinh dựa hơi cọp hoành hành gây hại cho kẻ khác. Trong lịch sử nước Tàu có Trần B́nh đă bày ra 6 kế ‘ điệu hổ ly sơn ‘ giúp Hán Cao Tổ diệt Hạng Vơ thống nhất Trung Hoa, sau đó giêt luôn Hàn Tín để trừ hậu hoạn. Kế trên Trần B́nh dựa theo câu chuyện Trịnh Trang Công đời Đông Châu liệt quốc, dùng kế dụ mẹ con công tữ Đoan rời kinh thành phải tự tử.

‘Ban chư ngật hổ‘ giả làm heo để ăn thịt cọp, đây cũng là một trong 36 kế của người Tàu, dựa vào câu nói của Lảo Tử về người khôn khéo nhưng giả bộ ngu khờ , ấy là ‘ đại trí nhược ngu’ như người thợ săn thường giả làm tiếng heo dụ cọp ra khỏi hang để giết. Kế trên được Vương Doăn đời Hậu Hán dùng Điêu Thuyền để nhữ giết Đổng Trác và Lữ Bố. Đời Chiến quốc, Việt Câu Tiển cũng dùng kế này qua Tây Thi giết Ngô Phù Sai. Sau cùng Tư Mă Ư đời tam quốc cũng dùng nó để dụ giết Tào Sảng và Tôn Tẩn giết Bàng Quyễn cũng nhờ vào kế ‘ ban chư ngặt hổ ‘.

‘Đuổi hùm cửa trước, rước beo cửa sau ‘ chống kẻ ác này nhưng lại theo kẻ ác khác, đó không phải là phương cách xử thế hay đường lối ngoại giao đứng đắn. Thành ngữ này đồng nghĩa với câu ‘ họa hổ họa b́ nan họa cốt, tri nhân tri diện bất tri tâm ‘ ư nói không để tâm đến bề ngoài của người, mà phải quan sát kỹ càng tâm địa của kẻ đối diện mới không bị lầm lẫn. ‘ Hổ phụ sinh hổ tử ‘ đồng nghĩa với các câu ‘ Hổ phụ lân nhi hay Hổ phụ bất sinh khuyển tử ‘ ư nói cha nào th́ con nấy.

Ngoài ra c̣n có các thành ngữ như ‘ Hùm thiêng khi đă sa cơ cũng hèn ‘, ‘ Long hành hổ bộ, khấu hổ b́, long bàn hổ cứ, mănh hổ nan địch quần hồ, miện hùm gan sứa..’’ tất cả đều có liên quan tới cọp.
Trong nghệ thuật tạo h́nh, tượng cọp được thể hiện nhiều nhất trong bộ môn điêu khắc bằng đồng, đá và đất sét. Người ta c̣n vẽ h́nh cọp trên giấy. Tại VN h́nh cọp được đúc trên các đồ đồng Đông Sơn là niên đại sớm nhất ở nước ta cách đây hơn 2500 năm. Đề tài cọp c̣n được trang trí trên đồ gốm Đại Việt từ thời Hậu Lư tới Lê Mạt kéo dài hơn 7 thế kỷ.

Tóm lại con người thời nào cũng đều giống nhau ở điểm rất sợ thú dữ, thần linh và ma quỷ. Sợ nhưng không trốn tránh v́ những loài ác thú dữ dằn như cọp beo sư tử.. con người có thể t́m cách trừ khử và tiêu diệt. Riêng đối với thần linh ma quỷ trong thế giới vô h́nh biết đâu mà tránh nên con người phải thần phục để cầu an. Nhưng có một thứ khác mà con người rất hăi sợ, v́ nó ác hơn thú dữ, lại nham hiểm độc địa không thua tà ma quỷ quái. Đó là chính sách độc tài, hại dân hại nước, do chính con người đă hảm hại người.

Câu chuyện ‘Hà chánh mănh ư hổ‘ kể rằng Khổng Tử trên đường chu du, tới một làng dưới chân núi Thái Sơn thuộc tỉnh Sơn Đông, thấy một người đàn bà đang ngồi than khóc. Đức Khổng cho học tṛ là Tử Cống tới thăm hỏi mới biết cả chồng và con bà đều bị cọp ăn thịt, v́ vùng này có rất nhiều chúa sơn lâm. Thấy lạ, thầy Tử Cống hỏi sao không kiếm nơi khác ở để tránh nạn cọp ? được trả lời là dân chúng không đi v́ ở đây có vị quan sở tại rất liêm chánh, không hề hà khắc với dân chúng.

Khổng Tử nghe được câu chuyện th́ than rằng ‘ th́ ra chính sách hà khắc c̣n khốc hại hơn mănh hổ.‘

Viết từ Xóm Cồn Hạ Uy Di
Tháng 1 năm 2010
Mường Giang.

hoangthymaithao
01-25-2010, 03:19 PM
Duyên anh sánh với t́nh anh tuyệt vời
Trầu vàng nhá lẫn trầu xanh

Ngày xưa người Việt thường có thói quen ăn trầu trở thành phong tục, chuyện cổ tích Trầu Cau (truyền tụng qua dân gian nêu lư do tại sao có tục ăn trầu). Thời đó đàn ông hay đàn bà thường có mang theo túi trầu, trong nhà có giỏ trầu cau, b́nh vôi bằng sứ hay bằng sành, con dao nhỏ để bổ cau, rọc trầu, cái khay gỗ h́nh vuông cẩn ốc xa cừ để dĩa trầu mời khách.

Qua thi ca trầu cau liên quan đến t́nh duyên, về hôn nhân đôi khi không đ̣i hỏi mâm cao cổ đầy, bạc vàng châu báu, nhưng tuyệt đối phải có trầu cau, các vùng thôn quê đôi khi hai gia đ́nh nhận lễ vật trầu cau, chai rượu trở thành suôi gia. Mặc dù ngày nay, con người đă tiến xa hơn trong nhiều lĩnh vực kinh tế - xă hội - văn hóa, nhưng đây là một phong tục đẹp, thể hiện bản sắc riêng, lưu lại mỹ tục đó, trầu cau làm sính lễ tăng thêm phần long trọng, nhà gái nhận lễ vật tặng bà con, hàng xóm gói trà, cái bánh, trái cau lá trầu, dù ít người c̣n ăn trầu chẳng ai từ chối.

Tuy nhiên đời sống tại Việt Nam các vùng quê ít người lớn tuổi c̣n ăn trầu có hàm răng đen. Các quốc gia Âu châu không trồng trầu cau, như Việt Nam và các nước Tích Lan, Lào, Cambodia, Thái Lan, c̣n tục ăn trầu và trồng trầu cau. Nguồn gốc cây cau dây trầu ở Mă Lai, được ảnh hưởng nhiều người sinh sống vùng bán đảo Đông Nam Á, từ đó du nhập vào Việt Nam. Các nước Cambodia, Mă Lai, Indonesia, Ấn Độ c̣n ăn trầu. Tôi phỏng vấn một số sinh viên du học từ các nước trên, được biết ở vùng quê của họ c̣n tục lệ ăn trầu. Tích Lan (Srilanka) ngày nay mọi nghi lễ đều dùng trầu; ngay cả việc dâng cau trầu lên cúng Phật.

Sự tích Trầu Cau của Việt Nam có thể hoang đường? Câu chuyện ấy dù sáng tạo nhưng khuyên người đời sống phải thủy chung, đạo đức gia đ́nh luôn được đề cao, phong tục thời xa xưa đàn bà dù không ăn trầu nhưng phải nhộm răng đen "bỏ công trang điểm má hồng răng đen". Dù giàu hay nghèo tại thôn quê đều có trồng trầu cau. Qua ca dao hay các hội hè đ́nh đám, xướng họa nhiều đề tài về trầu cau, được các nhạc sĩ phổ thành những ca khúc bất hủ. Ca dao phản ảnh t́nh cảm, gia đ́nh và xă hội. Ḥa hợp giữa con người với thiên nhiên, thi ca phát xuất tận đáy ḷng đơn sơ, bóng bẩy, ấm áp như ánh nắng ban mai, mát mẽ như ngọn gió chiều dịu dàng như ánh trăng non.

Trầu cau không phải thứ đắt tiền, dùng nó làm lễ vật hôn nhân như là giao ước giữa hai họ. Trong vườn miền quê thường trồng cau ngay hàng thẳng lối, thân cây cau có dây trầu leo quanh. Từ Sài G̣n theo quốc lộ 1 về phía Tây Bắc khoảng 10km, qua cầu Tham Lương, rẽ trái một đoạn vào tỉnh lộ 14 là đến địa danh 18 thôn Vườn Trầu (c̣n gọi là Thập Bát Lưu Viên) Hóc Môn - Bà Điểm.

Em về, anh gởi buồng cau
Buồng trước kính mẹ, buồng sau kính thầy


Lịch sử ghi lại vua Lê Đại Hành ngồi trên ḿnh ngựa mời sứ giả nhà Tống cùng ăn trầu, đó cũng là nghi lễ ngoại giao.Trầu cau giúp cho nhiều người nên vợ chồng. Ngày xưa quan niệm hôn nhân cha mẹ đặt đâu con ngồi đấy. Cha mẹ hai bên quyết định rồi con cái không thể căi lại. Chàng yêu nàng tha thiết “t́nh trong như đă mặt ngoài c̣n e”. Cha mẹ nàng nhận lễ vật trầu cau qua lễ hứa hôn của người khác. Chàng trách nàng sao vội lấy chồng, để chàng chờ đợi biết mặn nồng cùng ai? Nhưng nàng nhẹ nhàng giải thích:

Ba đồng một mớ trầu cay
Sao anh không hỏi những ngày c̣n không
Bây giờ em đă có chồng
Như chim vào lồng như cá cắn câu
Cá cắn câu biết đâu mà gỡ
Chim vào lồng biết thưở nào ra

Tục lệ trao trầu cau là một trong những nghi lễ không thể bỏ qua trong việc biểu lộ t́nh yêu của thanh niên nam nữ. Đó cũng là một trong những lệ làng được quy định trước khi đôi trai gái tiến đến hôn nhân. Trầu cau làm sính lễ, người con gái băn khoăn muốn từ chối ngay từ lúc đầu trong lễ cầu hôn:

Ai bưng cau trầu đến đó
Xin chịu khó mang về ,
Em đang theo chân thầy gót mẹ
Để cho trọn bề hiếu trung

Miếng trầu là đầu câu chuyện, gặp nhau thường mời trầu, để dễ dàng gợi chuyện thăm hỏi:

Tiện đây mời ăn miếng trầu
Hỏi thăm quê quán ở đâu chăng là?

Có trầu mà chẳng có cau
Làm sao cho đỏ môi nhau th́ làm

Nhưng người con gái khi đă yêu đôi lúc giấu cha giấu mẹ, têm trầu đưa cho bạn trai ngầm nói với bạn trai khi vào nhà, biết cách cư xử:

Miếng trầu có bốn chữ ṭng
Xin chàng cầm lấy vào trong thăm nhà
Nào là chào mẹ chào cha
Cậu cô chú bác... mời ra xơi trầu

Vườn quê thơm mùi hoa của những buồng hoa cau đang nở rộ dưới nắng ấm đôi trai tài gái sắc qua một lần gặp gỡ, để rồi nhớ rồi thương t́nh yêu chân thành thiết tha:

Vào vườn hái quả cau xanh
Bổ ra làm tám mời anh xơi trầu
Trầu này têm những vôi Tàu
Ở giữa đệm quế, đôi đầu thơm cay
Mời anh sơi miếng trầu này
Dù mặn, dù nhạt, dù cay, dù mồng
Dù chẳng nên đạo vợ chồng
Xơi năm ba miếng kẻo ḷng nhớ thương



Khi bước vào tuổi trưởng thành, con trai, con gái được tự do trong t́nh yêu đôi lứa. Họ biết nhau rồi quen nhau nhờ các buổi làm nương rẫy hay những lần gặp nhau trong dịp lễ hội của làng, và miếng trầu đă làm môi giới cho t́nh yêu của họ để rồi hứa hẹn mơ ước tương lai tươi sáng, hay để rồi tuyệt vọng ngẩn ngơ:

Cho anh một miếng trầu vàng
Mai sau anh trả cho nàng đôi mâm

Yêu nhau chẳng lấy được nhau
Con lợn bỏ đói, buồng cau bỏ già

Anh về cuốc đất trồng cau
Cho em trồng ké dây trầu một bên
Mai sau trăm họ lớn lên
Cau kia ra trái làm nên cửa nhà.

Tùy theo phong tục mỗi địa phương sính lễ thường khác nhau, tuy nhiên không thể thiếu được buồng cau, anh chàng kín đáo với nghệ thuật tán gái tinh tế hoặc với giọng bông lơn như chuyện nhờ khâu áo nhờ khâu hộ chỉ đường tà để khi nào lấy chồng sẽ trả công, người t́nh nguyện giúp từ lễ nghi cho đến việc ăn ở chiếu nằm, chăn đắp... chàng không nói rơ mà người con gái đó thừa hiểu chú rể là chàng rồi:

Giúp em một thúng xôi ṿ
Một con lợn béo một ṿ rượu tăm
Giúp em đôi chiếu em nằm
Đôi chăng em đắp đôi tằm em đeo.
Giúp em quan tám tiền cheo
Quan năm tiền cưới lại đèo buồng cau

Nếu chẳng may t́nh duyên không thành mà t́nh cảm c̣n nguyên vẹn, lời chàng cũng xót xa đưa:

Nụ tầm xuân nở ra xanh biếc
Em có chồng anh tiếc lắm thay

Các bà mẹ thường răn dạy con gái lúc trưởng thành, phải có những đức tính: công - dung - ngôn - hạnh, không nên vội vàng lẳng lơ nhận trầu cau của người khác, luân lư gia đ́nh được xem là một nền tảng vững chắc:

Đi đâu cho đổ mồ hôi
Chiếu trải không ngồi trầu để không ăn
Thưa rằng bác mẹ tôi răn
Làm thân con gái chớ ăn trầu người

Có thể nàng từ chối miếng trầu, cũng có nghĩa từ chối sự tiếp xúc để tiến đến t́nh yêu với thái độ dè dặt, kín đáo nghi kỵ:

Sáng nay tôi đi hái dâu
Gặp hai anh ấy ngồi câu thạch bàn
Hai anh đứng dậy hỏi han
Hỏi rằng cô ấy vội vàng đi đâu
Thưa rằng tôi đi hái dâu
Hai anh mở túi đưa trầu cho ăn.
Thưa rằng bác mẹ tôi răn
Làm thân con gái chớ ăn trầu người

Trầu cau dù gói đẹp xanh tươi hấp dẫn, nhưng cần cẩn thận, khi ăn phải kín đáo mở ra xem có nhiều vôi hay bùa mê thuốc độc trong đó chăng?

Ăn trầu th́ mở trầu ra
Một là thuốc độc hai là mặn vôi

Miếng trầu ăn nặng bằng ch́
Ăn rồi em biết lấy ǵ đền ơn
Miếng trầu ăn chẳng là bao
Muốn cho đông liễu, tây đào là hơn

Người nghiện trầu đôi khi run tay dù đói no phải ăn một miếng trầu cau. Nhưng với t́nh yêu mời nhau ăn trầu có những băn khoăn thương nhớ đợi chờ? Có khi lời nói th́ b́nh tĩnh nhưng không che giấu mối cảm t́nh nồng nhiệt đang như ch́m xuống để thấu tâm can nàng. Miếng trầu như là một phương tiện mở đầu, là chất keo cố kết những t́nh cảm thiêng liêng, thầm kín mà cả đôi bên không thể nói bằng lời. Miếng trầu quả cau sẽ là "người mối" nói hộ t́nh yêu cho họ.

Vào vườn hái quả cau xanh
Bổ ra làm tám mời anh xơi trầu
Trầu này têm những vôi Tầu

Giữa thêm cái cánh hai đầu quế cay (Dị bản: Giữa đệm cát cánh, hai đầu quế cay)
Trầu này ăn thật là say
Dù mặn, dù nhạt, dù cay, dù nồng
Dù chẳng nên vợ nên chồng
Xơi dăm ba miếng kẻo ḷng nhớ thương

Trầu bọc khăn trắng cau tươi
Trầu bọc khăn trắng đăi người xinh xinh
Ăn cho nó thỏa tấm ḷng
Ăn nó thỏa sự ḿnh sự ta

Từ ngày ăn phải miếng trầu
Miệng ăn môi đỏ dạ sầu đăm chiêu
Một thương hai nhớ, ba sầu
Cơm ăn chẳng được, ăn trầu cầm hơi.

Những giao tiếp giữa nam nữ thời phong kiến thường bị giới hạn, t́nh yêu trai gái tưởng như xa xôi rời rạc... nhưng t́nh yêu chân thành và nồng nhiệt tương tư:

Từ ngày ăn phải miếng trầu
Miệng ăn môi đỏ, dạ sầu đăm chiêu
Biết rằng thuốc dấu bùa yêu
Làm cho ăn phải nhiều điều xót xa
Làm cho quên mẹ, quên cha
Làm cho quên cửa, quên nhà
Làm cho quên cả đường ra, lối vào
Làm cho quên cá dưới áo
Quên sông tắm mát, quên sao trên trời

Con gái xa gia đ́nh về nhà chồng làm dâu, ngày xưa thường va chạm sinh hoạt gia đ́nh "mẹ chồng nàng dâu", hoặc bị ép buộc lấy nhau để rồi đêm nằm cạnh chồng thở than cuộc t́nh:

Đêm khuya thiếp mới hỏi chàng
Cau khô ăn với trầu vàng xứng không?

Người đời thường nói “thương nhau bỏ chím làm mười", hay "thương nhau trái ấu cũng tṛn, ghét nhau trái bồ ḥn cũng méo“, trái cau cũng được phân chia cho sự ghét thương:

Thương nhau cau sáu bổ ba
Ghét nhau cau sáu bổ ra làm mười

Yêu nhau trầu vỏ cũng say
Ghét nhau cau đậu đầu khay chẳng màng

Các hội hè đ́nh đám trai tài gái sắc dùng đề tài trầu cau hát đối nhau hồn nhiên trong sáng, lời hát đối đáp ngọt ngào trong lễ giáo gia đ́nh không sàm sỡ, nhưng vượt qua ảnh hưởng lâu đời của nho giáo "Nam nữ thụ thụ bất thân".

Gặp nhau ăn một miếng trầu
Gọi là nghĩa cũ về sau mà chào
Miếng trầu đă nặng là bao
Muốn cho đông liễu tây đào là hơn!
Miếng trầu kể hết nguồn cơn
Muốn cho đây đấy duyên nào hợp duyên

Hay là:

Trầu này trầu quế, trầu hầu
Trầu loan trầu phượng, trầu tôi lấy ḿnh
Trầu này, trầu nghĩa, trầu ḿnh lấy nhau
Trầu này têm tối hôm qua
Giấu cha giấu mẹ đem ra cho chàng
Trầu này không phải trầu hàng
Không bùa không thuốc sao chàng không ăn
Hay là chê khó chê khăn
Xin chàng đứng lại mà ăn miếng trầu.

Nữ sĩ Hồ Xuân Hương lận đận t́nh duyên, đời sống t́nh cảm kém may mắn, làm cho bà nghi ngờ màu xanh của lá trầu, màu trắng của vôi (lạt như ốc bạc như vôi).

Quả cau nho nhỏ miếng trầu ôi
Này của Xuân Hương đă quẹt vôi
Có phải duyên nhau th́ thắm lại
Đừng xanh như lá bạc như vôi

Tiếng hát ru con của mẹ hiền, đề cập đến trầu cau nhu cầu không thể thiếu trong những lần đi chợ:

Ru con con thét cho muồi
Để mẹ đi chợ mua vôi ăn trầu
Mua vôi chợ Quán chợ Cầu
Mua cau Nam phổ mua trầu chợ Dinh
(Tùy theo mỗi điạ phương có thể thay đổi tên chợ )

Các cụ bà nhai trầu khó khăn, nên dùng cối đá nhỏ giă trầu, hay cái ống ngoáy bằng đồng, có ch́a dài phần dưới có 3 cái răng nhỏ, bỏ trầu cau vào đó ngoáy nhỏ. Ăn trầu cũng có nghệ thuật, chọn lựa cau tươi vỏ mỏng ruột nhiều, trầu tươi kèm theo quế hay vỏ của loại cây chay, ăn kèm với cục thuốc lá nhỏ, vôi phải màu hồng... Trần Tú Xương thi hỏng măi, bất măn với đời nghe người ta chúc Tết sống lâu hưởng phước lộc cho đến đầu bạc răng long... làm thơ trào phúng:

Lẳng lặng mà nghe nó chúc nhau
Chúc nhau trăm tuổi bạc đầu râu
Phen nầy ông quyết đi buôn cối
Thiên hạ bao nhiêu đứa giă trầu

Ngày xưa đàn ông hay đàn bà thường bới tóc, họ quan niệm “cái răng cái tóc là vóc con người”, thời ấy hàm răng đen tuyền th́ sang trọng quư phái. Nhưng vào thế kỷ thứ 19. Văn hóa Tây phương du nhập vào Việt Nam, đời sống văn minh thay đổi. Phong trào Duy Tân phát xuất từ Quảng Nam (1905 - 1908) khởi đầu cuộc cách mạng khai trí dân sinh đả phá các hủ tục, kêu gọi đàn ông hớt tóc ngắn, cắt móng tay dài lá răm, mặc âu phục… Mỹ phẩm nhập vào Việt Nam như son, phấn dầu thơm... giúp đàn bà trang đ́ểm cho nét đẹp, sống ở thành phố phần nhiều bỏ hẳn tục nhộm răng đen ăn trầu... Bởi vậy khuynh hướng thay đổi qua thi ca:

Năm quan mua lấy miệng cười
Mười quan chẳng tiếc, tiếc người răng đen

Đời sống thay đổi đàn ông ít mặc áo dài khăn đóng, hay khăn nhiễu bịt đầu được thay thế bộ Âu phục gọn gàng, khăn điều vắt vai đôi guốc gỗ từ từ biến mất thay vào đó đôi giày da, thêm chiếc cà-vạt xinh đẹp. Hàm răng của các nàng trắng đẹp như hạt bắp, môi son đỏ tươi nở nụ cười đẹp như hoa. Làm cho các chàng say đắm nên hỏi nàng rằng:

Người về có nhớ ta chăng?
Ta về ta nhớ hàm răng người cười

Ca dao được ca tụng qua dân gian, hiện hữu trong đời sống của người dân Việt. Chúng ta rời quê hương, khó t́m được lại kỷ niệm như những ngày sống tại quê nhà trong những buổi trưa hè, đêm trăng thanh gió mát mùi hương cau từ những buồng non mới nứt thơm ngát, nghe tiếng hát ru con của mẹ hiền với những câu ca dao quen thuộc len lỏi vào hồn .

Nguyễn Quư Đại

hoangthymaithao
02-02-2010, 02:46 AM
Cập nhật: 08/05/2009

Ca dao là khúc hát tâm t́nh của người dân quê Việt Nam được lưu truyền qua bao năm tháng.Nó bồi đắp tâm hồn ta từ những ngày thơ bé qua lời ru êm đềm của bà của mẹ. Nó rực rỡ, thơm ngát như bông sen trong đầm, gần gũi, quen thuộc như luỹ tre bao bọc xóm làng, như cánh c̣ bay lả trên ruộng đồng. Nó bồi đắp tâm hồn ta từ những ngày thơ bé qua lời ru của bà của mẹ, giúp ta cảm nhận sâu sắc về vẻ đẹp b́nh yên nơi thôn quê, nỗi nhọc nhằn cũng như vẻ đẹp khoẻ khoắn của người lao động, t́nh cảm gia đ́nh thắm thiết, nghĩa vợ chồng tao khang của những con người quê chân chất, mộc mạc.

Trong thế giới đó, lắng sâu hơn cả vẫn là h́nh ảnh của những người phụ nữ xưa – đau khổ, cay đắng đến cùng cực nhưng cũng đẹp đẽ, cao quư đến vô ngần. Có thể nói, ca dao đă làm tṛn sứ mệnh của nó trong việc lưu giữ những nỗi ḷng của người phụ nữ b́nh dân xưa và mang đến cho ta cái nh́n toàn diện về họ, trong khổ đau cũng như những vẻ đẹp tâm hồn ngời sáng.

Xă hội phong kiến phụ quyền tồn tại hàng ngh́n năm với những quan niệm bất công, khe khắt “tại gia tong phụ, xuất giá ṭng phu, phu tử tong tử”, quan niệm trọng nam khinh nữ “Nhất nam viết hữu, thập nữ viết vô”, đă dành mọi ưu tiên, ưu đăi cho người đàn ông và đẩy người phụ nữ xuống địa vị thấp kém nhất trong gia đ́nh cũng như xă hội. Nỗi niềm ấy được họ gửi gắm vào những câu ca dao than thân:


- “Thân em như tấm lụa đào

Phất phơ giữa chợ biết vào tay ai”

- “Thân em như hạt mưa sa

Hạt vào đài các, hạt ra ruộng cày”

- “Thân em như chổi đầu hè

Pḥng khi mưa gió đi về chùi chân

Chùi rồi lại vứt ra sân

Gọi người hàng xóm có chân th́ chùi”


Có biết bao nhiêu nỗi khổ mà người phụ nữ phải chịu đựng, nỗi khổ vật chất “ngày ngày hai buổi trèo non”, “ngày th́ dăi nắng đêm th́ dầm sương”. Nhưng nỗi khổ lớn nhất, xuất hiện với tần số cao nhất vẫn là nỗi khổ về tinh thần, nỗi khổ của thân phận mong manh, bị động, ít giá trị. Những người phụ nữ ở đây bị “đồ vật hoá”, được định giá theo giá trị sử dụng. Thân phận họ chỉ được ví với “hạy mưa sa”, “chổi đầu hè”...Ta có thể cảm nhận được bao nỗi xót xa của người phụ nữ khi cất lên những lời ca ấy. Không phải người phụ nữ không ư thức được vẻ đẹp và phẩm giá đáng quư của ḿnh. Họ luôn ví ḿnh với “tấm lụa đào”, “giếng nước trong”...nhưng những phẩm chất ấy đâu có được xă hội , người đời biết đến và coi trọng. Cả đời họ chỉ lầm lũi, cam chịu trong sự đau khổ, nhọc nhằn. Và dường như sự bất hạnh ấy của người phụ nữ trong xă hội xưa là một hằng số chung, ở tất cả các vùng miền. Người phụ nữ dân tộc Thái cũng từng đau đớn thốt lên: “Thân em chỉ bằng thân con bọ ngựa, con chăo chuộc thôi”.

Có ai đó đă nói, nếu dùng một từ để nói về số phận của những người phụ nữ trong xă hội phong kiến th́ đó là “tủi nhục”. Quăng thời gian họ sống trên đời được đong đếm bằng những nỗi đau khổ mà họ phải gánh chịu. Khi c̣n nhỏ, sống trong gia đ́nh, người thiếu nữ đă phải chịu sự bất công của quan niệm “trọng nam khinh nữ”:


- “Cô kia cắt cỏ đồng màu

Chăn trâu cho béo làm giàu cho cha

Giàu th́ chia bày chia ba

Phận cô là gái được là bao nhiêu”

- “Em như quả bí trên cây

Dang tay mẹ bứt những ngày c̣n non”


Khi đi lấy chồng, họ c̣n chịu thêm trăm điều cay cực. Quan niệm “xuất giá ṭng phu”, “lấy chồng làm ma nhà chồng” đă khiến bao người phụ nữ xa quê phải ngậm ngùi nuốt đắng cay, thấm thía nỗi buồn, nhớ khi nghĩ về quê mẹ:


- “Chiều chiều ra đứng bờ sông

Muốn về với mẹ mà không có đ̣”

- “Chiều chiều ra đứng ngơ sau

trông về quê mẹ ruột đau chín chiều”

- “Chiều chiều xách giỏ hái rau

Ngó lên mả mẹ ruột đau như dần”


Nhớ nhà nhớ mẹ mà không được về, những người đi làm dâu c̣n phải chịu sự đày đoạ của gia đ́nh nhà chồng, đặc biệt là mẹ chồng. Trong chế độ cũ, những người mẹ chồng xưa kia thường là “nỗi kinh hoàng” của những nàng dâu v́ xă hội phog kiến với quan niệm hôn nhân gả bán cho phép người ta “mua” vợ cho con khác nào mua người lànm không công, trả cái nợ đồng lần mà chính người mẹ chồng trước đây phải gánh chịu:


- “Tiếng đồn cha mẹ anh hiền

Cắn cơm không vỡ cắn tiền vỡ tan”

- “Trách cha, trách mẹ nhà chàng

Cầm cân chẳng biết là vàng hay thau

Thực vàng chẳng phải thau đâu

Đừng đem thử lửa mà đau ḷng vàng”


Trong hoàn cảnh ấy đại đa số những người phụ nữ phải cam chịu, nín nhịn nhưng cũng có trường hợp, người con dâu tỏ thái độ phản kháng có phần quyết liệt, cô “đội nón về nhà ḿnh” dẫu biết hành động ấy sẽ bị lên án, bị không ít tiếng thị phi, cay độc v́ trong xă hội xưa c̣n ǵ đáng sợ hơn bằng tội “trốn chúa, lộn chồng”:


“Cô kia đội nón đi đâu

Tôi là phận gái làm dâu mới về

Mẹ chồng ác nghiệt đă ghê

Tôi ở chẳng được, tôi về nhà tôi”


Sở dĩ họ phải phản kháng là do không c̣n nơi để bấu víu, tựa nương. Mẹ chồng đă vậy, lại c̣n chịu thêm nỗi khổ của “cảnh chồng chung”. Xă hội phong kiến cho phép “trai quân tử năm thê bảy thiếp, gái chính chuyên chỉ có một chồng” đă gây ra bao cảnh đau ḷng. Nhân dân hướng về những người vợ lẽ - những người chịu nhiều thua thiệt hơn cả để cảm thông, để lắng nghe những tiếng giăi bày xót xa, cay đắng:


- “Lấy chồng làm lẽ khổ thay

Đi cấy đi cày chị chẳng kể công

Tối tối chị giữ mất chồng

Chị cho manh chiếu, nằm không chuồng ḅ

Mong chồng chồng chẳng xuống cho

Đến khi chồng xuống, gà o o gáy dồn

Chém cha con gà kia, sao mày vội gáy dồn

Để tao mất vía kinh hồn về nỗi chồng con”

- “Thân em làm lẽ chẳng nề

Có như chính thất, ngồi lê giữa đường”


Khao khát của người phụ nữ ở đây không phải là cái khao khát mang tính chất bản năng thuần tuư mà là những khát khao hạnh phúc chính đáng nhất của một con người. V́ thế họ đă nhắn nhủ nhau:


- “Đói ḷng ăn nắm lá sung

Chồng một th́ lấy, chồng chung th́ đừng”

- “Chồng con là cái nợ nần

Thà rằng ở vậy nuôi thân béo mầm”.


Nhưng dù sống trong bất hạnh, tâm hồn người phụ nữ vẫn sáng lên lấp lánh ánh sáng của trái tim đôn hậu, cao thượng, vị tha. Từ trong khổ đau, bất hạnh, từ trong tiếng hát than thân đầy tủi cực, tâm hồn trung hậu, đẹp đẽ, thuỷ chung của người phụ nữ vẫn vươn lên, toả sáng khiến cho tiếng hát than thân kia không mang vẻ bi luỵ mà vẫn toả sáng, ấm áp t́nh đời, t́nh người. Ca dao đă phản ánh đầy đủ những vẻ đẹp đó của họ - những con người thuỷ chung son sắt, giàu nghĩa t́nh.

Quên đi những nhọc nhằn, vất vả của cuộc sống lao động, những người phụ nữ b́nh dân ấy cũng có những phút giây sống cho cảm xúc riêng tư, cũng trải qua các cung bậc nhớ nhung của một trái tim mới yêu:


- “Gió sao gió mát sau lưng

Dạ sao dạ nhớ người dưng thế này”

- “Nhớ ai bổi hổi bồi hồi

Như đứng đống lửa như ngồi đống than”

Có cô gái th́ hồn nhiên, tinh nghịch. Họ không quá câu nệ như các cô gái khuê pḥng:

Ước ǵ sông rộng một gang

Bắc cầu dải yếm cho chàng sang chơi”


Cũng có khi thật tế nhị, ư ứ, nết na:

“Sáng ngày tôi đi hái dâu

Gặp hai anh ấy ngồi câu thạch bàn

Hai anh đứng dậy hỏi han

Hỏi rằng cô ấy vội vàng đi đâu

Thưa rằng tôi đi hái dâu

Hai anh mở túi đưa trầu mời ăn

Thưa rằng bác mẹ tôi răn

Làm thân con gái chớ ăn trầungười”


Họ biết đề cao t́nh yêu thương, ḷng chung thuỷ:


- “Trăng tṛn chỉ một đêm rằm

T́nh duyên chỉ hẹn một lần mà thôi”

- “Muối ba năm muối đang c̣n mặn

Gừng chín tháng gừng hăy c̣n cay

Đạo cương thường chớ đổi đừng thay

Dẫu có làm nên danh vọng hay rủi có ăn mày ta cũng theo nhau”


Người phụ nữ đảm đang, vị tha, chung thuỷ đă thể hiện cảm nghĩ của một cách giản dị mà vẫn có sức cuốn hút lạ thường. Cả khi khó khăn họ vẫn nhẫn nại:


- “Chồng em áo rách em thương

Chồng người áo gấm , sông hương mặc người”

- “Râu tôm nấu với ruột bầu

Chồng chan vợ húp gật đầu khen ngon”


Chỉ những lời ca ngắn ngủi mà chất chứa trong đó bao ư t́nh sâu xa. Đó là lời nhắn nhủ của những người phụ nữ trọn nghĩa vẹn t́nh. Dù trong bất cứ hoàn cảnh nào, họ vẫn đồng cam cộng khổ cùng chồng, xây dựng một gia đ́nh đầm ấm yên vui.

Ở thời nào cũng vậy, vẻ đẹp của người phụ nữ như một hằng số, bất biến ngàn đời. Đó là sự nhẫn nại, cam chịu, là sự thuỷ chung son sắt. Dù bao khổ đau, bất hạnh vẫn không thể vùi lấp được những vẻ đẹp đó. Nó như những viên ngọc thô mà thời gian, những bất hạnh khổ đau là chất xúc tác mài giũa, càng ngày càng toả sáng lấp lánh.

Văn học, nghệ thuật ngày nay cũng rất chú ư đến việc lưu giữ những vẻ đẹp của người phụ nữ. Nhưng những làn điệu dân ca từ thuở sơ khai vẫn chính là kho tàng vô giá lưu giữ trọn vẹn nhất về những con người ḱ lạ ấy: càng trong đau khổ lại càng ngời sáng, thanh cao.

Sẽ c̣n măi lắng đọng trong tâm hồn những người dân đất Việt h́nh ảnh những người phụ nữ sáng lấp lánh trong những câu ca dao tự ngàn xưa.

Sao Thụy

hoangthymaithao
02-20-2010, 07:27 AM
Chắc hẳn chúng ta, không ai là không biết sự tích Trầu Cau, câu chuyện t́nh éo le của hai anh em cùng một cô gái làng bên, câu chuyện đă được phổ vào nhạc:

“Ngày xưa có hai anh em nhà kia cùng yêu thương một cô gái làng bên”

Và từ nội dung huyền thoại này mà lá trầu, quả cau đă đóng một vai tṛ tối ư quan trọng trong hôn lễ cổ truyền của dân tộc Viêt Nam ta.Trong sính lễ hay hôn lễ bao giờ họ nhà trai cũng phải cử một thân nhân đội trên đầu một mâm trầu cau, trịnh trọng dâng lên cho vị chủ hôn bên đàng gái, rồi sau đó mới hạ hồi phân giải, toan tính chuyện “xỏ mũi”… kéo về. Nhưng mà Ai xỏ mũi Ai? Đấy mới là vấn đề! Cô nàng xỏ mũi chồng kéo về nhà bắt ở rể hay anh chàng xỏ mũi vợ kéo vào pḥng hoa chúc mây mưa chăn gối cho bơ những ngày:

“Thôn Đoài ngồi nhớ thôn Đông”

Thật ra tất cả đều tùy thuộc vào:

Chí làm trai dặm ngh́n da ngựa
GieoThái sơn nhẹ tựa hồng mao
Bước vào nhà vợ quơ quào
Múa Nhất Dương Chỉ ào ào gió thu

Nếu đường đường là đấng trượng phu th́ xỏ mũi giai nhân, sau hôn lễ, rồi hành xử quyền “Chồng chúa vợ tôi”. C̣n nếu học đ̣i theo văn hóa Tây th́ bài học ngữ vựng đầu đời đă chỉ dạy rơ ràng:

Cheveu, sợ vợ ai ơi
Vợ kêu chồng dạ, Em thời dạy chi?

Miếng trầu, miếng cau là đầu mối câu chuyện. Phải có trầu cau mới nên duyên chồng vợ:

Thiên duyên kỳ ngộ gặp chàng
Khác nào như thể phượng hoàng gặp nhau
Tiện đây ăn một miếng trầu
Hỏi thăm quê quán ở đâu chăng là

Têm trầu bổ cau là một “ngón nghề” mà người con gái phải biểu diễn cho chàng trai hay họ đàng trai thấy rơ được cái đảm đang, khéo léo, duyên dáng của nàng. Đây cũng là cơ hội để cho chàng và nàng “nghía” nhau trong khuôn phép được cha mẹ đôi bên bật đèn xanh như một thỏa thuận ngầm cho đôi trẻ t́m hiểu nhau:
Con dao vàng rọc lá trầu vàng
Mắt anh anh liếc, mắt nàng nàng đưa.

Miếng trầu là một biểu tượng của hôn nhân, một khởi đầu cho sự ràng buộc trong đời sống lứa đôi có tính cách quan trọng tiền duyên, t́nh nghiệp nên Mẹ già mới ân cần dặn ḍ con gái:

Ra đi Mẹ có dặn rằng
Làm thân con gái chớ ăn trầu người

Ăn nhằm miếng trầu của ngựi ta cũng như ngày nay tṛng chiếc nhẫn đính hôn vào ngón tay áp út, xem như đă thề non hẹn biển, đă mất một nửa tự do trong đời, suốt ngày ra ngẩn vào ngơ như ăn nhằm bùa, nuốt nhằm ngăi:

Chăn đơn nửa đắp, nửa hong
Cạn sông lở núi, ta đừng quên nhau
Từ ngày ăn phải miếng trầu
Miệng ăn, môi đỏ, dạ sầu đăm chiêu
Biết rằng thuốc dấu hay là bùa yêu
Làm cho ăn phải nhiều điều xót xa
Làm cho quên mẹ, quên cha, quên cửa, quên nhà
Làm cho quên cả đường ra lối vào
Làm cho quên cá dưới ao
Quên sông tắm mát, quên sao trên trời.

Trong ca dao, con trai tán tỉnh con gái, không màu mè hoa lá hẹ, không sến như con hến mà đi thẳng vào chuyện lứa đôi tự nhiên như người Hà Nội lúc vào Nam:

Cho anh một miếng trầu vàng
Mai sau anh trả lại nàng đôi mâm.

Hay hiện thực hơn, đốp chát hơn, gạ gẫm theo kiểu đẹp trai không bằng chai mặt:

Có trầu, có vỏ không vôi
Có chăn có chiếu không người nằm chung.


Mối t́nh quê chơn chất mộc mạc bắt đầu bằng miếng trầu, khởi điểm của những mối “T́nh nghèo”cũng đă được nhạc sĩ Phạm Duy đưa vào gịng nhạc của ông với làn điệu dân ca thật trữ t́nh, lăng mạn:

“Nhớ, nhớ thuở nào anh là cày thuê em là dắt trâu, đôi ta cùng gặp nhau dưới cầu, bóng mát dưới cầu. Nhớ, nhớ thuở nào, anh đây làm công, em là gánh dong, miếng trầu cau nên đôi vợ chồng , đôi vợ chồng…”

Không những t́nh nghèo cần đến trầu cau mà con gái nhà giàu muốn nên đôi chồng vợ cũng cần đến trầu cau:

Em là con gái nhà giàu
Mẹ cha thách cưới ra màu xinh sao
Cưới em trăm tấm lụa đào
Một trăm ḥn ngọc, hai mươi tám ông sao trên trời
Tráp tṛn dẫn đủ trăm đôi
Ống thuốc bằng bạc, ống vôi bằng vàng

Dù con gái ở vào lứa tuổi nào, bà mẹ lúc thách cưới cũng không bao giờ quên cái dzụ trầu cau. Dĩ nhiên là số lượng trầu cau sẽ giảm dần khi cô con gái đi sâu vào tuổi sắp ế chồng:

Mẹ ơi, năm này con mười tám tuổi rồi,
Chồng con chưa có, mẹ thời tính sao?
Con chim khách nó mách có hai bà mối
Mẹ ngồi thách cưới: Tiền chẵn năm quan
Cau chẵn năm ngàn,
Lợn béo năm con
Áo quần năm đôi.

Lúc con gái hai mươi ba tuổi rồi th́ mẹ ngồi thách cưới:

Tiền chẵn ba quan
Cau chắn ba ngàn

Con gái ba mươi hai tuổi rồi th́

Tiền chẵn một quan
Cau chẵn một ngàn

Rồi đến khi con gái đă bốn bó lẽ vài que th́ không c̣n thách c̣n đố ǵ nữa mà:

Mẹ thời cho không

Thường thường ta cứ nghĩ rằng chỉ có phụ nữ mới ăn trầu. Thực ra, liền ông con trai thời xa xưa, thế hệ Ông, Cha chúng ta, họ cũng ăn trầu như điên:

Trầu này têm tối hôm qua
Giấu cha, giấu mẹ đem ra mời chàng
Trầu này không phải trầu hàng
Không bùa, không thuốc, sao chàng không ăn
Hay là chê khó, chê khăn
Xin chàng đứng lại mà ăn miếng trầu

Nói tóm lại, chàng và nàng đều ăn trầu chứ không phải chỉ riêng nàng mới thèm trầu và đă được mẹ khuyên nhủ phải cẩn thận “chớ ăn trầu người”. Nhưng, con gái đến tuổi dậy th́, ngu sao nghe lời mẹ dạy, để pḥng không chiếc bóng, ế thiu, ế chảy, hâm đi hâm lại chẳng ai xơi. Xét cho cùng, bà mẹ quá thận trọng v́ sợ con gái bạ trầu ai cũng ăn, ai mời cũng ăn, chứ trầu của người tử tế th́ tội ǵ không ăn. Hơn nữa, ngoài chuyện ăn trầu nên duyên vợ chồng, ăn trầu c̣n mang lại một cái lợi cho nhan sắc người con gái:

V́ chưng ăn miếng trầu anh
Cho nên má đỏ, tóc xanh đến giờ

Trai gái thời xưa, thay v́ mời nhau thỏi kẹo Chewing Gum, (Cũng có khi nguy hiểm lắm! Ăn nhằm kẹo khích dâm th́ tàn một đời bông!) th́ họ lại mời nhau một miếng trầu cho môi thắm má hồng, mắt long lanh:

Yêu nhau trao một miếng trầu
Giấu thầy, giấu mẹ, đưa sau bóng đèn

À, th́ ra thuở xa xưa, con trai, con gái thôn quê cũng ḥ hẹn, t́nh tự dưới ánh đèn leo lét, đồng lơa với cuộc t́nh trăng hoa, chứ không phải chỉ có thanh niên, thiếu nữ chốn thị thành mới lăng mạn vai kề, má tựa bên nhau, dưới ánh trăng thanh như trong ca khúc “Em tôi” của nhạc sĩ Lê Trạch Lựu:

Bao giờ tôi về gần em, cùng đếm
Này trăng, này sao chia nhé em!

Miếng trầu, trong ca dao, tượng trưng cho t́nh nghĩa đằm thắm, mặn nồng của đôi lứa yêu nhau. Chàng và nàng cùng ăn trầu để gá nghĩa trăm năm:

Trầu xanh, cau trắng khay vàng
Vôi pha với nghĩa, thuốc nồng với duyên
Trách người cầm lái không minh
Cơi trầu bịt bạc, thiếp mời chàng ăn chung

Trai gái thường lấy lá trầu, quả cau làm h́nh ảnh tượng trưng cho t́nh yêu để mà ví von t́nh tự, chẳng cần trăng sao ḥ hẹn xa vời, trừu tượng lôi thôi rách việc:

Yêu nhau trầu vỏ cũng say
Ghét nhau, cau đậu đầy khay chẳng màng
Hay:
Yêu nhau th́ ném bă trầu
Ghét nhau, ném đá vỡ đầu nhau ra
Hoặc:
Yêu nhau, cau sáu bổ ba
Ghét nhau, cau sáu bổ ra làm mười

Con gái buồn duyên tủi phận cũng đem trầu cau ra mà hờn, mà trách mà đay nghiến làm như lá trầu, miếng cau là nguyên nhân của duyên phận bẽ bàng:

Cau non, trầu lộc mỉa mai
Da trắng tóc dài đẹp với ai đây.
Hay:
Miếng trầu ăn nặng bằng ch́
Ăn th́ ăn vậy, lấy ǵ trả ơn

Con trai đến chơi nhà người yêu, được mời trầu, mời thuốc, lúc ra về nhớ nhớ, nhung nhung, cũng lăng mạn ra phết chứ đâu phải quê mùa mộc mạc đồng ruộng “Hai Lúa” như ta vẫn tưởng:

Ra về nhớ nước giếng khơi
Nhớ điếu ăn thuốc, nhớ cơi ăn trầu
Ra về giả nước giả non
Giả người, giả cảnh, kẻo c̣n nhớ nhung

Vậy, tại sao khi chúng ta muốn “chê” một người đàn bà quê mùa, luống tuổi, ta thường dùng ba chữ “Bà già trầu” hàm ư coi thường nếu không muốn nói là miệt thị. Thật là thiện vị và bất công v́ ta chẳng bao giờ gọi “Ông già trầu” để chỉ một người đàn ông thuộc loại “già dịch” dù rằng họ cũng nhai trầu.
Nếu ta chịu khó quan sát kỹ th́ ta sẽ thấy trong cử chỉ nhai trầu của người đàn bà có một cái ǵ đó thật duyên dáng đắm say. Cái duyên như ta đă biết là một nét đẹp không bao giờ già v́ vậy mà thiếu nữ hay thiếu phụ, hay lăo bà, tất cả đều có một nét duyên dáng riêng, bất chấp tuổi tác. Này nhé: hai ngón tay êm ái, dịu dàng, uyển chuyển, mềm mại quẹt vào vành môi để tóm gọn nước trầu làm cho đôi môi hồng thắm, đều đặn, sắc nét như được tô vẽ bằng thỏi son môi thời nay. Sao mà duyên dáng thế! Lúc nhai trầu, bậc nữ lưu “má đỏ au lên đẹp lạ thường” (Thơ Hàn Mặc Tử) và đôi mắt long lanh gợi t́nh phải biết!
Các bạn chắc không lạ ǵ rằng trầu cọng với vôi và cau tạo nên một chất xúc tác mang lại cho người nhai trầu một luồng hơi ấm, một luồng nội lực quy tụ tại đơn điền và rồi lan khắp châu thân gây cho tâm hồn sảng khoái đê mê. Phê thật phê!
Vậy th́ “Bà già trầu” là h́nh ảnh gơi cảm, gợi t́nh, rất bắt mắt. Dĩ nhiên “Bà già trầu” của chúng ta phải là một người đàn bà chưa già lắm, nghĩa là xuân xanh vào độ chín muồi, tuổi hồi xuân, ḷng xuân phơi phới đang thênh thang bước nhẹ trên “đường số 5” Tôi c̣n nhớ lúc tôi bắt đầu bước vào lứa tuổi cập kê, tuổi mới lớn bắt đầu biết “hư” tôi đă ngẩn ngơ nh́n một thiếu phụ c̣n xuân sắc ngồi đánh tứ sắc với bà ngoại tôi. “Nàng” cũng bắt chước Ngoại tôi nhai trầu bơm bẽm và mắt “Nàng” long lanh, má hồng, môi thắm đỏ, ướt mềm như miếng thạch xoa, chắc là phải ngọt lắm. Nàng duyên dáng gợi t́nh khiến tôi nh́n như si dại, tưởng chừng như nàng là hiện thân của Thần Cupidon. Nhớ về kỷ niệm thuở đầu đời, tôi thấy ḿnh thật “hoang” sớm trong tuổi đời ngây thơ vô số tội.

Đấy là câu chuyện xưa lắm rồi! Bây giờ tôi xin chia xẻ cùng quư vị độc giả của tôi dung nhan “Một bà già trầu” thời nay, một nhan sắc hiện đại nhưng không hại điện nghĩa là điện nước c̣n đầy đủ như mô tả trong bài thơ sau đây tôi t́nh cờ đọc được:

Người tôi yêu ở bên tê
Nói năng ngọt lịm như chè hạt sen
Ngũ tuần niên kỷ c̣n son
Ra đường như gái một con mặn ṃi
Ngày xưa tiên nữ trên trời
Nương mây nàng xuống chịu đời đắng cay
Khi vui nàng nói tiếng Tây
Ngày ngày tiếng Đức, một cây xanh dờn
Tay ngà êm lướt phím đàn
Ngân nga khúc nhạc trăng tàn ngoài hiên
Ước ǵ nhung nhớ nên duyên
Trầu cau mang đến dâng lên hầu nàng
Tôi hong ngàn sợi tơ vàng
Buộc t́nh tôi lại thành tràng hạt châu
Em ơi xơi một miếng trầu
Cho t́nh thắm măi một màu sắt son.

Phiếm luận Trầu Cau đến đây xin chấm dứt.

Hoàng Đức

hoangthymaithao
02-28-2010, 09:20 AM
http://art2all.net/tho/vocongliem/tranhtheu3.jpg





Ca dao là tiếng nói trung thực,phản ảnh rơ nét nhất trong văn chương b́nh dân, được miêu tả sự việc xẩy ra hằng ngày giữa cuộc đời và trở thành những câu ḥ, điệu hát của nhân gian như những bản t́nh ca bất diệt, đượm màu thế tục;t́nh yêu,t́nh đời với một ẩn dụ tự nhiên làm cho người ca ngâm cũng như người nghe có một cảm nhận gần gủi,tuyệt vời.Ca dao c̣n hóa giải mọi t́nh huống uẩn khúc,lời ca ấy làm cho con người không c̣n cảm thấy đau khổ nữa “L’homme souffre,mais en chantan sa souffrace,il la dépasse”.

V́ vậy; nói đến văn chương b́nh dân chúng ta không thể quên thi ca b́nh dân mà ca dao nắm một vai tṛ chủ lực và những thể loại quen thuộc, không ước lệ,không qui cách,tuy nhiên lời thơ của ca dao vẫn giữ đúng vần điệu có khi rất chuẩn về luật bằng trắc nhờ đó mà dể đả thông tư tưởng, trực chỉ vào ḷng người một cách sâu lắng.

Ca dao là ca hát,tự nó trở thành khúc đi thẳng vào ḷng và bày tỏ được nội giới dù dưới một không gian hay thời gian nào ngoài ra ca dao c̣n là gia-huấn-ca,một tâm lư đạo đức,dạy làm người…đôi khi văn thơ phải mượn ngôn từ của ca dao để nói lên cái t́nh người,t́nh đời một cách chính xác hơn.

Công cha như núi Thái Sơn

Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra

giáo dục con trẻ khi mới lớn:

Trai thời trung hiếu làm đầu

Gái thời tiết hạnh làm câu giao t́nh

hoặc một ư nghĩa thâm sâu khác:

Cá không ăn muối cá ương

Con căi cha mẹ trăm đường con hư

Những câu ca dao lục bát như thế ắt phải nằm sẳn trên môi của mọi người một cách dể dàng và thông đạt lắm!



Đó là cái nh́n nội giới trong ca dao mà mỗi khi chúng ta phóng vào hiện tượng; đó là bản thể của “cái t́nh” trong ca dao.Tuy mỗi câu ḥ điệu hát có khác nhau nhưng cái nh́n của t́nh yêu vẫn là một và cái gặp gỡ đó,nói chung; là cái đồng t́nh bất biến của con người.Sự gặp gỡ chính nơi ḷng ư thức,nơi thức tỉnh của ư thức trước những hiện hữu đời và gia đ́nh hay chính là nơi những ǵ mà con người kêu lên thiết tha hay để bộc lộ sự thống khổ.H́nh ảnh của thi ca nói chung và của ca dao Việt Nam nói riêng là tiếng kêu thức tỉnh của con người tạo nên, dùng để ví von của người dân quê trước cuộc đời.Mà cuộc đời này; con người đă gắng bó chặt chẽ trong mọi hoàn cảnh trong mọi t́nh huống của đời người,từ những t́nh cảm của cái t́nh đó đă nói lên được một cái ǵ âu yếm và thầm kín.

Anh đi ba bửa nhớ về

Rừng sâu nước độc chớ hề ở lâu

H́nh ảnh “anh đi ba bửa”rồi”chớ hề ở lâu” nó biến ca dao thành thi ca,từ những hiện tượng thực thể biến thành tha thể xuất phát từ ngoại giới đi vào nội giới giữa mối liên hệ tha nhân và chủ thể nó cặp kè,sánh vai trong hoàn cảnh đối đáp để nên vợ nên chồng,ca dao không c̣n hiện diện với ca với hát mà biến dạng thành ḥ,câu ḥ trực diện với thực tại như một sự hiến dâng!

Trai nào nỗi tiếng anh hào

Anh mà đối đặng má đào em xin trao ơ…ơ

Cái vũ trụ mộng mơ ấy hoàn toàn ở trong đôi mắt chiêm ngưỡng của con người khi phóng cái nh́n vào tương lai giữa sự viên măn của t́nh yêu.Vũ trụ này chưa hiện thực rốt ráo nhưng đă xuất phát một ước vọng thực hữu.H́nh ảnh cuộc đời không bị tha hóa mà bắt nguồn từ vũ trụ thực hữu;v́ vũ trụ ấy có thực trong cuộc đời này.

Trai nước Việt nỗi tiếng anh hào

Anh đà đối đặng vậy má đào xin trao dâng ơ…ơ

Hẳn nhiên; ư thức giữa trai gái rất đặc thù trong phạm vi lứa đôi,nói trắng ra là t́nh yêu qua mọi lứa tuổi, đặc biệt t́nh yêu nông thôn, ư thức ấy bừng lên từ cuộc sống và chiếu sáng cuộc sống đó là lối tả chân mà cảnh đời không có hoặc chưa có nên chi vũ trụ dự ước của con người cũng là những cảnh đời có thực mà được phóng nhiệm lên cảnh đời có thực trong ca dao.Cho nên ca dao phát ra giữa chốn đồng quê,giữa nơi xa phố thị tự nó dâng tràn trong nhân gian,v́ thế t́m đến một tác giả trong ca dao đều trở nên không cần thiết và có muốn biết chăng nữa cũng không được v́ mọi người đă đi vào cảnh đời một cách tự nhiên và tự nhiên như ḿnh là tác giả vậy! Nó vượt thoát cả không gian và thời gian kể cả hiện tại,quá khứ và tương lai,vượt thoát từ những người sáng tạo ra ca dao,ca dao bỗng nhiên độc lập để tạo cái đắm đuối,rụt rè,e lệ nhưng đầy tính lăng mạn cho dù mối t́nh chân lấm tay bùn.

Ngó em chẳng dám ngó lâu

Ngó qua một chút đở sầu mà thôi!

Cái ngó ấy là cái ngó thức tỉnh,một cái ngó của kẻ t́nh si và cũng là cái nh́n mơ mộng của người đồng quê đứng trước cuộc đời có thực.Chính đó là sự sáng tạo của ca dao.Nói đến mơ mộng h́nh như chúng ta đụng phải một phản ứng tâm lư.Theo tâm lư học giài thích: khi mơ mộng th́ đó không phải là một trạng thái thức tỉnh.Tâm lư học quan niệm như thế nầy”En suivant la pente de la reverie”Tiếp đó là cái mơ về của ư thức thức tỉnh “đở sầu” nằm trong ư thức mơ về (rêver à/daydreaming)mà ở đây mơ không có nghĩa là buông xả theo gịng đời và ch́m dần trong mộng để rồi mất luôn tính sáng tạo nghệ thuật v́ ư thức thức tỉnh thường đối lập với ư thức thức tỉnh nghệ thuật và làm lu mờ ư thức mơ về cho dù trong chiêm bao chăng nữa đă cho thấy một ư thức thức tỉnh.

Một duyên, hai nợ, ba t́nh

Chiêm bao lẫn quất bên ḿnh năm canh

Thành ra mơ chiêm bao ở đây là cái nh́n sáng tỏ của cái mơ về giữa duyên,nợ và t́nh đă bừng lên trong ư thức về thân phận của người phụ nữ.

Mơ về hay chiêm bao không c̣n là mối sầu buông xuôi của tâm lư học mà trái lại mơ và chiêm để phóng thể ngôn từ”bên ḿnh năm canh”trong giấc mơ nữa đêm trở nên ư thức chớ không phải chiêm bao vô thức.

Trong cái nh́n vũ trụ quan như thế đă cho ta thấy được ca dao là một lối sáng tạo hết sức đặc biệt mà chất liệu là cảnh đời,cô đọng trong từng câu ḥ điệu hát mượn từ ca dao để mơ về…



Ca dao không đ̣i hỏi tác giả là ai,nó đă trở thành của chung,tác giả chung giữa cuộc đời này mà trong thi ca vốn có sự bừng tĩnh đầy sáng tạo,ca dao đại diện cho những cuộc t́nh trọn vẹn hay tan hợp,nói lên nỗi nghẹn ngào,uất nghẹn tất cả qui về sự mơ về cơi thực để t́m thấy được chân lư của cuộc đời.Giờ đây ngôn từ sáng tạo của ca dao đă thành thơ,những thể thơ mới như ngày nay.

Cá lư ngư sầu tư biếng lội

Chim phượng hoàng nhớ cội biếng bay

Anh thương em đừng vội nắm tay

Miệng thế gian ngôn dực

Phụ mẫu hay sẽ rầy

Ca dao như thế đấy! mỗi khi đọc lên đă cho chúng ta cái cảm giác tợ như ức chế,như phụ rẫy như khoa phân tâm học quan niệm.Lối thoát bằng ức chế chỉ xẩy ra với cảnh đời,những người bị tập quán kiềm chế mới lâm vào khát vọng của bản năng cho nên mới t́m lối thoát bằng lối này hay h́nh thái khác để tránh né.Quan điểm đó đôi khi cũng có tính vơ đoán và không hoàn toàn đúng hẳn,cho nên đừng để cái nh́n ức chế vào đây.V́ sao? V́ “anh thương em” có nghĩa là đừng vội đánh mất cái đẹp mà đây là tiếng nói mặn mà,bất luận ở đâu nơi chốn nào người phụ nữ Việt Nam đoan trang trong tiếng nói ấy tức tiếng nói của ca dao,tiếng nói soi sáng,tiếng nói của ái t́nh.

Em có thương anh

Em nói cho thiệt t́nh

Để anh lên xuống

Ơ…ơ chớ một ơ…ơ ḿnh ơ bơ vơ

Đó là một thứ ǵ vô biên chân thật của t́nh đồng quê một bày tỏ cao nhất trong đời nhưng biết nói làm sao khi ư thức vô biên chưa có th́ nói làm sao khi cái nh́n tuyệt đối chỉ ngưng trong hiện tượng của đất trời cho nên họ không ngần ngại bộc bạch một cách chân t́nh cho dù ngập ngừng bày tỏ “ơ.. ơ chớ một ơ.. ơ ḿnh ơ..bơ vơ” Ca dao nông thôn nó diễn tả tích cực như thế đó!diễn tả cái mùi vị chất phát mặn mà, đượm bạc,cái ngập ngừng dể yêu ấy.

Đó là hướng đi lên của ngôn từ ca dao Việt Nam thoát ra từ tiếng nói văn chương b́nh dân để đạt tới hiệu năng của sự bày tỏ.Cho nên h́nh ảnh của ca dao;dù sao đi nữa nó vẫn có cái mới của riêng ḿnh,mở ra một ngôn từ sáng lạn và nó cũng đánh dấu những bước thăng trầm của sức diễn đạt giữa người với người,những h́nh ảnh của ca dao vô h́nh chung trở nên tư liệu của cảnh đời:người,cảnh vật,nhân sinh và t́nh yêu.Chúng ta cũng có thể nghĩ rằng nhờ ư thức chuyển vị đẹp đẻ đó của con người cuộc đời trở nên tươi đẹp hơn “the beautiful-life”nhờ đó t́nh cảm con người được tỏa rạng.Cho nên khi bắt gặp một h́nh tượng trong ca dao,dù có mộc mạc bao nhiêu cũng mở rộng cho chúng ta một chân trời mới đầy ư nghĩa hơn nhất là t́nh yêu có một sắc màu luôn luôn lung linh của người con gái xuân th́ dưới một cái ǵ lả lướt của ca dao.Ngôn ngữ ca dao rất cô đọng và tràn đầy.

Tóc em dài em cài bông hoa lư

Miệng em cười anh để ư anh thương

Ư nghĩa của ca dao là ở cái chỗ mộc mạc đơn sơ nhưng lại là một sự thức tỉnh nội tại,một sự khám phá của con người vừa hào hứng vừa can đảm mà chúng ta phải đón nhận như chính chúng ta đón nhận cuộc đời này. Đó là cái nh́n khám phá:

- Khám phá nội tâm bằng cái nh́n ngoại giới.

- Khám phá ngoại giới bằng cái nh́n nội tâm.

Chính hai cái nh́n tuy nghịch đảo nhưng bổ sung cho nhau để nh́n thấy giấc mơ của người nghệ sĩ ca dao. Đó là một vũ trụ hiện thực để góp phần hạnh phúc cho đời.

Cho nên cái mộc mạc của nông thôn đă làm cho họ cảm thấy hạnh phúc,sung sướng và mỗi câu ca dao nói lên cảnh đời;dù trong mơ vẫn trung thực với đời.V́ vậy cái nh́n của họ như bao trùm từ ngoại giới đến nội giới đều đúc kết thành lời thơ,lời thơ đó chúng ta gọi là ca dao.

Nàng về nàng nhớ ta chăng

Nàng về ta nhớ hàm răng nàng cười

Mỗi lúc cái nh́n hay cái nhớ càng phóng ra rộng răi, càng thấy cuộc đời đẹp và bao la diệu vợi,kể cả nụ cười nhe răng”cần cẩu” vẫn là niềm nhớ không quên,bởi v́; chán ǵ những cái nhớ mà lại đi nhớ hàm răng em cười,biết đâu trong cái nhớ đó có một chút ǵ lăng mạn của ca dao(?),tầm thường thật nhưng bao la và mênh mông vô cùng đối với ngôn từ của ca dao.



Thật ra đi vào cuộc đời, đi vào vũ trụ không dể dàng như thế mà chính là một sự khám phá không ngừng.Trong sự khám phá ấy,con người bắt gặp vừa ḿnh vừa vũ trụ một lối khám phá t́m ra được hai hiện tượng. Đối tượng của sự t́m gặp chính là khám phá cái nội giới mà ca dao lănh một phần trách nhiệm trong ngôn từ(kể cả đối thoại) và ư nghĩa.Nhưng trong hai tượng ấy người ta có thể phân biệt được;

- Bản ngă tự tại

- Vô ngă vũ trụ

Những cái vô ngă vũ trụ được hữu ngă hoá cho nên cái bản ngă tự tại ngay phút đầu đă trở thành cái vô ngă của bản ngă. Đó là sự cố đă khua động bản ngă của con người để sáng tạo và giúp cho con người thực hiện câu thơ để chia xẻ với tha nhân;con người đă nh́n cái đẹp một cách siêu thoát đó là cái vô ngă được hữu ngă hoá nhờ cái nh́n của bản ngă từ “một thương cho tới mười thương” là đề cao cái đẹp phong phú vừa cao đẹp vừa thẩm mỹ học và chính cái tôi bày tỏ lại đứng sau và được hữu ngă hoá vũ trụ để làm tan biến ngoại giới mà trở về với bản ngă mà không có cái tôi trong đó .

Một thương tóc bỏ đuôi gà

Hai thương ăn nói mặn mà có duyên

Ba thương má lúm đồng tiền

Bốn thương răng nhánh hạt huyền kém thua

Năm thương cổ yếm đeo bùa

Sáu thương nón thượng quai thao dịu dàng

Bảy thương nét ở khôn ngoan

Tám thương ăn nói lại càng thêm xinh

Chín thương em ở một ḿnh

Mười thương con mắt đưa t́nh với anh

Do đấy con người của ca dao là con người của cuộc đời,của vũ trụ chớ không phải con người chỉ là con người như một ư thức bi đát về người.Lối về của vũ trụ đă chiếm cứ hiện tượng bằng bản ngă của ḿnh,chính là lối đi về của t́nh thương,cái t́nh mà con người t́m thấy;tất cả ca dao là ở chỗ ấy và có thể nói ca dao có hai bề mặt là bản ngă và vô ngă cả hai mảng nầy dùng để xoa dịu những xót thương hay thương mong về t́nh cảnh khi con người mới dấn thân vào đời và vũ trụ.Bởi v́ tâm thức và trí tưởng của ta đủ khả năng giúp ta sáng tạo những ǵ mà ta nhận thức được.

Từ những vị trí đó giấc mơ về vũ trụ giúp cho con người thoát được thời gian,không c̣n thấy sự lôi cuốn của thời gian.Từ bản thể nh́n ra đó là trạng thái của tâm thức và ca dao mở rộng trước mắt ta bằng hiện tượng của trạng thái tâm hồn.

Chiều chiều ra đứng ngơ sau

Ngó về quê mẹ ruột đau chít ch́u

Tất cả là biểu tượng để biểu dương trạng thái mơ về(Rêve a/daydreaming) đó là trạng thái thắc mắc về nhớ thương. Đấy là tâm hồn hiến dâng cho vũ trụ “chiều chiều” là thời gian thuộc khách thể,trong cái đau đớn “ruột đau”là thế giới của nội tại.Với ca dao những ngôn từ thường chứa đựng một nội dung mới của từ ngữ đều qui định một tâm thức trước cuộc đời và vũ trụ.

Mọi sự vật đều hướng tới với con người và đó là cơ hội để người nghệ sĩ đưa vào ca dao những khát vọng yêu đương một khát vọng đầy hứa hẹn,như cuộc t́nh hay cuộc đời mong muốn.

Đèn Sài G̣n ngọn xanh ngọn đỏ

Đèn Mỹ Tho ngọn đỏ ngọn lu

Anh về học lấy chữ nhu

Chín trăng em đợi mười thu em chờ

Đó là hiện thực của sự bày tỏ về cảnh giới giữa thành thị với nông thôn và ngôn từ của cuộc sống đă lư giải cái tâm sự tha thiết và chân thật của người yêu,chân thật ở cái chỗ ẩn dụ đó.Người nghệ sĩ b́nh dân sắp xếp ngôn từ trong thơ để có cái nh́n sự vật và chính cái nh́n đó thoát ra một số tâm lư của con người và chính cái tầm thường đó chẳng hạn như “râu tôm”hay”ruột bầu” ở những nơi thôn dă đ́u hiu được người nghệ sĩ cho sống lại cái t́nh chân đó như một đ̣i hỏi cần thiết mà nghe rất b́nh dị của lớp người muôn đời trong ao tù nước đọng.Ca dao b́nh dân nói lên được cái khát vọng đó mà nhà thơ b́nh dân của chúng ta hoà nhập một cách tài t́nh giữa vũ trụ đầy khát vọng t́nh người.

Râu tôm nấu với ruột bầu

Chồng chan vợ húp gật đầu khen ngon

Đọc lên ta cảm nhận được phần nào lẽ sống,một lẽ sống nồng đượm của t́nh yêu khát khao đi từ chủ thể con người đến cuộc đời.Ca dao diễn đạt được cái mối giây liên lạc ấy.Mối giây đó không phải hai chiều giữa người và sự vật.Vũ trụ khát vọng của ca dao là h́nh ảnh cuộc đời mà con người mơ về một cái ǵ tầm thường nhưng ước sống.Ca dao tạo được cảnh giới mơ về cho những người thành thị và những người xa tầm vóc b́nh thường.Ngay cả việc mơ về của t́nh yêu trong cái dung dị đó nó đă hàm chứa một tương lai,một lối đi về của cuộc đời.Mơ về ở đây là cuộc đời có thực chính đấy là phần ư nghĩa hiện hữu của con người.Ca dao tạo nên những giấc mơ hiện thực như vậy đó; cho nên cuộc đời mà ca dao vốn có ư nghĩa và sống có ư nghĩa để đưa tới cảnh đời hiện thực.

Trầu vàng ăn với cau xanh

Duyên em sánh với t́nh anh tuyệt vời

Cho nên văn chương b́nh dân thường nói lên tâm trạng khát vọng đôi khi nó pha lẫn màu sắc triết lư tiềm ẩn trong ca dao,nó có cái ǵ mầu nhiệm trong cuộc đời t́nh ái, đầy bí ẩn trong cái nh́n ẩn dụ(metaphorical) của con người đó là biện-chứng-tức-th́ trong mỗi tâm trạng,một t́nh cảm đơn thuần.Nhưng với triết học có một sự tương quan tối thiểu giữa ta và cuộc đời như một tương quan giữa chủ thể và tha thể; đó là tương quan giữa con người với cuộc đời.Nên chi vượt qua cái nh́n đối tượng và cũng nhờ cái nh́n đó mà vượt qua được giới hạn để đi tới một giá trị trực tiếp.

Duyên,nợ,t́nh là khát vọng của t́nh cảm song hành với công việc và sự vật đó là cái nh́n mơ về của hạnh phúc,một gắng bó thực hữu giữa t́nh yêu vợ chồng một lối mơ về của ca dao,một khát vọng trung thành phát xuất từ cảnh đời hiện thực cho nên lối mơ về đó tạo nên một hiện hữu đồng nhất giữa người và vũ trụ.Con người trôi chảy vào đời nhờ những h́nh ảnh thuần đơn mà khát vọng đó đă tạo nên thơ;một nguồn thơ nhất thể.Thành thử vũ trụ khát vọng của ca dao là vũ trụ bắt nguồn từ cuộc đời thực hữu để tiến tới khát vọng.V́ thế ca dao là tiếng kêu chân thành của con người ham sống,yêu đời,yêu người.Ca dao không yêu cầu cái ủy mị đài các,mơ mộng viễn vông,ca dao đi gần với quần chúng,nhất là đồng bào miền quê và hoá giải mọi uẩn khúc,vui buồn đưa con người về với hạnh phúc.Tác giả của ca dao muốn vậy! Đó chính là cuộc đời mà người nghệ sĩ miền quê yêu cầu.

Sớm mai gánh nước mờ mờ

Đi qua ngơ giữa t́nh cờ gặp anh

Vào vườn hái quả cau xanh

Bổ ra làm tám mời anh xơi trầu

Trầu nầy ăn thật là cay

Dù mặn dù lạt dù cay dù nồng

Dù chẳng nên vợ nên chồng

Xơi năm ba miếng kẻo ḷng nhớ thương

Cầm lược th́ nhớ tới gương

Cầm trầu nhớ túi,nằm giường nhớ nhau.

Ca dao c̣n là h́nh ảnh, ở đây là những hiện tượng của bản thể.Do đó h́nh ảnh không c̣n là hiện tượng đơn thuần mà hiện tượng có nội dung cho nên mới được gọi là h́nh ảnh.Chính những chất liệu trong ca dao đă tạo nên h́nh ảnh,h́nh ảnh của vật thể,h́nh ảnh của vũ trụ,h́nh ảnh của t́nh yêu. Đó là những cái nh́n khai phóng của chúng ta để t́m ra cái nội dung đó;với cái nh́n của ca dao luôn luôn có sự ẩn dấu,tiềm ẩn, đẩy cái h́nh ảnh đó như thúc dục người nghệ sĩ ca dao phải ẩn ḿnh, đấy là cái nh́n thuở ban đầu.Cái nh́n hai chiều song phương từ bản thể đến hiện tượng để rồi từ hiện tượng qui về bản thể tạo nên một nội dung h́nh thể như thế là cái nh́n trực tiếp của ca dao nói riêng và thi ca nói chung do đó những sự vật cùng từ ngữ tham dự vào cuộc đời và tạo nên h́nh ảnh và từ h́nh ảnh tạo nên ư nghĩa của ḿnh.Cái nh́n đồng hoá ḿnh với sự vật như vậy là cái nh́n trực tiếp đi vào bản thể không cần t́m đến bản thể mà thấy hiện tượng từ bản thể và từ đó t́nh yêu được bừng sáng lên và hiện hữu “Tôi đặt trái táo trên bàn,rồi tôi hoà ḿnh vào trong trái táo. Ôi!tuyệt vời biết là bao…”(Henri Michaux) Tuy không trực tiếp bằng cái nh́n phối hợp của ca dao nhưng cũng tương đồng ư nghĩa.Tâm trạng đó người ta gọi là ư thức biểu tượng.

Qua đ́nh ghé nón trông đ́nh

Đ́nh bao nhiêu ngói,thương ḿnh bấy nhiêu

Cho nên cái nh́n trong ca dao dù chỉ là cái nh́n ban đầu là truyền thừa vào biến tŕnh diễn đạt của dân tộc,nội dung ư nghĩa vẫn c̣n vang vọng nhờ những h́nh ảnh đó.Cái ngôn từ trong ca dao Việt Nam trước sau vẫn vướng vít h́nh ảnh của t́nh yêu mà ca dao là môi giới trong lănh vực của t́nh yêu.



Kết.

Ca dao là mạch thở của thơ,là nguồn sáng tạo vô tận,là ngôn từ của văn chương b́nh dân chứa đựng hết thảy t́nh người trong đó.Ca dao càng mộc mạc bao nhiêu th́ càng chan chứa bấy nhiêu,ca dao không đỏm dáng,chải chuốt bóng bẩy mà thường xử dụng những ngôn từ thực tế của cuộc đời,mà chúng ta thường gắn liền với nhau:con người và cuộc đời,nó trở thành như định lệ.Nhưng nghĩ cho cùng đó chính là sức sống,chính bản thể thôi thúc,con người với hiện tượng t́nh yêu và từ hiện tượng nầy thoát ra hiện tượng khác bằng ư thức bản thể có ư hướng của ḿnh.Valery có lần nói:”Le vrai poète

est celui qui inspire”Gịng thơ thực chỉ đến với người có tâm hồn bộc phát;người nghệ sĩ ca dao thực thi đúng tinh thần ấy, đó là ca dao khua động bản thể của con người,gợi lên sức sống để đi vào cuộc đời và hoà ḿnh với hiện tượng rồi từ hiện tượng ấy hoà ḿnh với sự vật để đột biến thành h́nh ảnh cho ca dao,lúc đó sự hiện diện của ca dao sáng tỏ không c̣n ǵ gọi là ẩn tàng hay ẩn dụ nó biến thành thi ảnh mang nội dung ư nghĩa biến động của bản thể con người.Do đó ca dao trở nên hiện hữu như ta đă thấy trong ca dao.

Cho nên những nhà nghệ sĩ nông thôn,không phải là nhà nghệ sĩ của văn chương bác học mà họ từ những người thợ cày,thợ gặt,trẻ chăn trâu đều có con mắt nh́n vào thực tế, họ nh́n thấu suốt giữa người và vật,ca dao nông thôn đầy cảm hứng thi vị.Nghệ sĩ ca dao b́nh dân thể hiện được ư thức đó nghĩa là muốn xây dựng một h́nh ảnh phải phóng bản thể của ḿnh vào hiện tượng cho bản thể sống trong hiện tượng và trở thành hiện tượng của bản thể và cho sự vật là ta như ta trong sự vật.V́ đó; là khi bản thể giao tiếp với cuộc đời.

Tóm lại ca dao đă du nhập những gịng thơ của văn chương b́nh dân,biến h́nh từ câu ḥ điệu hát,trao đổi,ḥ đối đáp,cắt xén,rút gọn,dể dàng truyền khẩu từ đó được gọi là ca dao,nó thường mô tả t́nh người dưới muôn h́nh vạn trạng, từ nội giới tới ngoại giới. Đấy cũng là một phần bản thể dân tộc,một văn hoá văn minh truyền thống. Điều đặc biệt của ca dao ,ngôn từ không ước lệ,ca dao nói những ǵ thực hữu giữa cuộc đời,nương theo chiều sáng tạo của thi ca qua bao thế kỷ và chế ngự cả thơ Việt lẫn thơ Đường bằng những câu rất đơn sơ mà đầy ư nghĩa và đi sâu vào mọi tầng lớp trong xă hội một cách dể dàng và nhanh chóng.Một ngôn từ thiết tha,một đường giây giữa nội tâm và ngoại giới. Đó là nhân tố trong văn chương b́nh dân Việt Nam.Một thứ triết lư của văn chương b́nh dân cần phải tô điểm và nghiên cứu chiều sâu của nó ./.



VƠ CÔNG LIÊM (lễ tạ ơn không chín)

hoangthymaithao
03-04-2010, 08:40 AM
Tôi nhớ không chắc ăn lắm, h́nh như Francoise Sagan, nữ văn sĩ Pháp thuộc trường phái Hiên sinh, một thời nổi tiếng trên văn đàn thế giới và trong ngành điện ảnh v́ có nhiều tác phẩm đă được viết lại thành phim như: Buồn ơi chào mi (Bonjour tristesse), Một nụ cười (Un certain sourire), Một chút mặt trời trong ly nước lạnh (Un peu de soleil dans un vere d’eau) vv…, bà ta đă viết đâu đó trong tác phẩm “Le lit défait” mà tôi tạm dịch là “Gối chăn xô lệch” đại khái rằng tất cả các cuộc t́nh đều đi đến cái giường. Như thật! Không kết thúc bằng cái gường th́ bằng cái ǵ đây hỡi trời!

Vâng, cái gường là cái đích của các cuộc t́nh, dù là t́nh yêu lư tưởng hay t́nh yêu lăng nhăng, lít nhít, mèo mă gà đồng. Nói như ông già Hồ ó đâm là: “ Sông có thể cạn, núi có thể ṃn, nhưng chân lư này không thể nào thay đổi”, tôi không nhớ ông ta nói câu này lúc nào và nói về cái “đếch” ǵ, v́ cái chó ǵ ông nói ra th́ lũ con cháu của ông ta cũng cho là chân lư chẳng hạn như ông ta đă từng ngôn một cách nịnh bợ rằng Tàu với Ta như môi với răng, nếu môi sứt v́ bị bệnh Giang mai th́ răng sẽ lạnh. Nhưng bằng chứng hiển nhiên là từ xưa đến nay Nị Tàu luôn chơi xấu Ngộ Ta. Môi không bao giờ chịu che chở, bảo bọc cho răng. Thiệt là chân lư!
Hảy trở lại với những con trừu của anh chàng Panurge, trở lại cái giường của chúng ta, cái tiện nghi không thể thiếu trong cuộc sống lứa đôi, trong các cuộc t́nh, tự cổ chí kim. Ủa, mà không biết Thần nữ Vu Sơn làm t́nh ở đâu nhỉ? Thời đó làm ǵ có giường Hồng Kông! Chắc là nằm trên đệm cỏ trong khách sạn ngàn sao hay trên bồ đoàn như cuốn dâm thư của Tàu nhan đề “Nhục Bồ Đoàn”.
Ngay từ thuở chưa lấy được nhau, chàng trai đến làm rể hờ tại nhà nàng, lo công việc nhà cho gia đ́nh vợ tương lai, tức là “same same” như bây giờ là trong giai đoạn thử thách “On probation” đấy mà! Chàng nằm pḥng ngoài, trên xô pha pḥng khách nhà nàng, đêm năm canh “giọt vắn giọt dài” nằm mơ tưởng đến nàng trong pḥng the gối chiếc, trên chiếc giường tre kẽo kẹt, không biết chàng có “bức xúc” mà vẽ bản đồ Úc Châu trên quần xà lơn hay không, nhưng ca dao ta th́ có nhắc đến t́nh cảnh này rơ ràng, dù là văn chương truyền khẩu:

Đêm qua anh nằm nhà ngoài
Thấy em thở vắn than dài nhà trong
Ước ǵ anh được vô pḥng
Loan ôm lấy Phượng, Phượng bồng lấy Loan.

Thời bấy giờ tuy trường phái Lăng mạn trong văn chương chưa ra đời nhưng người dân quê Việt Nam ta vốn dĩ là ṇi t́nh nên đă lăng mạn vô cùng, t́nh tứ ra phết:

Ước ǵ anh hóa ra hoa
Để em nâng lấy rồi mà cài khăn
Ước ǵ anh hóa ra chăn
Để cho em đắp, em lăn, em nằm
Ước ǵ anh hóa ra gương
Để cho em cứ ngày thường em soi
Ước ǵ anh hóa ra cơi
Để cho em đựng cau tươi, trầu vàng.

Trong những niềm mơ ước của chàng trai si t́nh, ta thấy đủ tất cả những tiện nghi, những vật dụng mà người con gái cần phải có, một “điều kiện ắt có và đủ” (như trong Tóan học) cho cuộc sống lứa đôi. Này nhé, hoa cho em cài vào khăn, gương cho em soi mặt để em “make up”, cơi cho em đựng cau tươi trầu vàng cho em má hồng, môi đỏ:

V́ chưng ăn miếng trầu anh
Cho nên má đỏ, tóc xanh đến giờ

Và niềm ao ước lớn nhất vẫn không bao giờ thay đổi, vẫn măi măi là một nỗi ám ảnh khôn nguôi, vẫn như tự thuở nào, liên quan đến chiếc giường: “Ước ǵ anh hóa ra chăn, để cho em đắp, em lăn, em nằm”. Chăn không để trên giường th́ để ở nơi mô, chẳng lẽ để trên nền gạch bông. (Không êm chút nào!)
Không những tự ước cho chính ḿnh, anh chàng dân quê lại ước giùm cho người t́nh:

Ước ǵ em hóa ra dơi
Bay đi bay lại trên nơi anh nằm.

Nơi anh nằm th́ cũng là cái giường chứ c̣n là cái chi nữa! Francoise Sagan phán như thật, cuộc t́nh nào rồi cũng nhắm đích đến là cái giường, cùng ăn, cùng ở, cùng nằm và dĩ nhiên là nằm chung giường mới đích thực là t́nh yêu chứ. Ca dao ta cũng đồng ư với Sagan hay Sagan sinh sau đẻ muộn nên đồng ư với ca dao Việt Nam ta:

Đôi ta như thể con tằm
Cùng ăn một lá, cùng nằm một nong
Đôi ta như thể con ong
Con quấn con quưt, con trong con ngoài.

Tả chân mà đạt đến mức này của ca dao Viêt Nam ta th́ không có văn chương nào trên thế giới có thể sánh bằng! Vừa thanh cao, vừa trần tục, nghe mà hồn cứ như lâng lâng bay bổng t́m về Vu Sơn. Chung gường là điều kiện tối cần thiết trong t́nh yêu đôi lứa. Nhưng ca dao Việt Nam ta mô tả sự kiện chung giường thanh cao lắm, lăng mạn và t́nh tứ vô cùng. Chung giường không hẳn thuần túy là hành động được các tác giả của triết thuyết Hiện sinh cổ súy trong các tác phẩm của họ.Chung giường trong ca dao Việt Nam c̣n là những ngợi ca âu yếm sắc đẹp của người t́nh, mang ư hướng thoát tục, một chút ghen bong, ghen gió thật dễ thương:

Cổ tay em trắng lại tṛn
Để cho ai gối đă ṃn một bên
Gối chăn, gối chiếu không êm
Gối lụa không mềm bằng gối tay em.

Nữ sĩ Hồ Xuân Hương mô tả cái quạt như một cô gái mười bảy, mười tám:

Mười bảy hay là mười tám đây
Cho ta mê luyến suốt đêm ngày.

Ca dao cũng đưa chiếc quạt vào những câu ḥ, câu hát yêu đương để rồi nói lên những mơ cùng ước cho cuộc t́nh hai đứa, mơ ước được cùng chung đủ mọi thứ trên đời và không quên cái dzụ chung giường, nỗi khao khát đầu đời, giữa đời và cuối đời trong cuộc sống vợ chồng đầu gối tay ấp:

Cái quạt mười tám cái nan
Ở giữa phết giấy hai nan hai đầu
Quạt này anh để che đầu
Đêm đêm đi ngủ, chung nhau quạt này
Ước ǵ chung mẹ chung thầy
Để em giữ lấy quạt này làm thân
Rồi ra chung gối, chung chăn
Chung quần, chung áo, chung khăn đội đầu
Nằm th́ chung cái giường Tàu
Dậy th́ chung cả hộp trầu, ống vôi
Ăn cơm, chung cả một nồi
Gội đầu, chung cả dầu hồi, nước hoa
Chải đầu, chung cái lược ngà
Soi gương, chung cả nhành hoa giắt đầu.

Nhắc đến nữ sĩ Hồ Xuân Hương, bỗng nhớ đến giai thoại “Cô gái hái chè” mà lời thơ mang âm hưởng ca dao được người đời sau gán ghép cho là tác phẩm của nữ thi sĩ này v́ tính cách trào lộng tả chân vốn là “nghề của Nàng”. Trong bài thơ này có hai câu đề cập đến cái giường, một cái giường rất đặc biệt, chiếc giường đất và sự chung giường này là một hôn nhân không hợp pháp, một cưỡng bức hôn nhân, nhưng h́nh như đối tượng bị cưỡng hiếp cũng có tí ti đồng thuận, tham dự không lấy ǵ làm miễn cưỡng lắm vào cuộc vui, có thể v́ bản năng sinh lư không thể tránh được. Hai câu thơ nghe ra không có ǵ là hờn giận, không mang tính chất “h́nh sự”, không nói lên nỗi đau của một kẻ bị cưỡng dâm hay một than thân trách phận:

Rủ nhau lên núi hái chè
Gặp thằng phải gió nó đè em ra

Những câu ví von tràn ngập trong ca dao Việt Nam như là một thuộc tính của văn chương b́nh dân hay văn chương truyền khẩu, phong phú, lăng mạn, đa t́nh, dí dỏm, vừa thế tục, vừa thanh cao, mô tả một cách tuyệt diệu cuộc sống đa dạng của người dân Việt Nam nhất là người dân quê mộc mạc, chơn chất, không lọc lừa, không bon chen, một cuộc sống b́nh dị, đời thường, như bức tranh thủy mạc, núi sông, non nước đượm t́nh quê hương dân tộc, gần gũi với thiên nhiên:

Hôm kia anh đến chơi nhà
Thấy mẹ nằm vơng thấy cha nằm giường
Thấy em nằm đất anh thương
Anh ra kẻ chợ đóng giường tám thang
Bốn góc th́ anh thếp vàng
Bốn chân thếp bạc, tám thang chạm rồng
Bây giờ phải bỏ giường không
Em đi lấy chồng phí bỏ công anh

Hay là dí dỏm và ranh ma hơn:

Thân em như cái sập vàng
Thân anh như manh chiếu rách giữa đàng bỏ quên
Lạy trời cho cả gió lên
Cho manh chiếu rách trải trên sập vàng

Chiếc giường trong ca dao Việt Nam là nỗi ám ảnh khôn cùng của người dân quê chất phác, nhưng đa t́nh. Họ không bỏ qua một giây phút thuận lợi nào để đề cập đến cái giường, biểu tượng của t́nh yêu giữa vợ chồng, để thổ lộ can tràng, nói lên nỗi ḷng mơ ước mây mưa, chăn gối hợp t́nh, hợp pháp bằng một cái đám cưới chứ không phải ân ái trên bộc trong dâu:

Ngồi tựa vườn đào
Thấy người thục nữ ra vào
Ḷng những vấn vương
Gió lạnh đêm trường
Nửa trăng, nửa chiếu, nửa giường
Cô để đó chờ ai
So chữ sắc tài
Yêu nhau chớ để cho người trăng gió hái hoa.

Trong xă hội Á Đông, thời xa xưa, trọng nam khinh nữ, phụ nữ đóng vai tṛ thụ động trong t́nh yêu đôi lứa, một sự nhẫn nhịn, một cam chịu câm nín không dám bày tỏ t́nh thương yêu nhưng chẳng phải v́ thế mà thiếu những nhung nhớ, những mặn nồng, những tha thiết trong cuộc t́nh e ấp như những câu ca dao sau đây mô tả những quan tâm thân thiết của ngựi t́nh nhỏ gửi chàng trai trẻ trăm nhớ ngàn mong:

Hôm qua dệt cửi thoi vàng
Sực nhớ đến chàng, cửi lại dừng thoi
Cửi sầu, cửi nhục chàng ơi
Ngọn đèn sáng tỏ bóng người đàng xa
Ai về tôi gửi thư ra
Gửi dăm câu nhớ, gửi vài câu thương
Gửi cho đến chiếu đến giường
Gửi cho đến tận quê hương chàng nằm
Vắng chàng em vẫn hỏi thăm
Nơi ăn đă vậy nơi nằm làm sao

Nỗi khát khao t́nh ái, những ẩn ức t́nh dục lắm lúc cũng bộc phát như ngọn triều dâng qua những câu than thân, trách phận, nghe năo nuột tâm can như người chinh phụ mong ngày về của chinh phu, như cung nữ ngày một mơi ṃn mong gặp đấng quân vương.T́nh cảm mộc mạc là nội dung của những câu ca dao trong xă hội nông thôn của người b́nh dân sống trong khung cảnh thiên nhiên gần với gió trăng, sông nước, cây cỏ, lá hoa:

Có trầu có vỏ không vôi
Có chăn, có chiếu không người nằm chung
Đàn ông nằm với đàn ông
Như gốc nnhư gác, như chông như chà
Đàn ông nằm với đàn bà
Như lụa, như lĩnh, như hoa trên cành.

Những âu yếm, săn sóc cho nhau, những xót xa hờn duyên tủi phận, những khắc khe trong lề thói của nền nếp gia đ́nh, của xă hội, đều được ghi lại chung quanh chiếc giường. Nỗi đam mê được cùng sống bên nhau, chung gường, chung chiếu, chung chăn, chung gối là niềm mơ ước thầm kín chỉ chờ có dịp để tuôn trào láng lai t́nh cảm mượt mà như cỏ cây đẩm ướt sương khuya, dạt dào như sóng xô ghềnh đá, keo sơn gắn bó như nước vỗ mạn thuyền:

Đêm qua nằm ngủ sập vàng
Trông xuống sập bạc, thấy chàng nằm không
Vội vàng cởi áo đắp chung
Tỉnh ra em vẫn nằm không một ḿnh

Thời kỳ tiền hôn nhân, mơ ước được chung giường, chung chăn, chung chiếu chỉ là những ước mơ thầm kín, tuy đôi lúc cũng khắc khoải, cũng lắm âu lo tưởng chừng như tuyệt vọng nhưng chỉ là những t́nh cảm mông lung chưa trở thành hiện thực. Nhưng đến khi đă thực sự bên nhau, đă bước chân vào cuộc sống lứa đôi th́ những lúc pḥng không chiếc bóng mới là niềm đau xót thắt ruột, nát gan:

Đi đâu bỏ nhện giăng mùng
Bỏ đôi chiếu lạnh, bỏ pḥng quạnh hiu

Một ḿnh ṿ vơ năm canh, nh́n trăng, nghe gió, bên ḿnh vắng ai th́ chẳng có cảnh nào năo ḷng người bằng! Vợ trông chồng không phải biền biệt chân mây như chinh phu đêm nằm gối cát trong lữa khói binh đao mà trông chồng nay đà phụ bạc quên t́nh nghĩa phu thê:

Gió đưa trăng th́ trăng đưa gió
Quạt nọ đưa đèn, đèn có đưa ai
Đợi chàng chẳng thấy chàng đâu
Bóng trăng đủng đỉnh ra màu khói trêu

Những lúc chàng gián đoạn thời gian làm rể hờ, giúp việc “for free” cho gia đ́nh vợ tương lai, hay sau khi lấy nhau rồi, chàng rời tổ ấm gia đ́nh về thăm cha mẹ mà v́ một lư do nào đó thiếp chẳng theo cùng th́ cũng là một thời gian nhung nhớ canh trường trong lúc c̣n mặn nồng hương lữa:

Chàng về thiếp nhớ đăm đăm
Giường trên chiếu dưới ai nằm đêm nay
Chàng về thiếp nhớ lắm thay
Giường trên chiếu dưới đêm nay ai nằm

Nhưng, bây giờ mới là một chữ “Nhưng” to đùng, sau khi đưa được nàng về dinh, rồi cùng nhau chung sống, chưa đến lúc đầu bạc răng long nhưng sức khỏe đă bắt đầu hư hao, không c̣n “Try weekly” mà “Try weakly”, không c̣n cố gắng hàng tuần mà là cố gắng yếu x́u th́ cái sự mơ ước chung giường không c̣n là một đam mê rực lữa nửa mà chỉ là một gượng ép để khỏi mất mặt đấng nam nhi, chàng bèn lựa một ngày nắng đẹp miền Nam, miền Nam Cali, cầm can đảm trên hai tay để đứng khép nép bên bàn trang điểm của nàng, ṿng tay, ấp úng, lí nhí trong mồm, không phải là sợ sệt đâu nhưng mà ngượng ngùng hổ thẹn v́ không làm tṛn bổn phận mày râu. Chàng mới thưa rằng:
“Em, ngày nay, chúng ḿnh hai đứa đă già rồi, không, chỉ có ḿnh anh già thôi v́ đă nghỉ cày về hưu, c̣n em vẫn c̣n trẻ đẹp xuân xanh, vẫn c̣n ngày 8 tiếng đi về sáng chiều. Chúng ḿnh đă không c̣n mần ăn ǵ được nữa, anh th́ đă anh hùng thấm mệt (Chỉ thấm mệt với nàng mà thôi, nhưng chuyện này không nên nói ra để nàng không lưu tâm, đề pḥng, cho chàng tự do phóng ngoại lúc về thăm quê hương hay trên đất nước Cờ Hoa trong những cuộc t́nh vụng trộm muộn màng nhưng cũng không kém phần lăng mạn đắm say) mà em th́ ḷng xuân cũng không c̣n phơi phới như xưa nên anh xin được phép ra riêng, ấy không phải ra khỏi nhà ở riêng mà chỉ là ra khỏi master bed-room, “mu” sang pḥng bên cạnh mà bấy lâu nay ḿnh dùng làm office. Sở dĩ như vậy v́ anh muốn dành cho em sự tự do tuyệt đối, khi mỗi sáng em dậy sớm trang điểm để đi làm, em khỏi phải ké né sợ làm anh mất ngủ. (Thật ra th́ nàng có bao giờ lưu ư đến chàng đang ngủ nướng đâu! Cứ vô tư thả rơi thỏi son vào hộp phụ tùng trang điểm, buông chiếc lược, đặt mạnh lọ nước hoa xuống bàn trang điểm, những tiếng động lọc cọc âm vang lồng lộng lúc sáng tinh mơ làm chàng khó chịu trong ḷng nhưng chẳng dám nói ra v́ chàng mặc cảm tội lỗi, thấy ḿnh sung sướng trong chăn mà vợ phải ra đi tảo tần nuôi chồng ăn chơi.) Anh dạo này thường hay khó ngủ nên đêm khuya trằn trọc, lăn qua, trở lại, sợ làm em mất ngủ (Có hiếu như rứa th́ thôi..!) ngày mai không đủ sức đi làm việc nuôi anh. (Ôi, dễ thương làm sao, nhu ḿ, nhu mĩ *** chịu được!) Anh vẫn yêu tiếng ngáy o o của em như ngày nào:

Đêm nằm em ngáy o o
Chồng thương chồng bảo: “Ngáy cho vui nhà”

Không biết rồi đây khi không c̣n chung giường, anh có nhớ tiếng o o của em mà thâu đêm trằn trọc không đây.Thôi th́ Em cho anh thời gian để thử thách nhé em! Thật ra th́ anh biết thân, biết phận nên xin ḿnh cho ra riêng.”
Ôi thôi, “Nghe ra ngậm đắng nuốt cay thế nào!” Nàng nghe mà dạ xót xa, thương chàng nay đă tuổi già, đau lưng, mỏi gối, nên gật đầu kư giấy phép cho chàng từ nay khỏi chung giường bởi v́ đă xa rồi cái thuở:

Đêm nằm ṿ vơ
Một xó giường không!
Hỏi giường, có bực ḿnh không hỡi giường?

Vai tṛ của chiếc giường trong t́nh cảm lứa đôi đă được ca dao mô tả ngọn ngành, từng ngóc ngách, từng chi tiết, từng hoàn cảnh qua từng giai đoạn, tiền hôn nhân, hậu hôn nhân và cuối đường hôn nhân, tưởng chừng như đă quá đầy đủ để nói lên sự quan trọng “nhất trí cao” của chiếc giường. Thế nhưng ca dao cũng lại cho ta thấy cái giường cũng chẳng là cái chi chi khi ta yêu nhau chân t́nh, yêu da diết, yêu không kể cha già mẹ yếu, yêu không nề hà môn đăng hộ đối, yêu không câu nệ tuổi tác, yêu theo cái kiểu một túp lều tranh hai trái tim vàng, nghĩa là yêu quá đi mất rồi. Th́:

Yêu nhau chẳng lọ chiếu giường
Dẫu rằng tàu lá che sương cũng t́nh

Ai sao tui không biết, chứ yêu cái kiểu màn trời chiếu đất là không có tui!

Hoàng Đức

hoangthymaithao
03-09-2010, 07:04 AM
http://i50.tinypic.com/ic5ouq.jpg
( ảnh LT S/T từ Net )

Nếu phật giáo có tới tám ngàn pháp-môn hướng dẫn kẻ mộ đạo đến Chân, Thiện, Mỹ, thời muốn t́m về nguồn sống dân tộc, những người con yêu nước Việt có thể t́m ra bao lối về, trong đó Ca Dao có thể được coi như là một nẻo về của tâm thức, một trong muôn vạn đường vào dân tộc Việt Nam.

Như nhạc sĩ Phạm Duy đă viết: " Tôi yêu tiếng nước tôi từ khi mới ra đời, à a ơi tiếng ru muôn đời..." và " Tiếng nước tôi, bốn ngh́n năm ṛng ră buồn vui, khóc cười theo mệnh nước nổi trôi..." , ngôn ngữ do đó không những chỉ là một phương tiện để truyền-thông, diễn đạt t́nh ư con người mà c̣n là hơi thở, sinh khí phản ảnh nền văn-hoá của một dân tộc, và gắn liền với vận-mệnh của một quốc-gia. Khi c̣n ấu thơ, chúng ta hầu hết đều được nghe những lời ru đầy t́nh tứ dân tộc trong các giấc ngủ chập chờn, và cho đến bây giờ, lang thang nơi xứ lạ quê người, " Khóc cười theo mệnh nước nổi trôi" thỉnh thoảng vô t́nh bắt gặp trên các tạp chí Việt ngữ những câu Lục Bát quen thuộc như:


" Nhiễu điều phủ lấy giá gương,
Người trong một nước phải thương nhau cùng."

hay


" Một cây làm chẳng nên non,
Ba cây chụm lại nên ḥn núi cao."

Ít ai trong chúng ta để ư rằng đó chính là những câu CA DAO giữa rừng Tục-ngữ, Ca-dao, và Dân-ca bàng bạc trên nên trời văn học b́nh-dân Việt Nam.

Vậy để nhận diện được những lời CA DAO như trên, ở đây chúng ta sẽ thử định nghĩa CA DAO một cách tóm tắt.

CA DAO là những câu hát ngắn, không có chương khúc. Tuỳ theo nội dung, số câu có thể diễn đạt từ hai, bốn, sáu, tám hay dưới h́nh thức song Thất Lục Bát, Lục Bát biến thể. Với âm điệu phong phú, những câu ca dao do đó có thể được ngâm nga hay hát lên mà không cần phải có tiếng đệm, tiếng láy, và thường để diễn tả tính t́nh, phong tục tập-quán của người b́nh-dân. Do đó CA DAO có khi c̣n gọi là PHONG DAO, do tiếng PHONG từ phong-tục. V́ sự phong phú trong nội dung ca dao, ở đây chúng ta sẽ giới hạn bài viết trong phạm vi Ca Dao Tổng Quát, tạm gác sang một bên những bài ca dao với nội dung hài hước, gia đ́nh, và trữ t́nh.

Trước hết, muốn t́m hiểu những cơ duyên giao cảm cho sự chào đời của ca dao, thiết nghĩ không c̣n ǵ hơn là chúng ta ngược về quá khứ, trở về với xă-hội Việt Nam ngàn năm về trước. Có thể nói đơn vị căn bản của quốc-gia Việt Nam ngày xưa là làng quê bao bọc bởi những luỷ tre xanh, vốn được coi như là một lớp tường thành thiên nhiên ngăn chặn ngoại xâm. Giửa lớp tre xanh cổ kính đó, đời sống và tâm t́nh người dân mộc mạc hầu như cô động, tách biệt với những sinh hoạt bên ngoài, ngay cả với những làng xa xóm giềng. Chính khung cảnh xă hội biệt lập này phải chăng đă là một môi trường thuận tiện, làm nảy sinh những điệu ḥ câu hát là một trong vài thú tiêu khiển đơn sơ thường nhật thuở bấy giờ. Khi ta buồn ta không biết tỏ bày cùng ai, thôi th́ ra đứng ngơ sau mà than rằng:


" Đêm qua ra đứng bờ ao,
Trông cá, cá lặn, trông sao, sao mờ.
Buồn trông con nhện giăng tơ.
Nhện ơi! nhện hởi! nhện chờ mối ai?
Buồn trông chênh chếch sao Mai,
Sao ơi! sao hởi! nhớ ai sao mờ?
Đêm đêm tưởng giải Ngân hà,
Bóng sao Tinh-đẩu đă ba năm tṛn,
Đá ṃn, nhưng da chẳng ṃn,
Tào-khê nước chảy vẫn c̣n trơ trơ..."

Chỉ một bài ca dao ngắn ngủi, chúng ta đă có thể tưởng tượng ra một cảnh đồng quê Việt Nam trầm mạc trong một đêm trời lấp lánh đầy sao, và sau mái nhà tranh, ánh trăng chênh chếch soi bóng trên mặt ao mơ hồ bóng cá lội. Để rồi trong ánh trăng thanh, kẻ cô dơn bâng khuâng tự hỏi:


" Trăng bao nhiêu tuổi trăng già?
Núi bao nhiêu tuổi, gọi là núi non?
Trăng bao nhiêu tuổi, trăng tṛn?
Núi bao nhiêu tuổi, núi c̣n trơ trơ?"

Từ nổi buồn bâng quơ, khi đối diện với khung cảnh thanh tịnh, bát ngát của một đêm trăng toàn bích, kẻ cô đơn như chợt bước vào một thế giới vô ưu, đượm màu triết lư:


" Đố ai biết đá mấy ḥn?
Tua-rua mấy chiếc, trăng tṛn mấy đêm?
Đố ai biết lúa mấy cây?
Biết sông mấy khúc, biết mây mấy từng?
Đố ai quét sạch lá rừng?
Để ta khuyên gió, gió đừng rung cây.
Đố ai lặn xuống vực sâu,
Mà đo miệng cá, uốn câu cho vừa?
Đố ai nằm vơng không đưa,
Ru con không hát? Ta chừa nguyệt hoa."

Những người dân quê của xă hội thời xưa không phải lúc nào cũng ưu tư phiền muộn, v́ c̣n có biết bao nhiêu công việc đồng áng trông đợi. Để bù đắp cho nỗi vất vả của kẻ chân lấm tay bùn, hằng năm, cứ vào dịp Tết Nguyên-đán, người dân Việt Nam lại gác cày, vui chơi cho bỏ những lúc làm lụng cực nhọc:


" Tháng Giêng ăn Tết ở nhà,
Tháng Hai cờ bạc, tháng Ba hội hè.
Tháng Tư, đong đậu nấu chè,
Ăn Tết Đoan-ngọ, trở về tháng Năm.
Tháng Sáu buôn nhăn, bán trăm,
Tháng Bảy, ngày rằm, xá tội vong nhân.
Tháng Tám, chơi đèn kéo quân,
Trở về tháng Chín, chung chân buôn hồng.
Tháng Mười, buôn thóc, bán bông,
Tháng Một, tháng Chạp, nên công hoàn toàn..."

Một khi đă trở về đời sống hằng ngày với những lo toan, người dân quê Việt Nam, vốn mang tâm hồn của một thi sĩ lăng mạn, cũng phải phơi bày một phần nào tâm tư và lề thói cư xử thực tế mà xă hội Việt Nam đă ngầm chấp nhận; trong đó h́nh thức ăn vận bề ngoài cốt biểu lộ sự tự trọng nay đă được tô điểm trở thành méo mó:


" Áo dài chớ tưởng là sang,
Bởi không áo ngắn, mới may áo dài."

Cảm thấy nguỵ biện không xong, ta lại bèn than rằng:


" Cha đời cái áo rách này,
Mất chúng, mất bạn v́ mày, áo ơi!"

Từ nỗi ta thán vô ích, ta đâm ra tức tối tạo-hoá đă gây ra cảnh đời đen bạc, để rồi đi đến lư sự cùn, nhạo báng:


" Hơn nhau tấm áo, manh quần,
Thả ra ai cũng ở trần như ai."

Tới đây chúng ta không thể bật cười khi chợt nhớ một câu " ca dao thời đại" tương tự:


" Học cho lắm, tắm cũng ở truồng."

Thế mới biết, tâm tư và tính t́nh người Việt Nam chúng ta trải qua bao thời đại hầu như không hề thay đổi. Thế nên:


" Cơm ăn chẳng hết th́ treo,
Việc làm chẳng hết th́ kêu láng giềng."

Hay tương tự như thế:


" Cà thâm thường bỏ góc chạn,
Đến khi hoạn nạn, lại hỏi cà thâm."

Hoặc thẳng thừng hơn:


" Khi vui th́ vổ tay vào,
Đến khi hoạn nạn th́ nào thấy ai."

Kể ǵ người đời, v́ ngay cả đến trời ta vẫn thường hay bỏ quên.


" Có bệnh th́ vái tứ phương,
Không bệnh, chẳng mất nén hương giấy vàng."

Hỷ, nộ, ái, ố, và ganh ghét, đố kỵ, bội bạc vốn là những dặc tính tất nhiên của mọi xă hội, trong ca dao Việt Nam, những điều này c̣n được diễn tả mĩa mai cay đáng hơn:


" Lúc khó th́ chẳng ai nh́n,
Đến khi đổ Trạng, chín ngh́n anh em."

Thói đời là thế nhưng sao tráng được, bởi chưng:


" Ḷng sông, ḷng biển, dễ ḍ.
Nào ai bẻ thước mà đo ḷng người."

Ca dao như thế, ngoài tính cách phô trương những nét trữ t́nh và phong tục, tập quán của xă hội Việt Nam, c̣n chê bai thói đời đen bạc, tư cách thấp của con người: nhưng đó chính là một kho tàng luân lư vô giá, một bài học hữu ích cho kẻ hậu sinh tập rèn nhân cách.

Đường vào dân tộc qua ca dao như đường thiên lư, dài vô hạn. Càng đi, ta càng khám phá ra nhiều điều thích thú có liên quan đến đời sống, tâm tư, và cung cách xử thế của người dân Việt, lồng trong một khung cảnh đầy màu sắc quê hương. Cứ như lữ khách đi vào ḷng dân tộc, bắt đầu từ ải Nam-Quan đến mũi Cà Mau. Qua mỗi địa danh, lữ khách dừng lại chiêm ngưỡng thắng cảnh cùng các di tích lịch sử, sực nhớ đến công lao dựng nước của tiền nhân.


" Nực cười châu chấu đá xe,
Tưởng rằng chấu ngă, ai dè xe nghiêng."

Hay là:


" Lạy trời cho cả gió Nồm,
Cho thuyền chúa Nguyễn dong buồm ra khơi."

Đường vào dân tộc qua ca dao c̣n dài, chúng ta có thể dừng chân tạm nghỉ để ngày mai lại sẽ lên đường. Viết đến đây, kẻ viết bài bỗng sự nhớ đến một câu ca dao của tiền nhân như báo trước sự đổi đời lịch sử ngày ba mươi, tháng tư năm 75:


" Trời làm một trận lăng nhăng,
Ông hoá ra thằng, thằng hoá ra ông."

Lịch sử phải chăng là một ṿng tṛn khép kín, một sự lập lại. Biết đâu vài chục năm nửa, cháu chắt những người Việt hải ngoại khi muốn t́m về dân tộc Việt Nam qua ca dao bằng... COMPUTER, lúc bấm nút chợt mới ngẩn người v́ thấy những câu " CA DAO" khó hiẻu như sau:


" Mai mốt ông về có thằng túm hỏi.
Mầy qua bên Mỹ học được củ ǵ?
Muốn biết tài nhau đưa ông cây chổi.
Nói mầy hay ông thượng đẳng cu li!"
(thơ Cao Tần)

[b]Phạm Đức Tiến

hoangthymaithao
03-12-2010, 06:37 AM
Bên cạnh mảng ca dao trữ t́nh, ca dao hài hước cũng phản chiếu một khía cạnh khác trong tâm hồn của người b́nh dân ngày xưa, chứa đựng tinh thần lạc quan, sức sống mạnh mẽ và tinh thần phản kháng của nhân dân. Không những thế, tiếng cười trong ca dao cũng chính là những uất ức bất b́nh , những thái độ ứng xử , điều chỉnh hành vi , hướng tới một cuộc sống tốt đẹp công bằng hơn.

Ca dao hài hước chứa đựng cái nh́n, thái độ, t́nh cảm của người b́nh dân trước các hiện tượng đời sống, mối quan hệ t́nh cảm giữa người với người. Không những thế tiếng cười c̣n là vũ khí tinh thần giúp họ vượt lên bao khó khăn của đời sống. Tiếng cười trong ca dao phong phú nhiều cung bậc, có khi là tiếng cười trào lộng dí dỏm, có khi là tiếng cười chua chát trước sự thật đáng cười đáng chán, cũng có khi là tiếng cười phản kháng trước thực trạng xă hội c̣n nhiều bất công ngang trái.

Từ thực tại c̣n nhiều vất vả cay cực, người b́nh dân đến với nhau trong tiếng đùa vui, mượn tiếng cười ngỏ bày tâm t́nh một cách ư vị:

Cưới nàng anh toan dẫn voi
Anh sợ quốc cấm nên voi không bàn…

Chàng trai ngỏ ḷng với cô gái bằng lối nói khoa trương để cho thấy ngay rằng anh đang đùa. Nhưng liệu có phải hoàn toàn là một lời nói đùa không? Có thể h́nh dung ra hoàn cảnh của đôi nam nữ yêu nhau qua bài ca dao : họ sống nghèo khổ nhưng vô cùng lạc quan. Lời đối đáp có chút tinh nghịch nhưng cũng thoáng chút ngậm ngùi cho phận nghèo. Ngôn ngữ phóng đại khoa trương khỏa lấp đi một sự thật mà người đời quen gọi là “nói khoác” thực ra đă mang một ư vị chua chát đả phá vào những hủ tục ngăn cách con người t́m đến với nhau. Chàng trai đă có những lễ vật dẫn cưới thật sang trọng: dẫn voi, dẫn trâu, dẫn ḅ… nhưng cuối cùng lại là con chuột béo thật ấn tượng. Lí giải thật hợp t́nh hợp lẽ : con voi to đùng kia là hàng quốc cấm – phép nước luật vua không cho phép, dẫn trâu dẫn ḅ th́ lo họ hàng nhà gái máu hàn, rút gân – chứng tỏ chàng trai là người “chu đáo” với đàng gái biết bao! Sợ cho nhà gái hay là một lời đay nghiến, mỉa mai những người đă nghĩ ra chuyện thách cưới ác nghiệt khiến cho đôi lứa phải chịu cảnh dở khóc dở cười. Con chuột béo là một thái độ đáp lại bằng cách giễu cợt cay chua. Nhưng lời đáp lại của cô gái dù đùa vui mà lại ẩn chứa một nỗi ḷng đáng quí :

Chàng dẫn thế em lấy làm sang
Nỡ nào em lại phá ngang như là…
Người ta thách lợn thách gà
Nhà em thách cưới một nhà khoai lang…

Ngầm chứa trong lời đáp là sự động viên chàng trai vững tâm để đi đến hạnh phúc. Vẫn là thách cưới nhưng chàng trai hoàn toàn có thể đáp ứng được bằng chính sức lao động của ḿnh. Cái tinh tế trong lời cô gái vừa là phản ứng trước việc thách cưới phá ngang , vừa là mong mỏi chàng trai là người cần cù siêng năng xứng đáng với tấm t́nh của cô. Không những thế, cô c̣n đem tới lời nhắn nhủ về sự cần kiệm: củ to mời làng, củ nhỏ mời họ, và không bỏ sót củ mẻ, củ rím, củ hà. Lời đáp khéo léo ấy đem lại niềm hy vọng và lạc quan về hạnh phúc.
Ca dao hài hước c̣n mang theo những suy ngẫm về thực trạng xă hội phong kiến vốn dành ưu ái đặc quyền cho nam giới. Vẫn là mô típ làm trai cho đáng nên trai nhưng không phải là lời ca ngợi vào khả năng “vá trời lấp bể” mà chỉ là :

Làm trai cho đáng sức trai
Khom lưng chống gối, gánh hai hạt vừng

Từ bản chất của những người yêu lao động, người b́nh dân phê phán và chế giễu những kẻ lười biếng mà huênh hoang. Ư nghĩahài hước toát ra từ h́nh ảnh đối nghịch : sức dài vai rộng mà lại khom lưng chống gối chỉ để gánh hai hạt vừng. Động tác kia chẳng khác nào mô phỏng h́nh ảnh các vị chức sắc quan lại chỉ giỏi khom lưng luồn cúi, chống gối qú lụy để tiến thân. Người b́nh dân chế giễu những kẻ vô tích sự ấy, mang tiếng là gánh vác sơn hà nhưng thực tế chẳng khác nào những bọn vô công rỗi nghề ăn bám người khác. Thật bất hạnh cho những ai vớ phải một ông chồng như thế! Ca dao cũng sẵn những lời ta thán của những người phụ nữ :

Chồng người đi ngược về xuôi
Chồng em ngồi bếp sờ đuôi con mèo

Trong quan hệ gia đ́nh, có lẽ phải gặp hoàn cảnh bất đắc dĩ th́ người vợ mới có chuyện so sánh chồng ḿnh với chồng người. H́nh ảnh anh chồng thật thảm hại trong tương quan đi ngược về xuôi với sờ đuôi con mèo. Bất cứ người phụ nữ nào cũng mong muốn chồng ḿnh giỏi giang cáng đáng việc quốc gia đại sự hay chí ít cũng là trụ cột gia đ́nh. C̣n anh chồng trong bài ca dao này cứ quẩn quanh xó bếp, nhu nhược hèn kém. Nhưng lời than thở giận hờn ấy không thay đổi được số phận. Than thở thế thôi, dẫu ǵ cũng vẫn là chồng em , vẫn là nghĩa t́nh duyên nợ với nhau. Đàng sau lời ca dao ấy là nỗi ḷng trĩu nặng, phản chiếu một mong mỏi chồng ḿnh cũng được bằng anh bằng em, để người vợ có thể mở mày mở mặt.

Trong ca dao không chỉ có tiếng cười chế giễu mà c̣n bao tiếng cười đầm ấm t́nh thương yêu gắn bó với nhau. Người b́nh dân biết cười đời và cũng biết cách cường điệu phóng đại những tật xấu của ḿnh để tự cười ḿnh. Không phải là tiếng cười thiên lệch dành cho nam giới mà cả giới nữ cũng có nhiều cái đáng cười. Điểm đặc biệt là tất cả những sự lệch chuẩn ấy đă thành cái đáng yêu trong một gia đ́nh hạnh phúc:

Lỗ mũi em mười tám gánh lông
Chồng yêu chồng bảo râu rồng trời cho
Đêm nằm th́ ngáy o o…
Chồng yêu chồng bảo ngáy cho vui nhà
Đi chợ th́ hay ăn quà
Chồng yêu chồng bảo về nhà đỡ cơm
Trên đầu những rác cùng rơm
Chồng yêu chồng bảo hoa thơm rắc đầu!

Chắc không người phụ nữ nào lại tự lôi ra tất cả những “thói hư tật xấu” của ḿnh đầy đủ đến thế với một cách nói phóng đại tô đậm những cái ngược hoàn toàn với chuẩn mực “Công – Dung – Ngôn – Hạnh” phong kiến. Không hề g̣ ḿnh ép khuôn vào một cách sống giả tạo g̣ bó, điều mong muốn của người b́nh dân là có một gia đ́nh hạnh phúc, một sự thông cảm chia sẻ trong đời sống vợ chồng. Điệp khúc chồng yêu chồng bảo… không hề che giấu niềm tự hào có một người chồng tuyệt vời. Có lẽ các triết lí của các học giả đáng kính cũng rút tỉa ra từ thực tại cuộc sống phong phú đáng yêu này mà thôi: “Vẻ đẹp không nằm ở đôi má hồng thiếu nữ mà ở trong đôi mắt của kẻ t́nh si” (Kant). Người chồng yêu vợ như thế quả là hiếm có trong một xă hội vốn khắt khe với những chuẩn mực nặng nề, những qui tắc cứng nhắc . Không những thế, đó chính là sự điều chỉnh hành vi của người b́nh dân bởi lẽ không người phụ nữ nào lại muốn giữ những nét xấu trong mắt chồng. Cười vui là thế nhưng cũng có ư nghĩa cảnh tỉnh nhẹ nhàng cho việc giữ ǵn hạnh phúc. Bởi lẽ chồng yêu th́ hạnh phúc nhưng chồng ghét th́ là tai họa, là tan vỡ.

Tiếng cười dân gian trong ca dao quả thật đă chứa đựng nghệ thuật sống của người b́nh dân ngày xưa. Tiếng cười ấy phản chiếu tinh thần của những người lao động luôn biết vượt lên hoàn cảnh, những bất công ngang trái, những khó khăn thực tại để lạc quan yêu đời. Tiếng cười ấy là sức sống tâm hồn khoẻ khoắn của những con người luôn ư thức giá trị bản thân, luôn mong muốn cuộc sống tốt đẹp công bằng.

Được đăng bởi Trần Hà Nam

hoangthymaithao
03-15-2010, 08:39 AM
Ca dao là khúc hát tâm t́nh của người dân quê Việt Nam được lưu truyền qua bao năm tháng. Nó rực rỡ, thơm ngát như bông sen trong đầm, gần gũi, quen thuộc như lũy tre bao bọc xóm làng, như cánh c̣ bay lả trên ruộng đồng.



http://i40.tinypic.com/15a6ox.jpg
(H́nh minh họa)

Trong thế giới đó, lắng sâu hơn cả vẫn là h́nh ảnh của những người phụ nữ xưa - đau khổ, cay đắng đến cùng cực nhưng vẫn đẹp đẽ, cao quư đến vô ngần.

Với những quan niệm phong kiến hà khắc, “xuất giá ṭng phu, phu tử ṭng tử”, quan niệm trọng nam khinh nữ đă dành mọi ưu tiên cho người đàn ông và đẩy người phụ nữ xuống địa vị thấp kém nhất trong gia đ́nh, trong xă hội. Nỗi niềm ấy được họ gửi gắm vào ca dao than thân:


- Thân em như tấm lụa đào
Phất phơ giữa chợ biết vào tay ai.

- Thân em như hạt mưa sa
Hạt vào đài các, hạt ra ruộng cày.

- Thân em như chổi đầu hè
Pḥng khi mưa gió đi về chùi chân
Chùi rồi lại vứt ra sân
Gọi người hàng xóm có chân th́ chùi.

Dường như sự bất hạnh của người phụ nữ trong xă hội xưa là một hằng số chung cho tất cả các vùng miền. Người phụ nữ dân tộc Thái cũng từng đau đớn thốt lên: Thân em chỉ bằng thân con bọ ngựa, con chăo chuộc thôi.

Quăng thời gian họ sống trên đời được đong đếm bằng những nỗi đau khổ mà họ phải gánh chịu. Khi c̣n nhỏ, sống trong gia đ́nh, người thiếu nữ đă phải chịu sự bất công của quan niệm “trọng nam khinh nữ”:


- Cô kia cắt cỏ đồng màu
Chăn trâu cho béo làm giàu cho cha
Giàu th́ chia bẩy chia ba
Phận cô là gái được là bao nhiêu.

- Em như quả bí trên cây
Dang tay mẹ bứt những ngày c̣n non.

Khi đi lấy chồng, họ c̣n chịu thêm trăm điều cay cực. Quan niệm “xuất giá ṭng phu”, “lấy chồng làm ma nhà chồng” đă khiến bao người phụ nữ xa quê phải ngậm ngùi nuốt đắng cay, thấm thía nỗi buồn, nhớ khi nghĩ về quê mẹ:


- Chiều chiều ra đứng bờ sông
Muốn về với mẹ mà không có đ̣.

- Chiều chiều ra đứng ngơ sau
trông về quê mẹ ruột đau chín chiều.

- Chiều chiều xách giỏ hái rau
Ngó lên mả mẹ ruột đau như dần.

Xă hội phong kiến cho phép “trai quân tử năm thê bảy thiếp, gái chính chuyên chỉ có một chồng” đă gây ra bao cảnh đau ḷng. Dân gian hướng về những người vợ lẽ chịu nhiều thua thiệt hơn cả để cảm thông, lắng nghe họ giăi bày xót xa, cay đắng:


- Lấy chồng làm lẽ khổ thay
Đi cấy đi cày chị chẳng kể công
Tối tối chị giữ mất chồng
Chị cho manh chiếu, nằm không chuồng ḅ
Mong chồng chồng chẳng xuống cho
Đến khi chồng xuống, gà o o gáy dồn
Chém cha con gà kia, sao mày vội gáy dồn
Để tao mất vía kinh hồn về nỗi chồng con.

- Thân em làm lẽ chẳng nề
Có như chính thất, ngồi lê giữa đường.

Quên đi những nhọc nhằn của cuộc sống lao động, người phụ nữ b́nh dân cũng có những phút giây sống cho cảm xúc riêng tư, cũng trải qua các cung bậc nhớ nhung của một trái tim mới yêu:


- Gió sao gió mát sau lưng
Dạ sao dạ nhớ người dưng thế này.

- Nhớ ai bổi hổi bồi hồi
Như đứng đống lửa như ngồi đống than.

Có cô gái th́ hồn nhiên, tinh nghịch. Họ không quá câu nệ như các cô gái khuê pḥng:


Ước ǵ sông rộng một gang
Bắc cầu dải yếm cho chàng sang chơi.

Cũng có khi thật tế nhị, ư tứ, nết na:


Sáng ngày tôi đi hái dâu
Gặp hai anh ấy ngồi câu thạch bàn
Hai anh đứng dậy hỏi han
Hỏi rằng cô ấy vội vàng đi đâu
Thưa rằng tôi đi hái dâu
Hai anh mở túi đưa trầu mời ăn
Thưa rằng bác mẹ tôi răn
Làm thân con gái chớ ăn trầu người

Họ biết đề cao t́nh yêu thương, ḷng chung thuỷ:


- Trăng tṛn chỉ một đêm rằm
T́nh duyên chỉ hẹn một lần mà thôi.

- Muối ba năm muối đang c̣n mặn
Gừng chín tháng gừng hăy c̣n cay
Đạo cương thường chớ đổi đừng thay
Dẫu có làm nên danh vọng hay rủi có ăn mày ta cũng theo nhau

Người phụ nữ đảm đang, vị tha, chung thuỷ đă thể hiện cảm nghĩ của một cách giản dị mà vẫn có sức cuốn hút lạ thường. Cả khi khó khăn họ vẫn nhẫn nại:


- Chồng em áo rách em thương
Chồng người áo gấm, sông hương mặc người.

- Râu tôm nấu với ruột bầu
Chồng chan vợ húp gật đầu khen ngon.

Chỉ những lời ca ngắn ngủi mà chất chứa trong đó bao ư t́nh sâu xa. Đó là lời nhắn nhủ của những người phụ nữ trọn nghĩa vẹn t́nh. Dù trong bất cứ hoàn cảnh nào, họ vẫn đồng cam cộng khổ cùng chồng, xây dựng một gia đ́nh đầm ấm yên vui.

Ở thời nào vẻ đẹp của người phụ nữ cũng như một hằng số bất biến, ẩn chứa sự nhẫn nại, cam chịu, sự thủy chung son sắt. Dù bị vùi trong khổ đau, bất hạnh th́ vẻ đẹp của người phụ nữ vẫn tỏa sáng lấp lánh.

(Theo Hoilhpn)

Kiến Hôi
03-25-2010, 11:05 AM
Được quen chị Thy, được nghe ca dao mệt nghỉ :thanks:

hoangthymaithao
03-30-2010, 02:28 AM
Ca Dao Tục Ngữ Và Đồng Dao


Qua bài khảo luận của Trần Xuân Toàn đă nhấn mạnh nhiều đến đồng dao với nhiều chi tiết rất là lư thú.

Nhưng để t́m hiểu thêm tương quan giữa Ca Dao và Đồng Dao, xin trích phần giải thích toàn bộ văn chương b́nh dân của 2 tác giả: Nhà nghiên cứu Lê Gia và cụ Trần Ngọc Ngải và một trích đoạn của bài Ca Dao Nhi Đồng Giáo Sư Doăn Quốc Sỹ

Theo Ông Lê Gia trong bộ sưu tập "Tâm Hồn Mẹ Việt Nam" (NXB Văn Nghệ, 1994) đưa ra những nhận định khá khác biệt với những Sưu tầm ca dao trước đây. (Trang 13 - 30 Quyển Một)

a. Tục Ngữ: Câu nói dựa theo phong tục ăn sâu vào tư tưởng mọi người, được mọi người chấp nhập và truyền tụng. (trang 13)

Có người hiểu theo nghĩa thứ 2 (Tầm thường thấp kém, tục tằn (t.13) mà cho rằng Tục ngữ là câu nói thô tục, quê mùa không văn vẻ (Bất thành văn) thuộc đám b́nh dận. (t. 14)

a1. Thành ngữ: là một phần câu, do một số tiếng góp nên, nhưng lại là phần quan trọng. (t. 18)

Thí dụ: Trong câu tục ngữ
Nói phải như găi chỗ ngứa (Tục Ngữ)

Cũng như trong câu phong giao:
Một ngày hai bữa cơm đèn
C̣n ǵ má phấn răng đen hỡi chàng

Th́ "Găi chỗ ngứa" và "Má phấn răng đen" là hai thành ngữ.
Nhưng găi trúng chỗ ngứa lại là một câu tục ngữ v́ nó có ngụ ư (nghĩa bóng) và thay cho một câu trọn nghĩa: Làm đúng việc, làm có lơi...
a2. Ngạn Ngữ: Câu nói có từ lâu đời, được lưu truyền trong một nước, một vùng. Có nhiều người dùng "Ngạn ngữ" thay cho "Tục ngữ" (t.22)
a3. Sấm Ngữ: Nghiệm đúng sự việc sẽ xảy ra ... như "Mặt rỗ, tổ ghen"
"Chớp Đông hay nháy, gà gáy th́ mưa" (Sấm Trạng)(t.22)
a4. Mê Ngữ (Câu đố): Mơ hồ, không rơ... Mê ngữ là các câu đố, có ẩn nghĩa như: Đầu bằng con ruồi đuôi bằng cái đĩa (t.23)
a5. Phương ngôn: 1. Tiếng nói hoặc một câu văn hay của một vùng nào đó như: "Trai Cầu Vồng yên Thế, gái Nội Duệ Cầu Lim" 2. Câu nói hay, chỉ phương hướng cho ta theo là phương pháp cho ta dùng, như: Bầu ơi thương lấy bí cùng , Tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn. (t.23)
a6. Cách Ngôn: Lề lối, phép tắc (t.24)
a7. Châm Ngôn: Có nghĩa là răn đời, lời nói dùng làm kim chỉ đường cho cuộc sống (t.24)
a8. Ngụ ngôn: Lời nói có ư nghĩa bên trong (t.24)
a9. Túy ngôn: Theo Hán tự Túy là: Của cải, gia sản, tức cái hay cái quư cái đẹp. (t.25)
Phân tách cho kỹ, ta thấy: Phương ngôn, cách ngôn, châm ngôn, túy ngôn... là lọai tục ngữ nói về cách cư xử, c̣n sấm ngữ, mê ngữ nói về việc làm ăn chơi bời. Tất cả đều gọi chung là Tục Ngữ(t.25)
b. Phong Dao: - Hát ngắn, bài hát câu hát không thành chương khúc, ít giọng điệu, chỉ dùng thanh nhạc, không có nhạc khi phụ họa, dùng hát hát ngâm chơi tùy hứng, không tŕnh diễn với sân trường và bối cạnh
- Lời đồn đại, lời nói vô bằng cớ, không biết xuất xứ (Dao ngôn, Dao tục)
Vậy phong dao có nghĩa là những câu , những bài hát ngắn chưa thành chương khúc, ít giọng điệu, dựa theo phong tục tập quán và được truyền tụng lâu đời, không rơ tác giả và xuất xứ, đôi khi có tính cách đồ đại một sự việc ǵ. (t.26)
b1. Đồng dao: Những câu hát ngắn, không rơ xuất xứ, của trẻ con hát chơi hay đồn đại một sự việc ǵ như:
"Ông tiển ông tiên
Ông có đồn tiền ...." (t.27)
b2. Lư ca hay Lư ngữ: ...là câu hát nơi đồng quê, được hát một cách thản nhiên, một cách nhàn nhă như:
"Trời mưa lâm râm
Cây trâm có trái... (t.28)
Vè của ta vừa là Thi vừa là Dao....(t.29)
c. Dân Ca: Hát lên, tiếng hát, bài hát có giọng điệu, tiết tấu, chương khúc (có bài bản) (t.29)
d. Ca Dao: Như trên ta đă thấy, hai chữ "Ca" và "Dao" có hai nghĩa khác nhau cũng như hai chữ "Thi" và "Phú" vậy.
Sách "cổ dao ngạn" (Phong dao, ngạn ngữ) xưa có viết: Ca va Dao khác nhau ở chỗ là Dao có thể dùng làm lời Của Ca.
Sách Mao Truyện (Truyện hay chọn lọc) nói: "Khúc hợp nhạc viết Ca, đồ ca viết Dao" có nghĩa là khúc hát có đệm nhạc là Ca, hát trơn là Dao.
Vậy một bài hát không thể vừa Ca vừa Dao nên cũng không thể có bài hát nào được gọi là bài Ca Dao cả (t.30)

Để rộng tầm nh́n chúng xin đưa thêm trích đoạn giải thích của Cụ Trần Ngọc Ngải (Chicago, USA)

Theo định nghĩa trong Tập "Tục Ngữ, Thành Ngữ Ca Dao và Dân Ca Việt Nam" của cụ Trần Ngọc Ngải, Chicago, Illinois, USA 1997:
Ca Dao (petit chanson populaire) = Câu hát ngắn thành khúc điệu được phổ thông trong dân gian
Cách Ngôn (Précepte, Maxime) = Lời nói làm khuôn phép (cách kiểu mẫu, khuôn mẫu)
Châm Ngôn ((Précepte, conseil) Lời văn có vần điệu để khuyên đời
Dân Ca (Chanson populaire) Bài ca có tính cách dân tộc, dễ hiểu và hợp với tâm t́nh đơn giản của nhân dân
Ngạn Ngữ (Proverbe, dicton populaire) Câu nói ngắn gọn của dân gian với mục đích răn dạy
Phong Dao (Chanson populaire) = Lời ca câu hát của dân gian tại các địa phương mà có thể hiểu được phong tục tập quán của một dân tộc trong lịch sử
Phương Ngôn (Proverbe) = Lời nói thông dụng của từng địa phương có ư nghĩa như câu tục ngữ
Tục Ngữ (Proverbe) = Câu nói có tính cách răn dạy hay châm biếm chuyện đời
Thành Ngữ = Là những câu nói ngắn gọn dân gian thường dùng trong khi nói hay viết cho có vẻ mầu mè. (Trang 3)

Mời đọc thêm: http://e-cadao.com/tieuluan/cadaodongdao/cadaomiennam-lvd.htm

Trong Ca Dao Nhi Đồng Giáo Sư Doăn Quốc Sỹ cho ta thấy những điểm tác động tâm lư và tinh thần trẻ con qua Ca Dao và Đồng Dao:

I. TÁC DỤNG CỦA CA DAO NHI ĐỒNG
Bàn về tác dụng của ca dao nhi đồng, nữ giáo sinh Lư Đức Mỹ lớp Đệ Nhất - 5, niên khoá 1968-69, trường Sư Phạm Sài G̣n có ghi :
“ Khi đọc những ca dao nhi đồng, bao giờ chúng ta cũng cảm thấy ḿnh như trẻ lại, và những ảnh tượng xa xưa của thời thơ ấu tự nhiên xuất hiện, nó dàn cảnh trước mắt ta, gây cho ta một cảm giác lâng lâng yêu đời, và để lại trong ḷng ta một nuối tiếc về thời vàng son của tuổi trẻ mà chẳng bao giờ ta c̣n trở lại được nữa.

Tuy thời gian mang đi mất tuổi thơ ngây hồn nhiên, nhưng cũng chính thời gian làm cho sự hiểu biết trưởng thành và nhờ đó ta hiểu được và t́m về tuổi thơ với tất cả chân t́nh tŕu mến. Và nhất là vào những lúc nhàn hạ, bỗng dưng tự đáy ḷng ta dường như thoát ra tiếng hát trong trẻo ngây thơ đáng yêu vô cùng. Tiếng hát ấy mang hồn ta ra khỏi cái thực tại đầy ưu tư mệt nhọc đang bám sát người ta. Thế là ta ḥa ḿnh với trẻ và cùng nô đùa với chúng. Trong giây phút tươi trẻ lại này, ta không c̣n là chính ta nữa, mà là một đứa bé như muôn ngàn đứa bé đang cười rỡn trên khắp vùng quê hương; ta cũng bày tṛ, cũng hành động như chúng thôi; và chính ta cũng không hiểu tại sao ta lại có thể làm được như thế khi mà thực tế dằng dặc ưu tư luôn luôn níu kéo ta lại với nó.

Xét cho kỹ, ta được tận hưởng những giây phút có thể nói là thần tiên ấy là do trí khôn ngoan của ta đă biết tích trữ những tinh hoa : tinh hoa đó chính là những bài hát thơ ngây sống măi muôn đời, v́ chỉ những ǵ người ta thích, cái đó mới gây được hạnh phúc mà thôi”.

Nữ giáo sinh Nguyễn thị Văng lớp đệ nhị-I cũng ghi như sau:
“Tự ngàn xưa trên mảnh đất hiền hoà này, những bà mẹ, những người chị thường vẫn cất cao giọng ngọt ngào ru ngủ con thơ, em thơ bằng những câu hát êm đềm có ngụ ư về luân lư, phong tục trẻ trung, hồn nhiên, đôi khi có tính cách trữ t́nh lăng mạn. Những bài hát câu ḥ đó thấm vào giấc ngủ của trẻ Việt như mưa xuân tưới thấm đất mầu và kho tàng thi ca của ta như hoa lá mùa xuân kia phồn thịnh biết chừng nào. Há chẳng đă có người cho rằng mỗi người Việt là một thi nhân và t́nh yêu gia đ́nh, tổ quốc, dân tộc và nhất là t́nh mẫu tử thiêng liêng thể hiện trong văn chương Việt Nam thật đă dạt dào và sâu đậm hơn bất cứ dân tộc nào trên thế giới.

Khi lớn lên ai mà chẳng thấy ḷng xúc động khi nghe những câu đồng dao ngộ nghĩnh, những bài hát tṛ chơi của trẻ em! Trong dịp đó tâm hồn ta t́m về thời thơ ấu trọn vẹn, đó là thuở vàng son đầy nắng ấm và hoa hồng, nụ cười điểm trên môi ta lúc bấy giờ nhuộm trọn màu thánh thiện vô tư.

Ôi! Tuổi ngọc thực đă xa vời, nhưng tiếng hát mẹ hiền ngày nào vẫn c̣n vang măi. Những kỷ niệm thời thơ dại đă sống lại bởi dư âm của bài đồng dao êm đềm trong kư ức. Âm thanh sâu thẳm đó tháp cho ta đôi cánh thiên thần bay ra khỏi vùng ưu tư thực tại để đến một cơi nào có toàn trăng sao, hoa bướm, với một lũ trẻ áo màu rực rỡ, ngày tháng tung tăng”.

Chính v́ trẻ Việt đă sớm được hưởng trọn vẹn tác dụng nhiệm màu của ca dao ngay từ thuở trứng nước, giữa bầu không khí đùm bọc của gia đ́nh như vậy, nên vấn đề chỉ c̣n đặt lên là chúng ta sẽ sử dụng những bài đồng dao ra sao đây ở nhà trường. Vấn đề sẽ được đề cập tới kỹ càng hơn ở cuối bài này.

Sau đây là vài bài thí dụ về Đồng dao hay là Tṛ chơi Trẻ con (Trích từ : Ca Dao Nhi Đồng của Giáo Sư Doăn Quốc Sỹ)
II.
NHỮNG BÀI HÁT VUI

21. CHÈ LA, CHÈ LÍT
Chè la, chè lít,
Bà cho ăn quưt,
Bà đánh đau tay,
Chắp tay lạy bà.

22. KÉO CƯA LỪA XẺ
Kéo cưa lừa xẻ,
Thợ khoẻ cơm vua,
Thợ thua cơm làng,
Thợ nào dẻo dang,
Về nhà bú tí.

……………………

27. CHIỀU CHIỀU CON QUẠ LỢP NHÀ
Chiều chiều con quạ lợp nhà,
Con cu chẻ lạt, con gà đưa tranh *
Chèo-bẻo nấu cơm nấu canh,
Ch́a vôi đi chợ mua hành về nêm

(*) Đưa tranh đây tức là đưa gianh (cỏ) lên để lợp nhà

28. CÁI BỐNG LÀ CÁI BỐNG BANG (I)
Cái bống là cái bống bang.
Mẹ bống yêu bống, bống càng làm thơ.
Ngày sau bống đỗ ông đồ,
Đi vơng lá sắn, đi dù lá khoai.

29. CÁI BỐNG LÀ CÁI BỐNG BANG (II)
Cái bống là cái bống bang,
Cơm ăn bằng sàn, bốc muối bằng vung.
Mẹ giận mẹ giẩy xuống sông,
Con ra đường biển lấy chồng lái buôn.
Khát nước th́ uống nước nguồn,
Lạc đường th́ bảo lái buôn đưa về.

30. CÁI BỐNG LÀ CÁI BỐNG B̀NH
Cái bống là cái bống b́nh,
Thổi cơm nấu, nướng một ḿnh mồ hôi.
Sáng ngày có khách đến chơi,
Cơm ăn, rượu uống cho vui ḷng chồng.
Rạng ngày ăn uống vừa xong,
Tay nhắc mâm đồng, tay giải chiếu hoa.
Nhịn miệng đăi khách đằng xa,
Aáy là của gửi chồng ta ăn đàng *

(*) Ư nói nhịn miệng đăi khách như vậy cũng như chuẩn bị gửi của cho chồng đi xa vào những dịp sau này. Ư nghĩ thật thực tế!

………………………..

36. T̀NH TÍNH TANG TANG T̀NH TANG
T́nh tính tang, tang t́nh tang,
Súng vác vai, hoả mai tọng nạp,
Gươm tuốt trần, giáo cắp, mộc mang.
Tang t́nh tang.
Giương cung mà bắn con c̣,
Con cốc nó lội con c̣ nó bay.
Tính t́nh tang, tang t́nh tang.

37. CON GÀ CỤC TÁC LÁ CHANH
Con gà cục tác lá chanh
Con lợn ủn ỉn mua hành cho tôi.
Con chó khóc đứng khóc ngồi,
Bà ơi đi chợ mua tôi đồng riềng.

38. CON KIẾN MÀY KIỆN CỦ KHOAI
Con kiến mày kiện củ khoai,
Mày chê tao khó lấy ai cho giầu.
Nhà tao chín đụn mười trâu,
Lại thêm ao cá bắt cầu rửa chân.

…………………………………….

43. THẰNG CUỘI NGỒI GỐC CÂY ĐA
Thằng cuội ngồi gốc cây đa,
Để trâu ăn lúa gọi cha lời ời.
Cha c̣n cắt cỏ trên trời,
Mẹ c̣n cưỡi ngựa đi chơi cầu vồng.

44. THẰNG BỜM CÓ CÁI QUẠT MO
Thằng Bờm có cái quạt mo,
Phú ông xin đổi ba ḅ chín trâu.
Bờm rằng : Bờm chẳng lấy trâu!
Phú ông xin đổi ao sâu cá mè.
Bờm rằng : Bờm chẳng lấy mè !
Phú ông xin đổi một bè gỗ lim.
Bờm rằng : Bờm chẳng lấy lim!
Phú ông xin đổi con chim đồi mồi.
Bờm rằng : Bờm chẳng lấy mồi !
Phú ông xin đổi nắm xôi, Bờm cười.

…………………..

49. TH̀A LA TH̀A LẢY
Th́a-la th́a lảy!
Con gái bảy nghề *
Ngồi lê là một,
Dựa cột là hai,
Theo trai là ba,
Ăn quà là bốn,
Trốn việc là năm,
Hay nằm là sáu,
Láu táu là bảy.

* Bảy nghề : đây tức là bảy tật xấu.

50. XẤU HỔ
Xấu hổ,
Lấy rổ mà che
Lấy nong mà đè,
Lấy đấu mà đong,
Lấy chầy đâm bong.

CHÚ THÍCH : Bài hát riễu em hay xấu hổ này thường được nghe thấy ở các vùng Hà-đông và Bắc-ninh.

51. GIÓ ĐẬP CÀNH ĐA
Gió đập cành đa,
Gió đánh cành đa,
Thầy nghĩ là ma,
Thầy ù thầy chạy.
Ba thằng ba gậy,
Đi đón thầy về.

CHÚ THÍCH : Bài nầy hát riễu thầy phù-thủy nhát ma. Cũng như hai bài tiếp đây riễu thầy bói dốt.

52. SỐ CÔ CHẲNG GIÀU TH̀ NGHÈO
Số cô chẳng giàu th́ nghèo,
Ba mươi tết có thịt treo trong nhà.
Số cô có mẹ có cha,
Mẹ cô đàn bà, bố cô đàn ông.
Số cô có vợ có chồng,
Sinh con đầu ḷng chẳng gái th́ trai.

53. NHẤT HÀO NHỊ HÀO TAM HÀO
Nhất hào, nhị hào, tam hào …
Chó chạy bờ ao.
Chuột chạy bờ rào.
Quẻ này có động.
Nhà này có quái trong nhà,
Có con chó đực cắn ra đằng mồm.

…………………
57. CON CÔNG HAY MÚA
Con công hay múa,
Nó múa làm sao?
Nó rụt cổ vào.
Nó x̣e cánh ra.
Nó đậu cành đa,
Nó kêu ríu-rít.
Nó đậu cành mít,
Nó kêu vịt chè.
Nó đậu cành tre,
Nó kêu bè muống.
Nó đáp xuống ruộng,
Nó kêu tầm vông.
Con công hay múa …


………………………..

64. CÁI NGỦ MÀY NGỦ CHO LÂU
Cái ngủ mày ngủ cho lâu,
Mẹ mày đi cấy đồng sâu chưa về.
Bắt được mười tám mười chín con trê,
Cầm cổ lối về cho cái ngủ ăn.
Cái ngủ ăn chẳng hết
Để dành đến tết mùng ba.
Mèo già ăn trộm,
Mèo ốm phải đ̣n,
Mèo con phải vạ,
Con quạ đứt đuôi,
Con ruồi đứt cánh,
Đ̣n gánh có mấu,
Củ ấu có sừng,
Bánh chưng có lá,
Con cá có vây,
Ông thầy có sách,
Thợ ngạch có dao,
Thợ rào có búa,
Sảy lúa có sàng,
Việc làng có mơ,
Cắt cỏ có liềm,
Câu liêm có lưỡi,
Cây bưởi có hoa,
Cây cà có trái,
Con gái có chồng,
Đàn ông có vợ,
Kẻ chợ có vua,
Trên chùa có bụt,
Cái bút có ng̣i,
Con voi có quản.

CHÚ THÍCH : bài này và một số bài kế tiếp thuộc loại vô nghĩa, chỉ cần có vần có điệu, tương đương với
……………………………….

70. BẮT ĐƯỢC CON CÔNG
Chú bé bắt được con công,
Đem về biếu ông,
Ông cho con gà,
Đem về biếu bà,
Bà cho quả thị.
Đem về biếu chị,
Chị cho quả chanh.
Đem về biếu anh,
Anh cho tu-hú.
Đem về biếu chú,
Chú cho buồng cau,
Chú thím đánh nhau,
Buồng cau trả chú,
Tu hú trả anh,
Quả chanh trả chị,
Quả thị trả bà,
Con gà trả ông,
Con công phần tôi.

Doăn Quốc Sỹ
Sưu tập

hoangthymaithao
04-01-2010, 09:37 AM
Ca Dao T́nh Yêu

(Hươu Dấn Thân Sưu tầm)

Ḿnh về em dặn ḿnh rằng
Đâu hơn (th́) ḿnh kết, đâu bằng (th́) đợi em
Ai về Giồng Dứa qua truông
Gió run bông sậy để buồn cho em
Có yêu th́ nói rằng yêu
Chẳng yêu th́ nói một điều cho xong
Làm chi dở đục dở trong
Lờ lờ nước hến cho ḷng tương tư
Đường dài ngựa chạy biệt tăm
Người thương có nghĩa trăm năm cũng về
Núi Ngự B́nh trước tṛn sau méo
Sông An Cựu nắng đục mưa trong
Em đây vốn thiệt chưa chồng
Núi cao, sông rộng, biết gởi ḷng cùng ai
Tḥ tay xuống ngắt cọng ng̣
Thương em đứt ruột giả đ̣ ngó ra
T́nh thương quán cũng như nhà
Lều tranh có nghĩa hơn ṭa ngói cao
Có thương th́ thương cho trắc
C̣n trục trặc th́ trục trặc cho luôn
Đừng như con thỏ đầu truông
Khi vui giỡn bóng, khi buồn nó giỡn trăng
Rượu ngon bất luận be sành
Anh thương em không v́ bởi tấm áo lành của mẹ cha.

posted by hongvulannhi

=============

Núi Ngự B́nh trước tṛn sau méo
Sông An Cựu nắng đục mưa trong
Em đây vốn thiệt chưa chồng
Núi cao, sông rộng, bi.............

Qua mấy bài ca dao t́nh yêu trên có bài nhắc đến 2 địa danh của đất thần Kinh: Núi Ngự Và Sông An Cựu. Hai địa danh nầy có ǵ đặc biệt mà thơ văn cũng như Ca Dao đă thường xuyên nhắc đến với biết bao là thân thương:

Sau đây là vài câu ca dao đượm t́nh quê hương về núi Ngự B́nh và sông An Cựu được trích từ
http://e-cadao.com/cadaomain.asp

Măng vui Hương Thủy, Ngự B́nh
Ai vô B́nh Định với ḿnh th́ vô
Chẳng lịch bằng đất kinh đô
Nhưng B́nh Định không đồng khô cỏ cháy
Hai ḍng sông chảy Ba dăy non cao
Biển đông sóng vỗ dạt dào
Tháp xưa làm bút ghi tiếng anh hào vào mây xanh
Xuất xứ: - Miền Trung, B́nh Định, Huế (Câu số 26018 )

Núi Ngự B́nh mơ màng trăng gió
Niềm tâm sự ai thấu rơ cho ḿnh;
Đoái nh́n sông Hương nước chảy thanh thanh,
Sông bao nhiêu nước dạ em si t́nh bấy nhiêu.
Núi Ngự B́nh trước tṛn sau méo,
Sông An Cựu nắng đục mưa trong,
Mặc ai một dạ hai ḷng,
Em ôm duyên thủ tiết loan pḥng đợi anh.
Nước trong xanh bên thành con yến trắng
Thẳng cánh c̣ bay tới cơi xa xăm.
Anh đi mô không bóng không tăm,
Năm canh em đợi ruột tằm héo hon.
Thiên sinh nhơn hà nhơn vô lộc,
Địa sinh thảo, hà thảo vô căn,
Một ḿnh em ngồi giữa ḷng thuyền dưới nước trên trăng.
Biết ai trao duyên gởi nợ cho bằng thế gian?
Xuất xứ: - Miền Trung, Huế (Câu số 26064 )

Núi Ngự B́nh trước tṛn sau méo
Sông An Cựu nắng đục mưa trong
Đôi ta như chỉ lộn ṿng
Đẹp duyên th́ đẹp nhưng tơ hồng không xe
Xuất xứ: - Đại Chúng (Câu số 5264 )

Núi Ngự B́nh trước tṛn sau méo (2)
Sông An Cựu nắng đục mưa trong
Em đây vốn thực chưa chồng
Núi cao sông rộng biết gởi ḷng cùng ai?
Xuất xứ: - Đại Chúng (Câu số 5265 )

Núi Ngự B́nh trước tṛn sau méo (3)
Sông An Cựu nắng đục mưa trong
Ḱa ai lắng đục t́m trong
Chứ em đây thủy chung như nhất, một ḷng với anh
Xuất xứ: - Đại Chúng (Câu số 5266 )

Núi Ngự B́nh trước tṛn sau méo (4)
Sông An Cựu nắng đục mưa trong
Mặc ai, một dạ hai ḷng,
Ôm duyên thủ tiết, một ḷng đợi anh
Xuất xứ: - Đại Chúng (Câu số 5267 )

Núi Ngự B́nh trước tṛn sau méo (5)
Sông An Cựu nắng đục mưa trong
Dẫu ai ăn ở hai ḷng
Em đây vẫn một dạ thủy chung với chàng
Xuất xứ: - Đại Chúng (Câu số 5268 )

Núi Ngự B́nh:

Núi Ngự B́nh đứng trơ vơ về phía tây nam, cách kinh thành Huế khoảng 3 km (2 miles) là ngọn núi h́nh thang, cao 105 m (315 ft), đỉnh bằng phẳng. Tên cũ của Núi Ngự là Bằng Sơn.

Cùng với sông Hương núi Ngự B́nh, người ta quen gọi Huế là xứ sở của Sông Hương - Núi Ngự.

Sách “Đại Nam Nhất Thống Chí” của Quốc Sử Quán Triều Nguyễn viết “Phía Đông bắc Hương Thuỷ, nổi vọt lên ở quăng đất bằng” như h́nh bức b́nh phong làm lớp án thứ nhất trước kinh thành Huế, tục gọi là núi Bằng, đời Gia Long đặt cho tên hiện nay (Ngự B́nh), đỉnh núi bằng phẳng, khắp nơi trồng thông"

Núi Ngự B́nh cao 105m, dáng cân đối, uy nghi. Hai bên Bằng Sơn có hai ngọn núi nhỏ chầu vào gọi là Tả Bật Sơn và Hữu Bật Sơn. Vương triều Nguyễn được thành lập, quyết định xây dựng kinh thành Huế, thấy Bằng Sơn như một bức b́nh phong án ngữ trước mặt, Gia Long chấp nhận đồ án của các thầy địa lư: chọn núi này làm tiền án của hệ thống pḥng thành đồ sộ, kiên cố và đổi tên cho ngọn núi này là Ngự B́nh.

Một nhánh của sông Hương chảy về Hà Trung, Hà Trữ có tên là Sông An Cựu hay Lợi Nông

Để có thể hiểu thấu đáo về Sông An Cựu, xin trích bài khảo luận của Bác Sĩ Hồ Đắc Duy

SÔNG AN CỰU

HỒ DẮC DUY

Ở thành phố Huế có 4 con sông: sông Hương, sông Như Ư, sông Bạch Yến và sông Gia Hội.

Ngoài sông Hương và Gia Hội chảy qua thành phố, c̣n lại là các sông chảy quanh vùng ngoại ô. Tất cả đều là chi lưu của sông Hương, mỗi con sông có một dáng dấp khác nhau về h́nh thể, chiều dài và đặc tính kinh tế cũng như gắn liền với lịch sử phát triển của vùng đất Thừa Thiên – Huế từ khi các chúa Nguyễn hùng cứ ở phương Nam.
Sông An Cựu là con sông đào, nhưng lại là con sông dài nhất với chiều ngang khá khiêm tốn chỉ xấp xỉ 1/15 so với sông Hương.
Sau khi lên ngôi hoàng đế, vua Gia Long bắt đầu cho xây dựng kinh thành và lập ra kế hoạch phát triển vùng phụ cận Huế, biến vùng đất này trở thành trung tâm quyền lực chính trị của vương triều mới.
Sau khi quan sát địa lư h́nh thể và thăm ḍ ư dân nhà vua quyết định cho đào sông Lợi Nông.

Sông Lợi Nông nằm bờ nam là thủy lộ nối sông Hương với đầm Hà Trung là một đầm nằm trong hệ thống đầm phá Tam Giang – Cầu Hai, thông thương với biển đông bằng hai cửa Thuận An và Tư Hiền.


http://e-cadao.com/queta/images/25_songancuu_001.jpg

Cửa sông An Cựu bắt đầu bên bờ nam sông Hương ngay điểm cuối cùng của mũi phía đông của cồn Dă Viên ở tọa độ 16°27'33.67" vĩ Bắc 107°34'33.82" kinh Đông sông được khơi trên một ḷng một con suối cũ, chảy theo hướng bắc nam, bờ phía tây của sông chảy dọc theo dưới chân của g̣ Dương Xuân, Bến Ngự, Phủ Cam, Kho Rèn… đến vùng An Cựu th́ chảy thẳng vào đồng bằng càng ngày càng cách xa vùng núi Ngự B́nh – Thiên Thai, Ngũ Phong chảy chừng 17 dặm th́ đến hành cung Thần Phù chảy thêm 28 dặm nữa qua hành cung Thuận Trực rồi đổ vào phá Hà Trung ở tọa độ 16°21’ vĩ Bắc 107°45' kinh Đông. .


http://e-cadao.com/queta/images/25_songancuu_002.jpg

Sông An Cựu có một hệ thống mạng lưới nhận nước khá lớn từ các khe suối của vùng đồi núi nằm bờ phía tây của sông như vùng g̣ Dương Xuân, Phủ Cam, Ngự B́nh Thiên Thai, Ngũ Phong, Thần Phù, Phú Bài kéo dài cho đến, Hà Trung, Hà Trử.

Hệ thống nhận nước này cách đây 60-70 chục năm c̣n thấy rơ bời các khe suối lộ thiên khi chúng đổ vào sông An Cựu, hiện nay bị che khuất, bị san lấp, bị đô thị hóa, bị cải tạo… nhất là ở các vùng Nam Giao, Bến Ngự, Phủ Cam đă bị biến dạng hoàn toàn, dấu tích c̣n lại của hệ thống này là cống nằm bên cạnh nhà số 156B đường Phan Chu Trinh. Hệ thống này là cơ chế để giải thích câu ca :

Núi Ngự B́nh trước tṛn sau méo
Sông An Cựu nắng đục mưa trong....

Với câu ca này, cách đây gần mười năm khi công tŕnh làm đập trên nguồn Tả Ngạn của sông Hương hay đường Trường Sơn đă làm cho nước sông Hương dục ngầu trong một vài năm, sau khi công tŕnh hoàn thành, các vùng đất đá được rửa sạch nước sông lại trong như cũ, cũng thế hiện nay sắc nước của sông An Cựu không c̣n đúng như các thập niên 50-60 của thế kỷ trước nữa, thay vào đó là lũ lụt, ngập úng.

Sông An Cựu dài 45 dặm dài hơn sông Hương 10 dặm, h́nh sông được khắc tượng vào Chương Đỉnh. Thời Gia Long sông mang tên An Cựu đến khi vua Minh Mạng lên ngôi được 2 năm th́ đổi tên là sông Lợi Nông.
Khâm Định Đai Nam Hội Điển Sự Lệ, trang 200 quyển 212 cho biết năm Gia Long thứ 13 vua ra lệnh vét sông An Cựu tứ bờ nam sông Hương đến cửa sông Lê Xá dài 1217 trượng 7 thước. Đến năm 1833 vua Minh Mạng ban sắc cho tiếp tục vét sông Lợi Nông từ địa phận các xă Thần Phù, Lê Xá, Lương Xá gồm 17 đoạn với tổng số chiều dài là 447 trượng, mặt sông rộng 1 trượng 5 thước, dáy sông rộng 1 trượng 3 thước 2 tấc.
Dọc theo hai bên bờ sông cho trồng tre để giữ đất tránh sạt lở bờ khi lũ lụt, suốt chiều dài 45 dặm của sông An Cựu các vua triều Nguyên đặt 2 hành cung là hành cung Thần Phù và hành cung Thuận Trực. Hành cung là nơi nhà vua nghỉ chân trong các chuyến thăm viếng dân t́nh.

Lúc khời đầu khi đào sông chỉ v́ mục đích lợi nông, biến hàng ngàn vạn mẫu đất vùng rừng hoang đầm lầy ngập mặn thuộc khu vực đầm Hà Trung, đầm Thanh Lam, đầm Mỹ Á, An Truyền, Tô Đà… trở thành đồng ruộng ph́ nhiêu, khi kinh tế nông nghiệp phát triển th́ kéo theo sự phát triển các cụm dân cư rải rác dọc theo 2 bên bờ sông như chợ Bến Ngự, chợ An Cựu… thủy lộ duy nhất và quan trọng số một đi từ kinh thành về phía nam là con sông An Cưu, từ đầm Hà Trung - Đá Bạc - Cầu Hai thuyền có thể ra biển đông bằng cửa biển Tư Hiền có thể theo đường bộ qua Hải Vân Quan.

Sông An Cựu trở nên con đường thủy huyết mạch của trung tâm quyền lực cjính trịcủa vương triều nhà Nguyễn ở Huế.

Vào thập kỷ 50 của thế kỷ trước vẫn c̣n những chuyến đ̣ dọc từ làng Hà Trung – Hà Trử , từ Lương Điền - Nong – Phú Bài từ Thần Phù – Giạ Lê về Huế. Những con đ̣ dọc mang đầy ắp cây trái, lúa khoai, đặc sản tôm cá của vùng đầm phá Cầu Hai Bạch Mă. Giọng ḥ đối đáp từ những con đ̣ dọc này vang lên giữa đêm khuya nhất các đêm trăng rằm trên sông An Cựu nghe thật lạ lùng, quyến rũ đến liêu trai, phải là những cư dân sống 2 bên bờ sông hay những hành khách xuôi đêm mới cảm nhận cái đẹp vô ngần ấy, tiếng ḥ trên sông An Cựu êm đềm và ấm cúng hơn trên sông Hương v́ sông Hương quá rộng nên tiếng ḥ không bay xa, không ngân vang như trên sông vĩ Dạ, Như Ư, An Cựu.

Thật may mắn cho người viết v́ đă có một thời thơ ấu sống bên gịng sông An Cựu thập niên 40 – 50 của thế kỷ trước

Bây giờ h́nh như người ta lăng quên cái thủy lộ một thời huy hoàng trong quá khứ.

Nay t́nh trạng ô nhiễm ngày càng trầm trọng, nước sông không c̣n xanh ngọt như xưa mà nó có màu đen và mùi hôi, nhất là chung quanh khu vực chợ Bến Ngự, An Cựu và một đám bèo hoa dâu đang phát triển rất nhanh trước măt cung An Định, mặt sông dày đặc rác và các chất thải thâm chí cả xác súc vật chết.

Nước thải của những hộ dân sống quanh bờ sông và từ chợ Bến Ngự, AnCựu… đều được đổ xuống giong sông này mà không qua xử lư.
Gịng chảy đang bị thu hẹp dần, do mực nuớc xuống thấp nên đất ở ḷng sông trồi lên rải rác từ cầu Nam Giao xuống cung An Định, trên các băi bồi này cỏ dại mọc rất nhanh. Bèo hoa dâu bám vào làm cản trở gịng chảy khiến cho việc lưu thông giảm đi rất nhiều hậu quả làm khả năng tự làm sạch cũng bị mất đi.

Một số cư dân đă ra phát cỏ, đắp kè, giăy đất bồi để trồng rau muống, môn, khoai...

Và kể từ khi hệ thống điều tiết nước ở Cống Phú Cam (Cửa Khâu) được xây dựng vào năm 1978, tại vị trí đầu sông An Cựu th́ t́nh trạng ô nhiễm này càng nhiều hơn v́ nước không được rửa sạch từ nguồn nước sông Hương, người phụ trách điều tiết, quản lư môi trường vệ sinh chưa ư thức được hết trách nhiệm nên…

Các cây cầu bắc ngang qua sông An Cựu như cầu Ga cách cửa sông khoảng 500m, cầu Nam Giao, cầu Bến Ngự, cầu Phủ Cam Phú Ca ) cầu Kho Rèn, cầu An Cựu, những cây cầu này được xây dựng từ thế kỳ trước ch́ có thể xử dụng trong một vài năm nữa mà thôi.

Và hiện nay người ta bắc thêm 3 chiếc cầu chưa đặt tên, cây cầu cuối cùng ở khu vực Thần Phù gần nơi mà vua Minh Mạng đă cho xây dựng một hành cung gần 2 thế kỷ trước.

Muốn mang đến một món quà cho những ai yêu Huế và cho một người muôn năm cũ đă sống bên bờ sông An Cựu của một thời vàng son thuở trước

Hồ Đắc Duy


V́ sao Sông An Cựu nắng đục mưa trong

Chắc hẳn những ai đă sống ở Huế đều không thể không biết đến hai câu ca dao :

Núi Ngự B́nh trước tṛn sau méo
Sông An Cựu nắng đục mưa trong

Thế nhưng đă có mấy ai đă từng đặt câu hỏi V́ sao sông An cựu lại “nắng đục mưa trong” ? Con sông gắn liền với những địa danh quen thuộc : Bến Ngự, Phủ Cam, An cựu… đă từng đi vào thi ca, âm nhạc và nó cũng mang trong ḿnh một truyền thuyết vô cùng thú vị.


http://e-cadao.com/queta/images/hue_phu_cam.jpg

Sông An cựu ngày xưa ( đoạn này có tên là Phủ Cam)

Sông An Cựu là chi lưu của sông Hương, chảy qua phía Nam Thành phố Huế, sông c̣n có tên là Lợi Nông. Đây là một con sông đào, được đào vào năm Gia Long 13. Vua Gia Long cho đào khơi thông sông Hương với sông Đại Giang nhập vào phá Hà Trung, góp phần thau chua rửa mặn cho cánh đồng Hương Thuỷ, v́ vậy mới có tên là Lợi nông. Ngoài ra, sông An Cựu c̣n có tên khác là sông Phủ Cam hay sông Thanh Thuỷ. Năm 1836, sông Lợi Nông đă được khắc vào Chương đỉnh trong Cửu đỉnh đặt trong Hoàng Thành.

Ở đoạn đầu của sông có Bến Ngự để thuyền rồng của nhà vua cập bến mỗi khi đi tế trời ở Đàn Nam Giao. Phía hạ lưu có các hành cung Thần Phù, Thuận Trực để vua tạm nghỉ trong những lần về chơi ở phá Hà Trung hoặc về rừng Đông Lâm săn bắn.

Theo truyền thuyết th́ đầu thế kỷ 19, khi sơn hà xă tắc đă thống nhất, cùng với việc kiến thiết xây dựng kinh đô, củng cố triều chính, phát triển kinh tế, vua Gia Long đă sắc cho Bộ Công đào sông An Cựu theo ước nguyện của dân trong vùng. Lúc đó ḍng sông được khơi thông từ vũng eo dưới mũi cồn Giă Viên. Nhưng do khơi ḍng đúng vào nơi hang động của một con thuồng luồng khổng lồ nhiều năm ẩn dật dưới ḷng sông Hương làm cho hang động của nó bị lộ ra, do vậy mà mỗi khi trời nắng, thời tiết nóng không chịu được nó trở nên dữ tợn, vẫy vùng, khuấy đảo phù sa, làm đục ngầu cả ḍng nước nguồn, chính v́ vậy mà sông An Cựu trở nên đục vào những ngày nắng. C̣n những ngày mùa thu, tiết trời mát mẻ, thuồng luồng nằm im trong hang động, ḍng sông không bị khuấy đảo, nước sông An Cựu trở nên trong vắt như mặt nước Hương Giang.


http://e-cadao.com/queta/images/ancuu2.jpg

http://e-cadao.com/queta/images/ancuu3.jpg

Sông An Cựu với bờ kè hai bờ sông

Trên thực tế, th́ ḍng sông này là ḍng sông đào nhận nước từ sông Hương trong xanh chảy về Phá Hà trung và ra biển nên ngay cả những ngày mưa nước vẫn ít khi đục v́ không có nước nguồn trên núi chảy về. Trái lại, mùa nắng hạn, nước sông cạn, có khi cạn gần đến đáy sông và lại có màu vàng đục của lớp phù sa dưới đáy. Ngoài ra c̣n có một cách giải thích khác nữa, tôi không biết có chính xác không những đến bây giờ cái kiến thức này vẫn tôi vẫn không bao giờ quên. Đó là vào năm tôi học học lớp 9, thầy Việt Anh ( trường Nguyễn Tri Phương - Huế) dạy chúng tôi môn hoá học đă đưa ra một cách giải thích khác hẳn và rất chi là hoá học : sở dĩ sông An Cựu nắng đục mưa trong là do dưới ḷng sông chứa một hàm lượng lớn nguyên tố sắt, vào mùa nắng sông cạn nước, nhiệt độ lên cao do đó xảy ra phản ứng khử tạo ra oxit sắt kết tủa có màu nâu đỏ, chính hàm lượng oxit sắt này lơ lửng trong ḍng nước đă làm cho nước sông có màu đục ngầu. Đến khi trời lạnh lớp oxit sắt này lắng xuống nên ḍng sông lại trong xanh. Một lời giải thích thú vị mà cho đến bây giờ tôi vẫn không quên cả câu ca dao lẫn bài học của Thầy. Cách lư giải này mặc dù chưa được kiểm chứng nhưng có một chi tiết liên quan đến nó, đó là một trong những cây cầu bắc qua ḍng sông này có tên là cầu Kho rèn (nối liền đường Trần Phú và đường Lư Thường Kiệt). Phải chăng theo cách gọi tên cây cầu như vậy th́ nơi đây xưa kia đă có một Kho rèn hoặc một ḷ rèn lớn hoạt động, như vậy liệu có phải vùng đất ở đây có sắt hoặc giả sắt từ ḷ rèn này mà trôi xuống ḷng sông?
Cho đến bây giờ th́ ḍng sông An Cựu, không chỉ nắng đục mà mưa nước vẫn đục. Đất đai từ các cống rănh hàng năm vẫn đổ xuống ḍng sông. Người ta vẫn lén lút đổ rác, đổ xà bần xây dựng xuống ḍng sông làm cho ḍng sông đào vốn đă không sâu bây giờ ngày lại càng cạn dần. Có những đoạn sông vào mùa nắng hạn mặt nước chỉ c̣n xâm xấp đáy sông.


http://e-cadao.com/queta/images/ancu.jpg

Lực lượng thanh niên và dân pḥng vớt bèo trên sông An cựu

Chính quyền thành phố cũng đă tốn không biết bao nhiêu tiền để nạo vét ḍng sông, dọn rác, xây kè chống xói lở và vành đai hai bên bờ, tạo cảnh quang cho ḍng sông, vậy mà chính những bờ kè và lề sông ấy lại trở thành những quán ăn, quán bia, quán giải khát di động và có ai chắc rằng rác từ đó lại không được xả xuống ḍng sông? Nếu mỗi một người dân không tự ư thức trong việc bảo vệ môi trường, cứ đà ấy, viễn cảnh của một ḍng sông đen chẳng mấy chốc sẽ trở thành… cận cảnh! Và, hàng chục tỷ của Nhà nước đă và đang đổ ra để chỉnh trang đôi bờ sông An Cựu sẽ không c̣n mấy ư nghĩa. "Sông An Cựu, nắng đục, mưa trong" câu ca dao xưa đă đi vào tâm thức của người dân xứ Huế chẳng lẽ bây giờ chỉ là huyền thoại ?


http://e-cadao.com/queta/images/cungandinh.jpg
Cung An Định - một công tŕnh di tích lịch sử nằm ngay sát bờ sông An Cựu

Nguồn: myblog.yahoo.com/ngvliem/

* posted by Hà Phương Hoài - TV - VB

hoangthymaithao
04-06-2010, 02:26 AM
Nghe bà chủ hotel kể rằng ở Lim, bọn đàn anh đàn chị, đang chuẩn bị tập dượt cho ngày hội quan họ. Thấy rằng đây là một cơ hội không thể thiếu nên từ Hà Nội, chúng tôi lên đường đi thăm làng Ngăm sớm hơn dự định. Để có thể thưởng thức một bát phở gia truyền Bát Đạt, chúng tôi đă phải đi thật sớm, khi trời Hà Nội c̣n phủ kín sương mù và dưới cơn mưa phùn, gió bấc. Chúng tôi đây là tôi và bác tài của công ty Hương Giang, mà tôi đặt thuê từ Thụy Sĩ.

6 giờ sáng, trời Hà Nội c̣n tối và đèn đường chỉ đủ sức tỏa ra những tia sáng vàng vọt, dưới những lớp sương mù dày đặc. Những bác tài xế xích lô vẫn c̣n quấn ḿnh trên những ghế đá công viên, dưới những hàng sấu già. Những hàng quà rong, cất tiếng rao lanh lảnh, nghe rất lạ tai. Những người phu quét đường, mang áo tơi, quơ những đường chổi mệt mỏi. Những con chó được các nhà chủ cho chạy rong ra đường, t́m những chỗ tiểu tiện buổi sáng. Đường phố Hà Nội ngập mùi cống rănh. Hiệu phở Bát Đạt c̣n trống vắng, chúng tôi kiếm một cái bàn gần với nhà bếp nhất để từ đây có thể quan sát mọi diễn biến trong tiệm phở này. Nhà phố Hà Nội chật hẹp, những anh nhân công phải xổm dưới đất để có thể cắt lọc thịt. Những tảng thịt khổng lồ, được đặt trên những lớp giấy báo, có vẻ không mấy vệ sinh. Những thúng hành, ng̣ được cắt sẵn từ đâu đem tới, ḥa lẫn với mùi thơm nước lèo, bay mùi thơm ngát. Những chồng bát được chất cao vút.

Cứ mải mê quan sát những người nhân công cắt, lẻo thịt mà chúng tôi không để ư một điều là muốn có được một tô phở th́ phải ra ngoài đường xếp hàng và tự bưng vào bàn. Nh́n ra đường, chúng tôi đă thấy một hàng dài người xếp hàng dưới cơn mưa xuân lún phún. Chúng tôi nối đuôi sau đoàn người chờ đợi và phải mất nửa tiếng đồng hồ mới tới phiên. Cách phục vụ phở ở đây thật là ngộ nghĩnh. Những người múc phở cũng là kẻ thu ngân. Tay vừa cầm thu những đầu tiền bụi bậm, dơ bẩn, vừa cầm những miếng thịt nạm, gầu thoăn thoắt bỏ vào bát. Họ làm việc, im lặng như kẻ câm. Phở ở đây chỉ có 3 loại, đưa tiền loại nào th́ nhà hàng bán cho loại ấy. Tái nạm gầu 6.000, tái 5.000 và nạm gầu 4.000. Cứ như thế mà trao đổi, nhà hàng bù đầu với công việc, không hơi đâu mà tṛ chuyện.

Pḥng ăn, bàn ghế không mấy sạch sẽ, khách cứ việc vứt bỏ những cuống rau thơm, vỏ chanh xuống ngay nền đất dưới gậm bàn một cách vô tội vạ. Khách hàng cứ lầm ĺ mà thưởng thức món ăn, ít ai tṛ chuyện với ai, kể cả những cặp nhân t́nh có vẻ đang c̣n rất mặn ṃi, âu yếm. Người ta ăn nhanh như vẻ sợ nguội, sợ những hương vị thơm ngon, để lâu sẽ bay mất? Chúng tôi thấy có một cặp vợ chồng trẻ ngồi bên cạnh, tính bắt chuyện làm quen nhưng thấy không khí nặng nề trang nghiêm quá nên không dám. Tuy dù vẻ bề ngoài cũ kỹ, trông có vẻ mất vệ sinh nhưng hương vị phở ở đây thơm ngon đặc biệt. Những miếng nạm, miếng gầu được cắt bạt một cách tài t́nh, ẩn lộ một lớp gân trong suốt và cho một hương vị phở thật ngạt ngào. Thấy nhiều người đă có tô phở trong tay nhưng chưa có chỗ ngồi, chúng tôi húp vội những ngụm nước lèo sau cùng, đứng lên nhường chỗ. Phở ở đây chỉ bán từ 6g30 tới 9g sáng và chậm chân là hết nên khách hàng quen thuộc cũng như những người hiếu kỳ như chúng tôi qua lời giới thiệu, muốn ṭ ṃ tới ăn một tô cho biết nên đa số đă đến đây từ rất sớm. Ăn một cách quá ư là vội vàng nên rời tiệm phở, thấy c̣n sớm lắm, chúng tôi rủ nhau qua cà phê Giảng. Tiệm cà phê này có cả một lịch sử huyền thoại của nó. Tọa lạc ngay phố Hàng Gai, đối diện với phố Hàng Đào, nằm trong một địa thế kinh tế và du lịch lư tưởng nhất Hà Nội, giá tiền đất nhà lên đến 48 lượng vàng một mét vuông và nếu bán đi hoặc kinh doanh một thứ hàng khác, hoặc dù cho thuê th́ lợi tức hàng tháng cũng cao gấp rất nhiều lần kinh doanh quán cà phê nhỏ bé này. Vậy mà cà phê Giảng vẫn cứ chễm chệ ngay giữa khu trung tâm thương mại sầm uất nhất của thủ đô.

Đối diện với bàn của chúng tôi là một ông cụ già râu tóc bạc phơ, ông cụ vừa nhấp nhi ly cà phê lọc, vừa quay vào phía trong tṛ chuyện. Giọng nói của ông cụ oang oang, chứng tỏ sức mạnh của ông cụ c̣n cường tráng lắm. Thấy ông cụ vui tính, tôi ngỏ lời chào ông cụ làm quen. Cụ mời chúng tôi sang ngồi cùng bàn và tôi lên tiếng hỏi cụ:
- Dạ thưa! Cụ đă uống cà phê ở đây lâu chưa ạ!
- Thưa ông, chẳng nói giấu ǵ, tôi đă uống cà phê ở đây từ đời ông Giảng bố, tới đời ông Giảng con, cho tới nay, đời Giảng cháu. Trải dài từ thời Pháp thuộc, tới thời bao cấp và cho tới tận ngày nay.
Cụ vừa nói, vừa ngụm một hớp cà phê, coi vẻ thích thú và tận hưởng. Đợi cho ông cụ nhả một làn khói được hít sâu trong tận cùng của buồng phổi. Tôi hỏi cụ.
- Thưa cụ bao cấp có nghĩa là sao ạ!
- Ối giời ơi! Thưa ông! Nói tới cái thời này th́ nó rắc rối và khốn nạn lắm! Ai đời một hột muối, hột đường cũng phải tem, phiếu, sổ sách, hộ khẩu. Ngay như lăo đây đă bị mấy lần phê b́nh kiểm thảo trước dân phố chỉ v́ la cà lâu giờ ở tiệm cà phê. Đến như ông Văn Cao, một ông cụ già hết sức lao động và là tác gỉa của bài quốc ca, c̣n không được ngồi yên để nhấp nháp vài giọt cà phê nữa là....
- Thưa cụ, thế nhạc sĩ Văn Cao có thường uống cà phê ở quán này không ạ!
- Ông Văn Cao th́ lại thường đóng đô ở cà phê Lâm. Trời cho mỗi người một ư thích, một con mắt, một khẩu vị. Lăo th́ chỉ ở đây thôi. Không phải cà phê ở đây ngon hơn ở chỗ khác nhưng v́ cái chỗ ngồi, cảnh trí và con người ở đây đă quen lâu rồi, đă lọt vào tận trong cùng của tâm tưởng rồi. Khó thay đổi lắm! Chẳng những lăo chỉ ngồi thưởng thức cà phê ở quán này mà ngay cả cái chỗ xó này nữa. Chẳng vậy mà mỗi khi lăo có chuyện tới trễ, những khách hàng khác cũng không đếm xỉa đến và cứ để trống cái chỗ, đợi lăo đến. Những khách hàng uống cà phê ở đây đều là những khách hàng trung thành lâu ngày, hễ cứ thấy thiếu một người là thấy thiếu vắng nhiều lắm! Họ đến đây đều theo thời khắc quen thuộc cả. Đấy, hôm nay những khuôn mặt này, sáng mai ông đến cũng thế mà thôi. Lâu lâu, có khách văng lai, nhàn tản dạo cảnh bờ hồ ghé vào như ông đây nhưng không nhiều lắm.

Ông cụ vừa nói, vừa chỉ vào những bàn bên trong, họ chia ra từng toán một, chụm đầu vào nhau vừa nhấp nhi cà phê, vừa thả khói thuốc nói chuyện. Trông họ có vẻ tâm đắc, tâm t́nh và quen biết lâu ngày.
Quán cà phê này thật chật hẹp nhỏ bẻ, khiến nhà chủ chỉ dùng những chiếc ghế độc nhỏ bé, giống như tại các quán cà phê chồm hổm ở vỉa hè Sài G̣n. Bề ngang căn nhà chỉ chừng chưa đầy 4m, vậy mà lại phải chia ra làm hai gian, ngăn cách nhau bởi một cầu thang cho người ngụ trên gác lên xuống. Khách ngồi ngăn cách trong cả hai gian, phía sau cầu thang để trống, làm đường thông giữa hai bên, nhà chủ làm việc và pha chế cà phê ở phía gian sau, nhỏ chừng vài mét vuông.

Ông cụ nhấp nhi một ngụm cà phê rồi gật gù kể tiếp:
- Quán cà phê này nhỏ bé là thế nhưng nó có cả một lịch sử và đặc thù văn hóa của nó đấy, ông ạ! Tôi là khách hàng quen từ đời ông Giảng bố, ông bố chết rồi truyền lại cho con, ông con chết vào thời mở cửa, đất đai Hà Nội quư như vàng vậy mà khi hấp hối, ông ta c̣n truyền lại cho 2 người con trai rằng: “Sở dĩ gia phong nhà ta, trên thuận dưới hoà và có thể sinh sống cho đến ngày nay, cũng là v́ phát sinh từ đây. Vậy sau này, có làm ǵ th́ làm, các con cũng cố giữ lấy cái quán này để mà sống. Trước là để ghi nhớ công ơn ông bà gầy dựng, sau là để nương tựa nhau mà sống. Trong chúng con, sau này nếu có đứa nào thế này thế nọ th́ phải rộng lượng mà bảo ban nhau. Hạt gạo nếu có lọt sàng th́ cũng xuống nong, không mất mát đi đâu mà sợ”. Đấy ông trông vào trong kia ḱa, hai chị em dâu cứ cật lực vui vẻ chung sức mà chung sống với quán cà phê này đấy! Thật là đáng khen và quư hiếm.

Tôi nh́n vào bên trong, hai người đàn bà trạc độ ngoài 30 đang vui vẻ nói cười, người nào việc nấy, người th́ đang pha nước sôi vào b́nh thủy, kẻ th́ đang pha chế cà phê, trông dáng vẻ của họ thật là vui tươi, thơ thới.

Những cánh cửa sắt của các gian hàng đối diện và chung quanh đồng loạt theo nhau mở ra, gây những tiếng kêu ken két của những thanh sắt khô khan va chạm vào nhau, xe cộ ngoài đường cũng bắt đầu tấp nập qua lại, báo hiệu một ngày mới của phố thị Hà Nội. Chúng tôi xin nhà chủ tính tiền và ngỏ lời chào tạm biệt ông cụ cùng những người khách ngồi gần bàn.

Một ngày của Hà Nội bắt đầu chậm hơn ở Sài G̣n. Nếu ở Saigon th́ xe cộ bắt đầu qua lại nhộn nhịp từ lúc 5, 6 giờ sáng th́ ở Hà Nội bắt đầu chậm hơn, phải đến 7, 8 giờ xe cộ mới tấp nập ngược xuôi và phải đợi đến 8, 9g, các gian hàng mới bắt đầu mở cửa. Đường phố Hà Nội chật hẹp và ít xe cộ hơn Sài G̣n nhiều. Ở đây chủ yếu là xe gắn máy, nhất là loại xe gắn máy Wave nhái Honda của Nhật. Thú thật, nếu không có bác tài th́ tôi không thể nào phân biệt được chiếc Wave nào của Nhật và chiếc nào của Tàu. Họ nhái cắp kiểu mă thật là tinh vi.
Phải ra tới cầu Chương Dương mới nếm được cái màn ùn tắc xe cộ. Hàng lượt người từ vùng ngoại thành đổ xô vô nội thành làm việc. Xe cộ từ các tỉnh đông bắc tuôn đổ về thành phố với đủ loại hàng hóa chất chồng, nhiều xe ngập cả mui, những chiếc xe đ̣ nhét chật người bên trong như những hộp cá ṃi, những chiếc xe đạp thồ nông sản từ vùng ngoại ô về thành phố, những con lợn được nhốt trong rọ, bị lật ngửa chổng 4 vó lên trời.

Nh́n mấy chiếc xe chở, thồ những lồng chở lợn đi ngang, bác tài kể rằng: “Cái loài lợn này buồn cười lắm! Để sấp để ngiêng ǵ th́ chúng cũng giăy giụa và kêu la eng éc nhưng để ngửa th́ nằm êm ru, chịu chết”. Bác tài rất dí dỏm và kể chuyện rất có duyên và chuyện ǵ, đề tài ǵ bác cũng nhập cuộc một cách dễ dàng, khiến đoạn đường xa xôi, gập ghềnh trở nên gần gũi hơn.

Xe qua cầu Chương Dương được một quăng th́ tiến sâu hơn vào vùng nông thôn Bắc Ninh. Những cánh đồng ruộng ở đây vuông vắn nhưng lại quá nhỏ bé, không giống như ở vùng đồng bằng sông Cửu Long. Trên cánh đồng vẫn như những bức tranh nông thôn quen thuộc. Những cô gái kéo gầu tát nước, những con trâu thè lưỡi kéo cầy. Mà trâu ở đây sao nhỏ quá! Giống như những con nghé con trong miền nam. Bác tài kể rằng, ngoài này đồng ruộng nhỏ bé, hơn nữa đâu có nhiều đồng cỏ để nuôi trâu nên đa số nông dân phải t́m nuôi những con trâu thật nhỏ bé, không cần cho ăn nhiều và chỉ cần đủ sức kéo cày những ruộng đồng nhỏ. Ngoài các cánh đồng, chúng tôi thấy hầu hết là các bà, các cô gái làm việc, ít thấy bóng dáng đàn ông. Điều này, bác tài cho biết. Ruộng đồng đâu có đủ ăn, vừa canh tác, vừa giữ đất. Trông vào ruộng đồng mà thôi, chỉ có mà treo mơm. Đàn ông th́ phải đi làm việc khác, hoặc làm nhân công trong các xí nghiệp. Đời sống nông thôn ngoài này chật hẹp lắm! Quanh năm chẳng biết đồng bạc là cái ǵ, nhà nào có người biết buôn bán thêm hoặc làm việc xí nghiệp th́ có đồng ra đồng vào, mua sắm.

Trên đường rẽ vào làng Lim, chúng tôi đi ngang một cái chợ nhỏ, hàng hóa sơ sài vài món hàng nông sản cùng vài hàng tôm tép chài lưới từ dưới sông trong vùng đem lên. Ở đây cá tép quư ít để có thể bán bằng cân mà đơn vị tính bằng con hay từng nhúm. Sức mua sắm ở đây rất yếu v́ như bác tài nói, nông dân có rất ít tiền mặt. Vùng này xu hào và táo dai rất nhiều, những trái xu hào to bằng những bát điếu và xanh tốt, những trái táo dai tṛn trĩnh và tươi xanh, cho vị thơm ngon, ngọt lịm mà giá cả chỉ 2, 3 ngàn một kư. Ở đây cũng có loại mía tía mềm và ngọt lịm, bày bán khắp chợ nhưng chẳng thấy ai đoái hoài, có lẽ nhà nào cũng có một vài bụi nên không mấy người thiết mua?
Ao làng Lim khá rộng và nước trong ao đục ngầu. Bên bờ ao là một chiếc cầu gỗ nối dài với hai chiếc thuyền, neo đậu ở giữa ao. Thấp thỏm trên 2 chiếc thuyền là những đàn anh, đàn chị đang tất tả chuẩn bị cho buổi tập dợt. Những chiếc nón quai thao, những chiếc áo dài tứ thân đă được móc, treo sẵn đâu đó. Chung quanh bờ ao, người già trẻ em đă vây quanh khá đông. Con gái vùng này khá xinh xắn và cân đối. Họ trao đổi với nhau với giọng nói cao vút như những con chim sơn ca cất cao tiếng hót, nghe thật khó hiểu. Quê tôi ở không xa đây mấy nhưng v́ đă lưu lạc từ lâu, nay về nghe lại như một âm thanh xa lạ.

Tiếng trống triệu tập bắt đầu, những đàn anh, đàn chị lũ lượt từ đâu kéo đến. Họ ăn bận quần áo màu sắc rất đẹp mắt. Nh́n những cô gái quan họ, trong những chiếc áo dài tứ thân, để hở lộ chút thăn vú ra ngoài cái yếm thắm, tôi nhớ lại mấy câu ca dao ví von, tả sắc đẹp người con gái Bắc Ninh.

Em là con gái Bắc Ninh
Em nghiêng vành nón, mái đ́nh nghiêng theo.

Hay

Ṭa sen Phật muốn lặng thinh
Nghe em ca bỗng thấy ḿnh trần gian.

Tôi rất thích đi coi chèo Bắc và nghe hát quan họ. Nhưng cho đến nay, tôi chỉ mới được coi hát quan họ qua các băng nhựa hay qua các chương tŕnh tv nên ḷng tôi rất hồi hộp trông chờ buổi tập dượt bắt đầu.

Hai cô gái rất xinh đẹp, chân không trắng nơn, từ trong một ngôi đền đi ra, một cô, hai tay bưng một mâm trầu, c̣n cô kia th́ bâng một mâm rượu. Tôi đoán họ sắp hát bài “Người ơi! ở lại đừng về”. Tôi nao núng giống như chính ḿnh là người khách mà chút nữa đây sẽ được các em gái làng Lim dâng trầu, dâng rượu với những lời mời đầy quyến rũ, trữ t́nh: “người ơi! ở lại đừng về”.

Tiếng trống chầu văn bắt đầu và tiếng nhạc cũng đả nổi lên. Tôi nghĩ rằng ḿnh thật khó có thể bước chân ra về sớm hơn. Ḥa cùng tiếng trống tiếng kèn là một đoàn rước ăn vận trang phục của vùng đồng bằng Kinh Bắc. Đi đầu là mấy cụ già, sau đó là lớp đàn chị, đàn anh (dân địa phương đọc là liền chị, liền anh) và sau cùng là mấy mâm xôi, mỗi mâm, trên đặt một con gà luộc vàng ngậy.

Đi ngoài đoàn rước là hai thiếu nữ đi giật lùi, bưng một vỏ b́nh tích, trong đựng thứ ǵ không biết. Hai cô liền tay cho vào b́nh lấy đồ phân phát cho bọn đàn anh, đàn chị. Thấy lạ, tôi tiến tới một anh thanh niên đánh trống khẩu gần đó kiếm cớ làm quen rồi hỏi:
- Anh ơi! Hai cô kia đang phân phát thứ ǵ đó?
- Th́ là vỏ trám trắng với nhúm oản chứ có ǵ!
- Mà vỏ trám trắng để làm ǵ?
- Để ngộ nhỡ tắc giọng th́ ngậm vào cho thông. Anh hỏi ǵ mà ỡm ờ!
Anh ta vừa luôn tay đánh trống khẩu, vừa quay lại nh́n tôi. Có lẽ thấy tôi là khách phương xa nên đă dịu giọng.
- Ấy chết! Ông anh là khách phương xa, em lại cứ tưởng bọn nhăi ranh làng Vọng tới đây phá phách.
- Ủa, chỉ là buổi diễn tập mà sao lại trịnh trọng thế?
- Tuy gọi là diễn tập nhưng hôm nay có cả liền anh liền chị ở Nhồi, Nội Duệ kéo đến nên ta phải thết đăi cho tử tế.
- Thết đăi chỉ bằng xôi gà thôi à!
- Bọn con hát không dám xơi thịt lợn đâu, mỡ vào tắc cổ th́ hát thế chó nào được. Mà ngay cả thịt gà, gọi là thịt chứ họ cũng ăn đăi bôi qua loa gọi là mà thôi.
- Thế hôm nào mới là ngày hội chính?
- Ngày hội chính thức là ngày 13 nhưng từ nay tới đó, con hát kéo tới lai rai, hát hoài. Anh cứ ở lại đây chơi vài bữa, mặc sức mà coi. Mà anh từ đâu đến đây?
- Tôi sinh đẻ ở Yên Phong, cũng là quê hương quan họ nhưng đi xa lâu rồi, nay chắc là lạc điệu.
- Đă là dân quan họ th́ lạc điệu thế đếch nào được. Nếu đi xa lâu ngày quên th́ ḿnh tham gia giọng phụ, miễn là có trí nhớ tốt, thuộc bài nhắc tuồng cho anh chàng giọng diễn và có chút giọng ̣ ơ là được rồi.
- Thế ḿnh phải đăng kư ở đâu mới được phép tham dự?
- Thế làng anh có đoàn hát nào kéo tới đây không?
- Chắc là không có, vậy tôi có thể tham gia vào một làng khác được không?
- Anh đứng đây đi, tôi nhờ một tay đánh trống giúp rồi dẫn anh đi gặp mấy tay liền anh, liền chị, coi họ có cho nhập đoàn hay không?
Ngay từ nhỏ, ảnh hưởng những bài viết về quan họ, tôi hằng ao ước được một lần mặc áo dài khăn đống, đứng cạnh một cô gái mặc áo tứ thân, đội nón quai thao để cất cao tiếng hát quan họ. Không ngờ cái ước mơ nhỏ bé lại gần thành sự thực.

Anh đánh trống khẩu bỏ đi một hồi th́ quay lại, anh dẫn tôi vào trong một góc đ́nh, nơi các đoàn quan họ đang trang sức, mỗi người ngồi một góc, những cái gương để dựa vô những chiếc cột đ́nh. Các cô đa số vẫn c̣n mặc yếm. Yếm hồng, yếm thắm đủ màu, áo tứ thân h́nh như chỉ được mặc vào trước lúc diễn.

Tôi có một xấu tật mà có lẽ người khác nh́n vào mới thấy. Cặp mắt tôi ít khi nào bỏ lỡ cơ hội trước những tác phẩm ưu việt của thượng đế. Đối với tôi cảnh vật thiên nhiên đẹp đẽ đến mấy, cũng chỉ là thứ yếu. Tác phẩm tuyệt trần phải là thân xác đàn bà. Nhất là những cô gái che khép thân h́nh nửa hở nửa kín bằng những vuông yếm thắm ở làng Lim này.

Tôi được đưa tới anh Lâm cùng chị Nga, một đàn anh, đàn chị. Có lẽ cả hai người đều đă ngoài 30 và cũng đă có gia đ́nh. Nh́n vào cặp vú đu dưa của chị Nga trong miếng yếm ngắn, tôi đoán như thế. Anh chị chào hỏi tôi rất thân t́nh và cuối cùng hỏi tôi có biết hát không? Tôi trả lời rằng hát th́ không có giọng nhưng có thể thuộc bài và ú ớ phụ họa. Họ nh́n nhau có vẻ ngạc nhiên rồi hỏi:
- Chết thật, nếu ông anh không có giọng và chưa bao giờ hát quan họ th́ không thể nào một sớm một chiều luyện giọng được. Nếu quả thực ông anh thích tham gia th́ chúng tôi xin ghép ông anh vào một vai phụ diễn nhưng khi anh em hát th́ xin ông anh chỉ mấp máy môi thôi chứ đừng hát thành tiếng nhé! Chen vào lạc giọng anh chị em th́ chết cả lũ.

Chị Nga thêm vào:
- Ô cái anh Lâm này hay nhỉ! Người ta tay ngang khi không lại cho vào tham gia. Bưng mâm, bưng trà ǵ th́ cũng phải có điệu bộ cả chứ, bây giờ cận rồi, giờ dâu mà chỉ bày.
- Nh́n mặt mũi ông anh sáng láng lắm, chắc không đến nỗi.
- Nhưng cũng phải có quần áo cho anh ấy mặc chứ! Béo tṛn béo trục như vậy th́ quần áo đâu mà mặc vừa?
- Th́ anh Hợi đấy! Anh ấy đang kiếu ốm, người nặng cả tạ làm ǵ mà mặc không vừa!
- Ấy chết! Tôi chỉ có 65 kư mà thôi. Nh́n thấy phốp pháp vậy chứ không béo lắm đâu.

Thấy tôi thanh minh, cả hai anh chị đàn anh, đàn chị cùng nở một nụ cười cảm thông vui vẻ. Thế là tôi sắp được trở thành con hát quan họ.
Cô Thúy, một cô gái trẻ đem đến cho tôi một bộ quần áo, bộ quần áo có lẽ đă mặc qua nên tôi hơi ngần ngại. Từ nhỏ, tôi vốn sợ cái bệnh hôi nách nên ít khi dùng quần áo chung của ai. Những năm học tiểu học ở Sông Cầu, nghèo khổ là vậy, đi học chỉ duy nhất một bộ vậy mà khi chú tôi cho mượn áo, tôi cũng không dùng thế mà giờ này, tôi lại phải bận một bộ quần áo của người lạ. Thấy tôi có vẻ ngần ngại, cô Thúy hiểu ư, nói:

- Ông anh cứ mặc vào đi, quần áo này được giặt giũ sạch sẽ rồi!
Tôi nh́n vào khuôn mặt khả ái của cô gái. Chắc đang ở độ đương th́, cặp vú nở tṛn căng nhung nhúc, để lộ hai đầu vú nhọn tṛn như hai đầu con quay. Tôi thầm khen cho người tạo mẫu ra cái yếm thắm này. Cái yếm này, tôi đă thấy cô tôi rồi các bạn học của tôi bận từ ngày tôi c̣n trẻ lắm vậy mà ngày nay, ở các xứ Âu tây người ta mới vẽ ra cái mẫu yếm này. Năm ngoái, nhờ cái mẫu yếm này mà vợ tôi bán được một số hàng khá lớn. Giờ này mới là cuối đông mà các nhà tạo mẫu Âu tây đă cho ra cái h́nh mẫu yếm mới, nó nằm xéo và mang màu sắc mới. Thế mới biết rằng tổ tiên của chúng ta có cái nh́n tinh tế và đi trước bọn Âu tây hằng trăm năm.

Phải đứng trước dung nhan của cô Thúy, cũn cỡn trong chiếc yếm mỏng manh mới thấy được rằng các nhà vẽ mẫu của chúng ta ngày xưa thật là phóng khoáng và tinh đời. Chỉ cần một vuông vải mỏng, với hai sợi dây cột buộc sau lưng, đă bó tṛn được cặp vú nhung nhúc, bềnh bồng nổi gợn màu hồng da thịt mờ ảo, ẩn hiện trong lớp vải mỏng. Để hở cái lưng trần trắng nơn, toát tỏa mùi thơm da thịt, ḥa quyện thơm ngát mùi hương đồng.

Hăy nh́n kỹ cô Thúy ḱa! Phải chăng thượng đế tạo nặn ra cô để tôi đứng nh́n ngây ngất không nhỉ!

Thúy đă choàng chiếc áo dài cho tôi, chiếc áo khá vừa vặn. Tưởng thế là xong, đàn anh đến xem, bắt tôi phải tỉa cắt lông mày và xoa lên mặt một lớp son phấn. Thú thật hai cái điều này là cái điều cấm kỵ đối với tôi. Hầu như ai nh́n vào cặp lông mày của tôi cũng ác cảm, họ bảo dữ quá! Nhiều người bạn đề nghị cắt bỏ, vợ tôi cũng thế, nhiều lúc định rằng đợi đến lúc tôi ngủ say sẽ cầm kéo cắt bớt nhưng rồi nàng sợ cái gương Quan Âm Thị Kính nên chưa ra tay. Tôi cũng chúa ghét mấy anh chàng nam ca sĩ thoa son, trát phấn trên mặt mỗi khi tŕnh diễn. Nhiều lúc tôi đang nghe mấy bản nhạc khá hay, bỗng đâu xuất hiện anh ca sĩ gương mặt đầy son phấn, tôi cảm thấy nhột nhạt, kỳ kỳ làm sao ấy, tắt bài nhạc đang nghe dở, đi làm chuyện khác.

Bây giờ tôi phải bôi mặt làm nghệ sĩ. Người ta nói: “Ghét của nào, trời cho của ấy!” Không hiểu có đúng với tôi trong trường hợp này không? Tôi định bụng không chấp nhận nhưng nh́n cặp vú nhung nhúc của Thúy cùng các cô gái khác. Tôi buộc ḷng phải trở thành hoạn quan.

Anh Lâm và chị Nga đưa tôi lên đền Cả để nhập vô đoàn hát của họ. Th́ ra họ chưa tập luyện hát ngay mà phải tập trung để nhập lễ rồi rước Thành Hoàng từ đây xuống đồi Lim. Gọi là đồi Lim v́ ở đây trứơc kia có rất nhiều cây Lim. Mục đích của cuộc rước này là để dân làng bắt đầu dọn dẹp đường cái, nhà cửa hai bên đường và để cho con hát có dịp tập dượt, chuẩn bị cho lễ hội.

Đồi Lim không cao lắm nhưng từ đây có thể quan sát một con đường thẳng tắp từ đồi xuông tới ao làng. Hai bên đường cờ xí rợp trời, những chiếc cờ đuôi nheo căng gío tung bay phất phới với đủ mọi màu sắc, nh́n rất vui mắt. Chung quanh ao làng, hàng ngàn khách thập phương kéo đến xem kín mít, những chiếc thuyền chút nữa đây sẽ được các liền anh, liền chị biến thành sân diễn đă được neo đậu ngay những chiếc cầu gỗ, bên cạnh những cánh sen tím ngát. Những cô gái mặc áo tứ thân, đầu đội nón quai thao vẫn tất tả ngược xuôi. Đang c̣n quan sát cảnh người tấp nập kéo đến nối dài đoàn rước, cô Thúy từ dưới ao làng đi lên, trên đỉnh nón quai thao, cô đội một nia toàn là táo dai, trái nào trái ấy to tṛn và chín mộng, phát cho mọi người trong đoàn. Tôi cầm lấy 2 trái, cô dí thêm vào tay tôi thêm mấy trái nữa. Tôi làm theo anh Lâm, chùi trái táo vào đùi rồi đút vô miệng cắn một miếng. Táo ở đây ngon gịn và thơm phức, một vị ngọt dịu và mát miệng. Tôi đoán là họ ăn táo cho trong tiếng chăng?
Không thể nào tôi lại có thể bỏ qua cái nh́n dán chặt vào thân h́nh cô Thúy. Hai vạt áo đung đưa, lúc lắc qua lại theo dáng đi, để lộ hai thăn vú ngoài góc yếm, trắng nơn, tṛn trĩnh và căng đầy. Tôi lén lấy máy h́nh ra chụp một vài pô, may là máy nhỏ và có màn h́nh nên không cần phải đưa lên nhắm. Chắc là không có ai nh́n thấy? Tôi định bụng rằng chút nữa đây, tôi sẽ làm một bài quan họ tặng Thúy.
Cô Thúy đă đi khuất nhưng tôi vẫn đứng chết trân cho tới khi anh Lâm vỗ vào vai tôi.
- Anh bạn ơi! Ḿnh đi thôi! Tương tư rồi ả?

Tôi giật ḿnh khi biết được người khác đọc được ư nghĩ của ḿnh. Tôi thán phục Lâm nhưng lại tự an ủi. Thằng đàn ông nào chẳng thế, khác nhau là hắn ta nh́n quen h́nh ảnh này quá rồi nên đă nhàm mắt.
Đoàn rước bắt đầu khởi hành và đủ mọi loại nhạc cụ được trổi lên. Mỗi đoàn đều có những thanh âm và bài hát riêng của ḿnh. Tôi không rành âm nhạc và có cặp lỗ tai không thính nên đă không phân biệt được những âm thanh phát ra. Có bài th́ nghe có vẻ quen thuộc, có bài th́ nghe lạ lắm, không hiểu ở thể điệu nào.

Trong đoàn tôi, cô Nga cũng đă bắt đầu trổ lên tiếng hát và tiếp đó là Lâm. Họ hát điệu ǵ tôi không biết, nghe na ná như những giọng điệu mà tôi thường nghe trong các tuồng chèo cổ Bắc phần. Sau Nga và Lâm là các con hát trai gái phụ họa. Họ vừa hát, vừa quay ṿng bên nhau, thỉnh thoảng đưa chén rượu, cơi trầu lên mời nhau. Tôi cảm thấy lạc lơng, thỉnh thoảng cũng định lên tiếng phụ giọng ̣ ơi nhưng sợ người khác lạc giọng nên không dám. Lâm biết ư, đưa cho tôi chiếc quạt rồi chỉ tay về một phía một ông bô lăo đang vừa vung quạt, vừa hất cẳng theo nhịp. Tôi hiểu ư làm theo. Thấy chỉ một động tác thông thường mà làm theo sao mà khó thế! Thấy ông lăo kia làm động tác ǵ th́ tôi làm theo như thế. Thấy ông lăo cầm quạt, rồi kiễng cẳng quay ṿng, tôi làm theo. Th́nh ĺnh tôi thấy chóng mặt, mất thăng bằng, tựa hồ như muốn đứng không vững. Cô Nga nh́n tôi, lấy quạt che miệng cười. Tôi tự cảm thấy thật là vô dụng, đúng là “văn dốt vơ dát” nên định bụng khi đoàn rước xuống tới cầu ao là xin phép cáo từ, rút ra khỏi đoàn.

Cô Thúy lại từ cầu ao đi lên, vẫn cái eo thon nơn nà, vẫn với cái vạt yếm cũn cỡn, không đủ che kín thân h́nh. Cô nh́n tôi, miệng cô nở nụ cười tươi như hoa, khiến tôi cảm thấy háo hức, rạo rực khôn tả. Tôi dán chặt mắt nh́n cô, cô ngượng ngùng sao đó, quay nh́n đi nơi khác.

Tai tôi không c̣n nghe rơ lời nhạc tiếng ca nữa mà chỉ nghe rơ tiếng hát ngâm của chính ḿnh, tiếng ngâm lập lờ trong tâm năo. Th́ ra tôi đang làm một bài ca quan họ. Tôi chẳng rành thể điệu, nghe thấy âm thanh và lối hát láy và cứ thế nhẫm theo và tạo vào ư thơ của ḿnh.

Em gái quan họ
(Tặng Thúy và đoàn ca Lim)

Em che yếm thắm nửa người
Hở lưng trần nơn, để đời lên hương
Giọng ca em hát du dương
Nghe em láy giọng, anh thương vô vàn!

Về đây Quan họ ngút ngàn
Lời ca trầm bổng mở màn yêu đương
Liền anh, liền chị mến thương
Miếng trầu, ly rượu nhớ thương ngút ngàn

Về đây quan họ kết đoàn
Bên em yếm thắm, nơn nàng yêu đương
Nh́n em sao thấy vấn vương
Bên em sao thấy yêu thương nồng nàn!

Tôi nhẫm đi nhẫm lại cho thuộc hẳn rồi viết vội ra tờ giấy, chờ Thúy đến để nhét vội vô tay nàng. Nghĩ th́ nghĩ thế nhưng mỗi lần Thúy qua lại, tôi lại cứ cảm thấy ngường ngượng làm sao ấy! Cứ định đưa rồi lại thôi. Tôi cảm thấy ḿnh như thằng con trai mới lớn, cảm thấy thân xác yếu mềm trước một cô gái ḿnh để tâm để ư.

Lâm lại hiểu ư tôi, anh nói:
- Thôi đưa đây anh hai, để đàn em làm ông tơ bà nguyệt cho.
Thấy Lâm có vẻ ma mănh nhưng rất thân t́nh, tôi đề nghị Lâm đọc bài thơ trước khi trao cho Thúy. Đọc xong bài thơ tôi viết, Lâm tiếp:
- Được quá đi chứ! Thế này là nhất rồi! Làm ǵ mà cô Thúy lại không “phải ḷng”?
- Ấy chết! Anh đừng nói như vậy không nên. Tôi không có ư đó đâu. Qua đường thấy người tài sắc th́ nổi chút thi hứng vậy thôi.
- Ấy làm ǵ mà phải khéo lời! Chút nữa đây bọn em sẽ hát mấy vần này cho ông anh nghe nhé!

Vừa nói xong, Lâm tiến nhanh bước, bắt kịp cô Thúy đang ve vẩy phân phát thứ ǵ cho ai đó! Không hiểu Lâm đang nói ǵ với Thúy, chỉ thấy thỉnh thoảng cô ta nh́n về phía tôi, đập chân, giẫy nảy. Từ lúc đó cho tới khi đoàn rước xuống tới ao làng, tôi không thấy Thúy đâu nữa.
Thấy vai tṛ của ḿnh trong đoàn thật vô duyên và vô tích sự, vả lại cũng đă đến giờ lên đường đi Ngăm Giáo nên tôi buộc ḷng phải kiếu từ đoàn ra đi. Anh Lâm và chị Nga cố giữ tôi lại nhưng rất tiếc tôi không thể tŕ hoăn lâu hơn. Trước khi ra đi, tôi nhét vội hai tờ giấy bạc vào hai tờ giấy, gấp lại rồi trao cho anh Lâm và chị Nga. Một tờ biếu đoàn và một tờ biếu cô Thúy. Biếu đoàn v́ đoàn đă cho tôi được một nửa ngày trời vui thú hứng khởi, cho tôi nhập đoàn, bôi son thoa phấn diễn tuồng. Tiếc một điều là tôi vụng về quá, không làm ǵ nên chuyện. Một tờ biếu cô Thúy, phần v́ cái nét đẹp kiêu sa lăng mạn của cô, một phần tạ tội với cô v́ đă gây cho cô những ngượng ngùng, mắc cở.

Không giữ tôi được lâu hơn, anh Lâm chị Nga đă tặng tôi một gói xôi, một ít trái táo dai cùng một lá cờ đuôi nheo làm kỷ niệm. Sau đó, anh chị huy động mọi người vào góc bờ ao, nơi dành cho đoàn tập dượt để hát một bài tặng và tiễn chân tôi. Tôi rất cảm động và muốn bật khóc khi tôi được nghe chính cô Thúy (chứ không phải cô Nga) và anh Lâm trổ bài thơ của tôi tặng Thúy sang thể quan họ.

Em che “này” yếm thắm “chứ” nửa người
Hở lưng “này” trần nơn “chứ”, để đời “là đời” lên hương í ́ í i
Giọng ca “này” em hát “chứ” du dương
Nghe em “này” láy giọng “chứ”, anh thương “là thương” vô vàn! í ́ .
....................................................

Nh́ n em “mà” sao thấy “chứ” vấn vương
Bên em “th́” sao thấy “chứ” yêu thương “là thương” nồng nàn! í ́ i

Giọng ca của Thúy cao vút tới tận trời xanh rồi rơi quyện vào ḷng tôi, khiến ḷng tôi nức nở tới tận cùng. Tôi cảm động và thấy thân thể ḿnh như mất trọng lực, tôi thả hồn xa xa, ḥa quyện với lời ca tiếng hát. Trên bầu trời xanh và cao vút, những con nhạn đang bay lượn, đong qua đan lại, như đang chào đón một mùa xuân t́nh ái.
Tôi phải dằn ḷng để không bật lên tiếng thổn thức v́ cảm động. Những ca viên quan họ, diễn ngâm hay quá, những tiếng láy giọng của họ như chọc thủng vào tận tâm can của tôi. Tôi liếc mắt nh́n Thúy, cô vẫn đang say sưa hát lại lần thứ hai như một điệp khúc mang nặng t́nh cảm để trao tặng tôi trước khi ra đi.

Tôi tiếp tục lên đường đi thăm viếng làng Ngăm. Những cánh đồng làng Lim xanh ngắt cứ thi nhau tụt lùi xa tít nhưng bên tai tôi vẫn c̣n văng vẳng những lời quan họ yêu thương chan t́nh và chan chưa t́nh người.

Trước mắt tôi, trên cánh động mạ non xanh mướt, lại chợt hiện lên h́nh ảnh một giai nhân, đeo yếm thắm nửa người.

Hoàng Ngọc Lễ ( cadao)

hoangthymaithao
04-13-2010, 02:34 AM
http://i44.tinypic.com/e24a9.jpg

Chiều ca dao

Cơn mưa chiều đă tạnh từ lâu
Trời đằm thắm như chưa hề mưa nắng
Để em bảo lũ chuồn chuồn cánh mỏng
Bay là đà vừa đủ để trời râm
Ngủ đi anh
Cho em lùa tay vào mái tóc xanh
Như ngọn gió lùa qua cành mơn trớn
Gió th́ lạnh mà tay em th́ ấm
Ngủ cho ngoan ơi những nhánh tóc mềm
Cứ tựa ḿnh vào cánh tay em
Sợi tóc bạc của đêm dài thao thức
Cho em nghe nửa cuộc đời đắng ngọt
Đang ḥa dần vào cả cuộc đời em
Ngủ đi anh
Hăy ngủ thật b́nh yên
Đừng trăn trở mà làm đau cả mộng
Và vầng trán như một vùng biển động
Xin hăy v́ em đừng dậy sóng bạc đầu
Ngủ đi anh! Ngủ đi anh!
À ơi!
Con c̣ bay lả bay la
Bay từ cổ tích bay qua đời ḿnh
Bao giờ rau diếp làm đ́nh
Gỗ lim ăn ghém th́ ḿnh xa nhau…
À… à ơi!
Thân em là hạt mưa rào
Một chiều cả gió lạc vào ḷng anh
Ta về sắm nhiễu Nghi Đ́nh
À ơi!
Ta về sắm nhiễu Nghi Đ́nh
À ơi!
Thôi ngủ đi, ngủ đi ơi ḍng sông trăn trở
Trăm nhánh ưu phiền xin chảy hết về em

Ngô Thị Ư Nhi

hoangthymaithao
04-15-2010, 01:53 AM
Hằng năm sau khi mùa Đông mặc áo ấm ra đi, mùa Xuân phơi phới lại đến để bắt đầu một năm mới theo chu kỳ của tạo hóa thiên nhiên cho không gian chúng ta bừng sống lại của hương hoa phảng phất, để muôn hoa phô sắc thắm và người ta nói đến sự thưởng ngoạn vẻ đẹp của hoa, để chúng ta sẽ bàn thêm về những loại hoa. Một cành mai gầy trong gió đông hay một chiếc lá ngô đồng rụng báo hiệu mùa thu sắp đến, hay một đóa sen tỏa hoa vào mùa hạ; Hoặc một nụ tầm xuân vừa hé nở … đều được con người chiêm ngưỡng, quan sát như những biến dịch của trời đất, rồi từ đó suy nghiệm, nhận ra những qui luật tiến hóa của thiên nhiên trong ư niệm sanh diệt.

Hoa là biểu hiện cho cái đẹp mà tạo hóa đă ban tặng cho con người. Sự hiện diện của hoa trong địa cầu hay cuộc sống giúp cho tâm hồn con người dễ ḥa nhập vào với thiên nhiên,vơi bớt những ưu phiền. Cái đẹp của hoa biểu tượng cho sự hoàn thiện và vĩnh cửu, dù cho hoa có sanh diệt theo lẽ vô thường. Người ta yêu hoa v́ cái đẹp của hoa, của đời và của người. Nhưng con người khi yêu cái đẹp đă vô t́nh đem cái đẹp của hoa giam vào xă hội nhân thế đa đoan. Con người tùy theo sở thích, quan niệm riêng tư trong cung cách xử thế, đă phân định đẳng cấp cho hoa như: Mẫu đơn là Vương giả chi hoa; Hà hoa(hoa sen) là Quân tử hoa; Nguyệt Quế là Hoàng hậu hoa; Sơn trà là Trân phẩm hoa; Đỗ quyên là Tây Thi hoa, v.v.…


http://viet.gutenberg.free.fr/huediepchi/nImages/malusSpectabilis.jpg

Ba từ ngữ đồng nghĩa "Huê", "Bông" hay "Hoa" được con người chia thành hai lọai chính: loại đẹp (sắc) và loại thơm (hương). Nên ta có những hoa vừa đẹp vừa thơm (hữu sắc hữu hương), những hoa chỉ đẹp không thơm (hữu sắc vô hương), những hoa chỉ thơm không đẹp (hữu hương vô sắc), hay đến những hoa không đẹp không thơm ( vô hương vô sắc/hoa cỏ ngậm ngùi hic, hic...). Đó chỉ mới nói về sự thưởng ngoạn hương sắc hoa. C̣n nói về thể chất hoa th́ có hoa mỏng manh, có hoa bền bỉ, có hoa mềm mại,có hoa cứng cát …Về màu sắc th́ muôn màu như trắng, đỏ, tím, vàng... Chưa kể đến sự hiện hữu của hoa trong văn chương thi phú, thơ ca... cho đến “nền“ văn hóa ẩm thực, như các loại hoa không ăn được và hoa ăn được dùng làm thực phẩm.

Hoa dùng làm thực phẩm th́ cũng có hoa đẹp, hoa không đẹp, nhưng thôi xin không bàn về sắc hương nữa , mà chỉ nói đến các món ăn được chế biến từ các loại bông hoa như: bông bí, hoa chuối, bông điên điển, bông lục b́nh, bông hẹ, hoa hiên, bông lẻ bạn, bông mướp, bông sầu đâu, bông so đũa, bông sen, bông súng và hoa thiên lư.

BÔNG BÍ:

Bông bí dùng để ăn là bông bí đực của cây bí rợ, không thể đậu trái. Bông bí lớn, màu vàng tươi rất vui mắt. Bông bí được cắt chừa cuống dài, bó thành bó nhỏ đem ra chợ bán, nhưng không có nhiều, chỉ có theo mùa. Thông thường bông bí đem về được rửa sạch, sau đó luộc chấm nước kho cá, kho thịt hay chấm nước tương dầm ớt. Bông bí luộc có vị ngọt, hơi nhân nhẫn, phần tiếp giáp giữa cuống và bông hơi dai dai, ăn rất ngon. Bông bí c̣n dùng để nấu canh, xào tỏi, xào thịt ḅ, xào nghêu…xào bông bí phải canh cho vừa chín mới c̣n ḍn. Món đặc sắc nhất của bông bí là “bông bí dồn thịt chiên“ hay c̣n gọi là chả bông bí.

Bông bí vừa chớm nở phải hái xuống ngay, tướt xơ ở cuống, xoi tim, rửa sạch, để ráo.Tôm, mực, thịt nạc vai heo quết nhuyễn, trộn tiêu hành, mắm muối, bột năng. Bẻ gập các cánh hoa úp đè lên nhau, nhẹ tay bỏ vào chiên với lửa nhỏ để bông bí c̣n màu vàng tươi, không bị cháy xém. Chả bông bí beo béo, thơm thơm, chấm nước tương dầm ớt. Món ăn này thường được làm trong những ngày giỗ, tết của gia đ́nh hay tụ họp, đăi đằng, chả bông bí không những phổ biến ở miệt vườn lụcv tỉnh nam bộ, mà c̣n nổi tiếng ở miền trung như Huế nữa. Ca dao miền Nam có câu:


"Má mong gả thiếp về vườn
Ăn bông bí luộc, dưa hường nấu canh"

Hiện nay với trào lưu fast-food đă Tây phương hóa dần dần cung cách ăn uống ở Đông phương nói chung, ở Việt Nam nói riêng, bạn tôi nhà thơ TTSH đă cho câu thơ “ư nghĩa” rằng th́ là:


"Má mong đưa thiếp lên thành
Biết ăn fast-food cho rành… người ta"

HOA CHUỐI:

Người miền Bắc gọi là hoa chuối,th́ người miền Nam lại gọi là bắp chuối. Thường buồng chuối trổ đủ nải rồi, người ta cắt bớt đi các bắp chuối. Bắp chuối có màu tím, ngon nhất là bắp chuối hột. Bắp chuối được chế biến thành nhiều món ăn như: trộn gỏi, nấu canh, ăn ghém và chiên làm đồ chay…

- Gỏi bắp chuối (nộm hoa chuối ): Bắp chuối lột bỏ phần bẹ già, c̣n phần non xắt mỏng, ngâm nước pha chanh hay dấm cho khỏi đen và ra bớt nhựa, vớt ra, để ráo.Trộn chung với tôm thẻ, thịt heo luộc, hến, gà luộc xé phay hay vịt luộc chặt miếng… rồi rau răm, củ hành tây xắt mỏng, đậu phọng rang giă nhỏ, nước mắm pha đường, chanh, tỏi, ớt.

- Canh chua bắp chuối: Bắp chuối phần non thái mỏng, nấu canh chua me dầm với tôm, cá, lươn…

- Bắp chuối bào trộn với các thứ rau sống khác, rau muống chẻ để ăn chung với các món nước như: bún riêu, bún ḅ, lẩu các loại…

- Phần trắng giữa bẹ bắp chuối được dùng thế ḿ căn làm món chay như gà xào xả ớt, tôm lăn bột chiên.

Cây chuối rất dễ trồng ở Việt Nam. H́nh ảnh của bờ tre đầu làng, bụi chuối te tàu sau vườn là h́nh ảnh của quê nhà trong tâm người xa xứ, bụi chuối c̣n là h́nh ảnh người đàn bà Việt Nam trong ca dao:


"Gió đưa bụi chuối sau hè
Anh theo vợ bé, bỏ bè con thơ
Con thơ tay ẳm, tay bồng
Tay dắt mẹ chồng, đầu đội thúng bông"

BÔNG ĐIÊN ĐIỂN:

C̣n được gọi là “hoa mùa lũ” hay “hoa cứu đói”. Do mỗi năm, khoảng một tháng sau khi nước lên theo mùa, ở vùng châu thổ sông Cửu Long, bông điên điển trổ đầy cành những cánh hoa vàng rực rỡ, trên những cánh đồng ngút ngàn. Trong những ngày không làm việc được để kiếm tiền, người nông dân chống xuồng ba lá đi hái bông điên điển tươi bán đổi gạo, làm dưa, hay nấu cháo với bông, luộc bông ăn cầm cự đói:


"Cầm trên tay chùm “hoa mùa lũ”
Tên ḷai hoa chân chất quê nhà
Bông điên điển nở vào kỳ giáp vụ
Vượt lên trên ngầu đục phù sa
“Hoa cứu đói “, bà con thường gọi thế"
(Bùi Văn Bồng)

Bông điên điển lặt, rửa sạch, ngâm với giá sống trong nước muối có độ mặn vừa phải, chừng 3 ngày th́ chua, thành dưa điên điển, dùng chấm nước kho cá, kho thịt, nấu canh với cá rô. Mùa nước nổi là mùa tôm cá sinh sôi đầy đặc dưới nước. Người ta giăng lưới, câu, xúc, kéo vó quanh nhà chừng nửa giờ là có cá rô con, rô mề cỡ mấy ngón tay. Canh dưa điên điển cá rô chẳng cần nêm, nếm ǵ thêm cũng đủ vị mặn, chua hấp dẫn. Bông điên điển dùng làm rau sống nhúng lẩu cá, lẩu mắm, xào tép, thay giá làm nhân đổ bánh xèo với thịt heo, ăn với các loại rau, đọt trong vườn, chấm nước mắm pha tỏi ớt; Làm mắm chay hoặc Nấu canh chua. Mùa điên điển ra bông cũng là mùa cá linh từ Biển Hồ trôi giạt xuống vùng sông Tiền, sông Hậu. Cá linh nấu với me sống vừa chua, làm lẩu, nhúng chỉ duy nhất bông điên điển vào. Hoặc bông điên điển được nấu canh chua với cá bông lau, đậu bắp như trong thơ Bùi Chí Vinh:


"Tôi biết có nồi canh điên điển
Cá bông lau, đậu bắp, mỡ hành
Em ngậm cái màu bông chín nơn
Thẹn thùng không nói được tiếng : anh
… Con sáo sang sông, con sáo hiếm
Kỳ hoa thành lẩu đăi nhà quan
Đâu biết có nồi điên điển luộc
Ăn thay cơm trên sóng thủy thần
Em ngậm cái bông màu nước mắt
Kỷ niệm buồn như một tiếng anh"

Hay h́nh ảnh bông điên điển và bông lục b́nh trong ca dao miền Nam:

Lục b́nh bông tím, điên điển bông vàng Điên điển mọc ở đất làng Lục b́nh trôi nổi như chàng hát rong

BÔNG LỤC B̀NH:

C̣n có tên là sen nhật, bèo tây. Lục b́nh là thân cây cỏ, sống nổi trên mặt nước, có cuống phồng lên thành phao nổi. Lá có gân, h́nh cung. Hoa mọc thành chùm ở ngọn. Hoa không đều, có màu tím xanh, đài hoa và tràng hoa cùng màu, dính liền nhau ở gốc. Cánh hoa trên có đốm vàng, 6 nhụy (3 dài, 3 ngắn). Người ta dùng bông lục b́nh làm gỏi, chấm nước cá kho.


"Lục b́nh ai thả trôi sông
Mà sao tím cả mấy gịng sông quê
Xa nhà, xa mấy triền đê
Mà nghe thương nhớ lối về mênh mông
Ai về t́m lại khỏang sông
Có hoa tim tím cánh đồng ngày xưa"
(Ḥai Trâm)

BÔNG LẺ BẠN:

Cây lẻ bạn có nguồn gốc từ các nước Trung Mỹ, được trồng rộng răi ở Việt Nam. Cây trồng trong chậu làm cây cảnh, trồng ngoài vườn để làm thuốc. Cây có thân rất ngắn, lá mọc gần như sát đất. Lá không cứng, có bẹ, đầu thuôn dài, mặt trên màu xanh lục, mặt dưới màu đỏ tím. Cụm hoa nhỏ, mọc ở nách lá, ngoài có hai mo úp vào nhau, giống như vỏ con ṣ, nên c̣n được gọi là bông ṣ huyết (oyster plant). Hoa màu trắng, dùng làm thuốc trị ho, hay nấu canh với xương heo ăn cho mát, bồi bổ cơ thể suy nhược.
Đâu phải tại bông mà ḿnh thành lẻ bạn:


"Tại tía má em đành đọan
Đốn ngọn cây bần
Chê anh nghèo áo chẳng ấm thân
Không cho ghe cá được gần ghe tôm."

BÔNG HẸ:

Cây hẹ đây là hẹ trồng, chứ không phải hẹ nước để ăn mắm kho. ông hẹ tiếng Tàu gọi là Cửu thái, tiếng Anh là Chives. Bông hẹ màu trắng. Nấu canh với đậu hủ tươi ăn giải nhiệt . Xào với ḷng gà (tim , gan ,mề), nghệ ăn để trị ho.

BÔNG MƯỚP:

Cây mướp dễ trồng, thuộc họ dây leo, chưa phủ kín giàn đă ra hoa. Người ta thường có câu: ”Nụ cà, hoa mướp“. Hoa mướp màu vàng rực, nụ hoa tṛn và đen. hông bằng bông bí, nhưng hoa mướp cũng được dùng luộc, xào ḷng gà, ngon nhất là hoa mướp hương , ăn bùi và béo.

BÔNG KIM CHÂM:

Tiếng Tàu gọi là kim châm hay hoàng hoa. Tiếng Việt gọi là hoa hiên. Cây thường mọc hoang. Cuống hoa da`i từ 80- 100 cm, đầu cuống chẻ làm hai, có từ 6-12 hoa. Hoa màu vàng, phơi khô thành màu nâu. Người ta thường dùng hoa kim châm khô với nấm mèo để nấu canh, hầm thuốc bắc, tiềm vịt, gà… Hoa kim châm có vị ngọt, tính mát, được dùng làm thuốc lợi tiểu, giảm đau, chữa chảy máu cam. Ngày nay cây được trồng nhiều ở vùng cao nguyên Trung phần Việt Nam.

BÔNG SÚNG:

Cây súng là giống cây mọc hoang dại quanh năm ở dưới nước của đồng bằng miền Nam. Từ ao, hồ, đầm đến mương, kênh, rạch,láng, bàu, trũng… Vùng Đồng Tháp Mười cây súng mọc nhiều nhất, nên ca dao miền Nam có câu:


"Muốn ăn bông súng mắm kho
Th́ vô Đồng Tháp ăn cho đă thèm"

Cây súng có lá tṛn giống lá sen, phía trên màu xanh lục, phía dưới màu hồng nhạt, nổi trên mặt nước. Có hai loại bông súng: Súng sen được trồng ở đầm chùa, ao làng có bông màu tím đỏ, rất to. Súng dại có cuống lá nhỏ, bông màu trắng hay tím. Bông súng có nhiều lá noăn gắn với nhau thành một bầu nhiều ô. Bông có 4 lá đài, 20-30 cánh hoa, 30-50 nhụy. Nhụy bông súng màu vàng. Thật ra, người ta chỉ xài phần thân, cọng súng màu nâu, nhưng vẫn gọi đó là bông súng.

Bông súng muốn ăn phải tướt vỏ, xắt khúc, ngâm nước cho sạch. Bông súng dùng trộn gỏi; Ăn sống với mắm kho; Nấu canh chua với cá đồng; Bóp muối cho héo, ngâm giấm làm dưa.


http://img205.echo.cx/img205/6564/bingjiao5kc.jpg

BÔNG SEN:


"Trong đầm ǵ đẹp bằng sen
Lá xanh, bông trắng lại chen nhụy. vàng
Nhụy vàng, bông trắng , lá xanh
Gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn"

Hoa sen từ xưa đến giờ vẫn được xưng tụng là một loài hoa thanh khiết, được dùng để dâng, cúng Phật . Hoa sen hữu hương, hữu sắc. Hoa sen trắng mang vẻ tinh khiết. Hoa sen hồng có nét thắm tươi. Phù cừ là tên một loài sen nổi tiếng. Nói về hoa sen th́ không bút mực nào kể cho xiết. Từ chuyện ngài Ma Ha Ca Diếp nh́n sen mà bừng nở tâm hoa, mỉm cười ngộ đạo trong câu chuyện “Niêm hoa vi tiếu” của Phật giáo đến những cái diệu kỳ, tinh túy của hồn hoa sen. Hoa sen là một loại thực vật đắc dụng vô kể , không bỏ xót thứ ǵ. Trong địa hạt Đông y , mỗi bộ phận của cây sen có tính trị liệu khác nhau:

- Gương sen (liên pḥng) , lá sen (hà diệp), vỏ ngoài hột sen: tánh mát, trị tiêu chảy, cầm máu.
- Hột sen (liên nhục):
vị thuốc bổ t́, bổ thận.
- Nhụy sen (liê tu): thông thận, cầm máu,giữ tinh(liên tu bất tận).
- Tim sen (liên tử tâm/lơi xanh trong hột sen): an thần, trị huyết áp cao.
- Ngó sen (liên ngẫu): thanh nhiệt, dùng sống giải rượu, nấu chín giải độc trong thức ăn đồ biển.

- Củ sen: chữa bệnh mất ngủ, hoạt tinh.

Trong phạm vi ẩm thực, cây sen được xử dụng từ: Gương sen phơi khô đem đun thay củi; Lá sen gói cơm, xôi, quà bánh giữ được hương vị rất lâu; Lá sen non nấu cháo trị chứng giữ nước, phù thủng…

Hột sen tươi hay khô được xỏ xâu dùng nấu chè , làm bánh, làm mứt, tiềm vịt, tiềm gà,… Ngó sen làm gỏi. Củ sen làm mứt, luộc, chiên bột, hầm canh… cho đến trà ướp hương sen. Hoa sen vị ngọt, hơi đắng, không độc, có tánh ấm, giúp an thần, trị xuất huyết. Có một món ăn nấu từ hoa sen của nhà văn Tản Đà, đă trở thành giai thoại: Vịt hấp hoa sen. Ông cho rằng tinh túy của sen đọng lại ở hoa, nên dùng cánh hoa sen phủ kín vịt để hấp cách thủy. Vịt ở đây là vịt tơ vừa, được làm sạch bằng rượu, khử mùi bằng gừng, ướp gia vị cho thấm trước. Khi vịt chín, bao nhiêu hương hoa ngấm hết vào thịt. Ăn cả thịt vịt mềm, không bị béo ngậy cùng hoa thơm, nọt. Đến hết vẫn c̣n “vương vấn“ hương vị, cứ như là: ” Dẫu ĺa ngó ư c̣n vương tơ ḷng“ ( Nguyễn Du ), c̣n theo ư thơ của Mạnh Giao: "Thiếp tâm ngẫu trung tị , tuy đoạn do khiên liên" (Ḷng thiếp tơ trong ngó sen, dù đứt c̣n vương hoa)

BÔNG SẦU ĐÂU:

Tên gọi sầu đâu dễ bị lầm lẫn với tên gọi là thầu đâu, là sầu đông của cây xoan ta. Cây sầu đâu có nhiều ở vùng Thất sơn, An Giang, Châu Đốc, những tỉnh giáp giới Campuchia. Cây sầu đâu thân gỗ, cao to,vỏ sần sùi ,chứ không trơn láng như thân cây xoan ta. Lá xoan ta độc, không ăn được, c̣n lá non và bông sầu đâu th́ ăn được. Lá sầu đâu dùng làm thuốc sốt rét. Bông sầu đâu ra hoa vào mùa xuân, màu trắng, mọc thành từng chùm như hoa nhăn, dùng làm gỏi. Gỏi sầu đâu tương đối dễ làm: Rửa sạch bông và lá non, có thể trụng sơ qua nước sôi. Nướng khô cá sặc rằn, khô cá lóc, xé nhỏ, bỏ vào. (Nếu không có khô th́ có thể thế bằng cá lóc nướng trui xé nhỏ). Trộn thêm rau thơm, hành tây xắt mỏng, xoài băm sợi… Ăn với nước mắm me, đường, ớt. Gỏi sầu đâu có vị đắng nhưng hậu ngọt dai.


"Thấm hoài vị đắng sầu đâu
Thương bông so đũa trắng đầu… má ơi !"
NTTN

BÔNG SO ĐŨA:

Cây so đũa hoặc mọc hoang, hoặc được trồng nhiều ở các vùng bờ quanh ruộng của đồng bằng sông Cửu Long. Cây so đũa thon cao, thẳng, vỏ nham nhám, xù x́, nứt nẻ. Trái so đũa nhỏ dài , h́nh dáng như chiếc đũa. Thân cây so đũa dùng làm cột nhà, cấy nấm mèo. Lá là món hảo của dê. Bông so đũa mọc ở trên cao, kết thành từng chùm , có 2 màu: trắng và tím. Bông so đũa có vị nhân nhẫn đắng, nhưng ngọt hậu. Đầu tháng 10 âm lịch trở đi , cây so đũa đồng loạt ra hoa, cùng lúc với mùa cá linh để có món ăn nức tiếng là cá linh nấu canh chua bông so đũa. (Cá linh thường được dùng làm mắm để dành; Chế biến nhiều món như kho mặn, kho mẳn lót mía, kho mắm với cà tím, kẹp vỉ nướng, chiên gịn, nấu canh chua với bạc hà… ). Bông so đũa lặt cuống, rửa sạch. Nấu nước sôi,dầm me, thả cá linh, nêm vừa miệng, hớt bọt, cho bông so đũa vào là nhấc xuống liền , để bông c̣n gịn mới ngon. Trên mặt bỏ ng̣ gai, rau om xắt nhỏ, thêm một chút tỏi phi, vài lát ớt tươi. Không có cá linh, người ta nấu canh chua so đũa với tôm, tép. Bông so đũa c̣n dùng luộc, xào, đặc biệt là món cá lóc bọc bằng bông so đũa hấp, chấm nước mắm đồng dầm ớt.

HOA THIÊN LƯ:

Cây thiên lư là một loại dây leo, dài hàng mét, thân non có lông, lá mọc đối. Hoa mọc thành chùm màu vàng chanh hay trắng ngà. Ban đêm hoa tỏa hương thơm ngát, nên c̣n được gọi là Dạ lai hương:


"Đêm thơm như một ḍng sữa
Lũ chúng em êm đềm rủ nhau ra trước nhà
Hiu hiu hương tự ngàn xa, bỗng quay về
Dạt dào trên hè, ngoài trời khuya
… Nhờ đêm đưa lối những ai làm ngát hương đời
Nhẹ bàn chân, hương đêm ơi ! (Phạm Duy)

Lá và hoa thiên lư được thu hái vào mùa hè, dùng tươi. Rễ thu hái vào mùa thu, phơi hay sấy khô. Lá có tác dụng chửa bịnhtrĩ, trị giun kim. Rễ chửa tiểu buốt hay ra máu. Hoa thiên lư giống như cái chuông gió nhỏ, lấp ló trong những tán lá xanh mướt. Ngoài chức năng làm đẹp:


"Tóc em dài em cài hoa thiên lư
Miệng em cười hữu ư anh thương"

Cộng mùi hương thoang thoảng, hoa thiên lư c̣n có vị ngon ngọt, tánh mát, được người nông dân miền Bắc coi như một loại rau có sẵn trong nhà. Hoa thiên lư đi vào ca dao qua câu:


"Thương chồng nấu cháo le le
Nấu canh thiên lư, nấu chè hạt sen"

Canh thiên lư mang hương vị đặc trưng của mùa hè. Nấu canh thiên lư không phức tạp. Chọn những chùm hoa mới nở, ngâm nước cho hết kiến, chùm hoa to th́ tách làm 2, 3 nhánh nhỏ. Ở thành phố th́ nấu hoa thiên lư với thịt heo bằm, gị sống. Nhưng kết hợp độc đáo của hoa thiên lư là cua đồng giă nhỏ là canh có hương vị đậm đà ngay. Hoa thiên lư xào với thịt ḅ, có ướp chút gừng và nước tương cho thấm. Ngày nay, người ta dùng hoa thiên lư như một loại rau sống, nhúng với lẩu các loại:


Người ấy dạo xưa vẫn hay sang
Xin mẹ từng chùm thiên lư hoa vàng
Về nấu nồi canh hoa thiên lư
Tưởng bắc đ̣ sang nối họ hàng
Bướm đậu vô t́nh, bướm lại bay
Để giàn cây mướt nở hoa đầy…
Chiều nay ngắt từng chùm thiên lư
Cánh mỏng manh, nhụy trắng, hoa vàng.

Chiều nay nấu nồi canh thiên lư
Giải nỗi sầu trong ḷng nặng mang.
LH

Nhiều dân tộc khác cũng có các món ăn chế biến từ các loài hoa như: người Nhật ăn hoa cúc đồng, người Pháp nấu thức ăn với choux-fleur, artichaut , người Hy Lạp dùng bông bí để chiên, dân Nam Mỹ có hoa của cây yucca dùng làm salad , xào.

Cụ Tiên Điền Nguyễn Du có câu:

”Chơi hoa dễ có mấy người biết hoa“. Ư cụ dùng là ám chỉ về sự thưởng ngoạn, chiêm ngưỡng hương sắc của đất trời ban tặng cho con người qua biểu tượng là muông hoa mỹ mieều trong không gian chúng ta. C̣n kiểu nếm hoa để thưởng hoa trong phạm vi bài sưu tầm này, th́ người viết được văn hữu TTSH phang ngay cho tước hiệu là: “Huê học giả“ khi đọc bản thảo. Phân tích từng chữ th́ thật là “khổ“ lắm thay !!! Bần bút xin miễn nhận phong vị cao sang này vậy. May sao nhà văn lăo thành Vơ Phiến trong bài “Ăn và đọc” đă phần nào "cứu bồ" cho người viết đỡ đặng chút đỉnh ư tưởng văn chương qua một đoạn văn như thế này: ”Nhưng văn chương nghệ thuật không khác cái ăn là mấy. Ca dao, dân ca là sản phẩm của một địa phương, và thưởng thức đến tận cùng cái hay ho của nó h́nh như cũng chỉ có thể là người địa phương… Như vậy, người ta không chỉ ăn bằng mồm. Con người đă ăn cả gốc gác quê hương, bằng phong tục tập quán của ḿnh, bằng khí chất riêng biệt của cơ thể ḿnh, cũng như bằng lịch sự, tŕnh độ văn hóa của xứ sở ḿnh. Trong một dĩa đồ ăn, có phản ảnh khí hậu một miền, của những đặc điểm sinh lư con người địa phương… Và giả sử nói có cả phản ảnh của một phần nào những đặc điểm tâm hồn trong đó có quá chăng ?". Sau cùng, người viết muốn mượn ư tưởng của cụ Vơ Phiến kết thúc bài biên khảo về hoa tại đây.

Xuân Phương

hoangthymaithao
04-22-2010, 05:36 AM
Chim mía Xuân Phổ
Cá bống sông Trà
Kẹo gương Thu Xà
Mạch nha Mộ Đức

Chỉ bốn câu vẻn vẹn 16 chữ, người b́nh dân đă giới thiệu được cả bốn đặc sản nổi tiếng của Quảng Ngăi, gắn nó với những địa danh tiêu biểu nhất. Về đặc sản cá bống sông Trà, có thể kể đến những câu ca dao rất hay khác, như:

Phải đâu chàng nói mà xiêu
Tại con cá bống tại niêu nước chè

Nước chè lá Minh Long sắc đặc phải nói là rất ngon sau mỗi bữa cơm, nhất là bữa cơm có món cá bống sông Trà kho tiêu. Dân gian đă mượn chuyện t́nh duyên đôi lứa để làm cái ''đ̣n bẩy'' bật lên sức hấp dẫn của đặc sản. Cũng với kiểu như vậy, với don, một đặc sản b́nh dân, lại có câu:

Con gái c̣n son
Không bằng tô don Vạn Tượng

Với lối nói thậm xưng, dân gian giới thiệu đặc sản của ḿnh với một niềm tự hào không cần giấu giếm, song vẫn giữ được sự tế nhị gấp nhiều lần kiểu quảng cáo. Bởi ca dao giới thiệu đặc sản với một tấm ḷng trong sáng, c̣n dạng tiếp thị thế kia lại ít dấu ấn văn hóa, dù nó ra đời trong một thời đại văn minh.

Một chút trào lộng, nhưng vẫn luôn trong sáng, người dân c̣n có câu khá vui:

Nghèo th́ nghèo, nợ th́ nợ
Cũng kiếm cho được con vợ bán don
Mai sau nó chết cũng c̣n cặp vị

Một chút chua chát, người dân kể chuyện t́nh lắt léo trắc trở do không môn đăng hộ đối mà vô h́nh trung lại giới thiệu được cái giá trị của đặc sản mắm nhum:

Sớm mai anh ngủ dậy
Anh súc miệng
Anh rửa mặt
Anh xách cái rựa quéo
Anh lên ḥn núi Quẹo
Anh đốn cây củi c̣ng queo
Anh than với em cha mẹ anh nghèo
Đôi đũa tre yếu ớt không dám quèo con mắm nhum.

Quảng Ngăi là xứ mía đường, nên dễ hiểu là ca dao cũng đề cập nhiều đến đường mía đặc sản.

- Ở đây mía ngọt nhiều đường
T́m trai xứ Quảng mà yêu cho rồi
- Nước mía trong cũng thắng thành đường
Anh thương em th́ anh biết chớ thói thường ai hay

Cũng cần biết xưa kia có nơi đặt ra lệ phạt người bẻ trộm mía để ăn, nên mới có cái hoạt cảnh khôi hài này:

Mía ngọt tận đọt
Heo béo tận lông
Cổ thời mang gông
Tay cầm lóng mía
Vừa đi vừa hít
Cái đít sưng vù

Chuyện mía lan sang chuyện đường với nhiều loại đường đặc sản như đường cát: ''Thiếp gửi cho chàng, một cục đàng rim, một tiềm đường cát'', ''Bậu về nhớ ghé Ba La, mua cân đường phổi cho ta với ḿnh''. Bên cạnh mạch nha, đường phổi c̣n có đường phèn: ''Thơm ngon như món mạch nha, ngọt qua đường phổi, thơm qua đường phèn...''. Cũng có thể kể, ngoài hải đảo Lư Sơn c̣n có bánh ít lá gai nổi tiếng: ''Muốn ăn bánh ít lá gai, lấy chồng hải đảo sợ dài đường ghe''. ở rừng th́ có đặc sản quế Quảng nổi tiếng ở Trà Bồng, song lại gắn với ư niệm xa xôi, cách trở: ''Lựu t́m đào, đào chẳng t́m lê, lên non t́m quế, quế về rừng xanh''. Quế Trà Bồng cũng vang danh không kém ǵ mía đường:

Ai về Quảng Ngăi
Cho tui gởi ít tiền
Mua dùm miếng quế lâu niên
Đem về chị bệnh khỏi phiền bà con

Giới thiệu đặc sản, ca dao luôn quyện với t́nh người, quyện với những sinh hoạt rất đời thường, rất tự nhiên, thuần phác.


Theo Diễn Đàn Ẩm Thực

hoangthymaithao
05-03-2010, 01:05 AM
Kathy Trần

Tương tư là một trạng thái tâm hồn cực kỳ kỳ cục.
Như mọi trạng thái… tâm thần khác, nó là hậu quả hay kết quả của một t́nh cảm bất thường, hào hứng và nguy hiểm nhất:

T́nh yêu!
Có yêu người ta mới tương tư!
Không yêu, người ta chẳng thèm ḍm mặt, chẳng thèm để ư cho mệt.
Thêm một chi tiết nữa là người ta chỉ tương tư khi t́nh yêu chưa được thoả măn, bị thiếu thốn rất nhiều hay hơn nữa:
Bị từ chối.-Tương tư trở thành căn bệnh.

Đă là bệnh th́ không kể già, trẻ, lớn bé, nam nữ hay đen trắng.
Trái tim c̣n đập th́nh thịch trong ngực là người ta c̣n có thể mắc bệnh tương tư.

“Nắng mưa là bệnh của trời
Tương tư là bệnh của tôi yêu nàng.”

Gặp mặt nhau, chưa biết nàng bằng ḷng ḿnh chưa, chàng cứ thấy trái tim ḿnh thôi thúc, kêu réo ầm ỹ:
- Đúng tần số rồi, đúng đối tượng rồi, yêu đi thôi! Yêu đi thôi!
Chàng làm sao được bây giờ ngoài việc làm cho sự thôi thúc trong ḷng được đáp ứng.
-Chàng t́m cách gần gũi người mơ, nói cho người ta biết rằng chàng đang yêu và t́m cách cho nàng yêu chàng.
Dip may, gặp nàng bên đường trong một đêm trăng, chàng thủ thỉ hỏi han:

”Hỡi cô tát nước bên đàng,
Sao cô múc ánh trăng vàng đổ đi?”

Từ ánh trăng vàng rực rỡ trên ḍng sông, long lanh chiếu trong chiếc gầu sồng của nàng rồi hắt ra thành một giải luạ bạc trải dài trên đồng lúa cuả một đêm trăng, chàng về nhà, nhớ trăng, nhớ nước, nhớ người mà ngẩn ngơ tự hỏi:

”Nước non một gánh chung t́nh.
Nhớ ai, ai có nhớ ḿnh hay chăng?”
Riêng chàng, chàng nhớ lắm. Nhớ từ ánh trăng vàng mông mênh tới nụ cười e thẹn với đồng tiền trên má bởi v́ đâu dễ t́m được người trong mộng. Chàng đă đi hết lục tỉnh Nam Kỳ mới bắt gặp được người mơ:
”Trên rừng có cây bông kiểng.
Dưới biển có cá hóa long.
Con cá ḷng tong ẩn bóng ăn rong.
Anh đi lục tỉnh giáp ṿng.
Tới đây trời khiến đem ḷng thương em!”

-Chàng nhớ nhung lắm, chàng “thương” lắm hưng chàng hổng dám nói ra:
”Tḥ tay anh ngắt cọng ng̣
Thương em đứt ruột, giả đ̣ ngó lơ!”

Chàng chỉ dám hỏi bâng quơ để coi người ta có chịu trả lời ḿnh không:
”Lá này là lá soan đào
Tương tư gọi nó thế nào hỡi em?”
Lỡ nhung nhớ, lỡ tương tư, bây giờ lại phải xa nhau, nỗi đau kể sao cho hết:

”Đứt tay mấy chút chẳng đau.
Xa em một chút như dao cắt ḷng.”
-Yêu nhau rồi, không thể nào chịu được chia xa, nó in hệt dao cắt ḷng chàng.
Chàng nhất định phải được cùng nàng nên chồng vợ.
Dù cha mẹ rầy la, đánh mắng th́ chàng cũng xin chịu chết để được gần nàng:
”Anh thương em trầu hết lá lươn.
Cau hết nửa vườn cha mẹ nào hay.
Dầu mà cha mẹ có hay.
Nhất đánh nh́ đầy hai lẽ mà thôi.
Gươm vàng để đó em ơi.
Chết th́ chịu chết.
Ĺa đôi anh không ĺa!”
Nhớ nhung, thương nhớ làm chàng thức suốt đêm dài. Chàng tơ tưởng được thở than cùng nàng, được thề thốt một đời chung thủy.
Chập chờn hết đêm, chàng giật ḿnh tỉnh dậy, thấy ḿnh vẫn một ḿnh:

”Bước sang canh một, anh thắp ngọn đèn vàng.
Chờ con bạn ngọc thở than đôi lời.
Canh hai vật đổi sao dời.
Tính sao nàng tính trọn đời thủy chung.
Canh ba cờ phất trống rung.
Mặc ai, ai thẳng, ai dùn mặc ai.
Canh tư hạc đậu cành mai.
Sương sa lác đác khói bay mịt mờ
Canh chầy tơ tưởng, tưởng tơ.
Chiêm bao thấy bậu, dậy rờ chiếu không.”

Đêm ngủ không yên, ngày tơ tưởng mặt, ḷng nặng chĩu sầu tương tư.
Chàng nhớ lắm. Ở nơi nào đó, nàng đang ngồi bên song cửa, chàng muốn hỏi ai kia rằng ḷng nàng có như tấm ḷng chàng?
Có thấy cô đơn, có cần người chia xẻ, có thắt thẻo đợi chờ?
Ngồi tựa song đào.
Hỏi người tri kỷ ra vào vấn vương?
Gió lạnh đêm trường.
Nửa chăn, nửa chiếu, nửa giường chờ ai?”
Chàng nặng ḷng đến thế. C̣n nàng, từ ngày ăn miếng trầu cay cũng đâm ra thẫn thờ, nhớ nhớ, quên quên.
”Từ ngày ăn phải miếng trầu.
Miệng ăn, môi đỏ, dạ sầu đăm chiêu.
Biết là thuốc dấu, bùa yêu.
Làm cho khúc mắc nhiều điều xót xa,
Làm cho quên mẹ quên cha.
Làm cho quên cả đường ra lối vào.
Làm cho quên cá dưới ao.
Quên sông tắm mát, quên sao trên trời.”
-Chàng tương tư ai đó th́ cũng có người đang nhớ nhớ, thương thương ai. Để che dấu những t́nh cảm của ḿnh, người ta đă phải dối mẹ, dối cha:

”Thương nhau cởi áo cho nhau.
Về nhà mẹ hỏi qua cầu gió bay.
Tại mẹ may áo rộng tay.
Con quen gió mát, áo bay mất rồi.”
-Cảnh vật quen thuộc, yêu dấu chung quanh, đâu đâu cũng có bóng h́nh:
”Qua đ́nh ngả nón trông đ́nh.
Đ́nh bao nhiêu ngói, thương ḿnh bấy nhiêu.
Qua cầu ngả nón trông cầu
Cầu bao nhiêu nhịp, dạ sầu bấy nhiêu.”
Khi trang điểm, lúc đứng ngồi, ḷng càng xót xa thương nhớ:

”Cầm lược th́ nhớ đến gương.
Ôm chăn nhớ chiếu!
Nằm giường nhớ …ai?”

-Nhớ thương làm người ta ngủ không yên, ăn không được, quay quắt nhớ miếng trầu ngày nào:

”Một thương hai nhớ ba sầu.
Cơm ăn chẳng được ăn trầu cầm hơi.”
-Chiếc khăn, ánh đèn, đôi mắt cũng hùa nhau mà... nhớ thương măi người nào đó:

”Khăn thương nhớ ai, khăn rơi xuống đất?
Khăn thương nhớ ai, khăn vắt lên vai?
Khăn thương nhớ ai, khăn chùi nước mắt?
Khăn thương nhớ ai, khăn giặt để vai?
Đèn thương nhớ ai mà đèn không tắt?
Mắt thương nhớ ai mắt ngủ chẳng yên?”

Lễ giáo bắt người con gái phải kín đáo, phải thụ động nên t́nh yêu càng lắng đọng, nỗi tương tư càng chua xót v́ không dám cùng ai chia xẻ, tỏ bày:

”Anh buồn có chốn thở than.
Em buồn như ngọn nhang tàn thắp khuya!”

Ngắm gió, nh́n mây, thấy ḿnh không được như con chim, con cá và Nàng trông ngóng măi một bóng h́nh:
”Con chim buồn, con chim bay về cội
Con cá buồn, con cá lội trong sông
Em buồn, em đứng em trông
Ngơ th́ thấy ngơ, người không thấy người!”
-Trông gần rồi lại ngó xa mà bóng h́nh ai vẫn biền biệt:
”Ngày ngày em đứng em trông.
Trông non, non ngất.
Trông sông, sông dài.
Trông mây, mây kéo ngang trời.
Trông trăng, trăng khuyết.
Trông người, người xa…”

Trời, mây, non nước vẫn chỉ măi một mầu nhạt nhoà cho trăng cô đơn , cho hoa buồn bă:

”V́ mây cho núi lên trời.
V́ cơn gió thổi, hoa cười với trăng
V́ sương cho núi bạc đầu.
V́ cơn gió mạnh cho rầu rĩ hoa
V́ mây cho núi lên cao.
Mây c̣n mờ mịt, núi nḥa mờ xanh.”

Bao lâu nữa nàng sẽ cô đơn, sẽ bạc đầu như ngọn núi dưới sương tuyết, thời gian?

”Non xanh bao tuổi non già?
V́ chưng sương tuyết hóa ra bạc đầu?”

Tương tư v́ xa cách hay không được đáp ứng để ḿnh măi bâng khuâng nhưng không đau đớn, đắng cay bằng bị phụ t́nh:

”Lá khoai anh ngỡ lá sen
Bóng trăng anh ngỡ bóng đèn anh khêu!”

Người yêu đă một thời thề thốt nay ngoảnh mặt, quay lưng để chàng tiếc công yêu đương, thương nhớ:

”Cầm vàng mà lội qua sông.
Vàng rơi không tiếc, tiếc công cầm vàng!”

-Người ta phụ ḿnh chỉ v́ cái nghèo đeo đuổi, vậy mà ngày đó có người đă hẹn biển, thề non.
-Chàng tiếc cho một mối t́nh và cũng tiếc cho một lần lỡ tin yêu:

”Ai phụ tôi đất trời chứng giám
Phận tôi nghèo đâu dám phụ ai
Tưởng giếng sâu tôi nới sợi dây dài
Ngờ đâu giếng cạn, tiếc hoài sợi dây!”

Biết người ta phụ bạc rồi, sao ḷng ḿnh cứ xót xa, tiếc nuối rồi măi ước ao, năn nỉ:

”Đờn c̣ lên trục kêu vang
Qua c̣n thương bậu, bậu khoan có chồng
Muốn cho đây đấy đạo đồng
Qua đây thương bậu hơn chồng bậu thương.”

Không, con người ḿnh đêm ngày nhớ thương, muốn cả đời gắn bó đă nhất định làm con chim hót măi trong lồng!

Nhưng... ước chi, một ngày nào đó, con chim sẽ được xổ lồng:

”Chim khôn mắc phải lưới hồng
Hễ ai gỡ được đền công lạng vàng
Anh rằng anh chẳng lấy vàng
Hễ anh gỡ được th́ nàng lấy anh.”

-Chàng đă yêu, chàng đă đau đớn v́ yêu. Nàng có hay cho mối t́nh chung thủy, gắn bó một đời cuả chàng hay nàng nhất định chia tay, theo chồng xa xứ, để lại một người thương nhớ, khóc đau:
Dế kêu dưới đống phân rơm
Tui xa người nghĩa bưng chén cơm khóc ṛng.”

Chàng sẽ ngày ngày tương tư người phụ ngăi mà tự hỏi và trách hoài người ra đi:

”Chồng gần không lấy
Bậu lấy chồng xa
Mai sau cha yếu, mẹ già
Chén cơm, đôi đũa, kỷ trà ai dưng?”

Nếu chẳng phải tự nàng phụ bạc mà tại mẹ cha rẽ thúy, chia uyên th́ niềm cay đắng lại thêm nhiều phần chua xót, tủi nhục:

”Tiếc thay bác mẹ nhà nàng
Cầm cân không biết là vàng hay thau
Thật vàng chẳng phải thau đâu
Mà đem thử lửa cho đau ḷng vàng!”

Nỗi đau này ai thấu cho ai?
Có chăng là những người cùng cảnh đă lỡ một chuyến đ̣ t́nh để mắc bệnh tương tư

Tương tư chẳng ốm cũng sầu
Con ruồi đậu mép chẳng đau cũng buồn.

Kathy Trần

hoangthymaithao
05-16-2010, 10:38 AM
» Tác giả: Tuệ Chương hoànglonghải

1. T́nh yêu trong văn học dân gian Việt Nam

Sự xung đột giữa chủ nghĩa phong kiến VN và chủ nghĩa cá nhân Tây phương do ảnh hưởng Tây hóa sau khi người Pháp truyền bá tư tưởng họ vào VN tạo nên một phong trào đổi mới đứng đầu là nhóm Tự Lực Văn Đoàn ở Hà Nội và đối kháng là những nhà văn c̣n trĩu nặng ảnh hưởng xă hội cũ như Nguyễn Công Hoan làm cho người ta thêm nghĩ rằng xă hội VN chịu ảnh hưởng Nho giáo nặng nề, qua đó t́nh yêu giữa trai gái bị ngăn cấm triệt để, đám thanh niên, nhất là con gái chẳng có một chút tự do nào trong chuyện yêu đương hay chọn người hôn phối. Câu tục ngữ “Cha mẹ đặt đâu con ngồi đó” trở thành câu nói đầu cửa miệng của những bậc cha mẹ muốn hoàn toàn kiểm soát và điều khiển việc hôn nhân của con cái. Nó cũng là câu nói đầu cửa miệng của những người muốn chống lại chế độ phong kiến hà khắc trong việc hôn nhân.

Thực ra, chỉ đối với một số gia đ́nh trung lưu và thượng lưu trong xă hội cũ - một số chứ không phải tất cả, muốn ǵn giữ cái mà họ là “gia phong” mới nắm lấy quyền quyết định hôn nhân con cái, mới có việc “cha mẹ đặt đâu con ngồi đấy” mà thôi.

Khi con cái khôn lớn, cha mẹ muốn chọn cho con người hôn phối làm thế nào để con cái có hạnh phúc về sau. Có lẽ đó là ư niệm trước nhất của họ. Nhưng hạnh phúc đó như thế nào? Đó là câu hỏi lớn với nhiều tiêu chuẩn chọn lựa mà tôi sẽ bàn trong đề tài hôn nhơn. Có lẽ những tiêu chuẩn đó làm nảy sinh ra việc ngăn cấm con cái yêu đương trước khi thành vợ chồng.

Từ những yêu cầu khắt khe đó, người con trai, con gái lớn lên sẽ không có t́nh yêu trước hôn nhân?

Trong những gia đ́nh như tôi vừa tŕnh bày ở trên, điều đó khá rơ. Dĩ nhiên, không thiếu những trường hợp ngoại lệ như chuyện t́nh giữa Phạm Thái và Trương Quỳnh Như trong lịch sử văn học ta. Ngoài ra, sự tích Trương Quân Thụy và Thôi Oanh Oanh trong lịch sử văn học Trung Hoa cũng có ảnh hưởng nặng nề trong văn học cũng như trong xă hội Việt Nam.

Ngay trong văn học bác học, một thứ văn học dành cho người có học, có nghĩa là trong xă hội cũ, ít ra, họ cũng thuộc từ giai cấp trung lưu trở lên th́ sự kiện “cha mẹ đặt đâu con ngồi đó” là hẳn nhiên. Bên cạnh đó, con trai, con gái vẫn cứ yêu nhau mà cha mẹ không biết, có khi trước hay ngoài cả hôn nhơn. Điều nầy rất rơ ràng.

Chẳng hạn như với cô Kiều trong “Truyện Thúy Kiều” tác phẩm nổi tiếng bậc nhất trong văn học chữ Nôm th́ gia tư Kiều thuộc “thường thường bậc trung” có nghĩa là thuộc giới trung lưu, và “thuộc ḍng nho gia”. Mặc dù cha mẹ có dạy “tường đông ong bướm đi về mặc ai” nhưng chính Kiều đă yêu ngay chàng Kim (Kim Trọng) khi hai người mới gặp nhau lần đầu, rồi “hẹn ḥ vườn thúy”, thậm chí Kiều c̣n lợi dụng lúc cha mẹ vắng nhà, “xăm xăm băng lối vườn khuya một ḿnh” sang nhà Kim Trọng, cắt tóc thề non hẹn biển, v.v...

Trong giới b́nh dân sự kiện ấy có khác đi chăng?
Quả thật là không!

Đọc những tác phẩm như “Đồng quê” của Phi Vân, giải thưởng Gia Long năm 1943, những tiểu thuyết của Hồ Biểu Chánh như “Ngọn cỏ gió đùa”, “Cha con nghĩa nặng” v.v... nói về đời sống dân quê ở trong Nam hoặc “Nhà quê” của Ngọc Giao, “Quê người” của Tô Hoài, “Sợ sống” của Lê Văn Trương, v.v... và một số bài thơ của Nguyễn Bính, nói về đời sống người dân quê ở miền Bắc, ta thấy người dân quê Việt Nam vượt ra ngoài cái mà người ta gọi là “Cha mẹ đặt đâu con ngồi đó.” Họ yêu nhau rất tự nhiên, cả trước khi cha mẹ biết và trước khi cưới. Trong cuốn tiểu thuyết “Tỵ Bái” của Nguyễn Hoạt, ông mô tả cảnh sống rất trụy lạc của một làng quê ngoài Bắc, cảnh mà trong truyện Kiều gọi là “Trên bộc, trong dâu”. Chủ ư của Nguyễn Hoạt là muốn nói lên cảnh sa đọa, bóc lột và bất công của xă hội Việt Nam thời tiến chiến, là chỗ đất tốt để Cộng Sản dễ gieo mầm khởi loạn.
Khung cảnh thiên nhiên trữ t́nh và môi trường xă hội nông nghiệp dễ làm nẩy sinh t́nh yêu. Trước hết, cảnh thiên nhiên nào mà chẳng đẹp! Một khung trời xanh biếc, một chiều vàng gió lộng với những tầng mây rực rỡ huy hoàng, cảnh đồng ruộng mênh mông với tiếng lúa ŕ rào, những ḍng sông hiền ḥa lặng lẽ, v.v... tác động không ít lên t́nh yêu thiên nhiên của người ta, khiến người ta mở rộng ḷng ra với đời. Thứ hai, việc đồng áng khiến trai gái dễ gần gũi, tiếp xúc với nhau, không chỉ có khung cảnh “Chồng cày vợ cấy con trâu đi bừa” mà thôi mà trai gái làm chung công việc đồng áng trên một thửa ruộng, trên một cánh đồng, trong sân phơi, trong vườn nhà. Công việc đồng áng nặng nhọc và cần nhiều nhân công trong một thời gian nhất định. Ví dụ: Khi cấy, gặt người ta cần tập trung nhiều người và công việc phải kết thúc trong một thời gian ngắn ngủi. Do đó, người nhà quê phải làm “vần công”, nhà nầy giúp nhà kia, rồi trao đổi luân phiên như thế. Hay là các bạn thợ cấy, thợ gặt đi làm mướn từ làng nầy qua làng khác. Đó là lúc trai gái làm việc chung với nhau, đùa giỡn, ca hát. Việc ca hát thịnh hành nhất là vào những đêm trăng giă gạo, trai gái chia hai phe hát đối đáp, v.v... Ngoài ra, trai gái nhà ở kế liền nhau cũng là cơ hội hai người gặp gỡ, chuyện tṛ, dẫn dắt đến t́nh yêu.

Sau đây, viện dẫn vài câu ca dao chứng minh những trường hợp trên:
Ví dụ 1:
Hỡi cô gánh nước quang mây
Cho anh một gáo tưới cây ngô đồng
Cây ngô đồng cành cao cành thấp
Ngọn ngô đồng là dọc lá ngang
Quả dưa gang ngoài xanh trong trắng
Quả mướp đắng ngoài trắng trong vàng
Từ ngày anh gặp mặt nàng
Ḷng càng ngao ngán, dạ càng ngẩn ngơ

Ở thôn quê, con gái phải ra giếng hoặc ra sông gánh nước. Nước giếng thường để uống, nước sông để tắm giặt hay tưới cây. Người con gái gánh nước đi qua chỗ người con trai. Anh chàng giả xin nước tưới cây ngô đồng. Thực ra, anh ta chỉ mượn ư cây ngô đồng để tỏ t́nh cùng nàng:
Quang là tiếng Bắc, tiếng Trung và Nam gọi là gióng. Gióng làm bằng cây mây. Anh ta dùng h́nh ảnh cây ngô đồng cành cao cành thấp hay lá ngô đồng chiếc dọc chiếc ngang, cũng như trái dưa ngoài vỏ trong ruột khác nhau. Tất cả đều giống như t́nh yêu của anh đối với nàng ngổn ngang nhiều thứ.

Ví dụ 2:
Hỡi anh đi đường cái quan
Dừng chân đứng lại em than đôi lời
Đi đâu vội mấy anh ơi
Cái quần cái áo như người nhà ta
Cái ô em để trong nhà
Khen ai mở khóa đưa ra cho chàng

Đây là lời hát diễu không hẳn là của người con gái mà có thể là bạn cô ấy. Hai người đang làm công việc đồng áng (cấy lúa hay gặt) bên đường cái quan. Đường cái là đường lớn (cái=lớn), đường của quan đi, đường chạy ngựa trạm đưa tin tức của các quan hay triều đ́nh. Người con gái giả bộ nh́n quen qua cái áo cái quần của người đi đường đang mặc, và cả cái ô (dù) người ấy đang cầm. Ai đem dù ra cho chàng đây, ư muốn trêu ghẹo rằng chính người bạn gái đang cùng làm việc đă đưa cho chàng dùng.

Ví dụ 3:
Nàng về giă gạo ba trăng
Để anh gánh nước Cao Bằng về ngâm
Nước Cao Bằng ngâm th́ trắng gạo
Anh biết em có liệu được chăng
Trần trần như cuội cung trăng
Biết rằng cha mẹ có bằng ḷng không
Để anh chờ đợi uổng công

Người con trai nói với người con gái hễ hai người lấy được nhau th́ đẹp đôi lắm, giống như lúa ba trăng ngâm với nước Cao Bằng th́ gạo trắng lắm. Lúa ba trăng là lúa trồng ba tháng th́ gặt. Nước Cao Bằng có nghĩa là nước đầu sông Hồng Hà, không đỏ như ở hạ lưu. Thế nhưng anh ta th́ nghèo, trần lưng không có áo mặc như chú cuội ngồi chăn trâu trên mặt trăng. Anh ta sợ cha mẹ cô gái chê nghèo mà không gă, khiến anh ta phải chờ đợi uổng công.

Ví dụ 4:
Nhớ ai con mắt lim dim
Chân đi thất thểu như chim tha mồi
Nhớ ai hết đứng lại ngồi
Ngày đêm tơ tưởng một người t́nh nhân

Khi yêu đương, người ta nhớ nhau là một điều rất thường. H́nh ảnh người yêu “Con mắt lim dim” và “đi thất thểu” làm người ta nhớ, nhớ ngày nhớ đêm đến người t́nh. Người ta không thể làm việc ǵ cho xong v́ nhớ quá, “hết đứng lại ngồi”.

Nói về nhớ người yêu, ca dao c̣n nhiều câu như sau:
Nhớ ai bổi hổi bồi hồi
Như đứng đống lửa như ngồi đống than

T́nh nhớ là t́nh nóng. Nó không lạnh bao giờ. Nhớ làm cho ḷng người ta “như lửa đốt”, “như đứng đống lửa như ngồi đống than.” Nhớ th́ vẫn nhớ nhưng phải giấu kín cha mẹ, sợ bị rầy la:
Nhớ ai em những khóc thầm
Hai hàng nước mắt đầm đầm như mưa
Nhớ ai ra ngẩn vào ngơ
Nhớ ai, ai nhớ bây giờ nhớ ai

Nói về sự nhớ nhung của trai gái yêu đương, có lẽ bài ca dao sau đây là một trong những bài hay nhất:
Khăn thương nhớ ai
Khăn rơi xuống đất
Khăn thương nhớ ai
Khăn vắt lên vai
Đèn thương nhớ ai
Mà đèn không tắt
Mắt thương nhớ ai
Mắt ngủ không yên

Bài ca dao dưới dạng câu hỏi nhưng thực ra đó là câu tán thán. Khăn vắt lên vai mà hờ hững rớt xuống đất là v́ nhớ! Đèn thương nhớ mà không tắt v́ “đêm đêm thắp ngọn đèn dầu, Ngọn đèn dầu khô cạn nước mắt nầy không khô”. Thắp đèn ngồi nh́n, nhớ người t́nh và khóc. Dù có tắt đèn đi ngủ cũng không ngủ được (Mắt ngủ không yên).

Những h́nh ảnh khăn vắt vai hờ hững, chong đèn ngồi nhớ, hay sững sờ quên việc là điều rất thường thấy trong t́nh trường. Người đàn bà nhà quê thường có khăn vắt vai để lau mặt, lau mồ hôi cho tiện khi đang làm công việc. Trong nam, họ thường dùng khăn rằn. Tục dùng khăn rằn ảnh hưởng từ chiếc khăn rằn của người Miên đồng bằng sông Cửu Long.

Người ta cũng nhớ tới lời thề “nguyện ước ba sinh”, sợ xa cách và sợ người yêu đi lấy chồng khác:

Ví dụ 5:
Nhớ lời nguyện ước ba sinh
Xa xôi ai có biết t́nh chăng ai
Khi về hỏi liễu Chương Đài (*)
Cành xuân đă bẻ cho ai một cành
Có yêu anh th́ bẻ quách cho anh

(*) Hàn Hủ đời Đường (Trung Hoa) có người vợ tên là Liễu thị. Ông đi làm quan xa để vợ ở lại tại phố Chương Đài, kinh thành Trường An. Viết thư, cho vợ: “Chương Đài liễu. Tích nhật thanh thanh kim tại phủ. Giả ưng phan chiết tha nhân thủ.” (Cây liễu Chương Đài xanh xanh ngày xưa nay c̣n không hay có kẻ khác bẻ mất rồi). Giặc Phiên chiếm Trường An bắt mất Liễu thi. Tướng Hứa Tuấn bắt lại được, nhà vua bèn trao về lại cho Hàn Hủ.

Ví dụ 6:
T́nh cờ mà gặp nhau đây
Mượn cắt cái áo, mượn may cái quần
May xong, anh trả tiền công
Bao giờ lấy chồng anh đỡ vốn cho
Giúp em một thúng xôi ṿ
Một con lợn béo, một ṿ rượu tăm
Giúp em đôi chiếu em nằm
Đôi chăn em đắp, đôi tằm em đeo
Giúp em quan tám tiền cheo
Quan năm tiền cưới lại đèo buồng cau.

Người con trai giả bộ làm quen để tỏ t́nh với người con gái. Những thứ anh ta gọi là “giúp”, thực sự đó là quà cưới của chàng rể sắm sửa cho cô dâu. Dù yêu nhau trước hôn nhân nhưng cũng cưới hỏi đầy đủ lễ nghi đàng hoàng.

Ví dụ 7:
Trèo lên cây bưởi hái hoa
Bước ra vườn cà hái nụ tầm xuân
Nụ tầm xuân nở ra xanh biếc,
Em có chồng em tiếc lắm thay
Ba đồng một miếng trầu cay
Sao em không hỏi những ngày c̣n không
Bây giờ em đă có chồng
Như chim vào lồng như cá cắn câu
Cá cắn câu biết đâu mà gở
Chim vào lồng biết thuở nào ra

Đây là lời đối đáp giữa hai người con trai và con gái nhà ở kế cận nhau. Người con trai yêu thầm người con gái, không dám bày tỏ. Khi người con gái đă lấy chồng chàng mới dám thố lộ t́nh yêu. Khi đó th́ đă trễ rồi, v́ cô ta đă có chồng, giống như “chim vào lồng”, như “cá cắn câu.”

Ví dụ 8:
Trăm năm diều(*) nỗi hẹn ḥ,
Cây đa bến cộ (*) con đ̣ khác đưa
Cây đa bến cộ c̣n lưa(*)
Con đ̣ đă thác (*) năm xưa tê (*) rồi.

(*) Tiếng địa phương Trị Thiên: diều=nhiều. Cộ=cũ. C̣n lưa=C̣n lại. Thác=chết (tiếng Việt cổ). Tê=kia.
Truyện kể ngày xưa có anh học tṛ trên đường về kinh đô Huế ứng thí, gặp cô lái đ̣ bên sông. Hai người yêu nhau và thề hẹn. Anh học tṛ thi hỏng, lưu lạc xứ người mấy năm. Đến khi trở về bến sông cũ th́ người con gái không c̣n giữ lời thề cũ nữa, đă đi lấy chồng.

Ví dụ 9:
Cây đa trốc gốc
Thợ mộc đang cưa
Gặp em đứng bóng ban trưa
Trách trời vội tối phân chưa hết lời.

Cây đa thường trồng ở đầu làng, đầu đ́nh, nơi linh thiêng, trai gái đến đó thề hẹn cùng nhau. Nay “cây đa trốc gốc, thợ mộc đang cưa”, có nghĩa là lời thề không c̣n, mối t́nh bị chia xẻ. Chàng gặp cô nàng đă trễ tràng (ban trưa), chưa kịp tỏ bày hết tâm sự th́ nàng đă đi lấy chồng hay qua đời sớm (trời vội tối).

Ví dụ 10:
Cầu Trường tiền (*) sáu vài mười hai nhịp
Em qua không kịp tội lắm người ơi
Chẳng thà không biết thời thôi
Biết rồi mỗi kẻ mỗi nơi cũng buồn.
(*) Cầu Trường Tiền hay Tràng Tiền ở Huế, kinh đô đời Nguyễn, nối hai bờ sông Hương.

Cầu nối liền hai bờ để hai người yêu đến với nhau. Nhưng một người qua không kịp cầu, có nghĩa là người kia đă kết hôn (cưới vợ hay lấy chồng). Yêu nhau mà không lấy được nhau chỉ làm cho thêm buồn ḷng.
Hỡi anh đi đường cái quan,
Dừng chân đứng lại em than đôi lời

Đây là lời người con gái muốn tỏ t́nh cùng con trai
Hỡi cô tát nước bên đàng
Cớ sao múc ánh trăng vàng đổ đi?

Lời người con trai trêu ghẹo và muốn tỏ t́nh cùng cô gái
Hết mùa “toóc” rạ (*) rơm khô
Bạn về quê bạn biết mô mà t́m
(*) “Toóc” hay rạ, phần dưới của cây lúa sau khi đă gặt (phần trên của cây lúa, có bông, gọi là rơm), dùng thay củi hay đốt để làm phân.

Hết mùa gặt, “toóc” rơm ngoài đồng đă khô, lúc đó, “bạn” (người yêu) về quê (sau khi gặt thuê), không c̣n gặp nhau được nữa.
Qua cầu ngả nón trông cầu
Cầu bao nhiêu dịp dạ em sầu bấy nhiêu

Cầu nối liền hai bờ, cho người hai bên sông qua lại gặp gỡ và yêu đương. Nay cầu vẫn c̣n mà t́nh không c̣n, cho nên cầu dài bao nhiêu th́ ḷng buồn bấy nhiêu.
Qua đ́nh ngả nón trông đ́nh
Đ́nh bao nhiêu ngói dạ thương ḿnh bấy nhiêu.

Đ́nh làng, chỗ thờ thành hoàng, người xây dựng lên làng đó, trai gái thường đến đó thề bồi. Nay t́nh yêu tan vỡ, trông đ́nh, nhớ lời thề cũ, càng thương ḿnh và thấy nhớ yêu người cũ.
Thương nhau cởi áo cho nhau
Về nhà mẹ hỏi qua cầu gió bay

T́nh yêu hai người khá mănh liệt, cô nàng dám cởi áo cho chàng để chàng giữ cái hơi. Rồi về nhà nói dối với mẹ.
Tóc mai sợ vắn sợ dài
Lấy nhau chẳng đặng thương hoài ngàn năm

Tóc mai là những sợi tóc ngắn ở trán, thường trang điểm cho khuôn mặt thêm đẹp, duyên dáng. Có thể đă cắt tóc nầy mà thề nguyện với nhau. Tóc c̣n đó mà không lấy nhau được, t́nh yêu có bao gờ quên!?
Lưu ư bạn đọc. Bây giờ nhiều người thường sửa chữ thương thành chữ yêu (“Thương nhau cởi áo...” thành “Yêu nhau cởi áo... ), như vậy là sai. Người xưa ít khi dùng chữ yêu mà hay dùng chữ thương. “Anh có thương tui không?” hoặc “Thương chàng lắm lắm chàng ơi.” “Thương nhau lắm, cắn nhau đau.” Chữ yêu là chữ của người có học, hay thường dùng trong văn chương. Giới b́nh dân dùng chữ thương. Thương là hy sinh, là cho mà không đ̣i lại, không so sánh nhiều ít, hơn thua, không giống như Xuân Diêu “Yêu là chết ở trong ḷng một ít” và “Cho rất nhiều song chẳng nhận bao nhiêu!”

Ngoại trừ một số bần nông, cố nông, sự cách biệt trong xă hội nông nghiệp Việt Nam không quá xa nên việc hôn nhân không nhiều trở ngại về giai cấp, giàu nghèo như trong xă hội phong kiến Ây Tây. Vả lại, mục đích chính của hôn nhân là hạnh phúc lứa đôi nên điều cần thiết để thành công trong đời sống vợ chồng không phải là giàu có hay địa vị mà chính là sự ḥa thuận yêu thương nhau của hai người. “Thuận vợ thuận chồng tát biển đông cũng cạn.” Từ ư nghĩa đó, quan điểm hôn nhân của người nhà quê Việt Nam thường ít khi khắt khe về giàu nghèo hay giai cấp. Chẳng hạn như trong truyện cổ tích “Chữ Đồng Tử và công chúa Tiên Dung” th́ Chữ Đồng Tử là một anh chàng đánh cá nghèo khổ đến nỗi không có cả cái khố mà mặc, trong khi đó Tiên Dung là một công chúa. Tuy nhiên, hai người vẫn yêu nhau ngoài ư kiến của vua cha (Chữ Đồng Tử lúc gặp công chúa th́ đă mồ côi cả cha lẫn mẹ). Trong đời sống vợ chồng họ thành công vượt bực v́ thuận ḥa với nhau. Theo quan điểm chung của người Việt, t́nh yêu đó, hôn nhân đó là do Trời sắp đặt.

Trong khi đó th́ chuyện t́nh giữa Trương Chi, anh thuyền chài và Mỵ Nương con quan tể tướng th́ tan vỡ. Mỵ Nương yêu tiếng hát của Trương Chi nhưng khi thấy Trương Chi th́ nàng thất vọng v́ chàng xấu xí (mặt rỗ) và nghèo. Yếu tố chính làm tan vỡ t́nh yêu là v́ chàng xấu trai quá chứ chưa chắc v́ chàng nghèo. Ngược lại, Trương Chi yêu Mỵ Nương v́ nàng đẹp chứ không phải v́ nàng là con quan tể tướng. Do đó, qua truyện nầy, yếu tố mỹ thuật (đẹp xấu) trở thành vấn đề quan trọng trong t́nh yêu. Tuy nhiên, Trương Chi vẫn yêu thầm cho đến chết và trái tim hóa đá. Yếu tố làm t́nh yêu tan vỡ là v́ Trương Chi xấu trai hay v́ sự xa cách giàu nghèo, người dân thường và gia đ́nh quan to?!

Suy cho cùng, đẹp vẫn thường là yếu tố không kém quan trọng trong t́nh yêu và hôn nhơn. Do đó, có câu tục ngữ an ủi cho ai lấy chồng “xấu trai”: “Củi tre dễ nấu, chồng xấu dễ sai.”
Trong truyện “Bích câu kỳ ngộ” (Tú Uyên -Giáng Kiều) có một yếu tố quan trọng khác thường thấy trong t́nh yêu của người Việt Nam. Đó là: “Trai tài. Gái sắc”. Tú Uyên học giỏi, có nghĩa là văn hay chữ tốt, Giáng Kiều là nàng tiên, -không có nàng tiên xấu bao giờ. Hai người yêu nhau trước khi thành hôn.

Tài, ngoài nghĩa văn hay chữ tốt c̣n có nghĩa là người chỉ huy. Người con gái ngoài cái đẹp c̣n phải buôn bán giỏi (Một yếu tố khác trong công-dung-ngôn-hạnh). Chẳng hạn “Trai khôn t́m vợ chợ đông, Gái khôn t́m chồng giữa đám ba quân.”

Truyện Từ Thức lại cho thấy một tiêu chuẩn khác nữa trong t́nh yêu: Tính hào hiệp của người đàn ông. Từ Thức cầm áo lấy tiền để chuộc nàng tiên khỏi bị bắt tội v́ làm găy cành hoa. Nàng tiên trong truyện “cảm” Từ Thức, trước hết không phải v́ Từ Thức đẹp trai. Trong truyện không mô tả Từ Thức đẹp hay không đẹp. Cũng không phải v́ Từ Thức học giỏi và làm quan. Hai người gặp nhau rất t́nh cờ, không ai biết quá khứ của ai. Nàng yêu chàng v́ chàng có ḷng cao thượng, hào hoa. Ngay khi ấy, có thể Từ Thức thấy nàng đẹp nhưng chưa yêu. Chàng từ quan trở về quê cũ không phải v́ người chàng yêu mà v́ chàng chán cảnh quan trường. Chàng đi “ngao du sơn thủy” không phải để t́m nàng mà v́ chàng thấm nhuần đạo Tiên (Lăo). Chàng gặp lại nàng là do sự sắp xếp của tiên mẫu, của Trời. Nếu chàng yêu thắm thiết nàng, có lẽ Từ Thức sẽ không xin vợ trở về dương thế. Sự kiện nầy làm cho mối t́nh hai người tan vỡ. Từ Thức không bao giờ gặp lại vợ nữa.

Chủ nghĩa cá nhân không phát triển mạnh trong xă hội Việt Nam. Yêu đương là điều tự nhiên của trai gái, nhưng mục đích cuối cùng của nó là hôn nhân. V́ vậy, họ yêu nhau không phải chỉ để yêu chơi, một tṛ chơi mà rất tôn trọng mối t́nh của họ. Do đó, trong t́nh yêu, người Việt Nam rất hay thề bồi. Ư nghĩa lời thề là giữ trọn ḷng chung thủy, không quên nhau, không bỏ nhau, v.v... Nơi họ thường đến thề thường là nơi thờ phượng linh thiêng, chẳng hạn như ở đ́nh làng là nơi thờ thành hoàng, người lập ra làng ấy, cây đa bên đ́nh hay ở đầu làng, ở đền chùa miếu mạo hay chỉ vào vầng trăng mà thề như trong truyện Kiều. Có khi những lời thề đó rất độc, đem tính mạng và danh dự để bảo đảm cho lời thề của ḿnh. Từ ư nghĩa đó, mỗi người chỉ có một nhân t́nh mà thôi.

Ca dao có câu:
Sông dài mà lắm đ̣ ngang,
Em nhiều nhân ngăi, em mang oán thù.

Không phải là không có sự phân biệt trong t́nh yêu của người Việt Nam. Khi người con gái đi lấy chồng, họ thuộc về gia đ́nh chồng, không c̣n thuộc gia đ́nh họ nữa. Lâu lâu, người con gái mới về thăm lại cha mẹ ḿnh c̣n thường th́ bận bịu lo công việc nhà chồng. Đặc biệt khi có con cái th́ họ chẳng có th́ giờ để về thăm cha mẹ nữa. Lấy chồng người cùng làng, hay gần làng c̣n có dịp lui tới. Lấy chồng xa, việc đi lại khó khăn, việc thăm viếng cha mẹ càng khó khăn.

Câu ca dao sau đây bảy tỏ ḷng trông ngóng, chờ mong của một người vợ lấy chồng ở xa:
Sáng trăng suông vằng vặc cái đêm hôm rằm
Nửa đêm và sáng trăng bằng ngọn tre
Em trót yêu anh cho trọn một bề
Để anh thấp thoáng ngồi kề bóng trăng
Sự t́nh nầy ai thấu cho chăng!
Để anh ngồi tựa bóng trăng chịu sầu
Gánh tương tư một dịp đôi ba cầu
Bắc Nam đôi ngă chịu sầu đôi nơi
Con chim khôn chết mệt v́ mồi
Chim kêu réo rắt gọi người t́nh chung
Hai chúng ta vấn vít sợi tơ hồng
Nồi đồng th́ úp vung đồng
Con gái xứ Bắc lấy chồng Đồng Nai
Giậm chân xuống đất kêu trời
Chồng tôi vô Quảng biết đời nào ra

Tục ngữ có câu “Nồi nào úp vung nấy” có nghĩa là cần có sự đồng nhất giữa hai vật, hai người, sự hài ḥa, ḥa hợp giữa hai bên. Trong ư nghĩa của câu ca dao trên th́ người Bắc nên lấy chồng miền Bắc hay người Nam lấy chồng người Nam. Vô Quảng không hẳn chỉ là tỉnh Quảng Nam ngày nay. Trong thời Trịnh Nguyễn phân tranh, xứ Nam tức là đạo Quảng Nam, là đằng Trong, là từ sông Gianh trở vào. Ngày xưa, phương tiện di chuyển khó khăn, việc đi lại hai miền rất nhiều cách trở, cho nên lấy chồng xa xứ là một điều rất trở ngại làm cho hai vợ chồng nhiều khi phải sống xa nhau, người chồng đi xa lâu không thấy về.

Điều cấm kỵ thứ hai là kết hôn với những người làm nghề ca xướng. Tục ngữ có câu “Xướng ca vô loại.” Trong truyện Nguyễn Kỳ và người ca nữ, cuối cùng hai người không lấy dược nhau cũng bởi lư do nầy.
Nh́n chung, Việt Nam là một xă hội tôn trọng luân lư, có khi v́ ảnh hưởng Nho giáo, nhất là Tống Nho, nên có nghiêm khắc trong vấn đề quan hệ nam nữ, nhưng cũng không quá khắt khe đến độ có thể triệt tiêu t́nh cảm của con người, nhất là t́nh yêu trai gái là t́nh yêu tự nhiên trong cuộc sống của con người và sự tồn tại của nhân loại. Trong viễn tượng đó, trong con người Việt Nam, nhất là ở nông thôn, t́nh yêu lứa đôi nảy nở rất tự nhiên, trong sáng và chung thủy, không thiên về vật dục như trong xă hội Âu Mỹ. T́nh yêu của họ có mục đích rơ rệt là nhằm tiến tới hôn nhân và xây đắp tương lai, thiên về trách nhiệm đối với gia đ́nh và xă hội, chứ không quá trọng về mục đích hưởng thụ khoái lạc như người Âu Tây.

Tuy nhiên, qua việc Âu hóa và qua nhiều cuộc chiến tranh lâu dài, mục đích hướng thượng đó ngày nay trong xă hội Việt Nam bị vẩn đục đi rất nhiều. Đó là một điều đáng tiếc vậy.

hoànglonghải

hoangthymaithao
05-26-2010, 07:17 AM
Giàn Mướp


http://www.sieuthihangchatluong.com/uploads/1211968911_63.jpg
Ảnh chỉ mang tính minh họa

Chiều nay, một buổi chiều chủ nhật đẹp trời, phải nói là rất đẹp mới đúng. Căn nhà trên triền dốc nh́n xuống thành phố, ánh nắng chiều rực rỡ khắp thung lũng. Bầu trời dường như trong hơn và sạch hơn sau những trận mưa phùn đổ về thành phố; gió mang hơi lạnh về, cây trong vườn, cây trên đường phố đă đổi màu, cho người ta biết mùa thu đă trở lại.

Trong không khí vui tươi đó, căn pḥng đầy ắp tiếng cười, những "hội viên" của hội "Tam điểm" đang quây quần trong căn nhà mát (patio) đằng sau nhà (Tam điểm ở đây là 3 điểm chứ không dính dáng ǵ đến hội Tam Điểm thời Đệ nhị thế chiến).

Những hội viên tôn trọng 3 điểm làm nền tảng xây dựng hội, đó là: "nhất vợ, nh́ trời, ba mới tới tôi". Cũng có thể gọi đó là hội "vivo" (v́ vợ). Hội này sinh hoạt rất ḥa thuận, "thuận vợ, thuận chồng". Hôm nay hội nhóm họp để ăn uống.

Trong khi các chị lăng xăng, náo nhiệt trong bếp th́ các ông đang túm tụm hút thuốc, lai rai chờ bữa ăn chính. Nh́n quanh khu vườn nhỏ của chủ nhà, miếng vườn tuy nhỏ nhắn mà dễ thương, trong vườn có trồng đủ các loại cây ăn trái, ở góc vườn, bà cụ đă khoanh một góc nhỏ làm một chiếc giàn trồng su su.

Một anh trong nhóm hỏi: "Trái su su trồng làm ǵ, đâu có bổ béo chi đâu, sao không làm giàn bầu, giàn muớp".

Một anh khác, nh́n theo đồng t́nh: "Ừ nhỉ! Trồng giàn bầu, giàn mướp ḿnh c̣n thơ thẩn được… Trông lên giàn mướp ra hoa, nh́n xuống sân nhà cúc đă đơm bông…".

Chưa hết câu th́ một ông khác: "Thôi cho tôi xin… nhại thơ, nhại phú của người ta đấy à".

Anh nọ cười huề vốn: "Có sao đâu bạn. Tức cảnh sinh t́nh đấy mà thôi".

- "Giữ thần hông. Ông mới về thăm bà cụ bên nhà… có ǵ đâu mà nhớ, mà tức… với cảnh để sanh t́nh… không khéo ông bị đuổi ra khỏi hội bây giờ".

- "Sao thế?".

- "Có ǵ đâu, dễ quá mà. Câu thơ đó như thế nào các ông cũng biết rồi đấy… bà nhà mà nghe được th́ chỉ có nước chết. Bà ấy sẽ hỏi: "Nụ tầm xuân nào? Về Việt Nam có con nhỏ nào nó hớp hồn rồi phải không nào? v.v... và v.v...".

- "Ông khéo lo th́ thôi. Hay là có tật giật ḿnh đấy?".

Câu chuyện sẽ kéo dài nếu không có sự chuyển mạch của một ông khác.

- "Nè cho tôi hỏi nhé, các ông là nhà báo, nhà văn, nhà thơ… các ông có thể lư giải giúp tôi là tại sao cái nhà là phải đi đôi với mảnh vườn?".

- "Dễ ẹt. Nhà phải xây trên đất, trên vườn… do đó khi có nhà là có vườn… đơn giản vậy thôi".

- "Đúng là đơn giản như là đang giỡn vậy".

- "Đâu có lư nào? Phải có ư nghĩa thâm sâu nào đó chớ".

- "Có ǵ đâu. Đời sống dân Việt là đời sống nông nghiệp, trồng trọt, canh tác là chính… th́ nhà và vườn phải có thôi".

- "Ừ nhỉ!". (Trong nhóm có một anh có biệt danh là anh Ừ Nhỉ. Cái ǵ cũng ừ nhỉ là xong hết mọi việc)

- "Nhưng các ông này, tôi thấy rằng ông bà ta có mảnh vườn th́ hay trồng các loại rau, quả như bầu bí, rau, hành… đủ cả. Nhưng tại sao khi nhắc đến căn nhà, mảnh vườn th́ người ta hay nhắc đến cái giàn… như là giàn bầu, giàn mướp nhỉ?".

"Tới đây mướp lại gặp dưa
Bầu kia gặp bí sao chưa chung giàn?" (Ca dao)

- "Ừ nhỉ!".

- "Thôi đi cha nội. Ừ nhỉ hoài. Nói ǵ th́ nói ra cho người khác nghe với. Cứ ngồi đó ừ nhỉ, ừ nhỉ…".

- "Ừ nhỉ". Tôi nói đây này. Ông bạn nói sao lạ thế. Đây này:

"Mồng tơi mướp đắng ớt cà
Bí đao, đậu ván, vốn nhà trồng nên
Anh giúp em đôi quan tám để cho bền
Mượn người lịch sự gánh lên kinh kỳ…
Có giàn mướp, giàn bầu nào đâu?"

Cái nhà và miếng vườn đi vào đời sống Việt từ ngày xưa. Mảnh vườn không cần lớn, nhưng phải đủ. Trong mảnh đất nhỏ quanh nhà được các bà nội trợ trồng đủ thứ rau. Các ông th́ làm giàn trồng các loại quả. Rau và quả đi vào bữa ăn đạm bạc của gia đ́nh. Từ đó, "cây nhà lá vườn" mang ư nghĩa của sự sung túc, no đủ. Vườn ở quê không thiếu một thứ rau đậu nào, lên thành phố đất hẹp người đông, nhà nhà sát vách, vườn th́ tráng xi măng, nhưng người Việt vẫn có một chút vườn.

Thói quen đó đi vào đời sống làm nên nếp sống riêng. Đến Mỹ, người Việt đôi khi quên mất những cái "giàn" cho nên nhà ở Mỹ chỉ có cây trái làm kiểng, trong bữa ăn cũng thiếu mất hương vị của các loại trái leo giàn. Giàn đậu, giàn bí, giàn bầu… và giàn mướp. Trái mướp trong bữa ăn ở Mỹ không được thấy nhiều.

Thảng hoặc trong các bữa ăn gia đ́nh có món canh mướp, tuy rất hiếm. Trong khi đó, tại siêu thị có bán mướp. Nhưng thực đơn nhà hàng lại thiếu món canh mướp, mướp xào v.v.. . Mướp là món ăn dân dă, không được ưa chuộng chăng?

Trong thực tế đời sống, trái mướp đă đi vào văn học b́nh dân qua ca dao tục ngữ:

"Quả dưa gang ngoài xanh trong trắng
Quả mướp đắng ngoài trắng trong vàng
Từ ngày anh gặp mặt nàng
Ḷng càng vương vấn, dạ c̣n ngẩn ngơ"

Mướp đối với dân quê là h́nh ảnh của thanh b́nh, ổn định và điền viên. Khi cất nhà, việc đầu tiên là làm một cái giàn, bỏ xuống vài hạt mướp để có cái ăn, v́ mướp dễ trồng: "Trời nắng tốt dưa, trời mưa tốt mướp". H́nh ảnh trái mướp trên giàn với những bông hoa vàng lung linh trong nắng sớm, ong bướm dập d́u tạo nên sức sống. Dây mướp, dây bầu là h́nh ảnh của cuộc sống mới bắt đầu:

"Dây bầu dây mướp cùng leo
Sớm nuôi cha mẹ, nghèo giàu sá chi"

Mướp là loại rau của nhà nghèo? Người trồng mướp với ước mơ ổn định chăng? Giàn mướp là t́nh yêu? Là hẹn ḥ? Mướp trong đời sống là h́nh ảnh:

"Ao sen dàn mướp luỹ tre
Nhắc chi những nỗi đi về năm xưa
Đầu xanh độ ấy đang vừa
Rủ nhau chui lách rào thưa vào vườn"

Mướp là xao xuyến con tim, là đợi chờ mong ngóng đến với nhau của đôi nhân t́nh thôn giả, ít học nhưng lễ nghĩa đủ đầy. Yêu là yêu quá nhưng chẳng thế nào vượt qua lễ giáo:

"Chiều chiều gọt mướp nấu canh
Thấy anh qua lại bỏ hành lộn om"

hay:

"Mướp hương bỏ ngọn qua rào
Bây giờ gặp mặt biết chừng nào gần em?"

Biết bao nhiêu h́nh ảnh của đời sống được tượng h́nh nơi quả mướp:

"Ngọn lang trắng ngọn vắn ngọn dài
Cây thài lài ngả dọc ngả ngang
Cây dưa gang sọc đen sọc trắng
Quả mướp đắng , trong trắng, ngoài xanh
Ḷng em ăn ở với anh
Trách cái thân lận đận nên ta đành xa nhau"

Qua sách vở ghi lại, trong kho tàng văn chương b́nh dân, ca dao, tục ngữ, v.v... mướp được ví von:

"Xanh xanh dây mướp leo rào
Đôi ta mới gặp biết chào sao đây?"

Ta cũng có thể nghe được lời than của mướp hay của con người:

"Bèo than phận bèo nằm trên mặt nước,
Mướp than phận mướp bắc ngọn leo giàn"

Gia đ́nh Mỹ cũng có mướp, nhưng mướp không đi vào bữa ăn. Thế người ta trồng mướp để làm ǵ? Trái mướp trong tiếng Anh, Mỹ là Luffa, c̣n một loại khác cùng ḍng mướp là mướp khía Angle Type Luffa. Mướp không đi vào bữa ăn, nhưng mướp Mỹ đi vào kinh tế. Người Mỹ trồng mướp để lấy xơ. Nghe lạ? Hăy đi vào các tiệp bán tạp phẩm sẽ thấy "xơ mướp" được dùng ở trong pḥng tắm "sponge". Người Mỹ dùng xơ mướp để chà lưng, chà chân khi tắm.

Trái mướp khi đă già, vỏ khô lại, khi cầm trái mướp già lắc nhẹ ta có thể nghe tiếng khua lọc cọc ở bên trong. Lúc đó, hạt được làm giống, c̣n xơ làm "sponge". Lấy trái mướp già ngâm trong một loại dung dịch 10% thuốc tẩy (bleach) và 90% nước khoảng 1 hoặc 2 giờ, đem xả sạch, phơi khô. Thân phận của mướp già là thế.

Mướp trồng bằng hạt, leo giàn, cho hoa vàng và ra trái. Mướp cần nước và nắng. Có thể trồng vào mùa nắng. Trái mướp có chiều dài trung b́nh là 16", đường kính là 9". Khi trái c̣n non, có thể nấu canh với tôm, thịt hoặc xào. Đặc biệt canh mướp ăn nóng ăn nguội đều ngon , tánh mát bổ tỳ, vị.

Một người bạn của tôi có trồng giàn mướp. Anh nói "Với tôi, giàn mướp là h́nh ảnh của sự an cư lạc nghiệp. Mỗi chiều khi tắt nắng. Ra vườn quanh quẩn bên giàn mướp thấy đỡ nhớ nhà." Anh c̣n ước thêm "Nếu được phép ḿnh nuôi thêm đàn gà, tiếng chíp chíp của gà con, tiếng cục cục của gà mẹ vào những buổi trưa hè dưới giàn mướp…không có loại nhạc nào hay hơn, phim ảnh nào t́nh hơn." Anh đă vào tuổi "cổ lai hy", anh muốn tạo dựng cho anh một cảnh quan Việt Nam trên đất Mỹ. Anh đến Mỹ vào năm 75 với đại gia đ́nh, không c̣n thân nhân, không c̣n nhà cửa. Anh chọn nơi này làm quê hương.

Tôi cảm được tấc ḷng anh khi mơ màng bên giàn mướp. Đèn nhà ai nấy sáng, biết thế nào mà khuyên bảo chia sẻ cho nhau.

Lê B́nh

* Bài viết có tham khảo Tục Ngữ Phong Dao của Nguyễn Văn Ngọc, và trang e-cadao.com của Hà Phương Hoài

hoangthymaithao
07-24-2010, 04:11 AM
http://i46.tinypic.com/x0tffa.gif

Nam bộ là một vùng sông nước có hệ thống sông ng̣i chằng chịt, cho nên từ lâu h́nh ảnh chiếc ghe, con đ̣, ḍng sông, chiếc cầu... là h́nh ảnh hết sức quen thuộc với người dân nơi đây. Ngay từ thuở lọt ḷng, họ đă được tắm ḿnh giữa trời nước bao la rồi khi lớn lên họ phải đi qua những chiếc cầu tre nối nhịp đôi bờ, những khi buông câu, thả lưới, những lúc chở hàng bông ra chợ... họ cũng gắn chặt cuộc đời ḿnh với ḍng nước bao la.

V́ vậy, trong cuộc sống hàng ngày, cũng như trong những câu ca dao, ḥ, vè dù thể hiện chủ đề nào, tâm trạng nào th́ ít nhiều h́nh ảnh ḍng sông, chiếc ghe, con đ̣ cũng hiển hiện trong đó. Người Nam bộ thường có thói quen dùng lối nói ví von, mượn các h́nh ảnh quen thuộc của đời thường gần gũi để thông qua đó nêu lên chủ đề ḿnh định nói. Và các h́nh ảnh quen thuộc đó, được lặp đi lặp lại trong cách nói của họ cho đến khi thành tiềm thức, để khi có dịp th́ tự động bật ra. Như: khi có khách ở xa đến thăm ḿnh th́ người Nam bộ nói: từ xa lặn lội tới đây. Mặc dù có thể người đó đi bằng xe đ̣ hay xe Hon-đa. Hay từ "quá giang" vốn dùng cho việc đi nhờ ghe cộ lại dùng cho việc đi nhờ xe hay đi cùng đường. Tất cả đó phải chăng là dấu ấn của vùng sông nước đă ăn sâu vào huyết quản của họ.

Đi liền với h́nh ảnh sông nước là các h́nh ảnh: chiếc ghe, con đ̣, con cá, con cua, cần câu, đăng, đó, ṇ... Đây là h́nh ảnh mà ta thường gặp trong ca dao dân ca Nam bộ. Ngay cả việc trông ngóng người yêu, người Nam bộ cũng mượn h́nh ảnh chiếc ghe để nói lên nỗi ḷng của ḿnh, nói lên sự trông ngóng, khấp khởi chờ mong người yêu đến thăm ḿnh:

Ghe ai đỏ mũi xanh lườn,
Phải ghe Gia Định xuống vườn thăm em.

Ở đây người con gái nhận dạng chiếc ghe của người yêu ḿnh. Chiếc ghe của người yêu cô có đặc điểm: "đỏ mũi, xanh lườn" nên khi thấy chiếc ghe có đặc điểm này th́ cô gái mừng thầm, đinh ninh là ghe của người yêu xuống thăm ḿnh. Nhưng cô gái ở đây vẫn cẩn trọng, không hấp tấp vội vă. V́ cả vùng sông nước này có biết bao chiếc ghe có cùng đặc điểm đó, không khéo sẽ bị hớ. Nên cô gái mới đặt lời ướm hỏi.

Từ "phải" là một từ để hỏi nhưng ở đây là dạng hỏi tu từ. Không cần người đáp. Hỏi để rào trước đón sau mà thôi. Có phải th́ hăy đến nơi hẹn, hăy thẳng nơi mà đến. C̣n không phải th́ chỉ việc đi ngang qua. Câu ca dao này c̣n có một dị bản khác:

Ghe ai nhỏ mũi trảng lườn,
Ở trên Gia Định xuống vườn thăm em.

Chiếc ghe cũng là h́nh ảnh của cuộc sống thương hồ, trên đó có chức năng như một ngôi nhà di động. Phía sau là cuộc sống sinh hoạt của cả gia đ́nh. Phía trước là dùng để chất hàng hóa bán. Cứ thế, chiếc ghe vào từng con kinh, con rạch, hết nơi này đến nơi khác. Hết hàng th́ quay ra chợ bổ hàng rồi đi bán tiếp. Con người cũng sống trôi nổi cùng chiếc ghe. Nhưng đôi khi chiếc ghe chở hàng chỉ có người chồng đảm nhận. Vợ con ở nhà, người chồng đi buôn bán xa, vài ba ngày mới về một lần. Cho nên trông chồng cũng là h́nh ảnh chiếc ghe và nhớ chiếc ghe cũng là nhớ chồng:

Ghe lui khỏi vịnh, em thọ bịnh liền,
Không tin anh hỏi xóm giềng mà coi.

V́ cuộc sống mưu sinh mà vợ chồng phải xa cách, vắng nhau bao ngày là bao nỗi ḷng nhung nhớ. Về nhà chưa được bao lâu, lửa nồng chưa ấm anh đă vội ra đi. Nhưng v́ cuộc sống không thể khác được nên ghe người chồng vừa đi th́ người vợ cũng vừa "thọ bịnh". Quả là một tấm t́nh son sắt, thủy chung.

Hay giữa một đêm trăng thanh gió mát, một chiếc xuồng câu đang lờ lững giữa ḍng, bắt gặp chiếc xuồng của cô gái chở hàng bông ra chợ đang chèo tới ở phía sau anh ta liền buông mấy lời chọc ghẹo:

Bớ chiếc ghe sau chèo mau anh đợi,
Kẻo giông khói đèn bờ bụi tối tăm.

Cách chọc ghẹo của chàng trai ở đây rất có lư, đồng thời thể hiện được sự quan tâm lo lắng của ḿnh. Giữa trời nước bao la mà chỉ có một ḿnh cô gái chèo ghe chở hàng ra chợ. Anh lo lắng cho cô gái bảo cô chèo mau lên, anh đợi, nếu không giông đến thổi tắt đèn mà cô th́ có môt ḿnh biết phải làm sao. Cô gái cũng cảm thấy ấm ḷng khi giữa đêm khuya thanh vắng mà lại có người quan tâm đến ḿnh, nên cô cũng ḥ đáp lại:

Nhứt nhựt tiểu thân chứ nhà của anh đâu mà em không biết,
Chứ gặp anh giữa đường, cái quyết chí mà thương anh.

Có khi họ nên duyên cũng từ đó. Chiếc ghe, chiếc xuồng, ḍng sông cũng là những h́nh ảnh được người dân Nam bộ gởi gắm vào đó những nỗi niềm tâm sự, những cảm nhận của cuộc đời, than thân trách phận, nói lên cuộc sống nghèo khó của ḿnh:

Không xuồng nên phải lội sông,
Đói ḷng nên phải ăn ṛng bè môn.

Như đă nói, Nam bộ có hê thống sông ng̣i chằng chịt cho nên phương tiện đi lại của cư dân nơi đây trước kia chủ yếu là ghe, xuồng. Ghe, xuồng là chân đi là phương tiện vận chuyển chủ yếu, nên dù nghèo thiếu đến đâu người ta cũng cố dành dụm sắm cho ḿnh một chiếc xuồng để làm phương tiện đi lại. Tác giả của câu ca dao này có lẽ do quá nghèo túng, nghèo đến nỗi không có chiếc xuồng để đi, mọi việc di chuyển chỉ bằng cách lội sông. Mà không có xuồng cũng có nghĩa là thiếu phương tiện đánh bắt, mà thiếu phương tiện đánh bắt th́ làm sao có nhiều cá, tôm cho được. Mà không có nhiều cá, tôm có nghĩa là không có tiền nên phải ăn " ṛng bè môn".

B́m bịp kêu nước lớn anh ơi !
Buôn bán không lời chèo chống mỏi mê.

Đây cũng là lời than, than cho việc buôn bán ế ẩm. Không có người mua nên phải chèo măi, chèo đến mỏi mêt mà vẫn không bán được hàng. B́m bịp là loài chim rất quen thuộc ở Nam bộ, hễ nó kêu là nước lớn, cho nên tiếng b́m bịp kêu cũng là lời dự báo cho con nước sắp lên. Ngoài ra tiếng b́m bịp cũng là dùng để chỉ thời gian, thời gian của con nước lớn, nước ṛng, cũng là thời gian trong ngày. Lời than của cô gái ở đây phải chăng ngụ ư trong từng tiếng kêu của con b́m bịp. B́m bịp kêu nước lớn rồi nước ṛng, rồi b́m bịp kêu : nước lớn... cứ thế hết ngày mà bán buôn chẳng được ǵ. Sự ngao ngán của cô gái phải chăng là thế.

Dời chưn bước xuống ghe buôn,
Sóng bao nhiêu gợn dạ buồn bấy nhiêu.

Lại một tâm trạng buồn cho những kiếp thương hồ. Bước xuống ghe buồn cũng đồng nghĩa với việc xa nhà, phải đối mặt với cuộc sống cô đơn, một ḿnh ḿnh đối diện với sông nước đêm đen. Ngoài ra trong chuyến đi này, không biết buôn bán ra sao, lời lăi thế nào. Nhưng trên hết là nỗi nhớ nhà da diết, nhớ vợ, nhớ con... c̣n buồn nào hơn nỗi buồn chia ly. Ở đây tác giả so sánh nỗi ḷng của ḿnh với sóng nước. Sóng có bao nhiêu gợn th́ ḷng ḿnh cũng buồn bấy nhiêu, nhưng gợn sóng là vô vàn, không sao đếm được. Cho nên tấm ḷng của họ nhớ nhà, đau đáu chờ mong, buồn man mác cũng bấy nhiêu, không sao nói hết được.


http://i50.tinypic.com/xo3blf.jpg

Bên cạnh đó h́nh ảnh của cầu ván, cầu tre, các phương tiện đánh bắt cũng được người dân ở đây mượn làm phương tiện để nói nên nỗi ḷng của ḿnh:

Ví dầu cầu ván đóng đinh,
Cầu tre lắt lẻo gập gh́nh khó đi.
Ví dầu mẹ chẳng có chi,
Chỉ con với mẹ chẳng khi nào ṃn.

Cầu tre, cầu ván là hai h́nh ảnh rất quen thuộc đối với người dân Nam bộ. Nó thường được bắc qua những con kinh, con rạch, sông nhỏ. Ở đây, người phụ nữ mở đầu bằng một h́nh ảnh rất quen thuộc này như là một lời tâm sự của ḿnh đối với con về t́nh mẫu tử thiêng liêng. Có thể người phụ nữ này đă bị chồng phụ bạc nên cô rất đau buồn, coi như là mất tất cả, cô chẳng c̣n thiết sống nữa. nhưng may c̣n được đứa con, nó là nguồn an ủi vô giá đối với cô, níu chân cô lại trên cơi đời này. V́ vậy, mọi t́nh yêu cô đều dành cho nó, xem như là nguồn an ủi duy nhất trong cuôc đời ḿnh.

Không chỉ là lời than thân trách phận, không chỉ là t́nh mẫu tử bao la, lời tỏ t́nh dễ thương, sông nước Nam bộ c̣n phản ánh những nếp sinh hoạt, những buổi lao động hết sức đời thường của họ. Thể hiện được một cuộc sống đơn sơ, giản dị nhưng đầm ấm t́nh người, t́nh mẹ con, vợ chồng:

Cha chài mẹ lưới con câu,
Chàng rể đóng đáy, con dâu ngồi ṇ.

Đây là một bức tranh sinh hoạt đời thường, đầm ấm không khí gia đ́nh ở Nam bộ gắn chặt cuộc sống của ḿnh với sông nước bao la. Không ai nạnh ai, mỗi người một việc, từ cha, mẹ đến rể dâu ai cũng phải lao động, lao động với một tinh thần hăng say, yêu thích, thể hiện được sự đoàn kết thương yêu lẫn nhau giữa các thành viên trong một gia đ́nh.

Hay:

Chiều chiều ông Lữ đi câu,
Bà Lữ đi xúc con dâu đi ṃ.

Cảnh mẹ chồng nàng dâu từ xưa đến nay thiên hạ đă nói nhiều. Nhưng ở đây, ta thấy: mẹ chồng nàng dâu hết sức "ăn ư", mặc dù không nói ra, nhưng qua cảnh sinh hoạt ta vẫn thấy được nàng dâu và mẹ chồng rất hợp ư với nhau, ngay cả cha chồng cũng thế. Cả nhà cùng lao động, không khí gia đ́nh thật đầm ấm vui tươi.

Sông nước là một đặc trưng không thể thiếu của Nam bộ, mà gắn liền với sông nước là ghe, xuồng, lưới, câu, ḥ, cầu tre, cầu ván... tất cả đă trở thành rất quen thuôc với người dân Nam bộ. Cho nên trong ca dao dân ca Nam bộ, để bộc lộ tâm trạng của ḿnh th́ người dân nơi đây thường mượn các h́nh ảnh quen thuộc này để ví von, nhằm bộc lộ những ǵ ḿnh muốn nói, bởi tất cả đó đă trở thành thị hiếu của người dân nơi đây.

Cùng nằm trong cái nôi văn hóa của quê hương, đất nước, ca dao dân ca Nam bộ đă mang đến cho kho tàng văn học dân gian những vần ca dao ngọt ngào, t́nh tứ. Ca dao dân ca Nam bộ là sản phẩm của sự suy tư, cảm xúc, sự trải nghiệm của con người, là tiếng nói của người Việt Nam, đặc biệt là của nguời dân vùng đồng bằng Nam bộ, góp phần làm phong phú kho tàng văn học dân gian của dân tộc.

TRẦN PHỎNG DIỀU

hoangthymaithao
08-01-2010, 10:38 AM
Đọc... chơi vài bài ca dao

Thursday, July 15, 2010

Ca dao, ai cũng biết là hay. Tuy nhiên, có nhiều bài ca dao chúng ta đọc đi đọc lại cả trăm lần, mơ hồ cảm nhận là chúng hay, mà chả hiểu chúng hay ở chỗ nào cả. Chỉ đến một lúc nào đó... Ví dụ bài ca dao rất quen thuộc này:

Ḿnh nói dối ta ḿnh hăy c̣n son,
Ta đi qua ngơ thấy con ḿnh ḅ.
Con ḿnh những trấu cùng tro,
Ta đi xách nước tắm cho con ḿnh.

Tôi thuộc bài ca dao này từ nhỏ. Nhưng chỉ gần đây, tôi mới bắt đầu loé thấy một ít cái hay của nó. Trước hết, chúng ta biết ngay bài ca dao này được làm theo thể lục bát. B́nh thường, trong thơ lục bát, câu sáu chữ nằm trên câu tám chữ, lục rồi mới đến bát. Tuy nhiên, trong bài này có điểm lạ: là thơ lục bát, nhưng thay v́ mở đầu bằng một câu lục th́ nó lại mở đầu bằng một câu bát phá thể. Hệ quả là ǵ? Hệ quả là hơi thơ của câu thứ nhất dài hẳn ra. Dài và thiết tha vô hạn: tấm ḷng của anh thanh niên mở ra bao la với những nguyên âm 'o' và nguyên âm 'a' rộng răi và khép lại ở nguyên âm 'i' thầm th́ trong chữ 'ḿnh' lặp lại đến hai lần ở câu thứ nhất. Thành ra ở đây, ngay câu thứ nhất, đă có một nghịch lư: ư câu thơ là tố cáo một sự dối trá ('Ḿnh nói dối ta...') mà giọng thơ th́ lại rất mực ngọt ngào và ấm áp: anh thanh niên biết ḿnh bị lừa mà lại sẵn sàng chấp nhận bị lừa, sung sướng để chịu bị lừa.

Hay nhất trong bài ca dao trên là chữ 'ḿnh'. 'Ḿnh' là cách xưng hô đầy âu yếm để gọi người ḿnh yêu. Chữ 'ḿnh' ấy lặp lại đến năm lần, mang hai ư nghĩa hoàn toàn khác nhau: bốn lần đầu, 'ḿnh' là em, chỉ người con gái, ngôi thứ hai số ít: 'con ḿnh' là con của em, là 'your child'. Đến lần thứ năm, cũng là 'ḿnh', nhưng 'ḿnh' ở đây lại là ta, là chúng ta, ngôi thứ nhất số nhiều, bao gồm cả người con trai lẫn người con gái: 'con ḿnh' ở câu cuối là 'our child'. Người thanh niên chấp nhận đứa con riêng của người yêu làm con của ḿnh.(1)

Bài ca dao mở đầu bằng chữ 'ḿnh', kết thúc cũng bằng chữ 'ḿnh'. Từ chữ 'ḿnh' đầu bài đến chữ 'ḿnh' cuối bài, cách nhau chỉ có 28 từ mà thực ra là cả một quá tŕnh chuyển hoá của mối quan hệ giữa người con trai và người con gái, là lịch sử của một mối t́nh vừa ngang trái lại vừa cảm động. Trước là hai, sau chỉ là một: người thanh niên chấp nhận người t́nh ngay cả khi bị chị đánh lừa.

Cuối cùng, v́ lặp đi lặp lại nhiều lần từ 'ḿnh', chứa đựng nhiều âm 'm' vốn là một phụ âm môi, nhẹ nhàng và ngọt ngào, bài ca dao mang đầy giọng tâm t́nh. Như một lời thủ thỉ, thầm th́. Hiếm có bài ca dao nào của Việt Nam mà có cái giọng ngọt và ấm đến như vậy.

Hay bài ca dao này, c̣n nổi tiếng và quen thuộc hơn nữa:

Trèo lên cây bưởi hái hoa,
Bước xuống vườn cà hái nụ tầm xuân.
Nụ tầm xuân nở ra xanh biếc;
Em có chồng rồi, anh tiếc lắm thay...
- Ba đồng một mớ trầu cay,
Sao anh không hỏi những ngày c̣n không?
Bây giờ em đă có chồng,
Như chim vào lồng, như cá cắn câu.
Cá cắn câu biết đâu mà gỡ;
Chim vào lồng, biết thuở nào ra.

Bài ca dao này đă được khá nhiều người phân tích. Phần lớn đều tập trung ở khía cạnh h́nh tượng và ngữ nghĩa. Những sự phân tích ấy ít khi khác nhau cho nên tôi không muốn nhắc lại làm ǵ. Tôi chỉ xin lưu ư đến khía cạnh ngữ âm, một khía cạnh ngờ như có khả năng tiết lộ khá nhiều điều thú vị, đặc biệt là cảm xúc của người con gái.

Bài ca dao được cấu trúc bằng hai ngôn ngữ: ngôn ngữ của người con trai và ngôn ngữ của người con gái. Bài ca dao giống như một vở kịch với hai lời đối thoại. Nhưng lời nói của người con trai không hẳn là một lời nói, có vẻ như là lời kể của ai đó, một nhân vật thứ ba, ở ngoài. Tại sao? Không có ǵ khó hiểu cả: người con trai đang ở trong một trạng thái bất ổn, phân thân, hồn một nơi mà thân xác một nơi. Nhiều người ngạc nhiên tự hỏi: không hiểu anh loăng quăng, líu quưu trèo lên, trèo xuống để làm ǵ vậy? Thật ra, có ǵ lạ đâu. Nhớ, trong một bài ca dao khác, một người con gái cũng có cái dáng điệu loăng quăng líu quưu như thế: 'Khăn thương nhớ ai / Khăn rơi xuống đất / Khăn thương nhớ ai / Khăn vắt lên vai...' Sự loăng quăng líu quưu ấy chỉ là một cách để làm nguôi ngoai một tâm trạng bời bời, đồng thời cũng là một dấu hiệu cho thấy anh không c̣n tự chủ được ḿnh nữa, anh bị thất lạc tâm hồn. Anh bàng hoàng. Anh thảng thốt. Anh chấn động trước sự việc người anh yêu thầm đi lấy chồng.

Ngắm nụ hoa tầm xuân xanh biếc, người con trai ngẩn ngơ: 'Em có chồng rồi, anh tiếc lắm thay.' Câu này c̣n có dị bản là 'Em đă có chồng, anh tiếc lắm thay'. Ca dao là một thứ văn chương truyền khẩu, từ đời này sang đời khác, do đó, khó mà nói được bản nào là đúng, bản nào là sai. Nhưng tôi vẫn có thích câu 'Em có chồng rồi, anh tiếc lắm thay' hơn. Lư do thứ nhất là v́ cách dùng chữ 'đă' trong câu sau khiến cho tôi nghĩ đó là một cách nói khá mới. Lư do thứ hai là v́ nhạc điệu: khi chữ 'rồi' thay thế chữ 'đă', câu thơ thêm một thanh bằng, hơi thơ thành ra nhẹ hơn, ngậm ngùi hơn; hơn nữa, khi chữ 'rồi' đi liền theo sau chữ 'chồng', âm 'ông' trong chữ 'chồng' cũng bớt mạnh và vang hơn là lúc nó đứng một ḿnh.

Một câu hỏi quan trọng mà người đọc thơ không thể không đặt ra: có quan hệ ǵ giữa nụ tầm xuân và việc người con gái lấy chồng, từ đó, dẫn đến niềm tiếc nuối, xót xa kia? Ngỡ như không có. Mà lại có. Ở cái vần 'iếc' trong chữ 'biếc' cuối một câu thơ vốn có thật nhiều nguyên âm mở. Nó như một sự khép lại. Nó mảnh. Nó sắc. Như một sợi khói bay lên, bay lên, xa hút: nó h́nh tượng hoá một sự mất mát, một cái ǵ vuột khỏi tầm tay.

Người con gái chắc cũng yêu bạn ḿnh. Chị đă từng chờ đợi. Hoài công v́ sự nhút nhát của anh. Chị vừa thông cảm lại vừa giận. Chị đay nghiến: 'ba đồng.. một mớ..'. Sở dĩ đay nghiến là v́ c̣n yêu, c̣n thương. Nhưng dẫu sao th́ cũng đă lỡ: chị đă có chồng. Người con gái ư thức rất rơ điều đó, cho nên, giọng chị cứng lại: Bây giờ em đă có chồng. Như chim vào lồng...

Vần hai câu thơ rơi vào âm 'ông' sang sảng, ngân vang. Mạnh, rất mạnh. Dứt khoát, rất dứt khoát. Nhưng tôi ngờ là chị chỉ cao giọng để lừa dối chính chị. Bởi, nói chưa hết câu ấy, giọng chị đă trầm xuống, thổn thức: .. Như cá cắn câu.Cá cắn câu biết đâu mà gỡ; Chim vào lồng biết thuở nào ra.

'Câu', 'đâu', 'gỡ', 'thuở': những chữ kết thúc bằng nguyên âm 'u' và 'ơ', nửa khép nửa nhẹ, bềnh bồng, rưng rưng, không chừng là một tiếng khóc. Câu ca dao dưới đây khác hẳn:
Em như cục *** trôi sông
Anh như con chó chạy rông trên bờ.

Từ trước đến nay, bài ca dao này thường chỉ được đọc trong những lúc nói chuyện phiếm, như một bài ca dao trào lộng. Đọc cho vui, đọc để cười chơi, vậy thôi. Trong ư nghĩa ấy, bài ca dao được nh́n nhận như một cái ǵ khá tục và khá nhảm.

Tuy nhiên, theo tôi, không chừng đó là một bài ca dao hay. Vấn đề là: nó hay ở chỗ nào?

Trước hết là nó bạo và nó mới. Nó không có một chút sáo ngữ nào cả. Dĩ nhiên, nói thế, chúng ta cần thận trọng. Không phải cứ hễ viết tục là thoát sáo. Từ trước đến nay, ở đâu cũng có những người khoái viết tục và viết bạo. Hiện nay, người ta lại càng viết tục và viết bạo. Nhưng chưa chắc đă hay. Dù sao, theo tôi, cái tục của câu ca dao này quả là hay thực. Nó không phải chỉ bạo để bạo, chỉ mới v́ mới mà c̣n là một sự sáng tạo hầu vẽ nên một thế giới gần hiện thực hơn. Chúng ta hăy nhớ lại xă hội Việt Nam ngày xưa. Đâu phải ai cũng như là Thuư Kiều và Kim Trọng, cũng là 'người quốc sắc, kẻ thiên tài', là 'trai anh hùng, gái thuyền quyên' cả. Trong xă hội thời xưa, đặc biệt là ở nông thôn, đại đa số các cặp t́nh nhân là những anh thợ cày và những chị đầy tớ. Anh đi làm mướn, chị đi ở đợ. Anh giống như Chí Phèo, chị giống như Thị Nở. Đời sống của họ cơ cực, tối tăm. Cho nên, không có ǵ lạ khi họ tự ví Em như cục ***... Anh như con chó ...

Cái tục của ngôn ngữ, cái thô của h́nh tượng ở đây lại là những cái thực và là một sự sáng tạo. Nó phá đổ những khuôn sáo cũ kỹ và giả tạo trong văn chương bác học.Nó vứt bỏ những son phấn những mũ măo đai hia để làm hiện h́nh những con người gần gũi với cuộc đời hằng ngày.

Hơn nữa, điều đáng cảm động ở đây là cặp t́nh nhân tự biết thân phận của người họ yêu và của chính họ chẳng ra ǵ. Em không ra ǵ. Mà anh th́ cũng chẳng ra ǵ. Thế nhưng họ vẫn cứ yêu nhau, thương nhau. Chúng ta nhớ trong truyện 'Chí Phèo', Chí Phèo và Thị Nở cũng từng có lúc yêu nhau như tất cả mọi cặp t́nh nhân khác trên đời này. Và trên đời này, tất cả những con người bất hạnh khác, khi yêu nhau, th́ cũng yêu nhau như tất cả những con người b́nh thường hay may mắn khác yêu nhau. Cách biểu hiện t́nh yêu có thể khác nhau nhưng những rung cảm những xao xuyến những quyến luyến những ngây ngất trong ḷng th́ chắc chắn là không có ǵ khác nhau cả.

Ở giữa câu lục là hai từ bắt đầu bằng phụ âm [k] ('cục ***') mạnh, gắt, như một nỗi đau uất. Ở giữa câu bát là hai từ bắt đầu bằng phụ âm [ch] ('chó chạy') mềm mại, ngân vang, như một nỗi buồn tênh. Câu ca dao, như thế, không phải chỉ tả mối t́nh giữa hai người khốn khó bất hạnh tự ví ḿnh với những ǵ hèn mọn, thậm chí hèn hạ nhất trên mặt đất. Điều đáng đau xót, toát lên từ câu ca dao này là ở chỗ, mặc dù họ tự biết thân phận của ḿnh, mặc dù họ hoàn toàn an phận, chấp nhận cái số kiếp làm phân, làm chó, họ vẫn không được gần nhau. Em vẫn lênh đênh giữa sông và anh vẫn chạy rông trên bờ. Anh vẫn không bắt được em, vẫn ở từ xa mà nh́n em một cách thèm thuồng. Giữa hai người vẫn có một khoảng cách vời vợi. Không cùng.

Bài ca dao, do đó, mặc dù có một số chữ có vẻ tục, có vẻ sỗ sàng lại chứa đựng một ư nghĩa hết sức thâm trầm, thể hiện được đúng số phận của hàng triệu triệu cặp thanh niên nam nữ nghèo khó, lam lũ và bất hạnh trong cuộc đời, nhất là cuộc đời ngày xưa.

C̣n một câu ca dao khác cũng rất đáng bàn. Đó là câu

Vân Tiên ngồi dưới bụi môn
Chờ cho trăng lặn bóp l. Nguyệt Nga

Xin nói ngay: tôi không có ư định khen đây là bài ca dao hay.

Không hay, nhưng nó không hẳn chỉ là một cách nói tục tĩu, nhảm nhí, và chắc chắn không phải là những câu vần vè vô nghĩa như lâu nay chúng ta vẫn thường tưởng.

Chỉ cần đặt câu hỏi: tại sao người ta lại không nói Kim Trọng hay Từ Hải hay Sở Khanh hay Mă Giám Sinh 'ngồi dưới bụi môn'? Trả lời câu hỏi ấy, chúng ta sẽ thấy ngay tác giả của câu ca dao này chính là những độc giả của Nguyễn Đ́nh Chiểu. Thế nhưng, ở đây lại nảy ra một câu hỏi khác: tại sao, trong truyện Lục Vân Tiên, người ta không chọn nhân vật nào khác, như Bùi Kiệm, một nhân vật được Nguyễn Đ́nh Chiểu mô tả bằng những lời lẽ rất nặng nề, rất thích hợp với vai tṛ của kẻ 'ngồi dưới bụi môn': 'C̣n thằng Bùi Kiệm máu dê / Ngồi chề bê mặt như sề thịt trâu'? Tại sao?

Tại sao người ta lại chọn ngay chính Lục Vân Tiên, một nhân vật được xem là nghiêm trang, nghiêm túc, thậm chí nghiêm khắc, có thể xem như một khuôn mẫu về đạo đức, để bắt làm cái chuyện phàm phu tục tử ấy? Tại sao người ta lại chọn cái nhân vật không dám nh́n cả phụ nữ 'Khoan khoan ngồi đó chớ ra / Nàng là phận gái, ta là phận trai', không dám lần khân lâu bên phụ nữ 'Vân Tiên ngó lại rằng: Ừ / Làm thơ cho kịp chừ chừ chớ lâu' lại làm cái việc 'công xúc tu sỉ' ấy?

Tại sao? Chắc chắn là có lư do. Và lư do cũng không có ǵ khó hiểu: Chúng ta dễ dàng thấy được câu ca dao trên là một cách phản ứng chống lại thái độ đạo đức khắt khe, có phần giả tạo của Lục Vân Tiên, và phần nào cũng là của Nguyễn Đ́nh Chiểu. Chế diễu thái độ đạo đức cứng nhắc ấy, dân chúng đă cho Lục Vân Tiên làm cái việc nhảm nhí là 'ngồi dưới bụi môn, chờ cho trăng lặn...' Trong cách nh́n này, câu ca dao trên có cùng trường nghĩa với một câu ca dao khác, từ lâu vẫn được xem là có 'lập trường tiến bộ' và 'đứng đắn' hơn:

Ban ngày quan lớn như thần,
Ban đêm quan lớn tần mần như ma.

Nói cách khác, tôi nghĩ, chúng ta hoàn toàn có lư để xem câu 'Vân Tiên ngồi dưới bụi môn...' như một cách đọc truyện Lục Vân Tiên. Đó là một lời phê b́nh cuốn Lục Vân Tiên. Trong vô số những lời phê b́nh truyện Lục Vân Tiên, không chừng cách phê b́nh này của dân gian là một cách phê b́nh hay. Hay và sắc sảo. Nó nhắm vào một trong những vấn đề trung tâm của tác phẩm là quan niệm đạo đức cũng như cách thức xây dựng nhân vật của cụ Đồ Chiểu nói chung. Cũng vậy, chúng ta có thể đọc những câu:

Vân Tiên cơng mẹ chạy ra,
Đụng phải cột nhà, cơng mẹ chạy vô.
Vân Tiên cơng mẹ chạy vô,
Đụng phải cái bồ, cơng mẹ chạy ra.
Vân Tiên cơng mẹ chạy ra...
hay một dị bản của nó:
Vân Tiên cơng mẹ trở ra
Đụng phải Chà Và, cơng mẹ trở vô.
Vân Tiên cơng mẹ trở vô,
Đụng phải ông Tây cồ, cơng mẹ trở ra.
Vân Tiên cơng mẹ trở ra...

như một sự phê phán quan điểm đạo đức của Nguyễn Đ́nh Chiểu: ông một mực đề cao những chuẩn mực đạo đức cổ điển và cổ kính như trung, hiếu, tiết, nghĩa với hy vọng là chúng sẽ giúp duy tŕ sự ổn định trong xă hội, tuy nhiên, một là, xă hội Việt Nam vào nửa sau thế kỷ 19, trong sự cọ xát dữ dội với văn minh Tây phương và thế lực thực dân, cứ ngày một rạn nứt, vô phương hàn gắn; hai là, bản thân những chuẩn mực đạo đức tưởng đâu là chân lư vĩnh cửu ấy thật ra rất đáng ngờ, và với sự lung lay của Nho học, càng ngày càng đáng ngờ thêm. Con thuyền 'chở đạo' của Nguyễn Đ́nh Chiểu, do đó, không phải chỉ trôi trên một ḍng nước ngược mà c̣n, hơn nữa, trên thực tế, chỉ loay hoay măi trong một vũng nước tù, không có lối thoát, hết 'đụng' cái này th́ 'đụng' cái kia, cứ quanh quanh quẩn quẩn măi trong sự tuyệt vọng và bế tắc. Nói cách khác, đó là những lư tưởng ở đường cùng. Biện pháp dựa trên nguyên tắc đạo đức mà Nguyễn Đ́nh Chiểu đề xuất, hay đúng hơn, cổ vũ, đă không giải được bài toán của thời đại.

Theo tôi, chỉ với cách hiểu như thế, chúng ta mới giải thích được tại sao một nhân vật chính diện trong một tác phẩm nặng dụng tâm giáo huấn của một tác giả được xem là tiêu biểu nhất của ḍng văn học giáo huấn lại biến thành - không phải một lần mà là nhiều lần, ít nhất là hai lần như vừa nêu - một nhân vật hài trong nền văn học dân gian.

Một ngày nào đó, nếu tôi đủ hứng thú và can đảm làm một tuyển tập phê b́nh về Nguyễn Đ́nh Chiểu, có khi tôi sẽ chọn in những câu ca dao trên ngay ở trang đầu. Ở đâu đó, bên kia thế giới, đă xa lắm lắm những lời dạy lẩm cẩm kiểu 'trai thời trung hiếu làm đầu / gái thời tiết hạnh làm câu trau ḿnh', đọc những lời phê b́nh thông minh và hóm hỉnh ấy, không chừng cụ Đồ sẽ cả cười.

Chú thích:

1. Nói chung, chữ 'ḿnh' trong tiếng Việt có khá nhiều nghĩa và đặc biệt, quá tŕnh chuyển nghĩa của nó rất thú vị. Ư nghĩa đầu tiên của chữ 'ḿnh' là bộ phận chính của cơ thể (đầu/ḿnh/tứ chi); từ đó, nảy sinh ra ư nghĩa thứ hai là toàn bộ cơ thể (ḿnh mẩy). Cũng từ đó, 'ḿnh' sẽ nảy ra ư nghĩa thứ ba là bản thân người nói, tương đương với chữ 'I' trong tiếng Anh. Rồi cũng từ đó, 'ḿnh' chuyển sang nghĩa thứ tư là chỉ người ḿnh yêu (tương đương với chữ 'you'). Lư do là, với người Việt, yêu ai là xem người đó là một với chính ḿnh, như trong câu thơ:

Ḿnh với ta tuy hai mà một
Ta với ḿnh tuy một mà hai.

Gọi người ḿnh yêu là 'ḿnh' tức là xem người đó chính là cơ thể của ḿnh, là chính bản thân ḿnh. Hai người nhập làm một. Từ đó, lại nảy ra ư nghĩa thứ năm của chữ 'ḿnh', đó là ư nghĩa chỉ chúng ta (tương đương với 'we'). Bởi v́ 'ḿnh' là ḿnh, mà người yêu cũng là 'ḿnh', th́ như vậy, 'ḿnh' đă là số nhiều, là một không gian chung dành cho nhiều người.

Sự chuyển nghĩa của chữ 'ḿnh' cho thấy, với người Việt Nam, t́nh yêu không phải chỉ là một sự hoà nhập làm một; hai người yêu nhau không những chỉ thuộc về nhau. Đó là những quan niệm b́nh thường và quen thuộc ở khắp nơi. Với người Việt Nam, yêu nhau là cho cái ḿnh của ḿnh cho nhau, là đem cái chữ 'ḿnh' vốn chỉ cơ thể của bản thân ḿnh để tặng cho người ḿnh yêu, là nhường cả chủ quyền trên cơ thể của ḿnh cho người ḿnh yêu. Nếu chúng ta kết hợp chữ 'ḿnh' này và chữ 'nhà' dùng để chỉ vợ hay chồng lại với nhau, chúng ta sẽ thấy một quan niệm khá hoàn chỉnh về t́nh yêu và hôn nhân của người Việt Nam: Yêu nhau và lấy nhau là đem chính bản thân ḿnh tặng cho nhau, là biến người ḿnh yêu thành chính ḿnh, hơn nữa, thành nơi cư ngụ của ḿnh. Người này là 'ḿnh' của người kia, là 'nhà' của người kia. Nói cách khác, yêu nhau và lấy nhau là ở trong nhau, là che chở cho nhau, là tự biến thành tổ ấm cho nhau.

Nguyễn Hưng Quốc

hoangthymaithao
08-04-2010, 08:28 AM
Từ xưa, người Việt Nam đă biết lao động để tạo ra của cải vật chất phục vụ sinh hoạt hằng ngày. Từ trong lao động, họ đă thiết lập được mối quan hệ t́nh làng nghĩa xóm - một trong những truyền thống quư báu của dân tộc ta. Họ quư trọng biết bao thành quả lao động của ḿnh. Do đó, họ càng yêu thiết tha những cái mà họ đă làm ra, đă tạo lập và xây dựng nên. Nhờ lao động, t́nh cảm giữa họ ngày càng được vun đắp và nảy nở. Một trong những t́nh cảm thiết tha chân t́nh ấy là t́nh yêu giữa nam và nữ.

T́nh yêu nam nữ là phạm trù phong phú đa dạng và đầy màu sắc, mang nhiều cung bậc t́nh cảm khác nhau: buồn vui, thương nhớ, tương tư, hờn dỗi, v.v… Trong phạm vi bài viết này, chúng tôi chỉ khảo sát cách thức bày tỏ t́nh cảm giữa nam và nữ trong ca dao. Hay nói khác hơn, đó là h́nh thức 'tỏ t́nh'.

Hầu hết những nam nữ thanh niên ngày xưa họp mặt vào những dịp lễ hội, đ́nh đám… Tuy nhiên, dịp tốt và thuận lợi phổ biến nhất để họ gặp nhau thường là trong công việc đồng áng. V́ thế, khi họ thổ lộ tâm t́nh trong những câu ca, bài hát th́ những tâm t́nh ấy thường gắn liền với ruộng vườn:

'Cô kia áo trắng ḷa ḷa,

Lại đây đập đất, trồng cà với anh.

Bao giờ cà chín, cà xanh,

Anh cho một quả để dành mớm con'

C̣n đây là lời tỏ t́nh rất dễ thương của chàng trai:
'Tóc ngang lưng vừa chừng em búi,

Để chi dài bối rối dạ anh'

Cách nói hồn nhiên, thành thật và dễ thương của chàng trai. Anh nói như van xin, khẩn cầu cô gái hăy búi tóc lên cao đừng để tóc 'chấm ngang lưng' khiến ḷng anh khổ năo, 'bối rối'… Nhưng thật ra đó lại là một lời trách rất đáng yêu, đáng quư, một cách trách khôn khéo, trách để mà khen và để thổ lộ t́nh yêu, để giăi bày tâm sự cùng cô gái. 'Nhiều câu có lối nói tưởng như không biết ǵ mà vẫn thấy hay…đâu phải là chuyện yêu cầu bối tóc v́ tóc khi đă được bối lên, chắc ǵ đă khiến anh hết bối rối, bâng khuâng' (Hoài Thanh)

Thông thường, trong chuyện t́nh cảm, phái nam thường chủ động tỏ t́nh với người ḿnh yêu. Song, chuyện phái nữ chủ động cũng không phải là hiếm:

'Anh kia đi ô cánh dơi,

Để em làm cỏ mồ hôi ướt đầm.

Có phải đạo vợ, nghĩa chồng,

Th́ mang ô xuống cánh đồng mà che'

Trong một câu khác:

'Thiên duyên kỳ ngộ gặp chàng,

Khác nào như thể phượng hoàng gặp nhau.

Tiện đây ăn một miếng trầu,

Hỏi thăm quê quán ở đâu chăng là?

Xin anh quá bước lại nhà,

Trước là tṛ chuyện sau là nghỉ chân'

Cô gái cho rằng cuộc gặp gỡ giữa cô và chàng trai là do trời se duyên, 'thiên duyên kỳ ngộ'. Điều bất ngờ là cô đă chủ động 'mời trầu' người mới quen. Theo truyền thống của người Việt Nam, 'miếng trầu là đầu câu chuyện', ở bài ca dao này, cô gái 'mời trầu' chàng trai cũng chính là 'mời duyên'. Không dừng lại ở đó, cô tiếp tục 'hỏi thăm quê quán', mời chàng 'quá bước lại nhà', để cùng nhau chuyện tṛ và nghỉ chân, v.v… Tất cả chỉ với một mục đích mong chàng trai hiểu được tấm chân t́nh của ḿnh.

Với mong muốn lấy được người ḿnh yêu, các chàng trai thường sử dụng lối nói bóng bẩy, hoa mỹ, với niềm khát khao cháy bỏng trong t́nh yêu bằng mô tuưp quen thuộc: 'ước ǵ…để cho…'

'Ước ǵ anh hóa ra hoa,

Để em nâng lấy rồi mà cài khăn.

Ước ǵ anh hóa ra khăn,

Để cho em đắp, em lăn, em nằm.

Ước ǵ anh hóa ra gương,

Để cho em cứ ngày thường em soi.

Ước ǵ anh hóa ra cơi,

Để cho em đựng cau tươi, trầu vàng'

Hàng loạt những vật biểu trưng mang tính chất sánh đôi được kết hợp nhuần nhuyễn tạo nên sự ḥa hợp trọn vẹn và toàn mỹ: hoa – cài khăn, chăn - đắp, gương – soi, cơi – cau tươi, cơi - trầu vàng.


Đôi khi chàng trai cũng không dám mạnh dạn bộc bạch t́nh cảm một cách trực tiếp, cho nên cách nói 'ṿng vo' lại trở nên hữu hiệu và phù hợp hơn với ngữ cảnh tỏ t́nh:

'Đường xa th́ thật là xa,

Mượn ḿnh làm mối cho ta một người.

Một người mười chín, đôi mươi,

Một người vừa đẹp, vừa tươi như ḿnh'

Như trên đă nói, chuyện t́nh yêu có rất nhiều cung bậc, có hạnh phúc, đau khổ, có thành công, thất bại… Những trắc trở trong t́nh yêu là điều không thể tránh khỏi, nhất là đối với những mối t́nh đầu:

'Thương em anh cũng muốn thương,

Nước th́ muốn chảy nhưng mương chẳng đào.

Em về lo liệu thế nào,

Để cho nước chảy lọt vào trong mương'


Là người yêu thích văn học, nhất là mảng văn học dân gian, không ai quên được bài ca dao rất độc đáo 'Tát nước đầu đ́nh' của các tác giả dân gian:


'Hôm qua tát nước đầu đ́nh,

Bỏ quên cái áo trên cành hoa sen.

Em được th́ cho anh xin,

Hay là em để làm tin trong nhà?
Áo anh sứt chỉ đường tà,

Vợ anh chưa có, mẹ già chưa khâu.

Áo anh sứt chỉ đă lâu,

Mai mượn cô ấy về khâu cho cùng.

Khâu rồi anh sẽ trả công.

Đến khi lấy chống anh lại giúp cho.

Giúp em một thúng xôi ṿ,

Một con lợn béo, một ṿ rượu tăm.

Giúp em đôi chiếu em nằm,

Đôi chăn em đắp, đôi trằm em đeo.

Giúp em quan tám, tiền cheo,

Quan năm tiền cưới lại đèo buồng cau'


Thật ra, 'mất áo' trước sau vẫn là một câu chuyện hư cấu, một chuyện 'bịa đặt'. Sở dĩ nó hấp dẫn, nó rung động ḷng người, rung động các thế hệ mai sau là v́ nó đă được 'bịa đặt' và hư cấu theo quy luật của cái đẹp, theo nhu cầu chân thực và chân chính của trái tim con người.

Trong ca dao t́nh yêu, đặc biệt là bộ phận ca dao tỏ t́nh, 'cái áo' là một phương tiện nghệ thuật rất quan trọng, độc đáo, và nhiều lần được nhắc đến trong các bài khác:

- 'Chàng về để áo lại đây,

Để đêm em đắp, để ngày em trông.

- 'Áo xông hương của chàng vắt mắc!

Đêm em nằm em đắp lấy hơi'
- 'Yêu nhau cởi áo cho nhau,

Về nhà dối mẹ qua cầu gió bay'

- 'Con ơi đừng nói hớ hênh,

Áo mặc trong ḿnh đến nổi gió bay?'

Không ở đâu, h́nh ảnh 'cái áo' được các tác giả dân gian khai thác và sử dụng một cách tích cực, sáng tạo và hết sức độc đáo như ở bài ca dao này. Từ mở đầu cho đến kết thúc, bài ca dao luôn xoay quanh câu chuyện cái áo: mất áo, xin áo, nhờ khâu áo, trả công, giúp đỡ người khâu áo, v.v… Có thể nói 'cái áo đă đắp kín cả mối t́nh của đôi bạn trẻ' (Hoàng Tiến Tựu)

Nếu những bài ca dao trên chỉ là những lời tỏ t́nh 'đơn phương' từ phía chàng trai hay cô gái th́ ở bài ca dao tiếp theo cả người con trai lẫn người con gái đều mạnh dạn tỏ t́nh và tỏ t́nh một cách hết sức kín đáo, đầy tế nhị:

'Đêm trăng thanh anh mới hỏi nàng

Tre non đủ lá đan sàng nên chăng?

- Đan sàng thiếp cũng xin vâng.

Tre vừa đủ lá, non chăng hỡi chàng?'

Mặc dù khi hát đối đáp thường có đông người dự nhưng chàng trai vẫn tưởng tượng ra khung cảnh như chỉ có hai người. Vậy là, anh đă chọn 'đêm trăng thanh' để ngỏ lời cùng cô gái. Quả thật, câu hỏi của chàng trai sao mà đẹp, vừa rơ ràng nhưng lại rất thẳng thắn. Đây là lời tỏ t́nh nghiêm túc chứ không phải là một sự tán tỉnh, bông đùa. Nhằm đáp lại tấm chân t́nh của chàng trai, cô gái hồi âm bằng câu trả lời rất đổi chân thành và rất có duyên, hài ḥa với ư tứ mà chàng trai đă hỏi:

'Đan sàng thiếp cũng xin vâng

Tre vừa đủ lá, non chăng hỡi chàng?'

Cô gái không chỉ ngỏ lời đồng ư một cách lịch sự mà c̣n biết cách chất vấn, hỏi lại chàng trai để chứng minh và khẳng định cho sự đồng ư ấy. Do đó, câu trả lời của cô gái rất có duyên, rất chủ động và phần nào c̣n mang tính chất 'tấn công' đối phương.

Thi thoảng, chúng ta lại bắt gặp cách tỏ t́nh sóng đôi kiểu như vậy nhưng bằng cách nói 'bóng gió', 'bâng quơ' mang hàm ư sâu sắc của chàng trai lẫn cô gái:

'Bây giờ mận mới hỏi đào,

- Vườn hồng đă có ai vào hay chưa?

Mận hỏi th́ đào xin thưa:

- Vườn hồng có lối nhưng chưa ai vào'

Tóm lại, những bài ca dao tỏ t́nh măi măi sẽ là những bông hoa đẹp trong vườn hoa t́nh yêu muôn hương ngàn sắc trong ca dao. Nó sẽ c̣n tiếp tục làm rung động hàng triệu trái tim của người Việt Nam - những người luôn trân trọng, nâng niu và ǵn giữ những giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc.

Tăng Tấn Lộc
30/04/2010

hoangthymaithao
08-07-2010, 08:36 AM
http://i278.photobucket.com/albums/kk112/thythy_2008/lamrungcyla.jpg

Rạng ngày vác cuốc ra đồng
Tay cầm mồi lửa, tay ḍng thừng trâu
Ruộng đằm nưỡc cả bùn sâu
Suốt ngày cùng với con trâu cày bừa
Việc làm chẳng quản nắng mưa
Cơm ăn đắp đổi muối dưa tháng ngày
Ai ơi bưng bát cơm đầy
Biết công kẻ cấy người cầy mấy nao!

ThienTienPhuong
08-07-2010, 11:21 AM
Ngẫm cùng ngạn ngữ

Nói đến văn hoá dân gian, người ta thường nhắc tới các nhân tố của nó như ca dao, truyện cổ, dân ca, cách làm nghề thủ công, kiến trúc nhà ở... mà ít khi nhắc tới ngạn ngữ. Thậm chí trong văn học dân gian người ta cũng ít nhắc tới ngạn ngữ. Kỳ thực ngạn ngữ lại là kho "trí tuệ nhân dân", như nghĩa gốc của từ folklore mà các nhà nghiên cứu ngày nay hay dùng để chỉ văn hoá dân gian. Ngạn ngữ hay tục ngữ là văn chương mà không hẳn là văn chương, là tri thức mà không hoàn toàn là tri thức.

Nó là đúc kết kinh nghiệm về tự nhiên và xă hội, trong ứng xử của con người đối với tự nhiên, đối với con người. V́ truyền miệng nên nó phải rất gọn, rất cô đúc, trong một câu ngắn, thường có vần lưng để dễ thuộc, dễ đọc. Nhưng cũng có khi ngạn ngữ trải thành một câu lục bát, như câu lục bát sau đây:

Cây cao th́ gió lọc lừa

Chi bằng cây thấp gió đưa dịu dàng

Tục ngữ đă mượn h́nh ảnh cây mà chính là để nói người, địa vị của con người. Như câu trên, nếu không tỉnh táo, rất dễ lầm với ca dao là loại bộc lộ tâm t́nh, t́nh cảm (như "Ta nhớ ḿnh", "ḿnh quên ta..."). Thực ra, nhận diện tục ngữ hay ngạn ngữ không quá khó, và tiêu chí nó chính là đúc kết của những kinh nghiệm.

Nhưng ngạn ngữ cũng không quá "thật thà", nhất là trên lĩnh vực xă hội. Chẳng hạn ở Quảng Ngăi có câu: "Con gái c̣n son không bằng to don Vạn Tượng". Có người thắc mắc: Sao lại đem so sánh người với một tô don? Đừng quên rằng ngạn ngữ cũng có "quyền" chơi kiểu nói thậm xưng, nói nhấn. Nếu không nói nhấn ắt ấn tượng sẽ kém đi. Như câu trên, so sánh mà không so sánh. Ta có thể h́nh dung như một ai đó vừa xơi xong một tô don, c̣n hít hà v́ vị cay của ớt, vị ngọt của don mà buộc miệng. Một câu dân gian khác cũng ở trạng thái rất "đă" như thế:

Nghèo nghèo nợ nợ

Cũng kiếm cho được con vợ bán don

Mai sau nó chết cũng c̣n cặp ui!

Có bao nhiêu quan hệ xă hội th́ h́nh như cũng có bấy nhiêu ngạn ngữ. Chẳng hạn như quan hệ mẹ ghẻ - con chồng:

Mấy đời bánh đúc có xương

Mấy đời d́ ghẻ mà thương con chồng.

Chẳng hạn như đặc tính của quan:

Ban ngày quan lớn như thần

Ban đêm quan lớn tần mầm như ma!

Ban ngày quan lớn như cha

Ban đêm quan lớn như là trẻ con!

Nói về nỗi khổ của người làm thuê th́ có câu "Một vũng trâu nằm hơn năm làm mướn", nói về đặc tính người dân Quảng Ngăi th́ có câu "Quảng Ngăi đăi ra sạn", "Quảng Nam hay căi, Quảng Ngăi hay co, B́nh Định hay lo, Thừa Thiên ních hết"...

Một khối lượng lớn ngạn ngữ nói về tự nhiên và mối quan hệ với tự nhiên, và rơ ràng với tự nhiên, con người có "hiền" hơn, thật thà hơn. Một thứ dự báo thời tiết như "Trăng quầng th́ hạn, trăng tán th́ mưa", "Chuồn chuồn bay thấp th́ mưa, bay cao th́ nắng bay vừa th́ xâm" vẫn đúng cho mọi thời. Nhiều câu ngạn ngữ khác cụ thể hơn về một địa phương nào đó. Chẳng hạn như các câu:

Đồng Thi Phổ thổ Ba Tơ

Cây Động Lá cá Suối Răn

Một số câu ngạn ngữ không hẳn là tự nhiên, cũng không hẳn xă hội, lại rất thú vị khi nó nói toác ra được nét tâm lư của con người. Chẳng hạn như các câu:

- Gái yêu bằng tai trai yêu bằng mắt

- Gái một con trông ṃn con mắt

- Cây suông ba nhánh cũng suông

Gái khôn trai dễ lâu buồn cũng xiêu

- Nhất chặt tre nh́ ve gái

- Nhất lé nh́ lùn

- Mũi diều hâu cái đầu lộn cứt!

- Những người con mắt lá răm

Lông mày lá liễu đáng trăm quan tiền.

Tất nhiên, những đúc kết mang tính "Nhân tướng học" như trên cũng cần phải xem lại, bởi như Nguyễn Aùi Quốc có câu "Hiền dữ phải đâu là tính sẵn, phần nhiều do giáo dục mà nên".

Ngạn ngữ là văn chương nhưng không hẳn là văn chương. Nó nằm trong lời ăn tiếng nói hằng ngày. Giả dụ một mai, con người chế tạo ra cái máy nào đó nói thay cho con người, con người chỉ việc ngồi chơi và yên lặng, th́ lúc đó mới hết... ngạn ngữ. Đâu phải chỉ có những câu ngạn ngữ xưa truyền lại. Thời bao cấp có rất nhiều ngạn ngữ mới xuất hiện, phản ánh rất nhiều mặt của xă hội mà sau đây chỉ xin trích một ít:

Nhất cự ly nh́ cường độ

Yêu nhau ốm, ôm nhiều yếu

Tiền quư, quỳ tiến

Thủ kho to hơn thủ trưởng

Vào nhà thủ trưởng tưởng cái kho

Dốt như chuyên tu ngu như tại chức

vân vân và vân vân

Có lẽ không chỉ riêng các nhà "hàn lâm học sĩ", các nhà lănh đạo, quản lư cũng nên nghiên cứu về ngạn ngữ.

ST

:merci: sis HTMT Topic hay lắm

hoangthymaithao
08-10-2010, 03:44 AM
Nguyễn Thị Kim-Thu

Tôi được sinh ra và lớn lên ở miền Sông Hậu gạo trắng nước trong, với cánh đồng phẳng lặng, c̣ bay thẳng cánh, vườn cây tươi tốt, hoa trái quanh năm. Khi c̣n tuổi đi học, tôi chưa hề thấy biển, thấy núi. Nhưng từ ngày được quen biết với anh, người mà sau này thành chồng, tôi được anh giới thiệu quê hương của ḿnh, nơi có biển xanh đẹp, có Ḥn Chồng, có Tháp Bà, là xứ của trầm hương, của yến sào, rất xa lạ với tôi nhưng đầy quyến rũ:

Tỉnh Khánh Ḥa đậm đà mưa nắng,
Non chồng nghĩa nặng, nước chứa t́nh thâm,
Ngọn gió bay phảng phất hơi trầm,
Mây xây tháp bút, trăng dầm bến ngân.

Khánh Ḥa là Xứ Trầm Hương.
Non cao biển rộng người thương đi về
Yến sào thơm ngọt t́nh quê,
Sông sâu đá tạc lời thề nước non.

Khánh Ḥa biển rộng, non cao,
Trầm hương Vạn Giă, yến sào Nha Trang.

Rồi anh mô tả những phong cảnh đẹp của vùng quê anh:

Nhắn ai viếng cảnh Nha Trang
Muốn t́m dấu cũ th́ sang Tháp Bà
Muốn trông trời bể bao la
Con thuyền nho nho th́ ra Ḥn Chồng
Muốn xem cá lạ Biển Đông
Xuống ṭa Hải Học trong vùng Trường Tây
Muốn vui với nước cùng mây
Mây tuôn suối ngỏ nước đầy Suối Tiên
Ba Hồ lắm thú thiên nhiên
Qua Sơn là chốn thần tiên đi về
Ḷng mong nương bóng Bồ Đề
Lên Chùa Hải Đức gần kề Nha Trang

Anh đứng Ḥn Chồng
Trông sang Ḥn Yến
Lên Thăm Tháp Bà
Về viếng Sinh Trung
Non xanh nước biếc chập chùng
Biết bao liệt nữ, anh hùng em ơi

Anh đứng ở Nha Trang
Trông sang Xóm Bóng
Ánh trăng lờ mờ, lượn sóng lăn tăn.
Gần nhau chưa kịp nói năng
Bây giờ sông cách, biển ngăn ngại ngùng?
Biển sâu con cá vẫy vùng
Sông sâu không dễ mượn ḍng đưa thư.

Rồi anh đề nghị với tôi:

Anh đứng Nha Trang
Trông sang xóm Bóng
Lên thăm Tháp Bà
Về viếng Sinh Trung
Non xanh nước biết chập chùng
Biết bao liệt nữ anh hùng, em ơi
Em hăy nhận lời
Cùng anh kết ngăi
Đầu ghềnh cuối băi
Ta hăy nương nhau
Biển Cù nước măi c̣n sâu
Công linh chẳng trước th́ sau cũng thành

Cây quế thiên thai mọc ngoài khe đá
Trầm nơi Vạn Giă hương tỏa sơn lâm
Đôi ta như quế với trầm
Trời xui gặp gỡ sắt cầm trăm năm

Rồi anh thề nguyền:

Anh nguyền cùng em:
Bao giờ Ḥn Chữ bể tư
Biển Nha Trang cạn nước
Anh mới từ duyên em

Đứng ở Ḥn Chồng trông sang Ḥn Yến,
Lên Tháp Bà, về viếng Sinh Trung
Giang sơn cẩm tú chập chùng,
Đôi ta gắn bó thủy chung một ḷng.

Tôi thuộc loại không dễ dàng tin người, nhất là người ở những tỉnh xa xôi. Thấy tôi do dự, anh cho tôi biết là trai gái quê anh một dạ chung t́nh, không lang chạ:

Con ngựa tía ăn quanh đèo Cả
Bóng trăng rằm sắp ngă về đông
Chẳng thà giục mă về không
Chớ không cướp vợ tranh chồng người ta

Nước nào trong bằng nước Sông Hinh
Đố ai ăn ở chung t́nh bằng em
(Sông Hinh ở Đại Lănh)

Đó là lư do nhiều trai xứ khác thường đến Nha Trang cưới vợ:

Trăng rằm mười sáu trăng treo
Anh đóng giường Lèo cưới vợ Nha Trang

Tuy nhiên, tôi vốn sống nơi đất ruộng ph́ nhiêu, vườn cây nặng trĩu trái ngon thơm ngọt, cá tôm béo ngậy đầy sông rạch ruộng đồng. Mặc dầu biết quê anh đẹp thật, nhưng tôi vẫn e ngại cuộc sống khó khăn của Miền Trung nơi mang danh “đất cày lên sỏi đá”. Biết ư, anh bèn thuyết phục tôi về đời sống phong phú của quê ḿnh, với bao nhiêu món ăn đặc sản:

Tiếng đồn B́nh Định tốt nhà,
Phú Yên tốt lúa, Khánh Hoà tốt trâu

Chợ Nha Trang trăm vật trăm ngon
Em vừa cái miệng kẻo chồng con em nghèo

Yến sào Ḥn Nội
Vịt lộn Ninh Ḥa
Tôm hùm Đ́nh Ba
Nai khô Diên Khánh
Cá tràu Vơ Cạnh
Ṣ huyết Thủy Triều

Đi đâu cũng nhớ Khánh Ḥa
Nhớ biển Nha Trang gió mát
Nhớ Ninh Ḥa nhiều nem

Thơm Vạn Giă ngọt đà quá ngọt,
Mía Phú Ân cái đọt cũng ngon
Hởi người chưa vợ chưa con
Vào đây chung gánh nước non với ḿnh.
Quản bao lên thác xuống ghềnh,
Mía ngon, thơm ngọt đượm t́nh quê hương.

Mía Phú Ân trồng đám
Bát ngát như rừng…
Chợ chiều buôn gánh bán bưng,
Rủi có sâu vài đốt, khuyên anh đừng vội chê.
Trăm năm giữ vẹn lời thề
Mưa đông vẫn ngọt, nắng hè càng thanh.

Ngó lên Đất Đỏ nhiều bắp, nhiều khoai
Ngó xuống Đồng Dài nhiều mía, nhiều tranh.
Ngó vô Đồng Cọ nhiều lúa bạch canh, áo già.
Mỹ Phong, Mỹ Thuận, Mỹ Ḥa,
Phú Điền, Phú Cốc thiệt là nhiều cau.

Rồi anh mô tả Khánh Ḥa Nha Trang, ngoài trầm hương, yến sào, với bao đặc sản, mà c̣n là xứ của Mai Vàng rất nên thơ. Cứ vào dịp Tết, mai vàng nở rộ trên khắp núi đồi thơ mộng:

Đầm Xương Huân én tía
Rừng Phước Hải mai vàng
Lở duyên thiếp phải xa chàng
Xuân về có nhớ Nha Trang thời về.

Bước chân lên Đèo Cả
Thấy mả ông Cao Biền
Có đôi chim hạc đang chuyền nhành mai

Em đi chợ Tết Nha Trang
Nhớ mua một nhánh mai vàng cho anh

Nhưng tôi vẫn ngại ngùng, v́ quê anh ở tận Miền Trung xa lắc xa lơ, làm sao tôi có thể bỏ cha mẹ để lấy anh, khi tương lai c̣n mờ mịt:

Đèo nào cao bằng đèo Phú Cốc?
Dốc nào ngược bằng dốc Nha Trang ?
Mỗi tiếng em than, hai hàng lụy nhỏ
C̣n chút mẹ già, biết bỏ cho ai ?
Mẹ già, c̣n có em trai,
Phận em là gái, nay mai phải theo chồng.

Rồi anh hứa hẹn sẽ xây một ngôi nhà đẹp, một lẫm lúa lớn cho cuộc sống lứa đôi:

Anh về mua gỗ Hà Ra
Cất nhà lẫm thượng tháng ba em về.

và tỉ tê tâm sự:

Đèo nào cao bằng đèo Cây Cốc?
Dốc nào ngược bằng dốc Xuân Đài
Anh thương em thương hủy thương hoài
Dẫu mà có ghẻ, có chốc có sài anh vẫn c̣n thương

V́ vậy, cuối cùng tôi đồng ư gá nghĩa cùng anh. Sau lễ cưới, anh đưa tôi về Nha Trang ra mắt họ hàng bên chồng và đồng thời hưởng tuần trăng mật.

Đúng vậy, Nha trang đẹp và thơ mộng lắm. Từ bải biển, tôi thả hồn ngắm nh́n biển cả bao la xanh ngát, với đàn chim yến lơ lửng trên trời, và những đảo xanh chập chùng trên sóng nước:

Băi biển Nha Trang mịn màng trắng trẻo
Nước trong leo lẻo, gió mát trăng thanh
Đêm đêm thơ thẩn một ḿnh
Đố sao cho khỏi vướng t́nh nước mây

Yến đâu văng vẳng trên cao
Lửa chài soi bóng Cù Lao trước thuyền

V́ là lần đầu tiên xa nhà, xa cha mẹ, nh́n thấy cảnh biển rộng bao la, tôi chạnh ḷng nhớ đến cha mẹ già ở tận miệt Hậu Giang:

Buồn trông mặt bể Nha Trang
Thương cha nhớ mẹ lệ tràn thấm bâu

Để an ủi tôi, anh đưa tôi đến Chụt, tuy là một làng nhỏ sống bằng nghề đánh cá nhưng khá thị tứ, bán buôn nhộn nhịp, và Cầu Đá để xem hàng trăm giống cá biển Đông trong Viện Hải Dương Học:
Nha Trang đến Chụt không xa
Kẻ vô mua nệm, người ra bán buồm

Muốn xem cá lạ Biển Đông
Xuống ṭa Hải Học trong vùng Trường Tây

Rồi anh đưa tôi lên thăm Thành Diên Khánh. Anh kể cho tôi nghe lai lịch của ḍng họ anh, kể từ thời cụ tổ đến đây làm quan dưới thời Gia Long, cách đây 200 năm, rồi cụ tổ định cư luôn ở đây khi về già, và v́ vậy gịng họ anh được thành h́nh ở vùng này từ thời đó. Thành ngày xưa là tỉnh lỵ, dầu bây giờ chỉ là quận lỵ, nhưng buôn bán vẫn rất sầm uất.

Cầu Thành ghe gốm lên rồi
Sao chưa đi chợ c̣n ngồi chi đây.

Bên kia sông Cầu Thành là Phú Lộc, Đại Điền với núi Ḥn Ngang hùng vĩ, là vùng trù phú với nhiều gái đẹp đa t́nh:

Ai về Phú Lộc gửi lời
Thư nầy một bức nhắn người tri âm
Mối tơ chín khúc ruột tằm
Khi tháng tháng đợi khi năm năm chờ
V́ t́nh ai lẽ làm lơ
Cắm sào quyết chí đợi chờ bến xuân

Đất Ḥn Ngang chưa mưa đă ră
Gái Ḥn Ngang chưa gả đă theo
Tḥ tay ngắt ngọn dưa leo
Để anh lo cưới đừng theo họ cười

Đi ngược ḍng sông tới gần nguồn là vùng Phú Cốc:

Đèo nào cao bằng đèo Phú Cốc?
Dốc nào ngược bằng dốc Xuân Đài
Đèo cao, dốc ngược đường dài
Anh c̣n qua được huống chi vài lạch sông

Phú Cốc là vùng đất tiếp giáp vơi các ngọn núi cao thuộc rặng Trường Sơn, như Ḥn Dữ, Ḥn Bà:

Từ khi giặc nổi can qua
Xa em Ḥn Dữ Ḥn Bà cũng xa


Tại Thành, anh kể cho tôi nghe về lịch sử của Thành Diên Khánh, những cuộc chiến tranh tàn khốc giữa chúa Nguyễn Ánh và nhà Tây Sơn, về cuộc kháng chiến chống Pháp của 3 vị anh hùng:

Ba ông là bậc anh hiền,
Gọi "Khánh Ḥa Tam kiệt"
Người người đều biết,
Đều thương, đều tiếc
Chưa thỏa nguyền núi sông
Tấm thân xem nhẹ như lông hồng
Hỏi anh c̣n nhớ
"Quảng Phước tam hùng là ai"?

Tiếng đồn anh hay chữ
Lại đây em hỏi thử
Đôi câu lịch sử Khánh Ḥa :
Từ ngày Tây cướp nước ta,
Những ông nào dựng cờ khởi nghĩa
Anh hăy nói ra cho em tường.


- Nghe lời em hỏi mà thương,
Thương người nghĩa liệt tơ vương vấn ḷng.
V́ thù non sông,
Họ thề không đội trời chung với giặc ác
Từ Nam chí Bắc,
Thiếu chi gan sắt đá đồng.
Ở Khánh Ḥa th́ có ba ông :
Ông Trần Đường giữ đèo Dốc Thị,
Ông Trịnh Phong trấn nơi Biển Cù
Ông Nguyễn Khanh lo việc quân nhu,
Ba ông một dạ, ngh́n thu danh truyền.

Từ Thành, rẻ theo quốc lộ số 1 chúng tôi đến Suối Dầu, viếng đồn điền cao su và mộ Yersin. Tại đây, anh kể cho tôi biết về nhà bác học Yersin tại Khánh Ḥa, rồi anh chỉ ngọn núi Ḥn Bà, phong cảnh Suối Tiên cách đó mươi cây số. Sau đó chúng tôi đến Vịnh Cam Ranh nổi tiếng thế giới:

Cam Ranh cửa ấy lênh lang
Thủy Ba canh trót đi đường năm canh

Ai câu xuống Lố ông già
Ngâm thơ Mũi Điện, ngắm hoa Ao Hồ
(Lố, Mũi Điện, Ao Hồ là 3 địa danh của Cam Lâm)

Sau khi trở lại Nha Trang ngơi nghĩ vài ngày, anh đưa tôi thăm viếng vùng phía bắc Nha Trang. Theo quốc lộ 1, đi về hướng bắc, khi qua Cầu Hà-Ra trên Sông Cái, anh giải thích cho tôi biết là trước đây hơn 300 năm, Khánh Ḥa là tỉnh Kauthara của nước Chiêm Thành, nên ngày nay c̣n nhiều địa danh mang tiếng Chăm nhưng người Việt phát âm tương tự, như “Nha Trang” từ “Ya-Tră”, “Hà-Ra” từ “H’ra”, “Cam Ranh” từ “Kamran”, “Chụt” từ “Chutt”, v.v. của người Chăm.

Ḍng Sông Cái thật phẳng lặng và êm đềm. Nh́n về hướng tây là những vườn dừa tươi đẹp. Sông Cái phát nguồn từ núi Ḥn Dữ thuộc Trường Sơn, với nhiều thác ghềnh nguy hiểm, như Thác Ngựa (hay Ngựa Lồng), Trâu đụng, Giằng xay:

Anh muốn t́m nguồn nước trong
Nên đi ngược gịng Sông Cái
Hay v́ bị bùa ngải
Nên anh bỏ băi lên nguồn
Thuyền anh dù thuận gió đi luôn
Đến đầu Thác Ngựa cũng phải cuốn buồm trở lui
Thề xưa lời đă nặng lời
Anh cố xa em đi nữa
Nếu chẳng phải ư trời thời cũng khó xa

Ngựa Lồng, Trâu Đụng, Giằng Xay
Khỏi ba thác ấy khoanh tay mà ngồi


Nước sông Cái trong xanh im ĺm chảy, nhưng khi đến gần Cầu Xóm Bóng th́ chia làm đôi gịng, bên trong bên đục:

Sông Nha Trang cát vàng nước lục
Thảnh thơi con cá đục lội dọc, lội ngang

Cùng chung có một gịng sông
Mà sao bến đục bến trong hỡi người

Sau đó, chúng tôi đến Xóm Bóng, viếng Tháp Bà:

Ai về Xóm Bóng, Hà Ra
Đi ngang Ḥn Chữ mà xem Tháp Chàm

Ngó ra Ḥn Chữ thêm phiền
Uổng ơi là uổng lời nguyền năm xưa
(Ḥn Chữ ở ngoài biển, ngay cửa Sông Cái)

Rồi anh kể cho tôi biết sự tích Bà Thiên Y Thánh Mẩu, lịch sử xây dựng Tháp Bà và sự liên hệ với Ḥn Bà. Anh cũng cho biết là ở Khánh Ḥa có 2 ngọn núi Ḥn Bà, một ở Diên Khánh mà chúng tôi vừa đi ngang mấy ngày trước, và một ở Ninh Ḥa mà chúng tôi sắp đến. Từ đỉnh cao trên ngọn đồi Tháp Bà, anh chỉ cho tôi thấy vết tích của chiếc bánh lái thuyển đă hóa đá ở dưới chân cầu Xóm Bóng. Đây là dấu vết c̣n lại của hạm đội quân Tàu xâm lược mà chính Bà phải đau ḷng tiêu diệt, bởi v́ chồng Bà là kẻ xâm lăng đem quân Tàu đổ bộ vào Nha Trang cướp phá. V́ vậy, dân Khánh Ḥa thờ phụng Bà, hàng năm đều làm lễ Vía:

Ai về Xóm Bóng quê nhà
Hỏi thăm điệu múa dâng Bà c̣n không?

Tiếng đồn mười tám tháng ba
Có Bà Hậu Thổ chói ḷa hào quang
Tháng ba chiêng trống ầm vang
Có Bà Chúa Ngọc bay ngang Ḥn Bà
Hào quang trên núi sáng ḷa
Cứu dân độ thế nhà nhà yên vui



Tháp Bà và Ḥn Chồng

Bà rất linh thiêng, mỗi khi ghe tàu gặp khó khăn di chuyển đều khấn vái Bà:

Lạy Bà cho nổi gió đông
Cho thuyền tôi chạy cho chồng Bà lên

Lạy Bà cho thổi gió nồm
Chồng Bà ở Quảng giong buồm theo vô

Sau đó, chúng tôi đến Ḥn Chồng:

Cát lăn c̣n cuốn gió đông
Anh đi Ḥn Chồng sao chẳng rủ em

Khi lên Đèo Rù Ŕ, v́ đây là lần đầu tiên qua đèo, nh́n xuống vực sâu thăm thẳm, tôi hoảng sợ, nhắc khéo anh phải cẩn thận tay lái:

Rù Rỳ đèo uốn chữ chi
Anh lên đèo cho khéo
Kẻo nữa có đi mà không về

Chẳng bao lâu, chúng tôi đến Ninh Ḥa.

Ninh ḥa có núi, có non
Có sông, có biển, có Ḥn Vọng Phu
Có Ḥn Khói, có Ḥn Dù
Có Lăng Bà Vú, có Tiên Du, Ḥn Hèo
Chùa Kỳ vắng vẻ trăng treo
Kỳ Lân dạo xóm bắt heo chộ gà

Ninh Ḥa là một thung lũng bao vây bởi núi cao, trong số đó có Ḥn Vọng Phu cao vút ẩn hiện trong mây trắng chập chùng, với h́nh tượng mẹ bồng con u buồn nh́n ra biển cả:

Vọng Phu thuộc dăy núi Bà
Phước Sơn chất ngất gọi là núi Ông
Phải chi đây đó vợ chồng
Gánh tương tư khỏi nặng ḷng nước non
(Núi Ông hay núi Đại Lảnh, trên có Thạch Bia của vua Lê Thánh Tông)

Bao năm đâu quản nắng mưa
Bồng con đứng đợi vẫn chưa thấy về
Thời gian bôi xóa lời thề
Mẹ con hóa đá bên lề tháng năm.

Bồng con ngồi tựa trên non
Trăng thu vằng vặc, dạ c̣n nhớ trông

Nh́n về núi Vọng Phu xa
Sáng ngời một dăi lụa là đẹp tươi
Thác bay uốn lượn giữa trời
Ngh́n năm c̣n hát những lời yêu thương

Vọng Phu là đầu nguồn của nhiều sông lớn ở đây, trong số đó có Sông Dinh lớn nhất chảy qua Ninh Ḥa:

Chảy từ núi Vọng Phu xa
Sông Dinh sông Cái chỉ là một thôi
Sông Dinh thẳng một ḍng trôi
Sông Cái nước đỏ giữ lời sắt son
Đêm Thu núi Vọng Phu buồn
Gởi về sông cũ nửa vầng trăng xưa

Núi cao tứ phía, biết trồng mía ngang đâu
Sông sâu cát lấp, biết trồng dâu ngă nào
Sông Dinh ai bới ai đào
Để cho con nước chảy vào ṿng cung

Sông Dinh có ba ngọn nguồn
Anh nhớ em băng đèo vượt suối
Nhưng chưa biết đường t́m tới thăm em
Ghé vô chợ Ninh Hoà mua một xâu Nem
Một chai rượu bọt
Để quên nỗi nhớ thương

Ninh Ḥa có Chợ Dinh bên bờ Sông Dinh:

Bẻ bông đem bán Chợ Dinh
Phải giá em bán, phải t́nh th́ mua
Bạn không tu sao ghé vào chùa
Bạn không mê đạo tổ sao qua bùa tứ giăng
Rượu không say sao ve chén ngă lăn
Bạn không thương người đó sao năng tới hoài
Anh không nhớ khi Lưu Bị có tài
Đến khi trống giục ngồi ngoài ngó vô
Em là người mắc nạn đơn cô
Anh đây có nước cam lồ cứu cho

Ninh Ḥa cũng có Ḥn Bà, về phía Tây Nam cách Ninh Ḥa độ 10 km. Trên núi có nhiều cây Dó cho trầm hương, người địa phương cho rằng trầm hương trên núi này là của Bà Thiên Y Thánh Mẫu nên cũng gọi núi này là Ḥn Bà.

Miễu Bà ở cạnh Ao Bà
Cùng nằm trên núi Ḥn Bà linh thiêng
Uy Bà cọp dữ hóa hiền
Ơn Bà rải khắp mọi miền nhân gian

Từ giả Ninh Ḥa, chúng tôi viếng Ḥn Khói, nới có ruộng muối bao la, có ngọn Ḥn Hèo cao ngạo nghễ:

Ai về Ḥn Khói quê tôi,
Non xanh nước biếc, muối ngời trắng trong.

Ninh Diêm muối mặn t́nh sâu
Người đi xin chớ để sầu cho ai

Đường Ninh Diêm cong cong, vẹo vẹo
Gái Ninh Diêm chưa ghẹo đă theo,
Tḥ tay ngắt ngọn dưa leo,
Để anh lo lễ cưới, đừng theo họ cười.

Cửa Đ̣ Ḥn Khói xa xăm
Kinh ngoài Ḥn Đỏ, kinh trong Băi Trầy

Ngày xưa, tại Dốc Mỏ trên quan lộ (nay là quốc lộ 1) là vùng đèo heo gió hút, có lắm truông, những tay giang hồ thường tụ tập ở đây để làm cướp lớn:

Muốn "ăn to" th́ lên Dốc Mơ
Muốn "ăn nhỏ" th́ xuống Ḥn Hèo.

Mũi Ḥn Thị là cùng điểm của dăy Ḥn Hèo, ăn sâu ra khơi, là điểm cực đông của Việt Nam . Ngoài biển có các đảo: ḥn Chà Là, ḥn Hổ, ḥn Rồng, ḥn Đụng Chóp Vung, ḥn Bạc, v.v.

Không ghé th́ lại chạy ngay
Đi hết nửa ngày mũi Cỏ, Cây Sung
Chà Là, Hổ, Đụng Chóp Vung
Kinh ngoài Ḥn Bạc kinh trong Ninh Ḥa

Rồi anh đưa tôi đến vùng Xuân Tự, Tư Bông, Vạn Giă, đến Đèo Cả. Phong cảnh vùng này đẹp tuyệt vời, bên núi cao, bên biển rộng bao la xanh ngát:

Đường vô xứ Vạn xứ Ninh
Non xanh nước biếc như tranh họa đồ

Xe qua Đèo Cả sóng vang
Qua suối Đại Lănh gió càng lạnh hơn
Từ khi nước biết tuổi non
Trăng thu vằng vặc dạ c̣n nhớ mong
Mai về hỏi núi hỏi sông
V́ đâu Vạn Giă, Tu Bông lỡ làng?
Mai về hỏi phượng hỏi hoàng
V́ đâu Hội Khánh, Phú Cang chia ĺa?

Bước lên Đèo Cả
Trông vào Vạn Giă, Tu Bông
Biết rằng cha mẹ đành không?
Anh chờ em đợi uổng công hai đàng

Ngó lên đỉnh núi Ba Non
Công cha nghĩa mẹ làm con phải đền
(Núi Ba Non tức núi Tam Phong, phần nối dài của Vọng Phu tới Đèo Cả).

Cũng ở dăy núi này có vùng gọi là Đá Bàn, Đá Dựng là nơi chướng khí, có một thời biết bao nhiêu người đến đây “tu nghiệp” dài hạn:

Ngó lên Ḥn Kẽm Đá Dừng
Ḷng ta thương bạn quá chừng bạn ơi
Thà rằng không biết th́ thôi
Biết rồi mỗi đứa mỗi nơi sao đành

Biết bao bà vợ bà mẹ băng rừng lội suối để đến đây thăm chồng, thăm con:

Em về Cồn Cạn ta nhớ bạn quá chừng,
Trèo truông quên mệt, giậm rừng quên gai.
(Cồn Cạn ở vùng Tu Bông).

Cuộc gặp gở thật ngắn ngủi, cuối cùng cũng phải ngậm ngùi từ biệt với lời dặn ḍ vợ hiền:

Anh đi em ở lại nhà
Biển sâu em lặn lội nuôi mẹ già đợi anh

Người vợ, mẹ già bùi ngùi nh́n lại, tự nhũ không biết bao giờ mới đoàn tụ gia đ́nh:

Ngó lên Đất Đỏ cỏ dày
Nghĩa nhơn thăm thẳm mỗi ngày một xa

Và biết bao gia đ́nh ly tán, cha mẹ anh em nay mỗi người mỗi ngă:

Ai về B́nh Định thăm cha
Phú yên thăm mẹ, Khánh Ḥa thăm em

Tại Vạn Giă có sông B́nh Trung, có chợ Vạn Giă nổi tiếng về thơm:

Ai về Vạn Giă, nhắn với ả bán thơm
Thế gian lắm miệng lắm mồm
Nói Nam th́ ngot, nói Nồm th́ chua
Thôi đừng uổng tiếng ăn thua
Gắng sao bán được đầu mùa là hay

B́nh Trung ḍng nước xanh trong
Chảy về Trung Dơng, Vân Phong, Thái B́nh
Anh với em đẹp mối duyên t́nh
Đợi mùa cau chín sẽ tŕnh mẹ cha

Ḍng sông Vạn Giă mơ màng
Chảy về đồng lúa Phú Cang trẻ màu
Duyên ta chẳng biết về đâu?
V́ nghèo têm phải lá trầu, trầu không

Tuy nhiên, Tu Bông có khí hậu rất oi bức, với Gió Lào nóng hừng hực trong mùa hè, nhưng mưa dầm suốt mấy tháng trong mùa đông, nơi có nhiều lũ lụt và giông băo:

Gió đâu bằng gió Tu Bông
Thương ai bằng
Thương cha, thương mẹ, thương chồng thương con

Mưa nào bằng mưa Đồng Cọ
Gió nào bằng gió Tu Bông
Vịnh nào bằng vịnh Vân Phong
Nghĩa nào bằng nghĩa vợ chồng thương nhau

Bao giờ Ḥn Đỏ mang tơi
Ḥn Hèo đội mũ th́ trời sắp mưa

Lập ḷe trời chớp Vũng Rô
Mây che Ḥn Yến gió vô Chóp Chài

Mây Ḥn Hèo
Heo Đất Đỏ
Mưa Đồng Cọ
Gió Tu Hoa
Cọp Ổ Gà
Ma Đồng Lớn
(Tu Hoa hay Tu Bông, v́ cử tên dâu của vua Gia Long là Nguyễn Thị Hoa).

V́ địa thế đặc biệt của dảy Vọng Phu, Tam Phong, nên đây là vùng mưa và bảo nhiều nhất của Khánh Ḥa:

Ông tha mà bà khổng tha
Trời cho cây lụt hăm ba tháng mười

V́ bảo tố hay thường xuyên có gió chướng, ghe thuyền gặp nhiều khó khăn di chuyển, b́nh thường chỉ 3 ngày, khi có gió chướng phải mất tới 7 ngày để chạy thuyền từ Ḥn Gầm gần đèo Cổ Mả đến Bà Gia (Vạn Ninh) cách nhau chỉ 20 km:

Ḥn Gầm nghe sóng bổ vang
Đi bảy ngày đàng mới đến Bà Gia

Khánh Ḥa nổi tiếngvề Cọp, nhất là ở các truông ở vùng này, là nổi hải hùng của người dân:

Cọp Khánh Ḥa ma B́nh Thuận

Cọp núi Lá, cá Sông Hinh
Cọp Ổ Gà, ma Đồng Cháy

Đồng Cháy nằm dưới chân Đèo Cả, là nơi tranh hùng giữa 2 quân đội Việt và Chiêm Thành trong một trận quyết tử năm 1652, khi tướng Hùng Lộc được lệnh chúa Nguyễn Phúc Tân vượt biên giới Đèo Cả tấn công và chiếm giữ Khánh Ḥa, cả hàng vạn quân lính hai bên chết tại chân đèo. Oan hồn vất vưởng hàng mấy trăm năm. Và biết bao nhiêu góa phụ mất chồng tại nơi này:

Chiều chiều mây phủ Đá Bia
Đá Bia mây phủ cô kia mất chồng

Chúng tôi leo lên đỉnh Đèo Đại Lảnh, nơi có Thạch Bia (hay Đá bia) do vua Lê Thánh Tông dựng lên năm 1472 làm ranh giới Việt Chiêm. Nh́n ra đại dương, hay nh́n về vùng Vân Phong, Đại Lănh phong cảnh đẹp tuyệt vời:

Đầu ghềnh mũi Nạy gie ra
Qua hai mũi ấy đó là Ô Rô
Vũng Ô Rô bốn mùa che khuất
Dựa mặt Nồm mặt Bắc cũng hay
Sơn xuyên phong cảnh là đây
Non cao bia tạc đá xây ngàn trùng
(Vũng Ô Rô hay Vũng Rô)

Ḷng tôi tràn trề hạnh phúc đứng bên anh, nh́n phong cảnh bao la, hùng vĩ, tôi thật sự hảnh diện làm con dâu của vùng nổi tiếng xinh đẹp. Tuy vậy, nh́n lên vùng Đá Dựng, Đá Bàn ḷng tôi không khỏi bùi ngùi cho số phận những lứa đôi không được may mắn như chúng tôi.


Bải biển Đại Lănh

Anh bước chân lên Đèo Cả
Anh trông sang Vạn Giă,
Anh ngó lại Tu Bông,
Biết rằng cha mẹ đành không,
Anh chờ em đợi, uổng công hai đàng...

Đứng trên đèo Cổ Mă,
Ngó xuống Vạn Giă, Tu Bông,
Biết là phụ mẫu đành không,
Chàng chờ thiếp đợi, uổng công hai đàng.

Cảm tạ. Tôi chân thành cám ơn chồng tôi, TS Trần Đăng Hồng đă giúp tôi hoàn chỉnh bài này.

Anh Quốc, tháng 2/2010
Nguyễn Thị Kim Thu

hoangthymaithao
09-30-2010, 06:40 AM
VƠ THU TỊNH

Tiếng hát câu ḥ của dân ta có lẽ đă xuất hiện từ thời rất xa xưa, thời mà xă hội ta bất đầu thành h́nh trên cơ sở nông nghiệp. Trong khi canh tác, trai gái nông thôn thường có dịp gặp gở, tiếp xúc nhau ở các buổi tát nước, cấy mạ, nhổ cỏ, gặt lúa, giả gạo, chèo đ̣... Họ thường dùng những câu hát, tiếng ḥ để tăng thêm đà làm việc và nhất là để quên đi phần nào sự mệt nhọc của ḿnh. Về sau, họ cũng dùng những câu hát tiếng ḥ ấy để tự t́nh với nhau, như mấy câu ướm gợi của chàng trai sau đây :

Cô kia cắt cỏ một ḿnh
Cho anh cắt với chung t́nh làm đôi
Cô c̣n cắt nữa hay thôi
Cho anh cắt với làm đôi vợ chồng.

Hay

...Gặp em anh nắm cổ tay
Anh hỏi câu này :"Có lấy anh không?"

Câu nói ướm t́nh không quanh co, nữa thật nữa đùa, nhưng cô gái không quan tâm đến điều ấy. Đi chỗ nào lại chẳng gặp phải một chàng trai hát ḥ trêu ghẹo như thế. Có cậu c̣n sỗ sàng nói ẩu hơn nữa, cũng chẳng làm sao :

Vú em chum chúm núm cau
Cho anh bóp cái, có đau anh đền
Vú em chỉ đáng ba tiền
Cho anh bóp cái, anh đền quanh năm

Nhưng cũng có chàng trai, ăn nói kín đáo, lịch sự hơn :

Gặp em anh nắm cổ tay
Nhờ vá cái áo, nhờ may cái quần...
...Cô kia đứng ở bên sông
Muốn sang anh ngă cánh hồng cho sang

Hoặc

Đường xa th́ thật là xa
Mượn ḿnh làm mối cho ta một người
Một người mười tám đôi mươi
Một người vừa đẹp vừa tươi như ...ḿnh.

Con trai tỏ t́nh yêu trước với con gái như thế là điều thường xăy ra trong xă hội phong kiến Nho giáo phụ hệ

Nhưng ở xă hội nông thôn ta thời trước, có điểm rất đặc biệt là các cô gái cũng dùng tiếng hát, câu ḥ để trêu ghẹo hay để tỏ t́nh yêu trước bạn trai.

" Ngày xưa, có chàng kia vào rừng bắn chim, gặp một người con gái.

Cô ả hát đùa một câu :
Chim ǵ trên rừng có vú
Cái ǵ dưới bể không đầu ?
Anh mà đối được
Em xin làm hầu thứ hai."
Chàng trai liền đáp lại rằng
Con giơi trên rừng có vú
Con cua dưới bể không đầu
Anh đà đối được
Em hăy về làm hầu nhà anh !"

"Cô ả chỉ hát mấy câu để đùa ghẹo, không ngờ chàng trai đối được ngay, nên xấu hổ bỏ chạy." (1)

Nhưng có khi, một vài câu ḥ hát đùa cợt lại đưa đến chỗ thành vợ thành chồng.

" Xưa có một cô gái, một hôm đi hái mướp, lúc đang đứng cởi áo ra khều, một cậu con trai đi qua trông thấy, lên giọng hát :

Vú em như quả mướp hương
Tay anh phật thủ(a), đôi đường lấy nhau.

Cô gái vội vă mặc áo và hát lại :

Ḿnh em như mướp nở hoa
Ḿnh em như bướm bay qua trên nghành

Cậu con trai liền hát theo :

Em như hoa mướp trên ngành.
Đây anh con bướm tung hoành càng vui.

Cô gái hát tiếp :

" Anh hùng ví biết thuyền quyên.
xin đưa quả mướp làm tin gọi là !

" Rồi cô con gái đưa cành hoa mướp cho cậu con trai, cậu con trai đưa nụ cà cho cô con gái. Sau đó hai cô cậu lấy nhau. Nên trong dân gian thành ngữ có câu : "Nụ cà, hoa mướp" để chỉ đôi bên c̣n mơn mởn thanh tân." (2)

Cũng có khi, chỉ nhờ đáp được một câu hát đố mà chàng trai lấy được vợ :

" Ngày xưa có người học tṛ đi hỏi vợ, gặp phải chị ả này ví von đối đáp, thách rằng :

" Gái này chẳng văn chương phú lục ǵ cả, chỉ xin đố một câu, hể đáp được th́ bằng ḷng. " Người học tṛ nhận lời. Người con gái ḥ lên một câu, đố rằng :

Dưới đời ǵ lớn hơn voi
Ǵ cao hơn núi ǵ dài hơn sông ?
Người học tṛ ứng khẩu hát đáp lại ngay ;
Anh đây dạ lớn hơn voi.

Chí cao hơn núi , t́nh dài hơn sông !

" Chị ả chịu là tài. Rồi, chỉ v́ một chút đối đáp mà nên vợ thành chồng." (3)

Cũng có trường hợp, một câu ḥ đối đáp qua đường, thế mà sáu bảy năm sau, chàng trai t́m cô gái cưới làm vợ.

" Xưa có bà sư đem môt đứa con gái nhỏ về nuôi để sau hầu hạ đỡ đầu trong chùa. Khi cô ả lớn lên , độ mười lăm mười sáu tuổi, nhan sắc đă hơn người và thông minh cũng không kém ai.

" Trong làng có anh học tṛ, ngày ngày đi đến trường, thường ngồi nghỉ mát dưới gốc hai cây gạo ở trước chùa. có một buổi, anh ta đang ngồi nghỉ mát, thấy cô gái có nhan sắc kia đi ra hái hoa. Anh ta nói đùa đôi câu. Cô gái chẳng đáp chỉ hát rằng :

Em như hoa gạo trên cây
Anh như cái đám cỏ mây giữa đường.

" Anh học tṛ biết cô gái hát chọc, nên hát lại rằng :

Một mai trời tốc gió rung.
Hoa gạo nhảy xuống nằm cùng cỏ may.

" Hát xong, anh học tṛ về nhà, cô con gái trở lại chùa, hai bên từ đó không liên lạc ǵ với nhau cả. Cách độ sáu bảy năm sau, anh học tṛ thi đỗ. Bao nhiêu nhà giàu tấp tểnh muốn đem con gái gă cho nhưng anh không nhất định nơi nào. Một đêm anh nằm chiêm bao thấy một ông lăo vào nhà, đến tận giường mà bảo rằng :" Cây gạo, cây gạo, bách niên giai lăo."

" Anh ta chợt tỉnh lại, suy nghỉ hồi lâu, nhớ ngay đến lúc c̣n đi học, ngồi nghỉ dưới gốc hai cây gạo tai như c̣n nghe văng vẳng tiếng của người con gái hái hoa hát đối đáp với ḿnh khi xưa. Sáng dậy, anh đi ḍ hỏi biết cô gái vẫn c̣n tại chùa, anh liền thưa đầu đuôi với cha mẹ, và xin cho người đi dạm.

" Bà sư bằng ḷng ngay, mà cô gái lại càng bằng ḷng hơn. Hôm đám cưới, bà sư có thơ mừng, hai câu kết như sau :

Cỏ ướm ḷng hoa hoa đợi cỏ
Ba sinh âu hẳn cũng duyên trời.

" Hôm nhị hỉ (b), bà sư nói với con rễ rằng :

Ai ngờ chốn am thanh, cảnh vắng này mà lại có dâu rễ về nhị hỉ.

Cô dâu nữa vui, nữa thẹn nói rằng :

" Bạch thầy, cũng nhờ có " gốc trời gió rung" mà chúng con mới có ngày hôm nay.: (4)

Câu hát tiếng ḥ không phải chỉ là phương tiện cho trai gái tỏ t́nh yêu với nhau hầu đi đến cưới hỏi thành vợ thành chồng mà thôi. Câu hát tiếng ḥ c̣n là một phương tiện mà các phụ nữ ngày xưa dùng để khẳng định lập trường t́nh cảm của ḿnh đối với mọi người chung quanh như ở chuyện cổ tích dưới đây :

" Ngày xưa, có một người lấy hai vợ. Vợ cả đẹp mà hiền lành. Vợ hai đă xấu lại c̣n chua ngoa, độc ác. Ban đầu hai người vợ ở chung một nhà. Về sau, hai người ngày nào cũng căi nhau, đánh nhau, chồng không sao chịu được, cho mỗi người ở riêng một nhà, nhưng cũng không cách xa nhau mấy. Có một thời , người chồng đi buôn vắng nhà, vợ cả nghe vợ hai ở bên nhà nghêu ngao hát rằng :

Chồng chung chồng chạ !
Ai khéo hầu hạ
Th́ được chồng riêng !
Chi mà sợ, chi mà kiêng !

" Vợ cả biết vợ hai muốn gây sự với ḿnh, mà vẫn làm thinh không nói năng ǵ. Nhưng trong bụng không thể không giận được. Hôm sau về nhà kể chuyện cho mẹ, cho em nghe. Mẹ khuyên rằng :

Một sự nhịn chín sự lành. Thôi con hăy cứ nhịn nó đi, đừng hát đối đáp làm ǵ. Đợi chồng con về sẽ hay.

Người em gái cũng nhủ rằng:

- Cần chi phải để tâm. Chị không nghe người ta nói :

Dù anh năm bày nàng hầu
Em đây cũng cứ ngồi đầu chính thê !

" Người vợ cả nghe theo mẹ và em, về nhà mặc cho vợ hai ḥ hát khiêu khích ǵ, vẫn tiếp tục làm thinh..." (5)

Và trong dân gian ngày xưa, cũng có một câu chuyện khác nữa :

" Nhà kia có con gái đă nhận gả cho một người ở cùng làng. Nhà trai sêu tết đă đôi ba năm, và nhà gái đă hẹn năm sau cho cưới. Đôi bên con trai con gái đă có ḷng yêu nhau.

Chẳng may trong năm, đứa con trai trèo cây khế thế nào, ngă què tay. Cha mẹ đứa con gái toan lật không muốn cho cưới, định đem gă cho nhà khác. Nhưng đữa con gái không nghe. Cha mẹ bảo sao cũng không được, ai nói ǵ cũng mặc kệ, đứa con gái chỉ hát :

Hai tay vin bẻ chanh, chè
Vừa đôi th́ lấy tay què mặc tay !

" Cuối cùng, cha mẹ cũng phải ch́u theo đứa con gái mà cho chàng trai què tay ấy cưới."(6)

Ngoài ra, câu hát tiếng ḥ cúng c̣n la phương tiện giúp cho người đàn bà thời xưa bày tỏ được những nổi băn khoăn trước một vấn đề khó xử, không biết nói năng ăn ở ra sao :

" Xưa có hai vợ chồng nhà kia, chẳng may chạy giặc mỗi người lạc một ngă. Người vợ chạy trốn lên rừng, nhịn đói, nhịn khát, khốn khổ quá sức. May gặp được anh kiếm củi mang về nhà nuôi mới khỏi chết. Rồi lâu ngày không biết nương tựa vào đâu, đành phải ở lại với anh kiếm củi làm vợ chồng.

" Mấy năm sau, giặc giă yên, người chồng đi t́m măi mới gặp. Vợ thấy, nghỉ bụng rằng:

" Bây giờ ta không về với chồng th́ ta bất nghĩa, mà ta về với chồng th́ ta bị tiếng bất trinh"

" Trong ḷng lưỡng lự không biết nên làm thế nào cho phải, chị ta mới hát một đôi câu thử xem hai bên " nghĩa cũ t́nh nay" xử trí với nhau thế nào ? Câu hát rằng :

Muốn tắm mát lên ngọn sông đào
Muốn ăn sim chín th́ vào rừng xanh
Đôi tay em vít cả đôi cành
Quả chín th́ hái, quả xanh không lẻ dừng.
Ba bốn năm nay ăn ở trên rừng
Chim kêu, vượn hú, nữa mừng, nữa lo
Em trót sa lỡ bước xuống đ̣ !

Người kiếm củi nghe hát, liền nói với người chồng cũ rằng :

"Thôi, bây giờ bác đă t́m được bác gái, th́ bác đem bác ấy về. Tôi bằng ḷng".

Người chồng cũ đem tiền bạc ra để tạ ơn người kia, nhưng người kia nhất định không chịu nhận. Rồi hai vợ chồng đem nhau về. (7)

Từ ngh́n năm trước, xă hội ta vốn đă tổ chức theo chế độ mẫu hệ. Về sau, đến khi nước ta bị Trung Hoa đô hộ, th́ xă hội việt nam chuyển dần sang chế độ phụ hệ, phong kiến, Nho giáo. Nhưng Nho giáo chỉ ảnh hưởng mạnh mẽ ở tầng lớp vua quan, phú thương, nho sĩ. Ở đô thị, con trai con gái nhất thiết không được đường đột tiếp xúc với nhau, việc yêu thương, kết hôn đều do cha mẹ định đoạt. Nhà nho xưa có câu dạy con cháu :

Con trai chớ đọc Phan Trần
Con gái chơ đọc Thúy Vân, Thúy Kiều.

V́ trong chuyện Phan Trần, trai gái hẹn ḥ nhau trong chùa, trước bàn thờ phật, trong chuyện Kiều, cha mẹ đi vắng, đêm khuya Kiều một ḿnh qua nhà Kim Trọng đàn hát, t́nh tự, thề nguyền.

Trái lại, trong chuyện Lục Vân Tiên của cụ Đồ Chiểu, khi Lục Vân Tiên giữa đường cứu Nguyệt Nga khỏi tay bọ cướp, th́ Nguyệt Nga trong kiệu bước ra để tạ ơn , th́ Lục Vân Tiên vội vàng ngăn lại :

Khoan khoan ngồi đó chớ ra
Nàng là phận gái ta là phận trai !

Nhưng suốt bao nhiêu thế kỷ bị Bắc thuộc, ảnh hưởng Nho giáo vẫn không thắm nhuần sâu rộng xuống nông thôn Việt Nam được. Phải chăng, dân gian ta ngày xưa vẫn coi Nho giáo như là một văn hóa ngoại bang đă theo gót quân xâm lăng du nhập vào nước ta. Cho nên , dân gian vẫn khuyến khích các cô gái đồng quê Việt giữ theo phong tục mẫu hệ của dân Việt ngày xưa :

Ăn chơi cho hết tháng hai
Để làng Gióng đám cho trai trọn đ́nh.
Trong thời đánh trống rập ŕnh
Ngoài th́ trai gái tự t́nh với nhau."

Qua câu hát tiếng ḥ, các cô gái trẻ có thể nói xa nói gần, ví von, đùa cợt, nữa đùa, nữa thật, t́nh tứ lă lơi, ranh mănh, ngạo nghễ, các chàng trai có muốn giận cũng không giận được, nếu đồng t́nh thương yêu nhau th́ càng hay, hoặc có từ chối, các cô gái không v́ thế mà mất mặt.

Đến cuối thế kỷ thứ 17, năm Ất hợi (1695), Thích Đại Sán ở Quăng Đông, được chúa Nguyễn Phúc Chu rước sang nước ta để giảng kinh. Vị cao tăng Trung Hoa này rất ngạc nhiên nhận thấy nước Việt Nam, sau bao nhiêu thế kỷ Bắc thuộc, chịu ảnh hưởng văn hóa Trung Hoa rất lâu, nhưng phụ nữ nông thôn chưa chiu ghép ḿnh vào lễ giáo Khổng Mạnh, mà công khai tự do đi xớm về khuya một ḿnh, trọn quyền giao dịch, mua bán...thật trái hẳn với phụ nữ Trung Hoa luc đó,không bao giờ được phép ra khỏi nhà, nếu cần đi giao dịch buôn bán, thăm viếng họ hàng cũng phải có người theo gót trông chừng, canh giữ.

Tóm lại, dùng câu hát tiếng ḥ để bày tỏ t́nh yêu trước con trai như thế, các thôn nữ ta đă tiếp tục một tập quán c̣n xót lại của chế độ mẫu hệ Việt Nam, để duy tŕ phần nào thế chủ động của họ trong sự trao đổi t́nh cảm của họ đối với nam giới, trong việc thử thách, chọn lựa đôi bạn đời của ḿnh, cho được vừa ư mà thôi. Một hành động hợp lư, "tiến bộ", có tính cách "đi trước thời đại"

Mặc khác," câu hát tiếng ḥ" đ̣i hỏi một tŕnh độ nghệ thuật đa dạng cao : ứng tác nhanh của một thi sĩ, giọng hát hay của một ca sĩ, diễn tấu giỏi như một kịch sĩ.

Mà nghệ sĩ tính vốn là một bản chất tự hữu của con người Việt Nam, t́nh ư được diễn đạt bằng một ngôn ngữ thanh âm phong phú, lên bỗng xuông trầm, cấu tứ nhịp nhàng, cân đối... Cho nên , ta không ngạc nhiên khi nhận thấy một phần lớn các cô gái thôn quê ngày trước đă ứng tác những câu hát, tiếng ḥ một cách dễ dàng để sử dụng như một vũ khí sắc bén để tranh thủ, duy tŕ vớt vát cho được một uy thế, đặc quyền của nữ giới trong chế độ mẫu hệ ngày xưa, mà ngày nay đă bị sụp đổ tan tành.

VƠ THU TINH

Chú thích :

(a) Phật thủ : một thứ quả, đầu núm chỉa ra năm nhánh chúm lại như năm ngón của bàn tay, nên gọi là "Phật thủ" (tay của Phật)

(b)Nhị hỉ : Hai ngày sau lễ cưới, có lệ vợ chồng mới lấy nhau về làm lễ tạ ơn cha me nhà gái. Đó gọi là lễ Nhị hỉ.

(1) Nguyễn Văn Ngọc. Truyện cổ nước Nam. Tập 1, xb hà Nội. 1932.

(2) Nguyễn Văn Ngọc. Truyện cổ nước Nam. Tập 1.s.đ.d. Nụ cà, hoa mướp, tr.164-165.

(3) Nguyễn Văn Ngọc. Truyện cổ nước Nam. Tập 1.s.đ.d. Trời tốc, gió rung, tr.101-103.

hoangthymaithao
10-13-2010, 04:56 AM
* NGUYỄN HỮU HIỆP/ Thứ bảy, 09/10/2010

Cũng như người Nam bộ, ngôn ngữ Nam bộ rất chân quê, giản dị, nhưng lại cực kỳ phong phú, đa dạng. Có để tâm t́m hiểu, người ta mới nhận ra rằng, ở mỗi một trường hợp, mỗi một t́nh tiết, dân gian đă sử dụng ngôn từ rất tinh tế, h́nh tượng và tất nhiên vô cùng chính xác. Về phương diện này, đôi khi chính “người Nam bộ hôm nay” cũng chưa chắc đă thấu triệt hoàn toàn ư nghĩa cụ thể của từng từ, cụm từ. Người đọc thỉnh thoảng vẫn bắt gặp đó đây những cách giải thích từ, ngữ hết sức tùy tiện, cũng như nhận định, xem xét sự kiện hết sức hời hợt, chủ quan, không chỉ làm “loạn mắt” mà c̣n dẫn đến sai lầm nghiêm trọng.

Giải thích tùy tiện có khi c̣n làm mất đi cái hồn của ngôn ngữ, làm hoen ố tính trong sáng vốn có của tiếng Việt đáng yêu, nhứt là tiếng Việt Nam bộ.


http://i138.photobucket.com/albums/q270/prettyturtle/Can%20Duoc-Long%20An/DSC00468.jpg

Trong quyển “Văn hóa đại cương và cơ sở văn hóa Việt Nam” – Đại học quốc gia Hà Nội – “tài liệu dùng để tham khảo giảng dạy và học tập trong các trường đại học”, đă giải thích ngược: “Nước rong: nước cạn. Nước ṛng: nước lớn”! Hay sách “Diện mạo văn học dân gian Nam Bộ” đă giải thích chữ buôi (trong câu “Nước chảy xuôi con cá buôi lội ngược”) là “bơi. Tiếng Nam bộ xưa”! Cá buôi là một loài cá, quê hương của nó không chỉ khu biệt ở Nam bộ, mà nó cũng có nhiều ở những nơi khác. Đó là “thứ cá sông tṛn ḿnh, nhỏ con mà có nhiều mỡ” (“Đại Nam quốc âm tự vị” của Huỳnh Tịnh Của). Trong kho tàng ca dao dân ca Nam bộ cá buôi được nhắc đến khá nhiều, và thời trước nó cũng đă nghiễm nhiên là một loại thủy đặc sản quư hiếm”:

Nước chảy xuôi con cá buôi lội ngược,
Nước chảy ngược con cá vược lội xuôi,
Anh với em xa cách ngậm ngùi,
Mong cho gặp mặt xác vùi cũng ưng.

Hay:

Ngó lên trời thấy cục mây bạch,
Ngó xuống vàm rạch thấy cá chạch đỏ đuôi,
Nước chảy xuôi con cá buôi lội ngược,
Nước chảy ngược con cá vược lội theo,
Con cá heo nó khóc, con cá lóc nó sầu...

Hoặc:

Năm tiền một khứa cá buôi,
Cũng mua cho đặng đăi người khách sang

Ba tiền một khứa cá buôi,
Cũng mua cho được mà nuôi mẹ già.

Và:

Ḍng nước chảy xuôi.
Con cá buôi lội ngược.

Anh thương nàng biết được hay chăng...

Phải chăng con cá buôi ngày nay đă tuyệt chủng nên có sự lầm lẫn? Không! Nó vẫn c̣n, tuy rất hiếm. Đó là một loại cá có tập tính sống thành bầy đàn. Khi đàn cá trưởng thành, chúng tách ra sống thành từng cặp. Và người đi bắt cá buôi thường bắt một lần được cả cặp, do con cá đi cùng cứ lẩn quẩn bên người bạn t́nh vừa bị bắt. Cá buôi có đặc điểm là chỉ ăn bọt nước và phiêu sinh vật nhỏ trong nước phù sa nên ruột rất sạch. Người ta chỉ có thể đánh bắt, chứ không câu được.

***

Trong phạm vi của một bài viết nhỏ không cho phép người viết dài ḍng giải thích bởi không khéo sẽ mắc phải “nói sang đàng”. Các nhà văn, nhà thơ, các nhà soạn văn bản, và nhất là giới nghiên cứu về ngôn ngữ bao giờ cũng tỏ ra rất trân trọng, và luôn ư thức ǵn giữ, bảo lưu tính tích cực của vốn từ mà thực tiễn nhân dân vẫn đang sử dụng phát triển. Bởi nếu không như thế th́ sẽ không tránh khỏi t́nh trạng nghèo hóa ngôn ngữ, nếu không muốn nói đó là một hành vi phủ nhận “công ơn sinh thành” của lớp lớp thế hệ cha ông ḿnh – những người đă phải trải quá tŕnh lao động, chiến đấu vô cùng gian nan, vất vả, để rồi từ sự cọ xát cuộc sống trong sinh hoạt đời thường, họ mới lần lượt sáng tạo và phát minh ra cả một kho tàng ngôn ngữ cực kỳ phong phú, chuyển giao lại cho chúng ta thừa hưởng.

Ngôn ngữ - tiếng nói của Nam bộ mộc mạc, chân quê, nhưng rất đích xác, phong phú. Chẳng hạn như để mô tả trạng thái của nước, ngôn ngữ Nam bộ có đến hàng chục cách: nước lớn, nước ṛng, nước rong, nước kém, nước đầy mà, nước rặt, nước nhửng, nước nhảng, nước ưng, nước quay, nước lên, nước đổ, nước lộn, nước dâng, nước ḅ, nước sụt, nước trồi, nước môi, nước xẹt, nước lụt, nước tống, nước chụp, nước phân đồng... Hoặc như nói về cái chết của con người, chắc hẳn không dưới hàng trăm cách nói, mà cách nào cũng có nghĩa riêng như: mất, qua đời, tắt hơi, nghỉ thở, “đi”, ngủm, sụm, ngoẻo, hui, đền tội, tử thần kêu, đi chầu Diêm chúa, “đi bán muối”, anh dũng hy sinh, đền xong nợ nước, ly trần, tạ thế, quy tiên, theo ông theo bà, tiêu diêu lạc cảnh, Chúa gọi, Phật rước, về bên kia thế giới, về cơi vĩnh hằng, trở về cát bụi v.v.

Cách xưng hô, thói ăn nết ở, nói, cười... mỗi mỗi hầu như người Nam bộ nào cũng sẵn có “cả kho”, ít ǵ cũng hàng trăm, thậm chí hàng ngàn – từ nào cũng mang ư nghĩa riêng, biểu tỏ rất h́nh tượng, chân xác, đồng thời thể hiện rất đúng tâm trạng hoặc trạng thái của nhân vật, ngay cả tại “thời điểm khoảnh khắc”. Phong phú đến mức không ai tài nào có thể ghi lại được một cách đầy đủ!

Trước đây người ta cho rằng tiếng Nam bộ là... phương ngữ, xem như nó chỉ có giá trị giao tiếp nội bộ, khu biệt trong một địa phương – ít nhiều có ư “phân biệt”! Nhưng dần về sau, khi đă nhận chân được rằng, tiếng Việt Nam bộ quả đă thực sự đóng góp rất tích cực trong việc làm giàu ra cho ngôn ngữ toàn dân th́, cách hiểu ấy không c̣n phù hợp. Không ít nhà nghiên cứu đă đổi gọi lại, không dùng phương ngữ Nam bộ nữa mà gọi là ngôn ngữ Nam bộ.

Ngôn ngữ Nam bộ cũng là ngôn ngữ của dân tộc, ngôn ngữ của nhân dân. Nhân dân là cha đẻ của ngôn ngữ là người sử dụng, giữ ǵn và phát huy sự trong sáng vốn có của ngôn ngữ ấy. Nếu v́ lư do nào đó ngôn ngữ toàn dân bị héo hắt th́ một ngày không xa đương nhiên nó sẽ teo tóp dần, lúc ấy ta c̣n ǵ trong tay để “giữ ǵn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc”?

Danh nhân văn hóa thế giới – từng căn dặn: “V́ lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hàng ngày về mặc, ăn, ở và các phương thức sử dụng. Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó, tức là văn hóa. Mỗi dân tộc cần phải chăm lo đặc tính dân tộc ḿnh trong nghệ thuật”.

hoangthymaithao
10-27-2010, 01:16 AM
NamKyQuoc.VN

Nam bộ là vùng đất sông nước, ruộng vườn. Sông rạch chằng chịt gắn bó bao đời với sinh hoạt, chi phối đời sống kinh tế cũng như đời sống tinh thần của con người. Bài viết này muốn nhấn mạnh tác động của thiên nhiên đến môi trường sống, đến tính cách, tâm lư của con người và tính cách, tâm lư đó sẽ ảnh hưởng đến cách sử dụng ngôn từ đặc trưng của mỗi vùng, miền .


http://www.vnexpress.net/Files/Subject/3B/A1/5B/CB/1.jpg

Sông nước là một phần, nếu không nói là phần quan trọng nhất
của sinh hoạt người miền Tây Nam bộ.

Nam bộ là miền đất nhiều sông lắm rạch. Số từ ngữ chỉ những sự vật, hiện tượng liên quan đến sông nước v́ vậy vô cùng phong phú, là nguồn đóng góp của phương ngữ Nam bộ vào ngôn ngữ toàn dân (NNTD): rạch, xẻo, con lươn, bùng binh, tắt, rỏng, vàm, lung, láng, bưng, bàu, cù lao, cồn, giồng…; nước lớn, nước ṛng, nước rong, nước nổi, nước kém, nước đứng, nước nhửng, nước ương…; ghe, tam bản, xuồng, vỏ lăi, tắc ráng... Những từ ngữ này không chỉ đi vào lời ăn tiếng nói hàng ngày của người dân vùng đất này, là yếu tố cấu tạo của nhiều địa danh mà c̣n phản ánh bối cảnh sáng tác của những câu ḥ, điệu hát dân gian và là mảnh đất tốt để nhà văn, nhà thơ khai thác.

Ngoài những ư nghĩa chung phản ánh những sự vật, hiện tượng trong thiên nhiên, nhiều từ ngữ sông nước c̣n được dùng theo nghĩa phái sinh để gọi tên những sự vật, hiện tượng khác theo cách mở rộng nghĩa. Năm 1895, Huỳnh Tịnh Paulus Của trong Đại Nam Quốc âm tự vị đă định nghĩa từ bùng binh: “khúc sông rộng ph́nh tṛn ra”. Đến năm 1970, Việt Nam tự điển của Lê Văn Đức ghi nghĩa từ bùng binh là “khu đất rộng nối các trục đường trong thành phố”: bùng binh Ngă Sáu, bùng binh Ngă Bảy… Như vậy một từ chỉ sông nước đă được dùng để gọi tên giao lộ của các con đường trong thành phố.

Nếu phương ngữ Bắc bộ gọi loại ôtô lớn chở hành khách trên các tuyến đường dài, thường là các đường liên tỉnh là ôtô ca (hay xe ca, xe khách) th́ phương ngữ Nam bộ gọi là xe đ̣ theo nghĩa đ̣ là “thuyền chở khách trên sông nước theo một tuyến nhất định”.

Trong Từ điển tiếng Việt (viện Ngôn ngữ học), quá giang là “đi đ̣ ngang qua sông”. Ngoài nghĩa đó, phương ngữ Nam bộ c̣n có thêm cách dùng phổ biến “đi nhờ một phương tiện vận tải nào đó” (vẫy xe xin đi quá giang một đoạn).

Khi thuyền chở đầy và nặng, không thể chở hơn được nữa, người ta nói là thuyền khẳm: “Chở bao nhiêu đạo thuyền không khẳm...” (Nguyễn Đ́nh Chiểu). Phương ngữ Nam bộ c̣n mở rộng nghĩa của khẳm là “quá nhiều, quá sức chứa”. Ví dụ: tiền vô khẳm, lời khẳm, thêm một ly nữa là khẳm… Ch́m xuồng cũng thường được dùng ở nghĩa bóng: “cố ư bỏ qua, không đề cập tới nữa”: vụ đó kể như xử ch́m xuồng rồi.

Phần lớn làng xă ở Nam bộ đều nằm hai bên bờ sông rạch. Từ đây dẫn đến một đặc điểm là đặt địa danh gắn liền với sông nước. Nhiều địa danh ở các tỉnh Nam bộ và Sai Gon mang tên nhóm từ sông nước này: Bàu Mây, Cồn Phụng, Cù Lao Dài, Giồng Trôm, Giồng Quéo, Láng C̣, Rạch Cá Trê, Rạch Cá Lóc, Rạch Bà Mụ… (Bến Tre); Vàm Cỏ (Long An); Vàm Cống (An Giang); Tắt Thủ (Cà Mau); Bàu Nai, Bàu Cát, Giồng Ông Tố, Bưng Sáu Xă, Rạch Chiếc, Rạch Miễu, Láng Le, Láng Thé, Rỏng Tràm, Rỏng Bàng, Vàm Sác… (Saigon).

Nếu so sánh địa danh ở các tỉnh Nam bộ với địa danh ở các tỉnh Bắc và Trung bộ, chúng ta dễ dàng nhận thấy tính b́nh dị, dân dă của địa danh Nam bộ, trong đó các địa danh có từ ngữ sông nước kết hợp với danh từ chỉ động vật, thực vật, tên người nổi tiếng trong vùng… chiếm một tỷ lệ khá lớn.

Những h́nh thức văn học dân gian như ca dao, ḥ, lư, cải lương… cũng đă khai thác và phản ánh những h́nh tượng thiên nhiên, tâm tư, t́nh cảm con người… qua những từ ngữ sông nước này. Trong ca dao Nam bộ, h́nh ảnh ghe xuồng, sông rạch xuất hiện với tần số cao.

Trong số các nhà văn Nam bộ, nhà văn lăo thành Sơn Nam đă dành trọn cuộc đời cho sự nghiệp sáng tác và khảo cứu về vùng đất và con người Nam bộ. Nhà văn Nguyễn Quang Sáng viết về Sơn Nam: “Là nhà văn, đi đâu anh cũng quá giang theo xuồng ghe của thương hồ. Anh đi sông lớn, sông nhỏ, theo kinh theo rạch, anh đi khắp cả sông nước miền Tây” (tạp chí Sông Hương, số 235, 9.2008). Bởi thế không lạ ǵ khi những từ ngữ sông nước xuất hiện nhiều trong các truyện và kư của Sơn Nam:

– Con rạch quá nhỏ, uốn ngoằn ngoèo như ruột ngựa, nối liền qua những lung, bàu, tṛn tṛn méo méo như h́nh mấy cái bao tử, gan, lá lách… (Hương rừng, tập Hương rừng Cà Mau).
– Dưới sông, từng dề lục b́nh trôi theo ngọn nước ṛng (Giấc mơ ngoài băi tha ma, tập Hương rừng Cà Mau).
– Bấy lâu nay, ở vùng sông nước chằng chịt với chợ làng, chợ nổi ven sông, đêm thanh vắng nghe những câu ḥ, câu lư xen nhau dài theo con rạch, con kinh dường như vô tận, qua khúc loi, khúc vịnh, về đêm, trên nhánh bần gie có đóm đậu sáng ngời. (Từ U Minh đến Cần Thơ, Hồi kư).

Một nhà văn khác – nhà văn Nguyễn Ngọc Tư – sớm thành công và nổi tiếng với những sáng tác đậm chất Nam bộ, cũng viết về vùng đất và con người Nam bộ với ngôn ngữ vừa b́nh dị vừa tinh tế. Trong các tập truyện ngắn của Nguyễn Ngọc Tư, những từ ngữ sông nước cũng được sử dụng khá nhiều và giàu giá trị biểu cảm.

hoangthymaithao
11-09-2010, 12:04 PM
http://vumaiphuong28.violet.vn/uploads/resources/blog/1149/trau.jpg

Thứ năm, 22 Tháng 1 2009 16:26

Trong lịch sử can chi đă quen dùng ở phương Đông số thứ tự thứ 2 là Sửu tượng trưng bằng con trâu. Giờ Sửu được tính từ 1 đến 3h đêm, là thời gian yên tĩnh nhất, mọi người ngủ say, thế nhưng con trâu lại thức lặng lẽ nhai lại.
Tháng Sửu là tháng Chạp, là tháng mà mọi người hân hoan đón Tết. Trong 12 con vật thời gian, trâu là con vật to nhất, khỏe nhất. Trâu sớm được thuần hóa, gần gũi với con người, giúp con người trong việc đồng áng nên người nông dân coi trâu như người bạn thân.

Trong ca dao dân ca, trâu được nói đến nhiều v́ trâu đóng vai tṛ quan trọng trong sinh hoạt ở nông thôn. Từ việc ví von về tuổi tác đến việc đồng áng, t́nh yêu nam nữ... đều có mặt trâu. Trâu gần gũi thân thiết với con người như h́nh với bóng. Thế nên trong cơ nghiệp nhà nông con trâu được xếp hạng nhất "Con trâu là đầu cơ nghiệp".

Tuổi sửu con trâu kềnh càng,
Cày chưa đúng buổi lại mang cày về.

Trâu thay sức người làm công việc đồng áng nên việc mua sắm trâu là việc hệ trọng. Nhà nghèo thường khó sắm được trâu để làm mùa, phần nhiều là mướn trâu.

Tậu trâu, lấy vợ, cất nhà
Trong ba việc ấy thật là khó thay

Từ buổi đầu lịch sử, khi dân ta biết trồng cây lúa nước con trâu đă là người bạn thân thiết gắn bó với nông dân. Tất cả đều phải cần cù làm lụng, hỗ trợ cho nhau để có miếng ăn.

Trâu ơi ta bảo trâu này
Trâu ra ngoài ruộng trâu cày với ta
Cấy cày vốn nghiệp nông gia
Ta đây trâu đấy ai mà quản công
Bao giờ ngọn lúa c̣n bông
Th́ c̣n ngọn cỏ ngoài đồng trâu ăn

Đôi khi người nông dân cũng tâm t́nh th́ thầm to nhỏ cùng trâu như nói chuyện với một đứa trẻ con.

Nghé ơi ta bảo nghé này
Nghé ăn cho béo nghé cày cho sâu
Ở đời khôn khéo chi đâu
Chẳng qua cũng chỉ hơn nhau chữ cần

Tuy bận rộn vất vả trong những ngày mùa nhưng trâu cũng có ngày thong thả đứng bên bờ ruộng ăn cỏ tươi hoặc nằm trong chuồng nhỏ nhẹ nhấm bó rơm khô. Số phận của con trâu và người nông dân gắn bó đồng cam cộng khổ.

Rủ nhau đi cấy đi cày
Bây giờ khó nhọc có ngày phong lưu

Nông dân rất quư con trâu, nó là một phần tài sản của họ. Nó đă được đưa ra so sánh đánh giá sự giàu nghèo.

Thằng bờm có cái quạt mo
Phú ông xin đổi ba ḅ chín trâu

Và h́nh ảnh thằng Cuội chăn trâu cũng thật thà đáng thương

Chú Cuội ngồi gốc cây đa
Để trâu ăn lúa gọi cha ời ời
Cha c̣n cắt cỏ trên trời
Mẹ c̣n cưỡi ngựa đi chơi cầu vồng

H́nh ảnh con trâu cũng được dùng để phê phán những kẻ lừa đảo chỉ biết v́ quyền lợi cá nhân.

Lái trâu, lái lợn, lái ḅ
Trong ba anh ấy chớ nghe anh nào

Hoặc tỏ thái độ mỉa mai, châm biếm

Thật thà như thể lái trâu,
Yêu nhau như thể nàng dâu mẹ chồng.

Ai cũng biết buôn bán th́ không thể có sự thật thà, quan hệ mẹ chồng, nàng dâu cũng rất phức tạp, khó có sự dung ḥa được.

Lại có câu ca dành cho người thích lấy vợ dại, ngoan hiền

Vợ dại th́ đẻ con khôn
Trâu chậm lắm thịt, rựa cùn chịu băm

Bởi vậy ta nên trở về với cái vốn có không nên quá mộng tưởng. Cái ǵ của ḿnh có sẵn quư hơn v́ nó là có thực.

Trâu ta ăn cỏ đồng ta
Tuy rằng cỏ cụt nhưng là cỏ thơm

Và rất nhiều người bằng ḷng với cuộc sống hiện tại, cho như thế là sung sướng hơn người.

Ai bảo chăn trâu là khổ
Không, chăn trâu sướng lắm chứ?
Ngồi lưng trâu ta hát nghêu ngao...

Con trâu cũng là đề tài để người ta trêu chọc nhau một cách t́nh tứ trong những lúc lao động để quên đi nỗi mệt nhọc, vất vả.

Trâu kia kén cỏ bờ ao
Anh kia không vợ đời nào có con
Người ta có trước có sau
Thân anh không vợ như cau không buồng
Cau không buồng như tuồng cau đực
Trai không vợ cực lắm anh ơi
Người ta đi đón, về đôi
Thân anh đi lẻ, về loi một ḿnh

Hoặc để gợi chuyện làm quen nhau:

Hỡi cô cắt cỏ bên đồng
Nuôi trâu cho béo làm giàu cho cha
Giàu th́ chia bảy chia ba
Thân em là gái được là bao nhiêu?

Các cô gái cũng hóm hĩnh, đáo để không kém

Cưới em tám vạn trâu ḅ
Bảy vạn dê lợn, chín ṿ rượu tăm

Đến khi có vợ rồi nên một ḷng một dạ không nên bắt chước những người đi trước năm thê bảy thiếp để rồi gặp phải cảnh.

Ba vợ bảy nàng hầu
Đêm nằm chuồng trâu, gối đầu bằng chổi.
Trâu anh con cưỡi con ḍng
Có con đi trước ḷng tḥng theo sau.

Và đôi khi là những h́nh ảnh ẩn dụ về những ngang trái mà con trâu phải gánh chịu.

Con trâu có một hàm răng
Ăn cỏ đồng bằng uống nước bờ ao
Thời sống mày đă thương tao
Bây giờ mày chết cầm dao xẻ mày
Thịt mày tao nấu linh đ́nh
Da mày bịt trống tụng kinh trong chùa
Sừng mày tao tiện con cờ
Làm dao, cán mác, lược dày, lược thưa…

Thời gian dần qua đi. Theo đó, h́nh ảnh mục đồng vắt vẻo trên lưng trâu, hát ngêu ngao những bài đồng dao cũng đă dần mất đi. Thế nhưng h́nh ảnh làng quê, đồng ruộng, cây lúa, con trâu vẫn thấm sâu vào tâm hồn người dân Việt.

Sưu tầm

hoangthymaithao
11-15-2010, 09:57 AM
http://i54.tinypic.com/34eb2n4.jpg
Nhớ ai lệ chảy bùi ngùi
Khăn lau chẳng sạch, áo chùi chẳng khô.

hoangthymaithao
11-18-2010, 09:29 AM
http://i962.photobucket.com/albums/ae101/hoangngocmai/ALL%20HTMT/PICTURES%20POST%20ON%20NET/Joss_stick.jpg

Đêm qua đốt đỉnh hương trầm
Khói lên nghi ngút, âm thầm ḷng ai...

http://i962.photobucket.com/albums/ae101/hoangngocmai/ALL%20HTMT/PICTURES%20POST%20ON%20NET/Incense.jpg



:cray:

hoangthymaithao
11-20-2010, 01:37 PM
http://i6.photobucket.com/albums/y250/AnhBa3/Sen.jpg


Hoa Sen, Hồn Việt

Sen thanh cao, trắng trong và tinh khiết; bùn đen đúa, nhớp nhúa và dơ bẩn. Sen và bùn, dù là hai thái cực, hai h́nh ảnh tương phản, đối chọi nhau, nhưng lại rất gần nhau. Nói đến sen người ta nghĩ ngay đến bùn, nghĩ đến sự cao quư vươn lên sống ngạo nghễ từ giữa những vùng đất tội lỗi .

Trong đầm ǵ đẹp bằng sen,
Lá xanh, bông trắng, lại chen nhụy vàng.
Nhụy vàng, bông trắng, lá xanh,
Gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn. (CD)

Về ư nghĩa của câu ca dao, ai cũng hiểu, nhưng nếu ai đă có từng trầm ḿnh trong những đầm sen, từng thọc tay vào bùn để kéo lên những ngó sen trắng nỏn th́ sẽ thấm thía với câu ca dao ở trên hơn. V́ không chỉ ngó sen màu trắng nỏn tương phản với màu bùn đen mà hương vị của hoa sen cũng chẳng vướng víu hay bị nhiễm mùi bùn. Ngược lại c̣n phảng phất một mùi hương nhẹ nhàng thanh khiết và dễ chịu. Sen sống giữa bùn śnh nhưng không bị lấm lem, sen tặng cho cuộc đời những bông hoa tinh khiết, thanh cao. Ban ngày hoa sen nở, nhưng sẽ khép kín lại lúc về đêm như để tránh sự xâm nhập của bóng đêm u tối, giữ vẹn toàn hương sắc trinh bạch, thanh cao của một loài hoa cao quư.
Hoa sen tượng trưng cho sự uy dũng bất khuất của người quân tử, giữ chặt ḷng ḿnh trước cám dỗ của lợi danh, giữ cho ḿnh sự trong sạch dù ở giữa chốn bùn nhơ. Với Phật giáo, hoa sen là biểu tượng của sự giác ngộ, cũng như sen mọc giữa chốn bùn lầy, người giác ngộ sống giữa hồng trần, cuộc sống thế nhân với muôn vàn ô trọc vẫn b́nh thản giữ ǵn đạo hạnh và sự trong sạch của bản thân không để bị vướng bụi trần thế, bả lợi danh.

Sen không chỉ là một loài hoa đẹp, một biểu tượng của người quân tử, của sự giác ngộ, mà tất cả các phần của sen, theo đông y, đều là thuốc chữa bệnh. Hạt sen (liên nhục) chữa thần kinh suy nhược, mất ngủ. Nhụy của hạt sen (liên tâm) có vị đắng có tác dụng an thần. Gương sen (liên pḥng) phơi khô sắc uống có tác dụng cầm máu trong đại tiểu tiện. Tua nhị của hoa sen (liên tu) phơi khô sắc uống chữa băng huyết, thổ huyết, di mộng tinh. Lá sen (hà diệp) dùng tươi sắc uống chữa nôn ra máu, chảy máu cam. Ngó sen (liên ngẫu), dùng làm thức ăn giải nhiệt, làm thuốc cầm máu, nấu nước tắm sẽ làm cho da thịt mịn màng, cơ thể sảng khoái. Ngoài ra sen c̣n được biến chế thành những món ăn quốc túy, hương vị đặc biệt VN như gỏi ngó sen, mứt sen. Trà sen, một loại trà được ướp với hạt gạo trong hoa sen là một loại trà ngon, quư, và được người uống trà ưa chuộng.
Ngày xưa, lúc đọc 2 câu thơ của nhà thơ Nguyên Sa :

"Vẫn biết ḷng ḿnh là hương cốm,
Chả biết tay ai làm lá sen."

Sinh trưởng ở trong Nam, dù sen cũng là một h́nh ảnh rất quen thuộc, nhưng tôi không thấm và hiểu được hai câu thơ diễn tả mối t́nh "cốm, sen" của Nguyên Sa. Măi sau này, tôi mới biết là ở ngoài Bắc, người ta dùng lá sen để gói cốm. Có một tác giả nào đó, tôi không nhớ tên, đă viết. " Ăn cốm làng Ṿng chấm với hồng chín đỏ, thưởng thức hương thơm và ngọt nhẹ của cốm, với mùi thơm và vị ngọt gắt của hồng. Ăn một nhúm cốm như vậy, giống như đang nếm tất cả hương vị của đất trời, đồng nội, hương hoa ...". Th́ ra là như vậy, tôi đă có thể tưởng tượng. Những lá sen rộng bản, vươn cao khỏi mặt nước. Buổi sáng, với những hạt sương, long lanh, trong vắt, c̣n đọng lại trên mặt lá như những hạt trân châu trời đất ban tặng cho sen. Dù nắng hay mưa, ngày qua ngày, những lá sen vẫn vươn cao, mở rộng che chắn cho những bông sen đang nở. Một ngày nào đó, một bàn tay ngà của một cô gái ngắt lấy tấm lá sen đem về gói những hạt cốm dẻo thơm, màu xanh ngọc thạch. Hương đồng, cỏ nội quấn quyện với hương đồng cỏ nội. Lá sen giữ cho cốm dẻo và thơm lâu, những hạt cốm xanh màu ngọc thạch nằm yên ổn trong ḷng lá. Mùi sen trong hương cốm. Một sự kết hợp hài ḥa và tuyệt vời. Và cuối cùng tôi đă hiểu nhà thơ Nguyên Sa đă ví ḷng ông như hương cốm, hương của những hạt ngọc quí của đất trời, của hương đồng cỏ nội, của quê hương Việt Nam, và t́m đâu người tri âm, tri kỷ. Khám phá, hiểu, giữ ǵn, ḥa hợp, bổ sung ... cho nhau như lá sen và hạt cốm.

Hoa sen đă đi vào ḷng người, đi vào cuộc sống của người Việt tự ngàn xưa . Có thể nói nh́n sen, ta có thể liên tưởng và nhận ra con người Việt Nam, nhưng nh́n người Việt Nam có nhận ra được HOA SEN không? Ngày nay, nh́n vào xă hội của người Việt Nam (cả hải ngoại và trong nước), một người Việt có đủ tự hào và khả năng để giải thích một cách tường tận ư nghĩa của câu ca dao trên cho một người ngoại quốc nghe không? Câu hỏi làm trăn trở nhiều người Việt có tấm ḷng tha thiết với quê hương và dân tộc.

Nửa thế kỷ, dưới "ánh sáng" nhân tạo, quá cường độ và gay gắt của một chủ nghĩa ngoại lai, đă trở thành ngọn lửa thiêu đốt và hủy hoại những giá trị căn bản tạo thành dân tộc Việt . Việt Nam trở thành một xă hội, nơi mà t́nh người, lương tâm và đạo đức... khan hiếm như bóng cây, như nguồn nước giữa sa mạc. Đầm nước Việt cạn khô, hoa sen Việt úa tàn, chết rũ. Bóng đêm bao phủ, cơn ác mộng của những bông sen đỏ ngoi lên từ vũng máu thịt, nhầy nhụa, lạnh ngắt, tanh tưởi, nồng nặc mùi tử khí. Cố gắng vượt qua vùng bóng tối lại mơ thấy những bông sen tạp chủng ngoi lên từ những vũng nước ao tù. T́m ở đâu đây, hương vị dịu dàng và bóng dáng thanh cao của Hoa Sen Hồn Việt?

Buổi chiều cuối tuần, tịch mịch, yên vắng đến lạnh lùng. Vạt nắng cuối ngày hờ hững rớt qua song, những dăi mây xám trôi lững lờ, lang thang, vài bóng chim bay điểm thành những chấm đen di động không định hướng trên nền trời tĩnh mịch. Không biết những đám mây kia sẽ trôi theo gió về đâu? Và những cánh chim có phải đang vội vă bay về tổ ấm? C̣n ta sẽ đi về đâu cuối đoạn đường lưu lạc?

Nửa thế kỷ đă qua, một dấu chấm nhỏ của thời gian, một đoạn đường ngắn của lịch sử, một đời người. Như những giọt sương đọng trong ḷng chiếc lá sen, đẹp lóng lánh như kim cương dưới ánh sáng mặt trời buổi b́nh minh bốc hơi mất dạng dưới cơn nắng gắt buổi trưa, những giấc mơ hồng thời niên thiếu cũng tan dần với thời gian và cuộc sống bương chải, tất bật nơi quê người. Mặt trời đă lặn, giọt nắng cuối cùng đă tan, bóng đêm bao phủ vạn vật, một ngày nữa đă qua. Giấc mơ hoa sen hồn Việt nở rộ ở quê hương, nơi xứ người có về chăng, đêm nay? Có lẽ lại thêm một đêm trăn trở nối tiếp một ngày buồn thiu ....

Vẫn biết hồn ta là sen Việt.
T́m ở đâu những hạt cốm thơm?
Lư Lạc Long
(TTL/TCT/MAI/5/4/2006)

hoangthymaithao
12-10-2010, 06:58 AM
• Nực cười châu chấu đá xe
Tưởng rằng chấu ngă ai dè xe nghiêng

• Muốn sang thi bắc cầu Kiều
Muốn con hay chữ phai yêu lấy thầy




Nực cười châu chấu đá xe
Tưởng rằng chấu ngă ai dè xe nghiêng

th́ nói đến thời đại huy hoàng của lịch sử: Lư Thường Kiệt, phá Tống B́nh Chiêm. Câu ca dao ví quân dân ta yếu lực chỉ bằng lực con châu chấu mà dám đá xe Đại Tống và Quân ta dưới tài lănh đạo của Lư Thường Kiệt đă đánh thắng tới Ung Châu, trong nội địa trung Hoa v.v.

==

Muốn sang thi bắc cầu Kiều
Muốn con hay chữ phải yêu lấy thầy


Câu này đă gây nhiều tranh luận v́ Cầu là chữ nôm mà Kiều là chữ Hán hai chữ đều có nghĩa là cầu .

Theo tiếng Việt cổ th́ kiều là cái yên ngựa thí dụ:

Ngựa ô anh thắng kiều vàng
Anh tra khớp bạc anh đón nàng về dinh

Hoặc:

Sông sâu ngựa lội ngập kiều
Dẫu anh có phụ c̣n nhiều nơi thương

vậy cầu kiều ở đây không viết hoa và (nếu không phải v́ lỗi đả tự) th́ chữ "thi" phải đổi ra thành chữ "th́" và cầu kiều là cái cầu cong có mái như các cầu đi qua những cái hào xung quanh nhà các quư tộc:


Muốn sang th́ bắc cầu kiều
Muốn con hay chữ phải yêu lấy thầy

Ư của câu ca dao này chỉ chú trọng đến ư nghĩa của vế 2 c̣n vế đâu có sai lạc chút ít cũng khôn làm giảm gía trị ư nghĩa của câu ca dao có tính cách khuyến học
Y toàn câu là: Muốn ở nhà cao cửa rộng có cầu mái cong th́ phải lo học

Thêm vài câu ca dao khuyến học:

Ăn vóc học hay

Dốt đế đâu học lâu cũng biết

Học thày không tày học bạn

Người không học như ngọc không mài

Ngọc bất trác bất thành khí
Nhân bất học bất tri lư

Một kho tàng (vàng) không bằng một nang chữ

Muốn biết phải hỏi, muốn giỏi phải học

Ông bảy mươi học ông bảy mốt

Không thày đố mày làm nên
v.v.


Hà Phương Hoài

hoangthymaithao
12-16-2010, 05:11 AM
Nếp sống cũ trong ca dao (II)

Friday, 10 December 2010 16:40 Ǵn vàng giữ ngọc
Hoàng Yên Lưu

Người dân ở cái nôi của ca dao tục ngữ như ven Sông Hương, Cửu Long, Hồng Hà, Thái B́nh... lấy sinh hoạt nông nghiệp làm chính. Nhất là ở lưu vực sông Hồng và sông Thái, nơi quê nghèo, nhà nông quanh năm “trên đồng cạn dưới đồng sâu, chồng cày vợ cấy con trâu đi bừa” nên chỉ mong có dịp nghỉ ngơi:

Rủ nhau đi cấy đi cày
Bây giờ khó nhọc có ngày phong lưu

Ngày phong lưu có quyền nghỉ ngơi chính là vào ba tháng mùa xuân. Chỉ cần lúa đầy vựa, khoai đầy bồ là đủ v́ tinh thần tri túc vốn là bản chất của nhà nông. Được mùa không những trong năm no đủ mà c̣n có niềm tự hào đă đảo ngược nấc thang xă hội vốn cho kẻ sĩ lên hàng đầu:

Nay mừng những kẻ nông phu
Cầu cho ḥa cốc, phong thu b́nh thời
Vốn xưa nông ở bậc hai
Thuận ḥa mưa gió ấy thời lên trên!

Nghỉ ngơi, giải trí trở thành một nhu cầu trong một chương tŕnh vui xuân.

Sau “tháng một, tháng chạp nên công hoàn toàn” nhà nông chuẩn bị Tết.
Tết âm lịch là một ngày lễ thiêng liêng nhất của dân tộc ta, đây là dịp đoàn tụ, cũng là lúc người trong gia đ́nh chia sẻ nguồn vui và nguồn hy vọng cho một năm mới như nhà thơ Anh thơ đă từng mô tả một ngày tết năm xưa. Bức tranh sau đây tuy giản dị nhưng không thiếu h́nh đường màu sắc và chân thực. Nguồn vui trong xóm làng tuy tưng bừng nhộn nhịp nhưng vẫn được phủ trong bầu không khí linh thiêng, kính cẩn và với bản chất mộc mạc nên thơ:

Trước cổâng làng cḥm nêu vừa thức gió
Bụi mưa phùn đă đổ xuống sân vôi
Tràng pháo chuột đua nhau đ́ đạch nổ
Xác giấy hồng bắn cả cánh hoa rơi

Trong nhà đỏ bàn thờ nghi ngút khói
Những đàn bà tíu tít chạy bưng mâm
Lũ con trẻ vui mừng thay áo mới
Bên ông già hương nến quá chuyên tâm

Ngoài đường ngơ bùn lầy theo nước chảy
Thằng cu con quần đỏ cưỡi lưng bà
Các cô gái đội vàng hương ôm váy
Miệng tươi cười mừng tuổi những người qua.

Đây là dịp hội hè mở ra và trai thanh gái lịch có dịp gặp gỡ hoặc đi lễ chùa chiền như Hồ Dzếnh nhớ lại:

Ngày xưa c̣n nhỏ ngày xưa
Tôi đeo khánh bạc, lên chùa dâng nhang
Ḷng vui quần áo xênh xang
Tay cầm hương, nến, đỉnh vàng mới mua
Chị tôi vào lễ trong chùa
Hai chàng trai trẻ khấn đùa hai bên:
“Ḷng thành lễ Phật đầu niên
Cầu cho tiểu được ngoài giêng đắt chồng!”
Chị tôi phụng phịu má hồng
Vùng vằng chút nữa quên bồng cả tôi
Tam quan, ngoài mái chị ngồi
Chị nghe đoán thẻ chị cười luôn luôn
Quẻ thần thánh mách mà khôn
“Số này chồng đắt mà con cũng nhiều!”

Nhữơng ngày hội xưa kia từ Tết, Tết Đoan ngũ, Xá tộâi vong nhân, Trung thu cho tới các ngày hội giỗ tổ Hùng vương, nhớ ơn các bậc anh hùng như Hai Bà Trưng, Trần Hưng Đạo và Quang Trung... là dịp nhiều nơi hát quan họ, nơi hát trống quân, chỗ hát xẩm... rất tưng bừng nhộn nhịp. T́nh ư phơi phơi và bay bổng trong những điệu huê t́nh hay những lời hát đối đáp hóm hỉnh và người hỏi cũng như kẻ đáp phải nhanh trí và tâm hồm cần ăm ắp chất thơ:

Gái đố:
Cái ǵ nó bé, nó cay
Cái ǵ tuy bé mà hay cửûa quyền?
Trai đáp:
Hạt tiêu nó bé nó cay
Đồng tiền nó bé nó hay cửa quyền!
Gái đố:
Đố anh biết đá mấy ḥn
Núi cao mấy ngọn, trăng tṛn mấây đêm
Trai đáp:
Đá kia chỉ có một ḥn,
Núi cao một ngọn, trăng tṛn đêm nay.
Gái đố:
Quả ǵ năm múi sáu khe
Quả ǵ nứt nẻ như đe thợ rào?
Quả ǵ kẻ ước người ao?
Quà ǵ lấp lánh như sao trên trời?
Quả ǵ ăn đủ năm mùi?
Quả ǵ to lớn có người ngồi trong?
Quả ǵ khắc chữ chạm rồng?
Quả ǵ cùi trắêng nước trong hỡi chàng?
Quả ǵ da nó vàng vàng?
Quả ǵ lăn lóc giữa đàng cái đi?
Quả ǵ da nó xù x́?
Chàng mà đối được thiếp th́ theo không.
Trai đáp:
Quả khế năm múi sáu khe
Quả na nứt nẻ như đe thợ rào
Quả mận người ước kẻ ao
Quả mơ lấp lánh như sao trên trời
Quả lê ăn đủ năm mùi
Quả động to lớn có người ngồi trong
Quả chuông khắc chữ chạm rồng
Quả dừa cùi trắng nước trong đó nàng!
Quả thị da nó vàng vàng
Bùa yêu lăn lóc giữa đàng cái đi
Quả mít da nó xù x́
Nay anh đối được, em th́ theo anh!

Cũng trong dịp tết lễ chúng ta biết thêm nột loại ca dao nữa, đó là đồng dao. Đồâng dao là những khúc hát của trẻ con khi vui chơi, hát hỏng lúc tết về hay trong ngày hội mở.
Các nhà phong tục học từ Phan Kế Bính tới Toan Ánh cho biết: “Đêm ba mươi Tết, cả ở thành thị và thôn quê nhiều nơi trẻ con nhà nghèo mỗi toán năm ba đứa, mang một chiếc ống bằng tre đựng mấy đồng tiền vừa đi vừa lắc lên thành tiếng “súc sắc”, đứng hát trước cửa mỗi nhà để xin tiền:

Nhà nào nhà này, c̣n đèn c̣n lửa,
Mở cửa cho anh em chúng tôi vào.
Bước lên giường cao, thấy đôi rồng ấp;
Bước xuống giường thấp, thấy đôi rồng chầu;
Bước ra đằng sau, thấy nhà ngói lợp.
Voi ông c̣n buộc, ngựa ông c̣n cầm.
Ông sống một trăm, thêm năm tuổi lẻ.
Vợ ông sinh đẻ, những con tốt lành,
Những con như tranh, những con như rối.

Đêm ba mươi Tết nhà nào mà chẳng c̣n đèn c̣n lửa, câu hát có dụng ư làm cho người ta bận mấy cũng phải tiếp đón chúng, nếu không mở cửa th́ có khác ǵ nhà đă tro lạnh khói tàn, không c̣n ai nữa. Tục này mất hẳn đă lâu, đă hơn năm mươi năm rồi”.

Phan Kế Bính trong Việt Nam phong tục c̣n nói tới Tết Trung thu và các tṛ chơi trong lễ hội dân tộc này: “Rằm tháng Tám là Tết Trung thu. Tết này ta thường gọi là tết trẻ con...hay tết 'trông giăng'.
Đồ trẻ con chơi trong tết này toàn là các thứ bồi bằng giấy như lá voi ngựa, kỳ lân, sư tử, rồng, hươu, tôm cá, bươm bướm, bọ ngựa cho chí cành hoa, giàn mướp, đèn cù, đèn xẻ rănh, đ́nh chùa, ông nghè đất, con thiềm thừ...

Trẻ con tối hôm ấy, dắt díu nhau từng lũ, đám th́ nhảy vô, đám th́ kéo co, đám th́ bắt cái hồ khoan, đám rước đèn, rước sư tử trống thanh la đánh vang cả đường, tiếng reo đùa rầm rĩ. Lại nơi nọ hát trống quân, nơi kia hát trống quưt, tổng chi gọi là cách trung thu thưởng nguyệt”.

Học giả Nguyễn Văn Vĩnh trong Tứ Dân Văn Uyển số 1, tháng 05/1935, trong bài “Trẻ con hát trẻ con chơi” có nhắc tới một tục lệ thú vị trong Tết Trung thu. Vào đêm rằm trẻ em xếp thành hàng, chọn một người trưởng đoàn, thay nhau hát “bắt cái hồ khoan” vang cả phố phường. Lời “bắt cái hồ khoan” có thể thay đổi nhưng nhịp điệu th́ giống nhau. Chúng có thể là:

Bắt cái! Bắt cái! Hồ khoan!
Tôi là con gái kẻ Mơ-Hồ khoan!
Tôi đi bán rượu t́nh cờ gặp anh-Hồ khoan!
Bắt cái! Bắt cái! Hồ khoan!
Tôi là con gái Tràng sinh-Hồ khoan!
Tôi đi bán rượu qua dinh ông Nghè-Hồ khoan!

Bài hồ khoan cũng có thể khác bản của giáo sư Doăn Quốc Sĩ diễn giảng:
“Vào dịp Tết Trung thu, các em trong làng xóm tụ tập nhau để rước đèn. Em trưởng đoàn vừa điều khiển cuộc rước đèn theo các đường trong làng trong xóm, vừa điều khiển nhịp hát hồ khoan, nội dung câu hát thường có tính cách luân lư đại để như sau:

Bắt cái này, bắt cái này, hồ khoan!
Ai ơi chớ vội cười nhau
Cây nào mà chẳng có sâu chạm cành.
Hồ khoan!
Bắt cái, bắt cái này, hồ khoan!
Làm người mà chẳng biết suy
Đến khi nghĩ lại c̣n ǵ là thân
Hồ khoan!

Trong ngày vui của hiếu nhi, phong dao được sáng tạo thêm hay đổi mới thuận miệng trẻ nhỏ, thuận tai và trí óc trẻ thơ. Lời có thể ngô nghê nhưng lại nhiều h́nh ảnh và thi vị. Chúng ta có thể tưởng tượng ra bày trẻ ríu rít ngơ trước ngơ sau, trên con đường trải đầy ánh trăng, tay trong tay vừa đi vừa nhảy nhót hay ngồi thụp xuống cất giọng cười lanh lảnh gịn tan như pha lê:

Rung răng rung rẻ
Dắt trẻ đi chơi
Đến cửa nhà trời
Lạy cậu lạy mợ
Cho cháu về quê
Cho dê đi học
Cho cóc ở nhà
Cho gà bới bếp!
X́ xà x́ xụp
Ngồi thụp xuống đây!

(c̣n nữa)

Last Updated ( Friday, 10 December 2010 16:53 )

hoangthymaithao
12-19-2010, 05:52 PM
http://i834.photobucket.com/albums/zz268/vhp2010/triM.jpg
trái Mơ xanh

Rủ nhau xuống bể ṃ cua
Đem về nấu quả mơ chua trên rừng
Em ơi chua ngọt đă từng
Non xanh nước bạc ta đừng quên nhau.

hoangthymaithao
01-04-2011, 04:22 AM
BÀ CHÚA CHIÊM SƠN


NGUYỄN PHƯỚC TƯƠNG

Cuộc đời của cô gái trồng dâu nuôi tằm dệt lụa ở làng Chiêm Sơn, huyện Diên Phước thuộc dinh Quảng Nam bên bờ sông Thu Bồn có một giai thoại đẹp đẽ đi vào sử sách và truyền thuyết dân gian địa phương. “Đại Nam Liệt Truyện Tiền Biên” đă viết rằng: “Năm mười lăm tuổi (Bà) hái dâu bên băi trông trăng mà hát. Bấy giờ Hy Tông Hoàng Đế ta (tức Chúa Săi Nguyễn Phúc Nguyên) đi chơi Quảng Nam, Thần Tông Hoàng Đế ta (tức Chúa Thượng Nguyễn Phúc Lan) theo đi hộ giá. Đêm đáp thuyền trăng đi chơi. Đỗ thuyền ở Điện Châu (bây giờ là An Phú Tây) câu cá, nghe tiếng hát lấy làm lạ, sai người đến hỏi biết là con gái họ Đoàn, cho tiến vào hầu Chúa ở tiềm để, được yêu chiều lắm”
Theo truyền thuyết dân gian, vào một đêm trăng đẹp (1615), Thụy Quốc Công Nguyễn Phúc Nguyên lúc đó đang trấn giữ Quảng Nam dinh và con trai là Công Tử Nguyễn Phúc Lan dạo thuyền trên sông Thu Bồn. Khi thuyền rồng ngược ḍng sông từ Thanh Chiêm đến địa phận làng Chiêm Sơn, thuộc huyện Diên Phước, nổi tiếng trồng dâu nuôi tằm dệt lụa th́ một giọng hát trong ngần và quyến rũ của một thôn nữ từ một nương dâu bên bờ sông vọng tới theo làn gió mát. Cô gái hát rằng:

Thiếp nghe chúa ngự thuyền rồng
Thiếp thương phận thiếp má hồng nắng mưa...

Một lát sau cũng giọng hát đó lại cất lên uyển chuyển, mượt mà nghe da diết làm sao:

Thuyền rồng Chúa ngự nơi đâu
Thiếp thương phận thiếp hái dâu một ḿnh...!

Giọng hát và lời ca của cô thôn nữ trong đêm trăng thanh vắng đă làm rung động tâm hồn và xao xuyến trái tim của chàng công tử đa cảm Nguyễn Phúc Lan. Được phép thân phụ, công tử cho thuyền rồng men theo triền sông đi t́m tiếng hát. Khi lên bờ, bên bóng dâu xanh thắm nhuộm ánh trăng vàng, chàng trai vương bá đem ḷng say mê vẻ đẹp yêu kiều của một thục nữ vừa độ trăng tṛn rất mực đôn hậu là Đoàn Thị Ngọc Phi, con gái út của một hào trưởng nổi tiếng, chuyên làm nghề tầm tang, quê ở làng Chiêm Sơn, huyện Diên Phước là Đoàn Công Nhạn. H́nh như cuộc kỳ ngộ này đă được sắp xếp từ trước bởi bàn tay của Ông Tơ Bà Nguyệt se duyên. (l)

"Đại Nam Liệt Truyện Tiền Biên" đă viết về người thục nữ đó rằng “Bà là con gái thứ ba của Thạch Quận Công Đoàn Nhạn. Mẹ là phu nhân Vơ Thị. Bà là người minh mẫn thông sáng… sáng thơm, tư mỵ, phép tốt trinh thuần”.

Công Tử Nguyễn Phúc Lan và cô thôn nữ Đoàn Thị Ngọc Phi đă bén duyên vào tuổi mười lăm (1615) và sau đó hai năm, họ cùng nhau kết duyên trăm năm vào tuổi mười bảy (1617) và đă sống với nhau ở dinh trấn Thanh Chiêm cùng với thân phụ là Thụy Quốc Công Nguyễn Phúc Nguyên và thân mẫu là phu nhân Nguyễn Thị Giai (tức là Mạc Thị Giai được mang họ Chúa Nguyễn).

Sau khi Nhân Lộc Hầu Nguyễn Phúc Lan trở thành Quận Công trấn giữ Quảng Nam Dinh, Bà Đoàn Thị Ngọc Phi đă hết ḷng ủng hộ, khuyến khích nhân dân các phủ Điện Bàn, Thăng Hoa phát triển nghề trồng dâu, nuôi tằm, ươm tơ, dệt lụa, nhờ vậy mà nghề tầm tang ở Đàng Trong được mở mang, đă mở mang vào thời kỳ đó và đă sản xuất được nhiều mặt hàng tơ lụa nổi tiếng như đoạn, lănh, gấm, vóc, trườu, sa để bán trong nội địa và xuất khẩu ra nước ngoài qua thương cảng Hội An. Bởi vậy, Lê Quư Đôn đă viết trong "Phủ Biên Tạp Lục" rằng “Người Phủ Thăng, Phủ Điện dệt được các loại the, đoạn, lụa, là hoa ḥe chẳng kém ǵ Quảng Đông”.

Cũng từ đó, cảng thị Hội An dưới thời Chúa Nguyễn đă trở thành một trung tâm trung chuyển của con đường tơ lụa quốc tế xuyên đại dương trong thế kỷ XVI - XVII nối liền Tây Âu và Viễn Đông. Và Bà Đoàn Thị Ngọc Phi trở thành "Bà Chúa Tầm Tang" ở Đàng Trong. Các cô gái trồng dâu nuôi tằm dệt lụa ở quê hương Bà đă từng hát:

Chiêm Sơn là, lụa mỹ miều
Mai vang tiếng cửi, chiều chiều tơ giăng...



Nương dâu xanh thắm quê ḿnh
Nắng lên G̣ Nổi đượm t́nh thiết tha
Con tằm kéo kén cho ta
Tháng ngày cần mẫn làm ra lụa đời...

Đến năm 1635, Chúa Săi Nguyễn Phúc Nguyên qua đời, Nhân Lộc Hầu Nguyễn Phúc Lan trở thành Chúa Thượng và sống ở Thuận Hóa. Chúa thượng đă dời Phủ Chúa từ làng Phước Yên ở huyện Quảng Điền về làng Kim Long thuộc Phú Xuân. Bà Đoàn Thị Ngọc Phi được Chúa Thượng phong tước là Đoàn Quư Phi và thân phụ Đoàn Công Nhạn của bà được phong tước là Thạch Quận Công. Đoàn Quư Phi trong thời kỳ này cũng khuyến khích nghề tầm tang ở Phú Xuân phát triển.

Đoàn Quư Phi sinh hạ được ba hoàng tử, trong đó các hoàng tử Nguyễn Phúc Vơ và Nguyễn Phúc Quỳnh đều mất sớm, hoàng tử Nguyễn Phúc Tần là con trai thứ hai, trở thành thế tử. Công chúa út là Nguyễn Phúc Ngọc Dung.

Thế tử Nguyễn Phúc Tần ngay thời c̣n là Lễ Dũng Hầu, quan quản lảnh Quảng Nam dinh, đă tỏ ra là một con người am hiểu binh pháp, vũ dũng và giỏi chiến trận, đă có công lớn trong việc đánh tan hạm đội Hà Lan dưới sự chỉ huy của thuyền trưởng Peter Back âm mưu đánh phá cảng thị Hội An vào năm 1644. Về sau Thế Tử Nguyễn Phúc Tần trở thành Chúa Hiền năm...

Đoàn Quư Phi mất ngày 17 tháng 5 năm Tân Sửu, tức ngày 12 tháng 7 năm 1661, hưởng thọ 60 tuổi (3,4). Sau khi Bà qua đời, Chúa Hiền đă đưa mẫu hậu về an táng tại quê hương Bà. Lăng mộ của Bà đặt bên cạnh lăng mộ của nhạc mẫu là Hoàng hậu Nguyễn Thị Giai.

Theo "Đại Nam Liệt Truyện Tiền Biên" Đoàn Quư Phi mất năm Tân Sửu (1661 Lê Vĩnh Thọ thứ tư) mùa hạ tháng 5, táng Vĩnh Diện (ở Thượng Cốc, Hùng Cương thuộc xă Chiêm Sơn, tỉnh Quảng Nam).

Trong "Đại Nam Nhất Thống Chí" quyển 5 viết về Quảng Nam, đă ghi lại vị trí tọa lạc của các Lăng mộ của hai Hoàng Hậu Nguyễn Thị Giai và Đoàn Thị Ngọc Phi như sau: “Lăng Vĩnh Diễn phía Nam núi Hàm Long, xă Chiêm Sơn, huyện Duy Xuyên. Đây là Lăng của Hiếu Văn Hoàng Hậu Nguyễn Thị. Lăng Vĩnh Diện ở phía Tây G̣ Hùng, thôn Thượng Cốc, xă Chiêm Sơn. Đây là Lăng của Hiếu Chiêu Hoàng Hậu Đoàn Thị Ngọc Phi”.
Ngược ḍng lịch sử, chúng tôi đi t́m dấu tích cổ xưa của nơi an nghỉ cuối cùng của hai Hoàng Hậu đó. Đến nay, tại làng Chiêm Sơn thuộc xă Duy Trinh, huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam vẫn c̣n di tích của hai lăng mộ đó với mức độ hư hại khác nhau.

Lăng Vĩnh Diện, mộ phần của Hiếu Chiêu Hoàng Hậu Đoàn Thị Ngọc Phi (1601-1661) mà nhân dân địa phương quen gọi là Lăng Trên, tọa lạc trên một khu đất cao, gọi là G̣ Hùng thuộc làng Chiêm Sơn, xă Duy Trinh, tỉnh Quảng Nam ngày nay. Lăng được xây dựng vào năm 1661 và toàn bộ khu vực Lăng rộng 4 sào 2 thước 7 tấc, ứng với lô đất số hiệu 2583 theo địa bộ xă Duy Trinh (2). Lăng này được đặt tên là Vĩnh Diện vào năm Gia Long thứ 5 (1806) và được tu bổ vào năm Gia Long thứ 13 (1814).

Trong địa phận Lăng Trên c̣n có mộ của công chúa út của Hiếu Chiêu Hoàng Hậu. Theo hồi cố của bà con tộc Đoàn xă Duy Trinh, công chúa này có nhiều tên gọi khác nhau, nhưng thường được gọi là công chúa Nguyễn Phúc Ngọc Dung, có dị tật bẩm sinh. Lúc sinh thời, công chúa đă hạ giá với Chưởng Cơ của triều đ́nh tên là Minh và đă mất sớm(2).
Phần mộ của công chúa Nguyễn Phúc Ngọc Dung không rộng lắm và ứng với lô đất số hiệu 698 của địa bộ xă Duy Trinh (2).

Lăng Vịnh Diện được bao bọc bởi hai lớp thành bảo vệ cao khoảng 1 mét, dày khoảng 0,8 mét: bên ngoài là bảo thành ngoại và bên trong là bảo hành nội, phía sau ở chính giữa các thành này đều có bia tẩm. Trên các bia tẩm này không thấy ghi một chữ Hán nào mà chỉ có phù điêu h́nh mây cuộn, kỳ lân trông rất ngoạn mục. Các thành bảo vệ đều bị hư hại nặng, chỉ c̣n vài đoạn ngắn nhưng cái bia tẩm vẫn c̣n. Ở giữa Lăng là mộ chí của Hiếu Chiêu Hoàng Hậu mà đến nay vẫn c̣n nguyên vẹn theo kiểu kiến trúc cổ xưa.

C̣n Lăng Vĩnh Diễn là mộ phần của Hiếu Văn Hoàng Hậu Nguyễn Thị Giai (1578-1630) được nhân dân địa phương gọi là Lăng Dưới, cũng tọa lạc trên một khu đất cao gọi là G̣ Hàm Rồng cũng thuộc làng Chiêm Sơn, xă Duy Trinh, cách Lăng Vĩnh Diện, Lăng Trên hơn nửa cây số. Khu vực Lăng này, ngày xưa rộng gấp đôi Lăng Trên, có diện tích 8 mẫu 4 sào 5 tấc, ứng với lô đất số hiệu 1220 theo địa bộ xă Duy Trinh (2). Niên đại xây dựng Lăng này có lẽ vào cuối năm 1630, v́ Hoàng Hậu mất vào ngày mồng 9 tháng 11 năm Canh Ngọ, tức ngày 12-12-1630 tại dinh trấn Thanh Chiêm(5).

Theo "Đại Nam Nhất Thống Chí" th́ Lăng Vĩnh Diễn cũng được đặt tên vào năm 1806 và tu bổ vào năm 1814 cùng một lúc với Lăng Vinh Diện.
Trước đây, bên ngoài khu vực của hai Lăng, Chúa Nguyễn c̣n xây dựng một công tŕnh kiến trúc gọi là Chùa Vua là nơi thờ phụng hai Hoàng Hậu nói trên có vườn cây bao quanh gọi là Vườn Chùa mà nay không c̣n nữa. Ở đây, trước kia luôn luôn có Đội Cận Vệ Hoàng Gia, gồm khoảng hai mươi người, thường là con cháu họ Đoàn, có nhiệm vụ bảo vệ các khu Lăng và lo việc thờ cúng.

Diện tích Vườn Chùa khá rộng, đất bên trong thành bao bọc chùa rộng 3 sào 0 thước 9 tấc, đất bên ngoài thành là vườn trồng hoa cảnh, cây ăn trái rộng 5 sào 4 thước 4 tấc ứng với lô đất số hiệu 2281 theo địa bộ xă Duy Trinh.

Ngoài ra, Chúa Săi Nguyễn Phúc Nguyên và Chúa Thượng Nguyễn Phúc Lan c̣n cấp thêm tư điền làm hương hỏa cho hai Hoàng Hậu họ Mạc và họ Đoàn ở địa phương để con cháu chăm lo hương khói cho hai bà Tư Điền mà Chúa Nguyễn đă cấp trước đây cho Hoàng Hậu Nguyễn Thị Giai là 4 mẫu 8 sào 12 thước thuộc làng Kiệu Đông và làng Kiệu Tây, huyện Duy Xuyên và 2 mẫu thuộc làng Hương Quế huyện Quế Sơn. Tư Điền mà Chúa
Nguyễn đă cấp trước đây cho Hoàng Hậu Đoàn Thị Ngọc Phi là 4 mẫu 3 sào 12 thước thuộc làng Phú Trang, huyện Quế Sơn(2).

Theo “Đại Nam Liệt Truyện Tiền Biên", đến năm 1744, Thế Tôn Hiên Vơ Hoàng Đế, tức Vơ Vương Nguyễn Phúc Khoát đă truy dâng Bà Đoàn Quư Phi là Trinh Thục Từ Tỉnh Huệ Phi và sau đó thêm hai chữ Mẫu Duệ.

Vua Gia Long, sau khi thống nhất đất nước và lên ngôi, năm 1806 lại truy tôn Bà Là Trinh Thục Từ Tỉnh Mẫu Duệ Kính Hiếu Chiêu Hoàng Hậu và khắc tên lên Kim Sách của Hoàng Tộc và tôn hiệu này được thờ chung với Hiếu Chiêu Hoàng Đế (tức Chúa Thượng Nguyễn Phúc Lan) vào gian thứ nhất bên phải của Thái Miếu ở Huế.

Để tỏ ḷng tường niệm công đức của bà Chúa Tầm Tang, vua Thành Thái (1888-1907) năm thứ 18 (1905) đă ban cho tộc Đoàn 1.000 lạng bạc để dựng Nhà Thờ Hiếu Chiêu Hoàng Hậu tại thôn Đông Khuông, xă Điện Châu, tức Đông Yên Châu, huyện Điện Bàn. Về sau, sông Thu Bồn chuyển di cắt Đông Yến Châu làm đôi thành Đông Yên Đông thuộc huyện Điện Bàn và Đông Yên Tây thuộc huyện Duy Xuyên.

Hiện nay, nhà thờ Hiếu Chiêu Hoàng Hậu nằm trên đất Đông Yên Đông, nay là xă Điện Phương, cách Cầu Mống về phía Bắc bên phải chừng 100 mét. Hàng năm vào ngày 17-5 Âm lịch tộc Đoàn kết hợp với tộc Nguyễn Phước tổ chức kỵ giỗ bà tại đây và tại nhà thờ xă Duy Trinh, huyện Duy Xuyên.

Sau tháng 8, 1945, các khu Lăng Mộ Vĩnh Diện và Vinh Diễn vẫn c̣n nguyên vẹn, nhưng không c̣n được bảo vệ như trước nữa và bị lăng quên. Trải qua ba mươi năm chiến tranh, nhân dân đă đào mộ t́m vàng, phá thành lăng để lấy gạch đá làm vật liệu xây dựng, biến khu Lăng thành nơi trồng cây lấy gỗ... làm biến dạng môi trường ở đây.

Vào tháng 2-3 năm 1992, bà con tộc Đoàn xă Duy Trinh đă kết hợp với bà con Nguyễn Phước tộc Quảng Nam - Đà Nẵng đốn hạ cây cối trồng bừa băi, thu dọn vệ sinh khu Lăng Vĩnh Diện và Lăng Vĩnh Diện, đồng thời bỏ ra kinh phí trùng tu lại mộ chí của Hoàng Hậu Đoàn Thị Ngọc Phi, nhưng do thiếu tài chính, các thành bảo vệ xung quanh cũng chưa phục chế lại được như cũ.

Có lẽ công đức đối với nghề trồng dâu dệt lụa trên quê hương cũng như thiên diễm t́nh một thời vang dội của Bà Chúa Tầm Tang c̣n lưu lại cho măi đến tận nay mà các cô gái trên quê hương bà vẫn hát:

Thuyền rồng mái đẩy đi đâu
Để cho em đứng hái dâu một ḿnh...!

Chúng tôi cho rằng các Lăng Vĩnh Diện và Lăng Vĩnh Diễn là những di tích văn hóa, lịch sử cổ xưa nhất của thời Chúa Nguyễn c̣n tồn tại cho đến nay, có giá trị nhiều mặt về lịch sử, văn hóa, khảo cổ, kiến trúc... có tầm cỡ quốc gia với chiều dày lịch sử 400 năm cần được phục chế, trùng tu, tôn tạo toàn bộ.

* Tài liệu dẫn và chú giải:

1- Có tác giả nêu lên một giả thuyết trong đó nói rằng Đoàn Quư Phi là một cô gái tài hoa nhưng xấu xí “rỗ chằng rỗ chịt, rỗ chín mười tầng” là không đúng sự thật và lẫn lộn với chuyện “Chung Vô Diệm” của Trung Hoa nên cần loại bỏ.

2- Gia phả tộc đoàn, xă Duy Trinh, huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam.

3- Có tác gia ở huyện Duy Xuyên đă viết không đúng rằng Đoàn Quư Phi chỉ hưởng thọ được 29 tuổi.

4- Hội Đồng Trị Sự Nguyễn Phước Tộc. Nguyễn Phước Tộc Thế Phả 1995.

5- Toc Mạc hậu duệ của Hoàng Hậu Mạc Thị Giai dưới thời Tây Sơn đă đổi thành tộc Nguyễn Tường và hiện nay sống tại xă Duy Sơn, huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam.

hoangthymaithao
01-21-2011, 09:12 AM
Vắng Như Chùa Bà Đanh

Chùa Bà Đanh là tên gọi Nôm của chùa Châu Lâm. Chùa này được cất lên cùng với viện Châu Lâm vào thời vua Lê Thánh Tông (1460-1497) ở làng Thụy Chương, Hà Nộị V́ để tránh húy miếu vua Thiệu Trị nên sau này Thụy Chương phải đổi thành Thụy Khuệ Vào thời đó, viện Châu Lâm được dùng làm chỗ ở cho những người Chiêm Thành được đưa về sau các cuộc chiến tranh, c̣n chùa Châu Lâm là nơi dành cho họ cúng lễ (v́ hầu hết những người này đều theo đạo Phật).
Sau khi người Pháp chiếm đóng Hà Nội, họ đă chiếm khu vực đất này để lập trường Trung học bảo hộ (1907) - nay là trụ sở của trường trung học Chu Văn An, v́ thế chùa Châu Lâm phải dời về phía Tây Nam, ở cuối làng và đổi sang tên mới là chùa Phúc Lâm.
Dấu tích của chùa Phúc Lâm hiện vẫn c̣n giữ lại được tấm bia ghi rơ: Bà Đanh tự (chùa Bà Đanh). Theo tục truyền, Bà Đanh là một người đàn bà đă có công dựng lên chùa này, v́ thế mà ngôi chùa mang tên bà. Từ khi viện Châu Lâm bị băi bỏ, số người đến lễ bái chùa này ngày một ít đị Chính v́ thế mà không khí ngôi chùa này ngày càng trở nên vắng vẻ. Trong bài "Tụng Tây Hồ phú" của Nguyễn Huy Lượng có ghi lại cảnh vắng của chùa này:

Dấu bố cái rêu in nền phủ
Cảnh Bà Đanh hóa khép cửa chùa .

Cảnh vắng vẻ, thiếu người đến lễ bái của chùa Bà Đanh dần dần đă trở thành một h́nh ảnh để so sánh với bất cứ một cảnh vắng vẻ nàọ "Vắng như chùa Bà Đanh" là một sự vắng vẻ yên tĩnh gợi nên vẻ lạnh lẽo, cô quạnh, thiếu hơi ấm của con người. Ca dao Hà Nội có câu:

C̣n duyên kẻ đón người đưa
Hết duyên vắng ngắt như chùa Bà Đanh.


*s/t Net

hoangthymaithao
01-26-2011, 11:50 AM
Hoa tím lục b́nh

http://e-cadao.com/tieuluan/lucbinh-2.gif
Thân em như đám lục b́nh
Lênh đênh theo những ḍng t́nh ngược xuôi...

Hoa tím lục b́nh, hoa tím bằng lăng, hoa sim tím, hoa mua mầu bông phấn, phượng tím đồi Blao,... tất cả đem lại cho ta những nguồn cảm hứng chân chất kỳ lạ. Ngày xưa, c̣n quần đùi áo thưa. Cơm ngày hai buổi sớm trưa đến trường. Xong trường, hay những ngày trốn học, tôi thường lặn lội đi t́m lục b́nh con, hay bèo tây để về ép cá lia thia đẻ. Những độ đá cá lia thia đă dẩn dắt chúng tôi vào một khung trời ngây dại, ḥa ḿnh với thiên nhiên. Hấp thụ khí âm dương, lớn dần theo miếng cơm canh cá. Mầu tím hoa lục b́nh tô mầu cho những cuộc t́nh thôn dă, b́nh dị. Có những lúc chèo xuồng lấy mái dầm quơ một đám hoa lục b́nh làm quà cho người yêu. Những cây lục b́nh thân ph́nh to mà rỗng tuếch, nằm chen chúc nhau trong ṿng tay đầy hoa tím ngát. Có những lúc măi mê chờ đợi người yêu, ngồi bên ao bóp thân lục b́nh lép bép.

Ḥ ơ, Lục b́nh bát giác cắm các thứ bông hường.
Cha mẹ em kén rể..(ơ)
Ḥ ơ... Cha mẹ em kén rể mà lỡ anh tầm thường, biết được hay không.
Ḥ ơ nói vậy mà chơi.
Chớ gió thổ hiu hiu, lục b́nh trôi riu ríu
Anh đừng bận bịu, bớ điệu chung t́nh.
Con nhạn bay cao khó bắn..(ơ)
Ḥ ơ... Con nhạn bay cao khó bắn, con cá ở ao quỳnh khó câu... ơ

Có những lúc gái quê, mê chàng chân lấm ca rằng:

Nước chảy liu riu, lục b́nh trôi riu ríu.
Anh ở một ḿnh, khi đau yếu ai nuôi ?

Rồi lúc cô nàng trách:

Lục b́nh bông trắng.
Điên điển bông vàng.
Điên điển mọc ở đất làng.
Lục b́nh trôi nổi như chàng hát rong...

Cây lục b́nh có tên khoa học là Eichhornia crassipes(water hyacynth,jacinthe d'eau,jacinto-aquatico)thuộc họ Pontederiacea, mọc ở ao hồ,sông rạch.phân bố trong vùng nhiệt đới ở Châu Á,Châu Mỹ.Vùng Nam Mỹ có thêm giống Ẹ azureăSw.)
Lục b́nh hôm nay ở VN được vớt đại trà, phơi khô làm ra những sản phẩm thủ công tiêu thụ trong nước hoặc xuất cảng. Bên cạnh đó những nông dân nghèo vẫn dùng nó bầm ra để nuôi vịt, nuôi heo.. Ở những vùng xa, học tṛ nghèo vẫn bám vào đám lục b́nh trôi để qua sông đi học.
Ngồi bên bờ sông Tiền, sông Hậu... nh́n những đám lục b́nh trôi trên nước sông phù sa mầu vàng sắt, nghĩ tới thân phận ḿnh... như đám lục b́nh, nước lớn trôi lên, nước ṛng trôi xuống. Một nỗi buồn viễn xứ mênh mang...
Về chiều, không c̣n luyến tiếc ḍng sông Seine, mê mẫn với Volga, là đà trên ḍng Mississippi, tôi sẽ về bên ḍng Sông Cửu... để nh́n lục b́nh trôi, nh́n hoa tím nhạt của lục b́nh đi dần vào màu tím thẩm của dĩ văng, bên cạnh những người yêu và những người bạn chân t́nh.

Nguyễn Quư Định

Kiến Hôi
01-26-2011, 03:39 PM
"Lục b́nh hôm nay ở VN được vớt đại trà, phơi khô làm ra những sản phẩm thủ công tiêu thụ trong nước hoặc xuất cảng."


Xin gửi tác giả Nguyễn Quư Định,

Phải chi đừng xài chữ "đại trà" khó hiểu mà chỉ dùng một vài chữ giản dị như:
Lục b́nh hôm nay ở VN được vớt một cách ào ạt ...:smile:

th́ bài viết này hay cách mấy.

Tuy nhiên khi tác giả thương tiếc cho lục b́nh th́ những người đi ghe nhỏ có gắn máy bên trong lại rất sợ lục b́nh, v́ lục b́nh cuốn vào chân vịt làm tắt máy hoặc làm ghe chậm lại, phải nhảy ùm xuống sông tháo lục b́nh ra.
Điều khổ sở là có nhiều gịng sông có quá nhiều lục b́nh; thằng nhỏ nhảy xuống rồi leo lên rồi nhảy xuống thiệt là tội nghiệp cho thằng nhỏ cái quần xà lỏn lúc nào cũng ướt nhẹp :cuoilan:

hoangthymaithao
01-27-2011, 10:12 AM
Tại sao lại cúng Táo Quân vào ngày 23 tháng Chạp?

Thế gian một vợ một chồng
Chẳng như vua bếp hai ông một bà
(ca dao)

Xưa có hai vợ chồng son, nhà nghèo sống bằng nghề làm mướn. Một năm trời làm đói kém khắp nơi, người chồng từ biệt vợ đi kiếm ăn nơi khác, hẹn sau 3 năm không về th́ vợ đi lấy chồng khác.

Người vợ ở nhà may mắn được một nhà giàu cưu mang nên thoát khỏi trận đói. 3 năm qua chồng nàng vẫn không về. Vợ người chủ qua đời. Sau 3 năm đoạn tang, nàng chờ thêm 1 năm nữa mới nối duyên với ông chủ tốt bụng. Được 3 tháng th́ chồng cũ trở về, t́m đến an ủi và từ biệt. Người vợ nài nỉ và người chồng mới xin trả lại vợ, nhưng chàng nhất quyết ra đi. Rồi chàng treo cổ tự vẫn. Người vợ cảm thấy v́ ḿnh mà chồng cũ chết nên trầm ḿnh xuống ao. Người chồng mới cũng tự dằn vặt ḿnh nên uống thuốc độc tự tử.

Chuyện t́nh của họ làm Diêm vương cảm động, ngài đă hóa phép cho họ thành ba ông đầu rau để ngọn lửa luôn đốt nóng t́nh yêu và họ được sống gần nhau măi măi. Đồng thời phong cho 3 người chức Táo Quân trông nom bếp núc của từng nhà trên trần thế… coi sóc cuộc sống. Và cứ 23 tháng Chạp hàng năm th́ cưỡi cá chép lên thiên đ́nh bẩm tấu với Ngọc Hoàng mọi việc tốt xấu của gia chủ. Từ đó người dân Việt Nam lấy ngày này làm Tết Táo Quân.

(Theo Truyện cổ tích Việt Nam
do tác giả Nguyễn Đổng Chi biên soạn)

THANHLOAN
01-31-2011, 10:42 PM
Thanh Loan thân mến chúc chị Thảo cùng gia đ́nh một năm mới nhiều Hạnh Phúc,sức khỏe dồi dào ,vạn sự như ư :heartbeat::heartbeat:




http://i886.photobucket.com/albums/ac65/chimtimmai/tranh%20VN/xuan16.jpg

hoangthymaithao
02-03-2011, 12:22 PM
"Mèo" Trong Ca Dao Việt

Thứ tư, 02 Tháng 2 2011 07:56


http://cadao.org/images/meotanmao.jpg

* Lê Ngọc Châu (Nam Đức) (bản hiệu đính 2011)

Mỗi năm lịch của người Việt đều gắn liền với một con giáp. Đi theo thứ tự từ năm Tư đến năm Hợi rồi ṿng trở lại. Canh Dần 2010 vẫy tay giă từ. Năm mới Tân Măo (hay Tân Mẹo) 2011, năm con Mèo lại về với chúng ta.

Khi nói đến Mèo, hầu hết người Việt thường lại nhớ đến bốn câu ca dao bất hủ sau đây:

“Con mèo mà trèo cây cau
Hỏi thăm chú chuột đi đâu vắng nhà
Chú chuột đi chợ Đồng xa
Mua mắm mua muối giỗ cha con mèo”.

Mèo với Chuột là hai con vật mà nói chung ai mà cũng biết. Riêng miền quê Việt Nam th́ chẳng ai lạ ǵ "chuột" v́ chúng hay phá hoại mùa màng, ngủ cốc lúa gạo, bắp khoai, đậu. Ở thành phố th́ ít thấy chuột v́ thực phẩm được lưu trữ, cất giấu kỹ. Để chống lại chuột người ta nuôi mèo. Mèo và chuột xét về bản chất th́ hai con vật này đối kháng nhau. Chuột thân phận nhỏ bé nên luôn là miếng mồi ngon cho mèo, v́ thế nơi nào có mèo, chuột khó sống.

Với chuột, mèo là kẻ tử thù, chẳng thân thiết ǵ cả. Vậy th́ tại sao chuột lại tận tâm với ông tổ nhà mèo như ngụ ư bốn câu ca dao trên?.

Tương truyền rằng có một chú chuột bị con mèo vớ được, tính ăn thịt. Chuột sợ quá bằng năn nỉ ỉ ôi, lạy mèo tha cho rồi chuột ta sẽ mua "cao lương mỹ vị" như tôm, thịt ...làm giỗ mời mèo hôm sau tới ăn. Nghe thế, mèo v́ thèm các món ăn ngon chuột nói trong khi chuột nhỏ xíu, thịt đâu có bao nhiêu nên tha chết cho. Y như hẹn, mèo đến nơi trèo lên cây cau réo gọi nhưng nào thấy chuột, bàn cổ để cho mèo ăn cũng chẳng thấy. Lúc đó mèo ta mới biết ḿnh bị chú chuột kia đánh lừa. Chỉ biết tức giận, không được ǵ hết, ngay cả miếng thịt chuột!

Qua những câu ca dao trên chúng ta nhận ra điều kỳ lạ ở đây là chuột lo đi chợ mua đồ ăn để giỗ cha mèo, kẻ thù truyền kiếp luôn hại giống ṇi nhà chuột. Tuy nhiên khi mèo đến chơi nhà chuột, leo lên cây cau nhưng không gặp được chuột. Câu chuyện ngắn ngủi nghe phải bật cười bởi sự phi lư của nó và sau đó ngẫm nghĩ kỹ th́ thấy đau đớn, nhức nhối tâm can v́ "bị lừa"!. Ngoài ra, 4 câu ca dao c̣n hàm chứa sự thâm thúy khác mà ai cũng có thể hiểu là muốn giữ được mạng sống th́ chuột chỉ c̣n cách làm cái việc chẳng đặng đừng với kẻ mạnh hơn ḿnh "năn nỉ tha mạng". Đau đớn là thế. Thực ra th́ ai cũng hiểu chẳng có chuyện mèo chuột ǵ cả ở đây mà chỉ là "chuyện con người ". Trong cuộc sống bên ngoài xă hội cũng thế "mạnh được yếu thua" v́ vậy con người đôi khi phải "hạ ḿnh, quỳ lụy" để giữ mạng sống. Và những câu ca dao ở trên là "sự mách nước rất khéo léo" cho kẻ yếu ứng xử với kẻ mạnh!

Công tâm mà nói, tiếng Việt ḿnh thâm thúy thật! Ca dao Việt lại càng không thể nào chê được, chẳng những bởi "sự thâm thúy, trừu tượng" thôi mà c̣n có cả sự trêu, giễu trong đó.

Để chào đón Năm Mới Tân Măo 2011, năm con "Mèo", tôi sưu tầm thêm những câu ca dao khác liên quan đến "Mèo" và trân trọng giới thiệu cùng quư độc giả qua bài phóng tác:

"Mèo Trong Ca Dao Việt".

Không những chỉ ám chỉ loại mèo vô dụng, câu ca dao sau đây c̣n đề cập đến loại người chưa học làm điều tốt mà đă nhiễm phải thói xấu, muốn nói đến những người vô tích sự:

Chưa học bắt chuột đă học ỉa bếp

Miền Trung, Nghệ Tĩnh có câu:

Chua như *** mèo

ám chỉ sự nói năng của ai đó với giọng điệu gây khó chịu cho người khác, rằng cái "mụ nớ, thằng đó" ăn nói chua như "kít mèo", v́ *** mèo mùi chua khắm rất khó chịu.

Cho nên chúng ta thường nghe "Giấu như mèo giấu ***" là vậy! Cũng c̣n có ư khác chê những người giấu diếm vật ǵ, điều ǵ đó quá ư là kỹ.

Hoặc

Có ăn nhạt mới thương tới mèo

ngụ ư muốn diễn tả cảnh ai từng trải qua sự cực khổ mới biết thương kẻ khốn cùng.

Đă yếu đuối, khốn khổ nếu lại gặp thêm hoạn nạn, th́ người ta đành ngậm ngùi than thở:

mèo què phải trận chó đ̣i

Gặp ai quá đanh đá, ghê gớm không từ một thủ đoạn nào. Khuyên người khác đừng có trêu mệ nớ, là " mổ mèo lấy cá " chứ không phải vừa đâu th́ có những câu:

Mẹ chồng đối với nàng dâu
Như mèo với chuột có thương nhau bao gị.

Thật chẳng biết đâu mà ṃ. Đàn ông nếu ăn như mèo th́ bị chê bai, cho là tật xấu. Nhưng phụ nữ ăn uống từ tốn, ăn từng miếng một, uống từng hớp nhỏ được khen là có nết na:

Ăn nhỏ nhẻ như mèo

Nói đến kẻ hà tiện, tính bủn xỉn th́ có câu:

Buộc cổ mèo, treo cổ chó

Hoặc muốn bảo rằng mỗi người có sở trường riêng, chưa chắc ai đă hơn ai, tế nhị có thể nói:

Chẳng biết mèo nào cắn mỉu nào

(Mỉu: do tiếng miu là mèo đọc chệch ra)

Để diễn đạt ai cũng có nghề nghiệp chuyên môn của ḿnh, cho nên đừng tị nạnh nhau làm chi và chuyện ai nấy lo, đừng can thiệp vào việc người khác th́ thiên hạ thường buông lời:

Chó giữ nhà, mèo bắt chuột

Đặc biệt để phê phán kẻ không nh́n thấy lỗi nơi ḿnh, mà chỉ t́m thấy lỗi ở người khác:

Chó chê mèo lắm lông

Dùng để chê những kẻ đần độn, ngu ngốc:

Chó gio, mèo mù

hay để chê bai hạng người không có tài năng:

Chó khô, mèo lạc

Để ám chỉ những vật vô giá trị, bị bỏ lăn lóc chẳng ai thèm lấy:

Chó tha đi, mèo tha lại

Người ta thường treo thức ăn trên cao để tránh chó ăn và đậy kỹ để không cho mèo lục đớp. Câu ca dao sau đây ngụ ư cảnh giác chúng ta cẩn thận cửa nẻo đề pḥng trộm cuỗm mất:

Chó treo, mèo đậy

Muốn gián tiếp khuyên lơn người khác hăy thận trọng, đừng làm ơn cho kẻ có thể hại ḿnh:

Chuột cắn dây buộc mèo

Như chúng ta biết, mèo thấy chuột là vồ lấy ăn thịt ngay. Để cảnh giác ai đó không nên làm một việc liều lĩnh, nguy hiểm th́ ca dao ḿnh cũng có câu:

Chuột gặm chân mèo

Hay tỏ vẻ tức giận người khác bằng cách chửi mắng vu vơ. Bực ḿnh họ nhưng lại trút bực tức qua những con vật nuôi trong nhà. (giận cá, chém thớt) chẳng hạn:

Chửi chó mắng mèo
Đá mèo, quèo chó

Nhằm nói đến sự đau khổ càng lớn của những ai mất quyền lợi ở địa vị cao, nhiều hơn nếu so sánh sự đau khổ với người ở địa vị thấp:

Hùm mất hươu hơn mèo mất thịt

Hoặc để ám chỉ những kẻ cố t́nh che giấu tội lỗi bằng cách im lặng tuyệt đối, hay đề cập đến những kẻ hễ thấy lợi là giấu giếm không cho ai hay biết hưởng một ḿnh:

Im ỉm như mèo ăn vụng

Trong trường hợp mỉa mai, đánh giá cho việc sử dụng người trong một công việc không đúng với sở trường, khả năng của người đó:

Không có chó bắt mèo ăn ***

Ám chỉ ai nói dai, thường nói đi nói lại để nài xin:

Lèo nhèo như mèo vật đống rơm

Ngụ ư khuyên ai trước khi làm việc ǵ phải tự lượng sức ḿnh, cố gắng cho lắm cũng vô ích:

Mèo cào không xẻ vách vôi

Muốn khen người trẻ tuổi tài cao, làm được việc mà nhiều người lớn làm không nổi:

Mèo con bắt chuột cống

Muốn nói người già nhờ sống lâu nên đúc kết được nhiều kinh nghiệm quư báu. Nghĩa khác là mới đầu làm việc ǵ có vẻ rụt rè nhút nhát, nhưng lâu năm th́ tinh ma ranh mănh:

Mèo già hóa cáo

Ám chỉ những kẻ vô lại thường hay kết bè tựu đảng với nhau, thiên hạ thường nói rằng:

Mèo hoang lại gặp chó hoang;
anh đi ăn trộm gặp nàng bứt khoai


C̣n ai tự đề cao, khen ngợi ḿnh th́ ca dao Việt cũng chẳng tha:

Mèo khen mèo dài đuôi

Ngụ ư so sánh thanh niên bạo gan hơn, trong khi người lớn tuổi th́ nhút nhát:

Mèo già lại thua gan chuột nhắt

Một đặc điểm khác, khi nói đến hai chữ “mèo chuột” th́ chúng ta, nhất là những người đầy lăng mạn tính thường liên tưởng ngay tới chuyện “trai gái, bồ bịch, mèo mỡ”, v́ từ xưa, ông bà ḿnh cũng từng diễn tả sự thu hút lẫn nhau giữa nam nữ qua những câu tục ngữ sau đây mà mọi người đều đă nghe biết, ư nói đặt trước mặt người ta một thứ ǵ hay muốn chế giễu họ trước thứ mà họ đang mong muốn, thèm khát, ví dụ như chuyện "người đàn ông khi ... gần gũi muốn chiếm đoạt phụ nữ", đó là:

Như mèo thấy mỡ

Mỡ để miệng mèo

hay

Lửa gần rơm không cháy cũng tṛm trèm
Mèo không ăn vụng đi đêm làm ǵ ?

Để diễn tả cảnh "bất hoà giữa mẹ chồng nàng dâu", ca dao Việt Nam cũng mượn "con mèo":

Con mèo trèo lên cây táo
Mẹ chồng nương náu, chưởi mắng nàng dâu
Bà ơi không sợ bà đâu
Bà đừng chửi mắng mà mang tiếng đời

Hay để chọc quê người khác:

Con mèo trèo lên cây vông
Con chó đứng dưới ngó mong con mèo
Mèo rằng, sao chó chẳng theo ?
Lên đây mèo sẽ dạy leo cho mà

Xa hơn nữa, nhằm ám chỉ đến những người đàn bà bị chồng chê, chồng bỏ v́ hư đốn, phải về nhà cha mẹ ruột. Thay v́ biết thân phận âm thầm sống đến già, nhưng lại khoa trương nọ kia để củng cố danh giá ḿnh th́ thiên hạ hay nhắc đến, mỉa mai qua các câu ca dao sau đây:

Mèo làm ai nỡ