PDA

View Full Version : TẢN MẠN TRONG TUẦN (Nhiều Tác Giả)



chieunhatnang
11-24-2007, 06:59 PM
http://img.photobucket.com/albums/v735/HDHP/Thay_giao.jpg

ƠN THẦY

Ơn thầy đi sau câu “công cha, nghĩa mẹ” ở trên môi dân gian nước Việt xưa nay, nhưng giờ đây chắc nó chỉ c̣n là xưa, chứ chẳng c̣n là nay nữa… Nay th́ cái nước Việt Nam trong tim chúng ta đă quá nhiều thương tích, thương tích đến từ cường quyền bá đạo cai trị nhân dân, thương tích đến từ sự vô cảm trước nỗi đau bị cuớp nhà, cướp đất của đồng bào, thương tích đến từ nhiều vụ mất đạo đức từ trong xă hội đến trường học…
Tương lai của một đất nước nằm trong tay những ông thầy đ̣i nữ sinh “đổi t́nh lấy điểm” hay đàn áp tinh thần học sinh như vụ một học sinh lớp 5 Đồng Tháp bị ép cung dẫn đến hoảng loạn. Nạn nhân là em Huỳnh Thị Ngọc Trâm, học trường tiểu học An Hiệp 2 huyện Châu Thành. Lưu Văn Ca, nguyên hiệu trưởng trường Tiểu Học 2 và Lê Văn Xem, nguyên tổng phụ trách đội trường tiểu học An Hiệp 2, nghi em Trâm lấy số tiền 47,800 đồng tiền quỹ của lớp. Thầy Xem cùng Lưu Văn Ca đưa em đến công an xă hỏi cung, ở đây 2 tên Lê Văn Thanh và Vơ Thanh Phương, nguyên là trưởng và phó công an xă An Hiệp đă ép cung khiến tinh thần em Trâm bị khủng hoảng phải nghỉ học từ tháng 3 năm nay. Hiện t́nh trạng tinh thần của em vẫn chưa b́nh phục hẳn.
Chắc cũng không nên kể thêm một trường hợp thầy tṛ Việt Nam ngày nay nào nữa (dù năm nào họ cũng tổ chức long trọng lễ các nhà giáo 20/11), nếu không muốn trái tim những người Việt c̣n đau xót cho sự suy đồi của đất nước phải đau đớn thêm. Trường học Mỹ cũng không hẳn là an toàn và đạo đức, ví dụ như họ đang dung chứa và đào tạo những thứ như Vũ Hoàng Việt, con một trưởng công an ở Hà Nội đi du học, vừa tung phim sex của ḿnh với cô bạn gái diễn viên lên mạng lưới toàn cầu. Thử tưởng tượng cái thứ tàn ác và lưu manh như vậy khi tốt nghiệp xong về cầm đầu đất nước th́ Việt Nam sẽ c̣n ra làm sao?
Tuy vậy, trường học của Mỹ cũng có những điểm son như trong vụ Virginia Tech. Trong số những nạn nhân thiệt mạng trong vụ thảm sát là giáo sư Liviu Librescu, 76 tuổi, dạy toán và kỹ thuật tại đại học này từ 20 năm nay. Ông là nguời Roumanie gốc Do Thái, sống sót sau vụ Đức Quốc Xă đại tàn sát người Do Thái vào Thế Chiến Thứ Hai, di dân về Israel năm 1978 và sang Hoa Kỳ năm 1986. Giáo sư đă chặn cửa không cho hung thủ xông vào lớp giết học tṛ của ông nên ông đă bị bắn gục. Nhờ vậy học tṛ của ông đă trốn thoát được. Gia đ́nh đă đưa ông về mai táng ở Israel. Liviu Librescu đă được Tổng Thống Bush vinh danh về hành động can trường – chứ không phải là có quá nhiều thứ tệ hại như đang xảy ra ở các ngôi trường VN hiện tại.
Khủng hoảng giáo dục không xảy ra riêng ở một nước nào, nhưng họ không để cho “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra” như các chính sách quái đản ở Việt Nam hiện giờ. Tại New South Wales, Úc châu, trường trung học Walgett có khoảng 120 học sinh, tuy vậy một số ngày chỉ có hai học sinh có mặt trong lớp học. Một cuộc điều tra riêng của nhật báo The Daily Telegraph cho biết rằng một số trường học đă phải “hối lộ” các học sinh, bằng cách tặng quà gồm các chiếc xe đạp và phiếu thực phẩm, để gia tăng tỷ lệ học sinh đến trường trong khi khủng hoảng giáo dục đang ảnh hưởng đến các cộng đồng ở vùng xa xôi hẻo lánh bị thiệt tḥi nhiều nhất.
Và cuộc điều tra này cũng cho thấy nhiều học sinh không chịu đi học, một số rất lớn các em bị đuổi khỏi trường v́ có hành động xấu là vấn đề thâm căn cố đế. Các phụ huynh tại trường Walgett, một trường trung học thuộc phía bắc tiểu bang NSW, nói rằng họ choáng váng khi biết các đứa con của họ bị mù chữ dù đă nhiều năm cắp sách đến trường. Họ nói rằng sau nhiều năm hứa hẹn và chi tiêu hàng chục ngàn, hệ thống giáo dục đă làm họ thất vọng hoàn toàn, và họ tố cáo giới hữu trách giáo dục đă che đậy vấn đề này.
T́nh trạng tại Walgett đă thay đổi đôi chút kể từ khi Thủ Hiến Bob Carr bị chặn đường bởi nhóm nông dân vô cùng giận dữ cách đây vài năm. Tài liệu có được bởi tờ Daily Telegraph cho thấy tỷ lệ đến lớp tại trường trung học này chỉ có 10%, ngôi trường này có tổng cộng 120 học sinh, phần lớn là thổ dân Úc. Một nam sinh lớp bảy đă vắng mặt 85 ngày trong sáu tháng đầu của năm, một số em lớp tám vắng mặt tới 73 ngày và các học sinh lớp chín vắng mặt 76 ngày. Và có trường hợp, một trường tiểu học có tổng cộng 150 học sinh th́ có tới 59 em bị đuổi v́ có cách cư xử quá tồi tệ.
Các phụ huynh học sinh đă đe dọa một vụ kiện tập thể chống lại Bộ Giáo Dục và Huấn Nghệ. Trong một bức thư gửi đến Bộ Trưởng Giáo Dục Andrew Refshauge, bà Jenny Trindall, người đứng đầu Nhóm Cố Vấn Giáo Dục Thổ Dân ở địa phương, viết rằng: “Đă nhiều năm con cái chúng tôi gặp khó khăn rất nhiều bởi sự bất tài của giới thẩm quyền giáo dục. Chúng tôi có những người lớn tuổi trong cộng đồng, những người này có sự hiểu biết giáo dục c̣n tốt hơn các đứa con và cháu nội ngoại của họ”. Tiến Sĩ Refshauge đă công bố một cuộc cứu xét toàn bộ các chính sách giáo dục đối với thổ dân và tiến hành một cuộc điều tra về các vấn đề tại trường trung học Walgett.
C̣n tại nước Ư, niên học đă từng thực hiện chương tŕnh cải cách của Bộ Trưởng Giáo Dục Letigia Moratti. Trọng điểm của chương tŕnh này là ư tưởng “3i” của Thủ Tướng Silvio Berlusconi. Đó là Impresa, Informatica và Inglese (tiếng Ư có nghĩa là hăng xưởng, tin học và Anh ngữ). Quản lư trường học như một hăng xưởng là ư tưởng gây nhiều tranh căi nhất. Nhật báo La Republica phân tích: Áp dụng một vài nét đặc trưng của hăng xưởng vào hệ thống trường học là điều có thể khả dĩ chấp nhận được. Ví dụ, áp dụng chính sách tưởng thưởng theo thành tích của hăng xưởng vào các trường học. Thế nhưng có nên chăng quản lư nhà trường theo kiểu này? Theo các chuyên gia giáo dục Ư, đó là điều không nên.
Ngay cả ư tưởng coi trường học như hăng xưởng cũng không ổn, bởi một lư do đơn giản là mục tiêu cuối cùng của nhà trường không phải là lợi nhuận. Đó cũng là lư do tại sao không nên coi giáo dục như là thị trường biến thiên theo luật cung cầu. Nếu không, cuộc cạnh tranh giữa các nhà trường được quản lư theo kiểu này sẽ coi lợi nhuận là cứu cánh, dẫn tới t́nh trạng nhà trường được gắn sao theo kiểu khách sạn: trường 2 sao, 3 sao, 4 sao và... trường hạng bét! Ở các nhà trường này, người ta không c̣n chú ư đến việc đào tạo nhân cách, ḷng tự tin và những đức tính khác làm nên con người có văn hóa mà chỉ chú trọng vào những kỹ năng.
Cải cách thứ hai về tin học cũng bị gặp không ít lời chỉ trích. Đối với các bậc phụ huynh học sinh có thể tạo được sự hài ḷng v́ con họ được học cách sử dụng máy điện toán từ lớp 1. Theo luật cải cách giáo dục mới, mỗi lớp học được trang bị một máy điện toán kết nối với mạng Internet. Đối với các thầy cô giáo, cải cách này làm cho họ hoảng sợ. Có những điều bất cập ai cũng nh́n thấy. Nghiên cứu kỹ chương tŕnh cải cách về tin học, người ta thấy rằng hệ quả của nó là khiến cho học sinh cảm thấy máy điện toán có thể thay thế những nỗ lực cá nhân, không phải học đời sống xă hội, kể cả không phải học những bài giảng lư thú của những thầy cô giỏi.
Trong chương tŕnh cải cách này, người ta c̣n t́m cách cô đọng một tiết giảng 50 phút thành 15 phút đa truyền thông. Một số nhà sư phạm Ư cho rằng nhiệm vụ của nhà trường không phải là nhồi nhét dữ liệu. Nhà trường cũng không phải là nơi cung cấp những câu hỏi có sẵn, mà là những phương pháp suy tư và khả năng phán đoán. Muốn như vậy, phải có thầy giỏi và học tṛ có động lực học hành đúng đắn. Những thứ khác như máy điện toán, thời khóa biểu, tổ chức lớp đều là quan trọng nhưng không mang tính quyết định.
Cuối cùng, vấn đề dạy và học Anh ngữ. Tiếng Anh ngày nay có vị thế hết sức quan trọng, nó hầu như trở thành ngôn ngữ của thế giới. Việc học sinh, ngay từ lúc c̣n nhỏ, học Anh ngữ để dễ dàng hội nhập với cộng đồng quốc tế, là một điều hoàn toàn đúng đắn và nghiêm túc. Tuy nhiên, cũng có vài ư kiến thắc mắc: Có ư nghĩa ǵ khi so sánh việc học tiếng Anh với t́nh trạng 10% người Ư không thông thạo tiếng mẹ đẻ. Thật vậy, theo báo La Republica, đa số người Ư sử dụng một thứ tiếng Ư nghèo nàn. Kết luận: Học tiếng Anh là cần thiết nhưng chỉ sau khi viết và nói thành thạo tiếng mẹ đẻ.
Nền giáo dục ở Việt Nam bây giờ cũng có thể gọi là khủng hoảng (quá nữa là khác), không hiểu có học hỏi ǵ ở những cải cách giáo dục nơi những nước tân tiến khác. Bấy lâu nay, có vẻ như họ chỉ có “căi” chứ không có cách. Quan tâm đến sự suy đồi nơi trường học đâu có quan trọng bằng cách “tư duy” xem nên sử dụng số tiền viện trợ không điều kiện của ngoại quốc vào túi của ḿnh làm sao cho hợp pháp. Đất nước tan hoang, đạo đức tan nát như thế măi… hẳn sẽ đến một ngày mà câu “công cha, nghĩa mẹ” cũng biến mất trong ḷng nguời, nói ǵ đến hai chữ “ơn thầy”.

NGÔ TỊNH YÊN
MAI NWS

chieunhatnang
11-29-2007, 02:05 AM
http://img.photobucket.com/albums/v727/ttl/non.jpg


Chân Dung Người Phụ Nữ Việt Nam
Qua Tà Áo Dài Và Chiếc Nón Lá


H́nh ảnh người con gái Việt Nam dịu dàng tha thướt trong chiếc áo dài, với chiếc nón bài thơ e ấp trong tay, nghiêng nghiêng vành nón lá như cố giấu nụ cười ánh mắt là một h́nh ảnh duyên dáng, dễ thương và gợi cảm nhất của người con gái Việt Nam .

"Tà áo dài trong trắng nhẹ nhàng bay
Nón bài thơ e lệ nép trong tay" (Bích Lan)

Chiếc áo dài và chiếc nón là trang phục làm nổi bật và tăng thêm nét duyên dáng, e ấp, dịu dàng, trang nhă, đài các, kiêu sa ... của người phụ nữ Việt. Áo dài như ḍng nước uốn lượn theo từng đường nét cơ thể mềm mại thướt tha của người phụ nữ. Hai vạt áo dài như đôi cánh và những bước chân chim của nàng làm dao động cả cảnh vật và không khí chung quanh. Thân h́nh thấp thoáng sau tà áo, khuôn mặt mờ tỏ sau vành nón, ẩn hiện như hư như thực. Và không gian như bao phủ mùi hương con gái ...

"Tháng giêng em áo dài trang nhă
Tỉnh lỵ c̣n nguyên nét Việt Nam
Đài các chân ngà ai bước khẽ
Quyện theo tà lụa cả phương đông" (Nguyễn Tất Nhiên)

"Sao em biết anh nh́n mà nghiêng nón "
Chiều mùa thu mây che có nắng đâu " (Trần Quang Long)

"Áo trắng đơn sơ, mộng trắng trong,
Hôm xưa em đến, mắt như ḷng
Nở bừng ánh sáng, Em đi đến,
Gót ngọc dồn hương, bước toả hồng.
......
Nắng thơ dệt sáng trên tà áo,
Lá nhỏ mừng vui phất cửa ngoài.
......
Dịu dàng áo trắng trong như suối
Toả phất đôi hồn cánh mộng bay." (Huy Cận)

Cho đến nay th́ vẫn chưa có ai biết chính xác nguồn gốc của chiếc áo dài và chiếc nón lá đă gắn bó với người phụ nữ VN từ lúc nào. Theo các nhà khảo cổ, h́nh ảnh chiếc áo dài với hai tà phất phơ trong gió cũng như h́nh ảnh của chiếc nón đă được t́m thấy trong các h́nh ảnh khắc trên các cổ vật như mặt trống đồng Ngọc Lũ, Ḥa B́nh, Hoàng Hạ, trên thạp đồng Đào Thịnh vào khoảng ba ngàn năm về trước. Theo truyền thuyết, Hai Bà Trưng đă mặc áo dài hai tà giáp vàng, che lọng vàng khi cưỡi voi ra trận. Sau này, v́ tôn kính Hai Bà nên phụ nữ Việt đă tránh mặc áo hai tà và thay vào đó áo tứ thân. Theo các nhà nghiên cứu, chiếc áo dài xưa nhất là áo giao lănh, tương tự như áo tứ thân nhưng khi mặc th́ hai thân trước để giao nhau mà không buộc lại. Áo mặc phủ ngoài yếm lót, váy tơ đen, thắt lưng mầu buông thả . Nhưng chiếc áo giao lănh không tiện cho công việc đồng áng hoặc buôn bán nên được thu gọn lại thành kiểu áo tứ thân với váy xắn quai cồng để tiện việc gồng gánh, nhưng vẫn không làm giảm nét đẹp của người phụ nữ. Với thời gian, từ bộ áo tứ thân, áo ngũ thân ra đời . Cách may cắt cũng tương tự như áo tứ thân nhưng vạt trước là một vạt lớn như vạt sau, c̣n vạt nửa trước bên phải của áo tứ thân nay trở thành vạt con. Áo ngũ thân che kín thân h́nh không để hở áo lót. Mỗi vạt có hai thân nối sống tượng trưng cho tứ thân phụ mẫu (cha mẹ ruột và cha mẹ chồng), và vạt con nằm dưới vạt trước là thân thứ năm tượng trưng cho người mặc áo. Năm chiếc khuy gài áo tượng trưng cho đạo làm người theo quan niệm Nho giáo: Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín. Áo ngũ thân đi đôi với quần hai ống và khăn đội đầu cũng là quốc phục của phái nam. Người ta c̣n nói áo ngũ thân là biểu hiện sự kết hợp của ngũ hành (kim, mộc, thủy, hỏa, thổ)

Trong thời gian Pháp đô hộ, vận mệnh chiếc áo dài cũng thăng trầm với vận mệnh của đất nước. Vào năm 1930, kiểu áo dài Lemur xuất hiện , áo dài Lemur do họa sĩ Cát Tường vẽ kiểu và cắt may hoàn toàn theo lối Tây phương, nối vai ráp tay phồng, cổ bồng hoặc hở cổ, ảnh hưởng của văn hóa Pháp. Áo dài Lemur xuất hiện trong lúc Tự Lực Văn Đoàn đang cổ súy và hô hào phong trào đổi mới, nhưng áo dài Lemur chỉ tồn tại được vài năm . Vào năm 1934 họa sĩ Lê Phổ đă cải tiến chiếc áo dài Lemur, loại bỏ những đường nét Tây phương táo bạo để dung ḥa với kiểu áo ngũ thân cũ tạo ra kiểu áo cổ kín vạt dài ôm sát thân người để hai tà áo tự do bay lượn. Kiểu áo dài này dung ḥa được cái mới với cái cũ để tôn vinh những nét đẹp của người phụ nữ và được công chúng hoan nghênh nhiệt liệt và đứng vững từ đó đến nay với những biến đổi nhỏ về h́nh thức theo thị hiếu và thời trang nhưng h́nh dạng cơ bản của chiếc áo dài vẫn giữ nguyên

Sau biến cố 30 tháng Tư năm 1975, chiếc áo dài cũng theo những bước chân người Việt di tản lưu vong nơi xứ người. Trên bước đường lưu vong, chiếc áo dài càng được nâng niu bảo trọng như một biểu tượng trân quư của phụ nữ Việt nam. Ở đâu có người Việt là ở đó có áo dài. Mỗi dịp lễ lạc nơi xứ người nh́n các cô gái Việt dịu dàng, duyên dáng, thướt tha uyển chuyển trong những chiếc áo dài, ḷng người viễn xứ khó tránh dâng trào lên những cảm xúc mănh liệt. Chiếc áo dài không chỉ là một trang phục, mà c̣n là một nét son trong văn hóa Việt, chuyên chở nhân sinh quan VN, một biểu hiện của bản sắc và tinh thần Việt Nam: " Dù ở trong bất cứ hoàn cảnh nào cũng chỉ tiếp nhận tinh hoa, gạn lọc cặn bă, vun đắp thêm cái đẹp mà vẫn giữ cá tính độc lập". Chiếc áo dài đă trở thành một niềm kiêu hănh của người Việt Nam.

Nhiều quốc gia khác cũng có những trang phục truyền thống như kimono của Nhật, hanbok của Đại hàn, sari của Ấn độ, xường-xám của Trung Hoa. Mỗi trang phục đều có một vẻ đẹp riêng. Tuy nhiên, về mặt tiện lợi th́ chiếc áo dài Việt Nam tiện lợi cho người mặc nhất v́ nó đơn giản, gọn gàng nên không cần nhiều thời gian để sửa soạn nhưng không kém phần duyên dáng và thanh lịch. Chính v́ vậy, mà áo dài đă đi vào đời sống hàng ngày của phụ nữ Việt Nam một cách tự nhiên và dễ dàng. Ở nhà, khách khứa đến thăm, chủ nhà khoác chiếc áo dài lên như chiếc áo lễ để tiếp khách. Ở trường, là chiếc áo học tṛ thơ ngây, tựa những cánh bướm trắng hồn nhiên tung tăng trong vườn địa đàng. Ở công sở, nh́n các cô dịu dàng duyên dáng trong chiếc áo dài , những tà áo dài chở gió, sẽ làm không khí làm việc tươi mát hơn. Trong các buổi dạ tiệc, chiếc áo dài Việt-nam cũng sẽ lộng-lẫy, độc đáo, không thua bất kỳ bộ trang phục của các quốc gia nào khác trên thế giới. Và cuối cùng, thêm chiếc khăn vành trên đầu như "vương miện" với chiếc áo choàng khoác bên ngoài sẽ kết hợp lại thành bộ lễ phục "hoàng hậu" cho cô dâu ngày bước lên xe hoa.

Chiếc nón lá cũng là một phần cuộc sống của người Việt Nam, có thể nói chiếc nón lá cũng là một biểu tượng của Việt Nam, Từ xưa, chiếc nón lá đă là người bạn thuỷ chung với những người dân lao động một nắng hai sương. Ở Việt Nam, người ta có thể thấy chiếc nón lá trên mọi nẻo đường. Ngày nay đời sống có văn minh hơn, nhiều việc đổi thay, nón lá đôi khi đă trở thành một sự bất tiện của đời sống thành phố. Ở hải ngoại, chiếc nón lá không có chỗ đứng trong đời sống thường nhật mà chỉ c̣n xuất hiện trên sân khấu trong những buổi tŕnh diện nghệ thuật. Người bạn nghệ thuật cần thiết cho chiếc nón lá là áo dài v́ chỉ có đi chung với áo dài, chiếc nón lá mới phô bài được hết nét đẹp nghệ thuật ẩn tàng trong nó . Đi với những trang phục khác, chiếc nón lá dường như không phát huy hết được những nét đẹp nghệ thuật tiềm ẩn. Từ ngày những chiếc mũ xuất hiện, đàn ông thích mũ hơn và chiếc nón lá trở thành vật sở hữu của người phụ nữ. Phụ nữ đội nón nh́n có vẻ duyên dáng, dịu dàng hơn. V́ thế chiếc nón lá ngày càng được cải tiến nhằm làm tăng thêm vẻ kiều diễm của phái nữ. Vành nón được chuốt nhỏ hơn. Lá nón được sấy trắng hơn. Chỉ khâu bằng sợi móc đen được thay bằng sợi cước trắng mảnh mai. Và ở Huế, người ta c̣n ghép cả những câu thơ và hoa, bướm vào giữa hai lớp lá nón, và quai nón được làm bằng vải lụa màu mềm mại. Chiếc nón bài thơ cùng với tà áo dài của thiếu nữ Huế trở thành một vẻ đẹp đặc trưng làm say ḷng du khách, đă làm bao chàng trai xứ Quảng vượt đèo Hải Vân lai kinh ứng thí ngẩn ngơ bước đi không đành. "Ai ra xứ Huế mộng mơ; Mua về chiếc nón bài thơ làm quà"... Một lời mời mọc đầy thi vị của đất kinh kỳ?

Trong suốt hơn 4000 lịch sử, dân tộc Việt Nam gần như phải luôn chống nạn ngoại xâm để trường tồn và bảo vệ những giá trị truyền thống về văn hóa, kỷ cương gia đ́nh. Chiếc áo dài là một tác phẩm nghệ thuật tuyệt vời của dân tộc. Ngoài vẻ đẹp trang nhă, thanh lịch, cách cấu trúc c̣n ẩn tàng ư nghĩa dạy dỗ về "đạo làm người" của tiền nhân . Chiếc áo dài c̣n là thành quả biểu hiện của bản sắc và tinh thần VN :" tiếp thu tinh hoa, gạn lọc cặn bă, bồi dưỡng cái đẹp mà vẫn giữ cá tính độc lập". Hơn một ngàn năm Bắc thuộc, gần trăm năm bị Pháp đô hộ, chiếc áo dài và chiếc nón lá đă tiếp xúc cả hai luồng văn hóa mạnh mẽ của nhân loại, Đông phương (Tàu) và Tây phương (Pháp). Chiếc áo dài đă vượt qua mọi thử thách để trở thành một thứ "quốc phục", một biểu tượng của phụ nữ Việt Nam, niềm kiêu hănh của dân tộc VN. Chúng ta phải trân trọng nâng niu và bảo vệ những di sản quư giá của tổ tiên để lại và tiếp tục phát huy những truyền thống tốt đẹp của tiền nhân.

Quê hương là chiếc áo dài tha thướt
Vẩn vơ bay theo mỗi bước con về
Là chiếc nón bài thơ che nghiêng mái tóc
Đôi guốc học tṛ rộn ră đường quê

Quê hương là những ngày nắng ấm
Trải lụa vàng trên đồng lúa xôn xao
Là những đêm trăng gịng sông lấp lánh
Vẳng vọng ai ḥ tiếng hát bay cao…
(Nói với con đôi điều về quê hương- Quang Huỳnh)

Lư Lạc Long (TTL/TCT/MAI/07)

chieunhatnang
12-07-2007, 09:14 PM
http://p.webshots.com/ProThumbs/1/11001_wallpaper400.jpg

LỜI CỦA TIM

Em yêu ...

H́nh như từ lâu, anh quên mất là đă đến và ở nơi này lúc nào nữa. Đời sống cứ lặng lẽ trôi qua như con nước xuôi ḍng theo một nhánh sông để đến một nơi vô định nào đó theo định mệnh sắp đặt. Em và anh, cũng như những con nước xuôi ḍng theo những nhánh sông riêng rẽ dẫn về biển. Trên hành tŕnh ra biển, những nhánh sông có thể gặp nhau, họp thành một nhánh, hoặc chỉ gặp ở một điểm nào đó rồi sẽ theo hướng riêng, về biển. Ước mong của anh, ḿnh sẽ là những con nước của cùng một nhánh sông định mệnh, để được cùng một hướng, chung hành tŕnh về biển khơi .

Cuộc sống bận rộn, vội vă ở xứ người, làm con người chạy theo những quy tŕnh đă định như những cái máy. Ngày tháng trôi qua, t́nh cảm dường như cũng lạnh lùng theo thời tiết nơi này, những cảm xúc, rung động... với ngoại cảnh không biết từ lúc nào đă biến mất. Sống v́ phải sống và làm v́ phải làm, v́ bổn phận, v́ thói quen... những mơ ước, mộng mơ xa vời của tuổi hoa niên môt thời như đă đi dần vào quên lăng. Tập trung và vùi đầu vào việc học, việc làm để t́m vui, để quên những muộn phiền khác của đời sống, Anh ngỡ trái tim ḿnh đă chai đá, khô khan và cằn cỗi như cây mùa đông trụi lá.
Những ngày qua, em chợt đến, như nắng ấm mùa xuân bất chợt về ngang, làm cây khô chuyển ḿnh như muốn đâm chồi kết nụ giữa mùa đông, và nhựa sống bỗng căng đầy. Những giấc mơ hoang, êm ái, nồng ấm đă từng bước trở lại làm đêm thêm dài với những nhớ nhung, ước mơ. Những đêm trăn trở, thả hồn đi hoang... h́nh như anh đă bắt đầu t́m lại và nếm được hương vị ngọt ngào của cuộc sống. Khô khan, lạnh lùng, chán nản, bi quan... dường như đă nhường bước và trái tim bỗng đập lại những nhịp tưởng chừng như đă quên lăng và mất từ lâu.

Buổi sáng hôm nay, nơi anh ở, tuyết cũng rơi nhiều và những luồng gió từ cực bắc về thổi ngang, lạnh buốt da như những mùa đông đă qua. Nhưng mùa đông năm này dường như khác với những mùa đông trước, ḥa quyện trong luồng gió lạnh như có hơi thở ấm áp của em và những cánh hoa tuyết như trắng hơn, mịn màng hơn lơi lả bay lượn đùa với gió đông. Mùa đông chợt reo vui và anh chợt thấy cần một ánh mắt thân thương, một bàn tay để những ngón tay t́m nhau truyền hơi ấm và ǵn giữ lại những tin yêu đă một thời vuột mất.

Anh đang mơ.... Có lẽ ! Và "trái tim sắt đá" đang trở thành mềm nhăo, mong manh như tuyết, sẽ tan thành nước thấm vào ḷng đất cho cây trổ mầm, hoa ươm nụ đón chào mùa xuân . Một giấc mơ hoang? Cũng được, sẽ không hối tiếc, sẽ không ân hận .
Cám ơn em đă mang nắng xuân về làm ấm lại mùa đông .

Anh.

LƯ LẠC LONG

PS: "Em là sóng, nhưng xin đừng như sóng
Đă xô vào, xin chớ ngược ra khơi " (Đỗ Trung Quân)

MAI NWS/TCT

Phonglinh
02-06-2008, 04:37 AM
http://www.otra-vista.com/images/categories/personal/love-letters/600x400_w/Love01.jpg

Tội Phạm Hàng Đầu Là Cộng Sản Việt Nam


H,

Cuộc biểu t́nh phản đối Trung Quốc xâm lược hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, ở quốc nội, dự trù xảy diễn ngày 19-1-2008, của thanh niên sinh viên học sinh, tưởng như không thành tựu, cũng đă thực hiện được, từ Hà Nội đến Sài G̣n, cho dầu nó đă bị công an t́m đủ mọi cách để ngăn chặn từ nhiều ngày trước, và trấn áp ngay khi số ít người tập họp vừa xuất hiện.

Tin ghi nhận được trên vài diễn đàn Internet cho biết:

Tại Hà Nội:

“Ngày 19-1, một sự kiện rất cảm động và bất ngờ, một nhóm sinh viên học sinh Hà Nội trên 15 người kéo tới bến Bạch Đằng, góc phố Hàm tử Quan, hướng về Hoàng Sa, tưởng niệm 34 năm ngày 19-1, ngày Trung Qu ốc xâm chiếm Hoàng Sa đă làm cho 58 liệt sĩ VNCH tử trận v́ muốn bảo toàn lănh thổ... Các nhà dân chủ và dân oan đă bị công an cảnh báo cấm ra đường vào ngày 19 tháng 1. Bác Sĩ Phạm Hồng Sơn, nhà văn Nguyễn Xuân Nghĩa, cô Phạm Thanh Nhiên đă bị công an tới cấm rời khỏi nhà tham gia biểu t́nh... Phần nhà giáo Vũ Hùng th́ bị công an đánh đập dă man v́ đă viết thư ủng hộ các sinh viên biểu t́nh... Cuộc biểu t́nh trước Đại Sứ Quán Trung quốc không được tường thuật...”

Tài Sài G̣n:

“Khoảng 9 giờ một nhóm 7 nguời mặc đồng phục áo thun đen, in h́nh 5 chiếc c̣ng số 8 tượng trưng cho 5 ṿng tṛn biểu tượng cho Thế Vận Hội Olympic sẽ tổ chức tại Bắc Kinh [Trung Cộng] vào mùa hè năm nay 2008, cầm theo biểu ngữ, từ phía nhà thờ Đức Bà tiến xuống trước Nhà Hát Thành Phố. Đến thềm Nhà Hát, nhóm đứng thành hàng ngang và căng biểu ngữ.... Sau 15 phút th́ xuất hiện một anh mặc sắc phục đến đọc nội dung biểu ngữ và gọi bộ đàm báo cáo... Sau đó nhóm biểu t́nh rời thềm Nhà Hát, đi ngược lại phía nhà thờ Đức Bà, rồi quay lại thềm Nhà Hát, đứng hàng ngang, dương cao biếu ngữ. Thời gian này người đi đường dừng lại rất đông, xe bóp kèn inh ỏi, khách trong mấy khách sạn chung quanh túa ra xem rất đông. Nhưng đến lúc này nhóm biểu t́nh vẫn chỉ có 7 người đúng trước thềm Nhà Hát. 30 phút đă trôi qua... Công an mọi thành phần liên tục đổ về. Người ủng hộ biểu t́nh cũng không ít, có lẽ khoảng 30 người, nhưng rất tiếc không có ai đúng chung với nhóm ṇng cốt. Phút 35 có thể nói công an đă đông hơn người biểu t́nh. Tên công an thường phục cao xông vào xé biểu ngữ. Một chiếc truck nhỏ của công an đến đậu bên góc trái Nhà Hát. Công an tới rất đông, xua đuổi người chung quanh, không cho người đi xe dừng lại nữa. Khu vực chung quanh coi như đă nằm trong ṿng kiểm soát, chỉ c̣n vài người ủng hộ đứng phía trước nhóm biểu t́nh, và một số bị dồn về góc bên trái. Hành động thô bạo xảy ra khi công an xông vào lôi nhóm biểu t́nh lên xe. Anh Điếu Cày bị bẻ ngoặc tay ra phía sau, 6 công an nhấc bổng anh lên trong khi anh liên tục chống cự... Chúng nhét anh vào khoan sau tài xế của chiếc truck, 2 Công an kèm 2 bên, khoản 10 người khác bị lôi lên phía sau xe. Một cô bé ngồi trước cửa Nhà Hát theo dơi từ đầu tới cuối... chụp h́nh... Đến 10 giờ t́nh h́nh trước Nhà hát hoàn toàn trở lại như b́nh thường... Số đông người bị bắt đưa về đồn công an phường Bến Nghé gồm có nhà báo Hoàng Hải [tức cựu chiến binh Điếu Cày], đạo diễn Song Chi, nhà thơ Bùi Chát, anh Quốc Dũng (Uyên Vũ), luật Sư Phan Thanh Hải (anh Ba Sài G̣n)...


Sau đó, trong bản tin loan đi ngày 23-1-2008, phóng viên Trà Mi của đài RFA có phỏng vấn các ông Điều Cày [nhà báo, cựu chiến binh, Hoàng Hải] và Luật Sư Phan Thanh Hải [anh Ba Saigon]. Trả lời Trà Mi ông Điếu Cày cho biết:

“Họ cưỡng chế chúng tôi. Riêng tôi th́ họ xông vào bẻ tay rồi họ khênh lên nhét vào trong xe như súc vật đấy. Đưa về công an phường Bến Nghé từ lúc 9:30 và họ giữ luôn tôi hơn 30 tiếng đồng hồ, đến 14 giờ chiều ngày hôm sau họ mới nói là làm một biên bản tạm ngưng làm việc. Họ bắt giữ chúng tôi hơn 30 tiếng đồng hồ cộng với việc họ thu giữ của chúng tôi rất nhiều đồ đạc mà không có một giấy tờ ǵ để chứng minh chuyện ấy cả. Tôi không về, tôi ở đó đấu tranh từ lúc 14 giờ cho đến 16:30 tôi mới về mà họ vẫn không đưa”.

Phần Luật Sư Phan Thanh Hải, nói:

“Những người xử lư vi phạm họ không trả lại cho bọn tôi biên bản vi phạm, đặc biệt là những biên bản mà chúng tôi đă ghi vào đấy ư kiến của ḿnh. Theo tôi nghĩ th́ chuyện biểu t́nh như vậy có trái pháp luật hay không th́ cần thiết phải có một sự tranh luận, thậm chí có thể khởi kiện và tranh luận công khai và có những ư kiến của những chuyên gia về pháp lư, đặc biệt là đoàn luật sư hoặc những luật sư danh tiếng để họ có một ư kiến về vấn đề này. Chuyện biểu t́nh là đúng hay sai cần thiết phải làm rơ chuyện này ra. Quan niệm của cá nhân tôi th́ biểu t́nh như vậy là không có vi phạm pháp luật bởi v́ nhà nước chưa ra một nghị định về tŕnh tự thủ tục thực hiện biểu t́nh”.

Ngoài ra, khi được phóng viên Trà Mi hỏi: “Nếu như nhà nước Việt Nam cứ tiếp tục những biện pháp trấn áp mạnh tay quyết liệt như vậy th́ liệu rằng làn sóng, thái độ phản đối Trung quốc trong giới thanh niên sinh viên Việt Nam có bị d́m tắt hay không?”, th́ Luật Sư Hải trả lời:

“Sẽ không bao giờ bị d́m tắt đâu chị ạ. Mặc dù rơ ràng sự đàn áp ngày càng gia tăng, thế nhưng họ càng ḱm nén th́ ḷng của thanh niên họ càng không phục... Cách này mà bị cản trở th́ nó sẽ có cách khác. Chỉ có một cách duy nhất mà nhà nước nên làm, đó là minh bạch và đối diện công khai với vấn đề. Đó là nhu cầu của ḷng dân, ḷng dân không thể nào dập tắt được chị ạ”.

Mặt khác, trong một bài được đăng trên Vietland ngày 23-1-2008, đạo diễn Song Chi cũng cho biết:

“Tôi cũng được nghe là c̣n có những nhóm sinh viên khác cũng bị bắt ở những địa điểm khác, nhưng v́ không biết ai để mà liên lạc được nên không biết t́nh h́nh ra sao. Ngay cả ở Hà Nội cũng có những nhóm sinh viên biểu t́nh trong ngày này và cũng bị giữ, không biết thế nào. Buổi tối Việt Hùng của đài RFA có gọi cho tôi. Hóa ra Nguyễn Viện có thông báo cho họ và BBC về việc tôi bị tạm giữ. RFA nói muốn phỏng vấn tôi, nhưng tôi trả lời tôi thấy giữa lúc này mà nếu tôi trả lời cho các đài báo ở bên ngoài th́ sự việc sẽ trở nên lớn chuyện hơn, trong khi bản thân tôi thấy chưa có ǵ nghiêm trọng cả. Hơn nữa sau một ngày ngồi làm việc ở trụ sở công an, thật sự lúc này tôi chỉ muốn được ngủ cho đỡ mệt thôi. Tốt hơn là anh có thể gọi và hỏi Luật Sư Thanh Hải cũng là người bị giữ như tôi. Sáng hôm nay tôi hỏi Thanh Hải th́ Thanh Hải nói họ có gọi và Thanh Hải có trả lời phỏng vấn rồi. Tôi mới bị giữ có một ngày mà con gái tôi hoảng hốt, gọi đi đây đi kia, chiều hôm qua đi học thêm ở LHP c̣n gọi điện thoại về hỏi ngoại mẹ về chưa, sáng nay mắt nhắm mắt mở đă hỏi mẹ đâu rồi. Đúng là trong một gia đ́nh đơn chiếc như gia đ́nh tôi, chỉ có ba mẹ con bà cháu, nếu tôi có chuyện ǵ - như là bị xe tông hoặc ung thư chẳng hạn - th́ mẹ tôi và con gái tôi cũng không biết sống làm sao đây, ai nuôi đây!”

Ở hải ngoại, những cuộc biểu t́nh trước các sứ quán Trung Cộng và Việt Cộng, và hội thảo về Hoàng Sa & Trường Sa, cũng được tổ chức hầu như khắp mọi nơi có cộng đồng người Quốc Gia Việt Nam hải ngoại lưu cư. Ở tất cả mọi nơi, sự phẫn nộ cũng đều được cùng lúc dành cho cả Trung Cộng lẫn Việt Cộng. Có điều đặc biệt là h́nh như không ai c̣n thấy có cuộc biểu t́nh của du sinh nào có bóng dáng cờ đỏ, h́nh tội phạm Hồ Chí Minh, hay bản đồ Việt Nam màu đỏ như vài lần trước ở Âu Châu.

Trong phần hội thảo ở San Jose, Luật Sư Nguyễn Hữu Thống, ngoài luận cứ cho thấy Hoàng Sa & Trường Sa lúc nào cũng là những hải đảo của Việt Nam, và tội lỗi của CSVN liên quan đến nội vụ, c̣n nêu lên chi tiết khá lư thú, đó là:

“Năm l982 phái đoàn Trung Quốc đến Montego Bay, Jamaica, tham dự Đại Hội Liên Hiệp Quốc Kỳ 3 về Luật Biển, theo đó các quốc gia duyên hải chỉ được hưởng quy chế 200 hải lư vùng Đặc Quyền Kinh Tế đánh cá từ bờ biển, Trung Quốc đă hớn hở kư vào Công Ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển 1982 nầy. Nh́n lại bản đồ th́ vị trí của Hoàng Sa cách bờ biển Trung Quốc 270 hải lư, và Trường Sa cách xa hơn 750 hải lư”.

Vậy th́ làm sao Tam Sa dám cai trị phần hải đảo bên ngoài quy định của Công ước Quốc tế nầy được... Vậy mà CSVN chẳng những im lặng nh́n nhận c̣n xua công an đàn áp các cuộc biểu t́nh của thanh niên sinh viên yêu nước lên tiếng chống lại hành động Trung Quốc xấc xược xâm lăng các hải đảo của Việt Nam .

Cũng tại San Jose, các cuộc Biểu T́nh Thứ Ba Đen vẫn được tiếp diễn, chẳng những để phản đối Nghị Viên Madison Nguyễn và Thị Trưởng Chuck Reed đă làm nhiều chuyện sai trái, tiến hành việc Recall [băi nhiệm] Nghị viên Madison Nguyễn, mà c̣n tiến xa hơn là phục hồi nền Dân Chủ Pháp Trị vừa bị bức tử qua chuyện Madison Nguyễn và Thị Trưởng Chuck Reed đă sử dụng 8 lá phiếu của Hội Đồng Thành Phố làm chuyện phi dân chủ là cho tỷ lệ dưới 10% thắng hơn 90% nguyện vọng của cư dân trong thành phố.

Có điều khá lư thú là trong cuộc biểu t́nh thầm lặng ngày 16-1-2008 vừa qua [với đa số mấy trăm người biểu t́nh dán kín miệng diễn hành trước bữa ăn sáng tŕnh bày thành tích 1 năm làm thị trưởng của Chuck Reed], khi quan khách ra về, đi qua đoàn người im lặng đứng biểu t́nh, không ai thấy Chuck Reed và Madison Nguyễn bước ra. Hỏi một viên chức có tham dự bữa ăn sáng đó th́ ông nầy cho biết rằng “cũng không biết Chuck Reed và Madison Nguyễn đi ra bằng lối đi nào”. Như vậy là kẻ bức tử dân chủ đă trốn chạy sự kêu đ̣i dân chủ của người dân dưới quyền cai trị của ḿnh, trong lúc cuộc thăm ḍ khả năng điều hành thành phố San Jose của Thị Trưởng Chuck Reed của MercuryNews. com [ghi nhận lúc 6:35pm ngày 23-1-2008] cho thấy ông nầy đạt tỷ lệ 90% “FAIL” [Rớt - 1856/2064 - không có khả năng làm thị trưởng].

Một điều lư thú khác nữa là bỗng nhiên sinh viên tiến sĩ Lê Mỹ Phương, người tích cực đấu tranh “Phục hồi dân chủ ở San Jose” bị ai đó làm chuyện vu vạ quái đản, cho rằng cô đă “ám chỉ những người làm ăn buôn bán và sinh sống trong vùng SBD [Saigon Business District] là ma quỷ”, trong khi nguyên văn câu cô nói, c̣n lưu trên Website của Việt Vùng Vịnh [vietvungvinh. com], là:

“Mỹ Phương đề nghị bây giờ ḿnh gọi cái chổ SBD đó là MaTown. Có hai lư do, cái lư do thứ nhất là chữ Ma tiếng Anh là đọc ngắn của chữ Madison để ḿnh nhắc nhở người Mỹ rằng cổ đă áp đặt chính trị lên cái tên đó th́ cái vùng đó là sẽ được đặt tên là cái tên của cô... Cái lư do thứ hai, chữ Ma, ḿnh hiểu đó là chữ ma quỷ, thành ra ḿnh phải nhắc nhở cộng đồng ḿnh phải làm sao gạt cái cô Ma đó ra khỏi cái toà thị chính này...”

Không rơ thế lực nào đă khiến cho ai đó đă biến chữ MaTown được dùng để “ghi nhận sự sai trái của con người phản trắc xấc xược Madison Nguyễn, người chủ động bức tử nền dân chủ ở San Jose”, thành thứ vu vạ quái đản cho rằng “những người làm ăn buôn bán và sinh sống trong vùng nầy là ma quỷ”.

Từ bài học “dân chủ bị bức tử” tại San Jose, bước đến việc đấu tranh Dân Chủ Hóa Việt Nam ở quê nhà, t́nh h́nh đang có những biến chuyển dồn dập, khiến những con người đấu tranh Dân Chủ Hóa Việt Nam phải lưu tâm.

Biến chuyển mới nhứt cho thấy giữa lúc Hoàng Sa & Trường Sa, nằm trên biển Thái B́nh Dương bao la, xa ngoài tầm quy định của “Công Ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển năm 1982”, đối với Trung Quốc, nằm rất gần với bờ biển Việt Nam, lại bị Trung Cộng xấc xược ghép vào phần đất đai của chúng, th́ các cấp lănh đạo hàng đầu CSVN lại tụ tập xưng tụng nhau, trao huân chương Sao vàng [là huân chưong cao nhất của chế độ] cho Lê Khả Phiêu, nguyên tổng bí thư, và Trần Đức Lương, nguyên chủ tịch nước, hai nhân vật từng kư những Hiệp Định Biên Giới Lănh Hải bất lợi cho \tổ quốc Việt Nam, trước sự hiện diện của nguyên Tổng Bí Thư Đỗ Mười và nguyên Chủ Tịch Nước Lê Đức Anh, hai người đă môi giới để cầu ḥa với Bắc Kinh vào cuối thập niên 80 đầu 90 thế kỷ trước để được làm tổng bí thư và chủ tịch nước [tin từ RFA ngày 22-1-2008], bất kể Việt Nam có bị thêm một lần nữa lệ thuộc Trung Quốc, sau cả “ngàn năm nô lệ giặc Tàu”, như lịch sử đă ghi chép.

Phần khác, Lê Công Phụng, kẻ kư kết hiệp ước dâng hiến đất đai của tổ quốc Việt Nam cho Trung quốc, vừa được cử nhiệm làm đại sứ của nhà nước Cộng Ḥa Xă Hội Chủ Nghĩa Việt Nam tại Hoa Kỳ, ngay sau khi tŕnh ủy nhiệm thư lên Tổng Thống Bush, đă có cuộc tiếp xúc với báo chí [23-1-2008], lên tiếng binh vực việc làm của ḿnh như sau:

“...Trong cuộc đàm phán biên giới trước đây, tôi c̣n bị chỉ trích là làm mất đất và không có thời gian để giải thích. Sự thật không phải như vậy. Trước đó, Việt Nam và Trung Quốc chưa bao giờ có hiệp định biên giới. Trong cuộc đàm phán này, hai bên tranh chấp nhau khoảng 247 kilômét vuông, chứ không phải hàng ngàn. Sau khi đàm phán xong, Việt Nam được 130 kilômét vuông và Trung Quốc được 117 kilômét vuông. Đàm phán với một nước lớn như vậy th́ tương nhượng (compromise) là cách tốt nhất.”

Cho tới nay, Đảng và nhà nước vẫn c̣n giấu nhẹm nội dung cuộc đàm phán và hiệp ước nầy, nên dư luận chưa biết hết sự thật, chỉ qua câu tiết lộ của Lê Công Phụng, kẻ không có khả năng chuyên môn về lịch sử, địa lư và... đàm phán mà lại được đưa đi đàm phán, người nghe chợt giựt ḿnh tự hỏi:

“Của ḿnh bị người ta lấy hết 247 kilômét vuông, rồi kêu ḿnh đi thương lượng, ḿnh lật đật đi, tới nơi kỳ kèo được người ta cho lại 130 kilômét vuông, mừng quá về nhà coi như thắng lợi v́ đă tương nhượng (conpromise) cho người ta 117 kílômét, coi như là cách tốt nhất, đâu biết rằng đó là đi kư giấy cho kẻ cướp một phần đất của ḿnh đă bị nó cướp”.

Cả một lũ người đem đất nước dâng hiến cho kẻ thù lại nghinh ngang cao ngạo như vậy th́ dứt khoát phải thấy tội lỗi của CSVN đứng trước tội lỗi của Trung Quốc [bởi có CSVN Trung Quốc mới dám xấc xược xâm lăng như vậy], nên kẻ phải bị hài tội trước hết là CSVN, và những cuộc biểu t́nh phải trước hết nhắm vào CSVN, rồi mới tới kẻ thù truyền kiếp là Trung Quốc, để những cuộc biểu t́nh, từ quốc nội đến hải ngoại, mang đủ ư nghĩa của việc phản đối và kết tội các tội phạm, để từ đó làm thành những tài liệu xác thực, những chứng cớ cụ thể, cho những vụ án đ̣i lại những phần lănh thổ và lănh hải của tổ quốc đă bị mất đi, khi nội vụ được đưa ra trước ṭa án quốc tế, bởi một chánh quyền đích thực là của dân, qua một cuộc bầu cử hiến định, có sự tham dự của từng cử tri, chớ không qua cuộc cướp đoạt bằng lừa đảo và bạo lực, rồi cai trị bằng bạo quyền và tiếp tục lừa đảo, như Đảng và nhà nước Cộng Ḥa Xă Hội Chủ Nghĩa Việt Nam hiện tại.

Hẹn con thư sau
Giáo Già

tvvn.org

chieunhatnang
02-10-2008, 02:14 AM
http://www.activeworlds.com/newsletter/0205/images/valentine1.jpg

CÓ MỘT ĐIỀU GỌI LÀ HẠNH PHÚC

Không biết người Mỹ ăn Tết mừng năm mới của họ, họ có chúc nhau hạnh phúc không? H́nh như chưa được nghe câu này, thường chỉ đơn giản là “Happy New Year”, năm mới vui vẻ nhé! là được rồi, mà ngẫm cho cùng th́ có vui vẻ mới có hạnh phúc được chứ quư vị nhỉ! Có một thời gian người viết thật bi quan, luôn mang tâm trạng rầu rĩ, hết điều này tới chuyện nọ, ít khi ḷng thanh thản vui sống, có lần một người quen đưa cho một quyển sách mỏng tựa là “Nhẹ gánh lo âu” (How to overcome your difficulties) của K. Sri Dhammananda do Phạm Kim Khánh dịch, loại sách ấn tống công đức, dành để quảng bá không bán, như các loại kinh sách Phật. Chúng ta nên t́m đọc để t́m chút an b́nh cho tâm hồn, t́m đôi chút ư nghĩa về hạnh phúc trong đời sống; Hạnh Phúc, một điều mà ai cũng băn khoăn t́m ṭi ư nghĩa và chân lư rốt ráo của nó.

Có một câu định nghĩa về hạnh phúc của Đức Phật Thích Ca: “Hạnh phúc là một loại nước hoa mà ta không thể rót lên trên ḿnh người khác, và cùng lúc, khỏi đánh rơi một vài giọt trên ḿnh ta”. Có người thắc mắc rằng thỉnh thoảng người viết cũng “tốt đột xuất” (nghĩa là không “tốt thường trực”), biết giải thích thế nào đây nhỉ, có một thứ t́nh cảm nào không vụ lợi trên đời này? Khi được một sinh viên hỏi về phương pháp hữu hiệu nhất để chế ngự tâm, một nhà cơ thể học trứ danh người Anh trả lời: “Hăy cố gắng làm điều ǵ đó cho một người nào đó”. Đơn giản thế thôi, tại sao ta phải “sợ nhận”, chưa chắc ǵ người nhận mới là người hạnh phúc, mà chính người cho mới là người được hạnh phúc, khi ta “nhận” ḷng tốt của người khác cũng đồng nghĩa là ta đă “cho” người một niềm vui rồi đó vậy.
Cuối cùng th́ hạnh phúc là cái ǵ đây? Câu hỏi muôn đời của bất cứ ai, có người hạnh phúc khi làm một kẻ bàng quan, sống cho riêng họ, thờ ơ trước những nỗi đau của kẻ khác. Có người chỉ hạnh phúc khi sống với tha nhân, khi làm những điều nhỏ nhặt cho người khác vui. Chợt nhớ đến lời chúc của một người quen vào một năm tháng xa xưa nào đó: “Chúc em hạnh phúc!” Người ấy chúc lời hạnh phúc v́ biết người viết khó mà có hạnh phúc, như ta an ủi một người “Hăy vui lên!” khi họ đang ở bên bờ tuyệt vọng. Vậy mà đó lại là niềm vui, người viết bài này đă vui và sống qua được những ngày buồn bă nhờ lời chúc chân thành kia.

Trở lại với lời chúc đầu năm, chẳng biết từ bao giờ, nhưng người Mỹ châu, người Á châu, Úc châu và có lẽ những châu lục khác đều thích chúc tụng nhau “prosperous”, giàu có, thịnh đạt, phát tài... Xă hội nào dường như cũng nghĩ rằng hễ có tiền là có hạnh phúc, như câu tục ngữ Việt Nam “Có tiền mua tiên cũng được.” Vậy tiền có mang lại hạnh phúc không? th́ phải nhắc lại kết quả cuộc nghiên cứu được công bố tại buổi hội thảo của Hội Kinh Tế Gia Hoa Kỳ vào đầu tháng Giêng năm 2002, th́ “tiền mua được hạnh phúc”. Tuy nhiên, phần công bố cũng nêu thêm những người thích thứ hạnh phúc mong manh này dễ cảm thấy hạnh phúc bị giảm đi khi người chung quanh họ cũng có tiền. Kinh tế gia Anh Quốc Andrew Oswald giải thích thêm: “Nhân loại vốn dựa t́nh cảm của họ vào số tiền họ có trên sự liên hệ chung với xă hội. V́ vậy người ta không ngừng so sánh tài sản của ḿnh với người khác.” Người ta thắc mắc vào thời điểm đó nước Mỹ c̣n đang đương đầu với giai đoạn cuối của kỳ kinh tế tŕ trệ, hàng triệu người bị thất nghiệp, thương vụ của hàng ngàn cơ sở thương mại bị giảm với mức độ kỷ lục, làm sao các kinh tế gia c̣n có thời giờ t́m sự liên hệ giữa tiền và hạnh phúc? Chẳng qua v́ giới tiêu thụ giữ phần quan trọng đa số trong bất cứ nền kinh tế nào nên t́nh cảm của giới tiêu thụ phải được các kinh tế gia quan tâm. Giới tiêu thụ có vui ḷng, cảm thấy hạnh phúc, họ mới sẵn sàng chi tiền mua sắm hơn. Lănh vực nghiên cứu về liên hệ giữa tiền và hạnh phúc khởi sự từ hơn 25 năm trước đây. Cuộc nghiên cứu đầu tiên do Richard Easterlin, cư dân California, chủ xướng. Ngay từ thời đó, ông Easterlin đă đưa nhận xét người dân Mỹ nói chung ngày càng giàu có hơn, nhưng không hài ḷng với tài sản họ có được. Lúc đầu ông bị chế riễu, tuy nhiên bây giờ rất nhiều kinh tế gia đă bỏ thời giờ nghiên cứu thêm về lănh vực này nhằm đưa những dự kiến khá chính xác về mức độ mua sắm của người dân trong từng chu kỳ kinh tế khác nhau.

Kinh tế gia Oswald công bố sự liên quan giữa tiền và hạnh phúc sau khi t́m hiểu cảm xúc của những người mới trúng số hay vừa hưởng gia tài. Ông nhận thấy những người này vui hẳn lên ngay trong năm sau đó v́ lư do họ có nhiều tiền một cách bất ngờ. Ngược lại, trong thời kỳ kinh tế suy thoái, những người không mất việc cũng cảm thấy chán đời. Oswald kết luận: “Sự bất công trong xă hội giúp tạo nên hạnh phúc của giới tiêu thụ.” Phân tích của ông cho thấy nếu mọi người trong một khu vực đều giàu có hết, người đang giàu sẽ không t́m thấy hạnh phúc. Ngoại trừ khi nào họ cảm thấy có nhiều cơ hội hơn và có tài sản nhiều hơn, nhanh hơn những người khác. Nhưng đó là quan điểm của một kinh tế gia người Anh! Tại Mỹ, nhiều kinh tế gia khác như ông Alberto Alesina và Rafael Di Tella thuộc Đại Học Havard th́ lại nghĩ khác. Hai ông này cho biết người Mỹ đa số không ai để ư đến tài sản của người chung quanh mấy. Dĩ nhiên, trừ một số rất ít những người thuộc giới danh gia vọng tộc giàu có từ nhiều đời. Hai ông cho rằng v́ nhóm người may mắn này sống quá rảnh rỗi nên mới có th́ giờ so sánh với người khác về tiền bạc, tài sản. Nhưng có lẽ phần phân tích về sự liên quan giữa tiền và mức độ hạnh phúc của con người của ông Daniel Kahneman, một giáo sư đại học tại Princeton là dễ chấp nhận hơn hết. Kahneman là người được một số kinh tế gia đề nghị lănh giải Nobel về lănh vực này. Ông cho biết t́nh cảm con người và số tiền họ có là một ṿng luẩn quẩn. Càng làm ra nhiều tiền, người ta càng cảm thấy hạnh phúc, v́ được mua sắm nhiều hơn, làm chủ nhiều tài sản hơn. Nhưng càng mua sắm thêm, những người này lại càng nâng cao mục tiêu cần kiếm ra thêm tiền. Cứ như vậy, họ không bao giờ đạt được cái đích hạnh phúc do chính họ đặt ra. Khi không c̣n có tiền nữa, như trong thời kỳ kinh tế suy thoái, những người đang hạnh phúc theo kiểu này sẽ cảm thấy họ bất hạnh ngay.

Khi tờ báo này đến tay quư vị th́ đă bước vào một năm mới, kèm với lời chúc mọi người được hạnh phúc, xin tặng quư vị một thống kê mới cho thấy dân tộc nào là những người đang hạnh phúc nhất thế giới? Theo một nghiên cứu của World Values Survey trên 65 quốc gia cho thấy người hạnh phúc nhất thế giới sống ở Nigeria và người bất hạnh nhất là ở Romania. Những người ở Châu Mỹ La Tinh, Tây Âu và Bắc Mỹ hạnh phúc hơn các cư dân ở Đông Âu và Nga. Tiếp sau Nigeria, các nước có tỷ lệ những người hạnh phúc cao hàng đầu là Mexico, Venezuela, El Salvador và Puerto Rico. Trong khi đó người Nga, Armenia và Romania đứng cuối bảng. Nhưng các yếu tố mang lại hạnh phúc không giống nhau ở mỗi quốc gia. Ở Hoa Kỳ, thành đạt và khả năng thể hiện bản thân được coi là quan trọng nhất. Trong khi ở Nhật Bản, việc đạt được các tiêu chuẩn về gia đ́nh và xă hội lại có ư nghĩa hơn cả. Kết quả cuộc khảo sát khẳng định quan niệm truyền thống rằng tiền không thể mua được hạnh phúc. Theo các nhà nghiên cứu, mức độ hạnh phúc hầu như không thay đổi ở các nước kỹ nghệ từ sau Đệ Nhị Thế Chiến, mặc dù thu nhập đă tăng đáng kể. Ngoại lệ duy nhất là ở Đan Mạch - người dân đă cảm thấy hài ḷng hơn trong 3 thập niên nay. Các nhà nghiên cứu tin rằng, xu hướng bất biến này có liên quan tới việc bảo vệ quyền lợi người tiêu thụ. Khảo sát cho thấy nhu cầu vật chất, thường gia tăng do mức thu nhập thấp, là một nhân tố cản trở hạnh phúc.

Cho nên bằng ḷng với những ǵ ḿnh đang có là đă hạnh phúc rồi, phải không quư vị? Hăy thử làm một trong những điều sau đây xem có thấy ḷng ḿnh hạnh phúc không:
Cho người khác nhiều hơn họ mong đợi và hăy làm điều đó một cách vui vẻ; Khi đánh mất điều ǵ đó, nhớ đừng đánh mất kinh nghiệm; Hăy chia sẻ kiến thức của ḿnh, đó cũng là một cách để thành đạt; Hăy quan tâm đến công việc của ḿnh; Hăy nhớ rằng mối quan hệ tốt đẹp nhất là mối quan hệ mà t́nh yêu thương quư vị dành cho nhau làm tăng sự cần thiết đối với nhau.

Vậy mà đă 2008 rồi sao? Buồn hay vui ǵ th́ cũng xin chúc mọi người Happy New Year!

NGÔ TỊNH YÊN
MAI NWS

M.T
02-11-2008, 12:00 AM
:thankyou:Nắng rất nhiều v́ đă post một bài định nghĩa về "hạnh phúc" rất hay và rất xác thực.
Chị đang ở Đà Lạt ăn Tết với gia đ́nh.Thật t́nh cờ hay có "thần giao cách cảm", tối hôm qua khi đọc một câu cuốnh truyện ngắn, chị nằm suy nghĩ và tính post một vài suy nghĩ của ḿnh về khái niệm "Hạnh phúc" ở mục "Tâm t́nh bạn đọc" th́ trưa nay lại được đọc bài Nắng post. Hạnh phúc rất đơn sơ, giản dị và ở xung quanh ta, với chị mùa xuân này thật ấm áp v́ được "về nhà" dù Đà lạt rất lạnh, được gần gũi cha mẹ, ACE và cả gia đ́nh nhỏ của ḿnh nữa. Hạnh phúc là được dành thật nhiều thời gian cho gia đ́nh , cho bạn bè thân t́nh mà ngày thường cuộc sống tất bật từ 6h sáng đến 8h tối đă không cho phép ḿnh làm điều ḿnh muốn. Hạnh phúc với MT c̣n được cuộn ḿnh trong chăn và đọc vài cuốn truyện ngắn mà chỉ có khi "về nhà", Mt mới có thời gian để đọc.
Chúc Nắng luôn khỏe, vui và có được hạnh phúc theo nghĩa mong muốn của ḿnh nhé :kiss::om:

chieunhatnang
02-15-2008, 03:07 PM
Chị Tím :om: Nắng đang chờ nhận Thư Cuối Tuần - Nhận xong sẽ post tiếp há :p

chieunhatnang
03-10-2008, 07:43 PM
YÊU TỐT CHO TRÁI TIM

Chúng ta đă trải qua những ngày lễ Valentine’s Day sau biến cố không ai ngờ được vào một ngày buồn của tháng Chín. Có lẽ v́ thế mà nó mang một ư nghĩa thật là đặc biệt, đặc biệt là người ta nghĩ đến chuyện yêu nhau nhiều hơn. Có lần người viết bài này có bày tỏ rằng không thích ngày lễ Valentine, đơn giản là v́ sao chỉ có ngày đó người ta mới nói được những lời yêu thương nhau, mới mua hoa tặng nhau. Nghĩ lại th́ cũng lẩm cẩm thật, nếu ngày nào cũng mua hoa tặng nhau th́ chắc người viết bỏ báo để mở tiệm bán hoa cho rồi. Xin nói rơ không thích không có nghĩa là chống đối như một số người ở cả Mỹ lẫn trên thế giới trong mấy năm qua, bỗng nhiên giở chứng chống đối lung tung xèng (cả bằng bạo lực) những ai đón mừng cái ngày bày tỏ t́nh cảm với nhau này.

Ngày Valentine’s Day vốn là ngày để tôn vinh T́nh Yêu, và ngày càng được mở rộng ra đến những lănh vực t́nh cảm khác như những món quà hay thiệp mừng tặng gia đ́nh, bạn bè... điều đó ai cũng biết. Thế nhưng giờ đây đó cũng là ngày mà rất nhiều người độc thân – hiện đang gia tăng ngày càng nhiều – không thích nhất. Tuy các tổ chức mai mối se duyên cho những người độc thân mỗi năm cũng thường tổ chức các buổi họp mặt t́m hiểu nhau và dịch vụ t́m bạn đường qua điện thoại di động ngày càng mở rộng. Một ngày trước Valentine’s Day, trang web se duyên lớn nhất nước Mỹ là Match.com và hăng điện thoại AT&T Wireless tung ra dịch vụ Match Mobile, cho phép khách hàng t́m “người trong mộng” qua điện thoại di động. Chủ Tịch của Match. com là Tim Sullivan nói rằng “Đối với dịch vụ mối mai qua mạng, công nghệ không dây sẽ đóng một vai tṛ vô cùng quan trọng”.

Trước đây, máy t́m kiếm của Match.com tự động ghép đôi những người “hợp” nhau theo thông tin cá nhân mà họ báo qua Internet. Nhờ có dịch vụ mới Match Mobile, người dùng điện thoại di động có thể t́m “đối tượng” của ḿnh trong những khu vực nhất định v́ máy t́m kiếm thực hiện việc ghép đôi dựa trên mă số vùng bưu điện. Dịch vụ mai mối trên mạng (online) ngày càng phát triển. Theo công ty nghiên cứu ComScore Networks, 26,6 triệu người Mỹ vào thăm các website tơ hồng trong một năm, tăng 31% so với năm trước đó. Bốn địa chỉ nổi tiếng nhất là Match.com với 5,7 triệu người dùng, Yahoo Personals của Yahoo (4 triệu), One2onematch.com (3,5 triệu) và Matchmaker của TerraLycos (3,2 triệu). Thế nhưng những người không thích yêu đă phản đối các kiểu mai mối này. Ví dụ ở Chicago ngày Valentine, một vài quán rượu đă tổ chức các bữa tiệc chống lại ngày mừng lễ T́nh Yêu, và họ đă treo những cái bong bóng màu đen để bày tỏ thái độ chống đối.

Trên Internet và trong các cửa tiệm, những người chống lại ngày Valentine đă đưa vào các tấm thiệp những lời lẽ không có vẻ ǵ là tử tế hết, chẳng hạn trong một tấm thiệp người ta có thể nh́n thấy ḍng chữ “Ngoài tất cả các bà vợ trên đời, th́ em là người tuyệt vời nhất.” Một người theo chủ nghĩa chống Valentine’s Day là Xiaoxin Lu đă đưa ư kiến lên mạng lưới toàn cầu, cho rằng “Động cơ tiên quyết đàng sau ngày vinh danh t́nh yêu là tiền. Người ta đă khai thác thương mại nhân danh t́nh yêu. Trong khi đó, những người đang sống cô độc th́ lại không được ai đoái hoài tới.” (Bộ có lệnh cấm những người độc thân không được yêu hay sao?). Như vậy, Illinois với thành phố Chicago tổ chức nhiều buổi tiệc chống lại ngày biểu lộ t́nh cảm nhất trong ngày lễ Valentine’s Day, đă trở thành tiểu bang có nhiều người không thích yêu nhất Hoa Kỳ. C̣n tiểu bang nào có nhiều người thích yêu nhất? Chưa thấy ai thống kê điều này, nhưng người ta có thống kê xem tiểu bang nào có nhiều người mang tên “Love” nhất nước Mỹ. Số người mang tên “Love” nhiều nhất hiện được quận Cabarrus County ở North Carolina chiếm kỷ lục – gấp 8 lần tính trung b́nh trên toàn quốc. Không tin cứ nh́n vào niên giám điện thoại của tiểu bang này mà xem... Kết luận này dựa theo nghiên cứu của hăng nghiên cứu thị trường Claritas tại San Diego, được thực hiện trong tuần lễ Valentine. Các quận khác không xa Cabarrus như Union, Gaston và Mecklenburg cũng là những quận có số người tên Love ít hơn Cabarrus một chút, khiến tiểu bang North Carolina trở thành tiểu bang có nhiều người tên “Yêu” nhất Hiệp Chủng Quốc. Cô Clementeene cư ngụ ở Gastonia cho rằng cái tên cúng cơm này của cô nói lên một điều “Tôi là một người thân thiện, lạc quan. Tôi yêu thương gia đ́nh tôi và tôi yêu người, yêu đời. Đó là một cái tên thật đẹp. Yêu, đó là đời sống.” Các nhà nhân chủng học tại hăng Claritas cũng đă thử nghiên cứu một số tên đặc biệt khác có liên quan đến ái t́nh như Romeo, Casanova, Cupid... ngay cả tên Lust có nghĩa “khao khát”, vậy mà cái tên Lust cũng có vẻ phổ biến ở quận Oneida County, New York. Tuy nhiên Love vẫn là cái tên thông dụng nhất. Nếu có thể so sánh Cabarrus County với một nơi nào khác, th́ vùng Charlotte cũng có “Love” nhiều nhất, nhưng chỉ là họ chứ không phải tên. Các nhà nghiên cứu đă lướt qua các quận hạt của Hoa Kỳ với dân số trên 100,000 người và xếp nó với những địa điểm tập trung những người mang họ Love nhiều nhất, th́ chỉ có 0.03 phần trăm dân số Hoa Kỳ có người mang tên Love, riêng quận Cabarrus County chiếm 0.24 phần trăm dân số người mang tên Love trong quận. Ngày T́nh Yêu cũng đang được tiếp nhận ở một số nước Á Châu. Chỉ lấy một điển h́nh tại thủ đô Bangkok, Thái Lan, (theo tường tŕnh của một đặc phái viên đài phát thanh) ngay khoảng từ đầu tháng 2, các cửa tiệm lớn đă trang hoàng tủ kính rất lộng lẫy, nhắc nhở giới tiêu thụ biết để chuẩn bị mua sắm quà cáp và tiêu tiền vào đủ loại hàng từ quần áo, mỹ phẩm, son phấn, nước hoa, nữ trang, bánh kẹo và chocolat. Bên cạnh đó, các tiệm nhỏ cũng bày biện những sản phẩm riêng của ḿnh mang ư nghĩa của ngày Valentine như hoa làm bằng lụa, hàng thêu, các chiếc hộp giấy gắn hoa hồng h́nh trái tim và nhiều thứ khác. Hơn thế, báo chí địa phương bằng tiếng Thái và ngay cả tờ Bangkok Post, The Nation bằng Anh Ngữ cũng quảng cáo rầm rộ những buổi ăn tối thịnh soạn cho các cặp t́nh nhân trong ngày Valentine được các khách sạn sang trọng trong thủ đô chuẩn bị cho dịp này cũng như chương tŕnh đặc biệt thuê khách sạn cho dịp cuối tuần với pḥng trang hoàng hoa hồng h́nh trái tim. Riêng tại ṭa nhà All Seasons, suốt một tuần đă có thêm các quầy hàng nhỏ bán bánh kẹo chocolat, quà lưu niệm Valentine, và nhiều thứ khác, nhưng đặc biệt nhất là một chiếc bánh thật lớn cao 4 tầng gần 2m, với hàng ngàn bông hoa hồng màu hường và màu crème thật đẹp mắt. Tại đây, một quầy hàng bày biện đủ mọi thứ hoa hồng làm bằng tay trông như thật, đồ trang sức phụ nữ kết bằng cườm, giày cao gót vẽ hoa và nhiều món lưu niệm khác thật lạ mắt. Một nữ chủ nhân quầy hàng kiểu này cho biết là mỗi năm vào dịp Valentine cô cố gắng sáng tạo những kiểu mẫu hàng lạ mắt hơn so với những năm trước, v́ thị hiếu của người tiêu thụ thay đổi không ngừng.

Trước đây, họ thường tặng nhau thiệp chúc Valentine, hoa hồng, nhưng bây giờ người ta muốn t́m các mặt hàng lạ hơn, khác hơn những năm trước, v́ thế công việc của cô cũng đ̣i hỏi sự sáng tạo để cạnh tranh với các tiệm khác. Cô giải thích thêm rằng công việc vẽ kiểu mẫu cho các sản phẩm của ḿnh là một công việc rất thú vị, đ̣i hỏi cô luôn suy nghĩ để có những sáng kiến mới lạ. Cô rất vui khi thấy những người qua lại trầm trồ các mặt hàng của ḿnh và khách hàng thường trở lại vào mỗi dịp Valentine. Và đây là dịp tốt cho công việc buôn bán của cô. Một phụ nữ Thái khi được hỏi rằng cô nghĩ như thế nào về ư nghĩa ngày Valentine, th́ cô nói rằng đối với cô, Valentine là ngày rất đặc biệt nhưng không quan trọng bằng ngày sinh nhật “Hơn thế, tôi cho rằng mỗi ngày chúng ta đều có thể bày tỏ t́nh yêu v́ thế không cần thiết phải có một ngày như Valentine.” Tuy nhiên, cô nói rằng ngày Valentine là một nét văn hóa của Phương Tây nhưng ngày càng mang tính cách toàn cầu nên bất cứ ai dù ở bất cứ đâu cũng có thể kỷ niệm ngày Valentine, người Thái cũng vậy. Cô nói điều thích thú nhất là vào dịp Valentine, các cửa tiệm và nhiều nơi trong thủ đô trang hoàng thật đẹp mắt với màu sắc hấp dẫn, và cũng giúp những người làm công việc buôn bán khấm khá hơn. Một cô khác cho biết ngày t́nh yêu không chỉ riêng là của Phương Tây, mà mang tính chất toàn cầu, v́ thế rất nhiều người Thái cũng kỷ niệm ngày này. Nhưng riêng cô th́ cô không làm ǵ rầm rộ cả, mà chỉ cùng người bạn trai của cô dùng cơm tối chung với nhau. Cô nói “Thật ra th́ chúng tôi quen biết nhau vào tháng Hai cho nên tháng Hai mỗi năm đánh dấu kỷ niệm đặc biệt riêng của chúng tôi. Dù vậy, tôi không trông đợi người yêu tặng quà cáp ǵ đắt tiền mà thường chỉ là một bó hoa mà mỗi người tặng cho nhau”. Cô cho biết thêm một khía cạnh khác của người Thái là họ rất thích tổ chức những lễ lạc không thuộc về văn hóa truyền thống của ḿnh như Giáng Sinh, Tết Tây rồi Tết Âm Lịch của người Hoa và cả Valentine của người Tây Phương. Mỗi năm vào dịp này khu vực Bang Rak ở Bangkok thường tổ chức lễ cưới cho các cặp t́nh nhân và tung ra nhiều giải thưởng rất hấp dẫn. Vào ngày 14/2 có khoảng 1,500 cặp lên xe hoa, và khu vực Bang Rak trao tặng 10 chứng chỉ kết hôn bằng vàng trị giá mỗi tấm là 5,000 bath và nhiều giải thưởng khác. Nhưng, một viên chức tại đây nhận xét rằng một số cặp đến Bang Rak làm lễ cưới không phải v́ thật sự yêu nhau mà chỉ muốn được các giải thưởng có giá trị mà thôi. Cho dù người Thái và đặc biệt là những người trẻ tuổi náo nức hưởng ứng ngày T́nh Yêu, nhưng, Thị Trưởng Bangkok, ông Samak Sundaravej đă ra lệnh cho giới chức thành phố hăy tránh khuyến khích tổ chức ngày Valentine mà hăy chú trọng đến ngày Maka Bucha (ngày dành cho t́nh thương trong truyền thống đạo Phật) rơi đúng vào rằm tháng 3 âm lịch. Trong khi đó, nhân vật cao cấp khác thuộc cơ quan quản trị thủ đô, ông Nattahnon Thavisin nói “Chúng tôi không muốn thấy văn hóa nước ngoài ảnh hưởng quá nhiều đến người Thái”. Tuy nhiên không phải nước Á Châu nào cũng hưởng ứng, nếu Ngày Cho T́nh Yêu tại Thái Lan được nhiều người đón mừng một cách nồng nhiệt, th́ tại một số nơi khác trong vùng, dường như hoàn toàn trái ngược. Tại thành phố Peshawar ở Pakistan, cánh sinh viên của nhóm Hồi Giáo cực đoan Jamat Islami lên án ngày Valentine là ngày nhục dục và tội lỗi của Phương Tây. Một lănh tụ của tổ chức này nói Valentine đi ngược lại truyền thống Hồi Giáo và kêu gọi chính quyền trung ương ban hành lệnh cấm tổ chức ngày dành cho T́nh Yêu tại đây. Trên thực tế, ngày Valentine ngày càng được ưa chuộng tại Pakistan từ vài năm gần đây. Các khách sạn lớn thường tổ chức các buỗi dạ tiệc và khiêu vũ. Ngoài ra, các nhật báo và đài truyền h́nh địa phương khuyến khích mọi người gửi thông điệp t́nh yêu cho nhau nhân ngày Valentine. Chính v́ thế mà giới truyền thông bị chỉ trích là quảng bá sự đồi trụy của Phương Tây tại quốc gia theo Hồi Giáo này.

Tại nước láng giềng của Pakistan là Ấn Độ th́ các nhóm theo Ấn Giáo đă có hành động phản đối việc tổ chức lễ Valentine bằng cách đập phá các cửa tiệm, đốt thiệp chúc Valentine và xách nhiễu các cặp t́nh nhân nắm tay nhau trên đường phố. Một lănh tụ Ấn Giáo nói rằng đó là âm mưu thống trị văn hóa của Phương Tây đối với văn hóa truyền thống Ấn nhằm thu hút giới trẻ để trục lợi về thương mại. Cho dù ngày cho T́nh Yêu bị phản đối kịch liệt như thế, nhưng liên tục nhiều năm Valentine ngày càng thu hút nhiều người đặc biệt là tại những nơi thành thị ở Ấn. Một chủ nhân tiệm bán thiệp Valentine ở thành phố Bombay nói rằng hành động đập phá như thế “không thay đổi được điều ǵ, v́ các cặp yêu nhau vẫn tiếp tục tổ chức ngày Valentine, chỉ tội nghiệp cho chủ nhân các cửa tiệm bé nhỏ như chúng tôi bị tấn công”. Trong những ngày đó, cảnh sát ở Bombay được lệnh tăng cường an ninh chung quanh các cửa tiệm lớn. Tại thủ đô New Delhi các nhóm theo Ấn Giáo đă tuần hành phản đối ngày Valentine trước Quốc Hội và xách nhiễu du khách người Âu Châu và Mỹ nắm tay nhau trên đường phố. Một điều đáng chú ư là mới đây theo một thống kê của Hội Tim Mạch Hoa Kỳ cho thấy đa số những người được hỏi đều cho rằng t́nh yêu có ảnh hưởng rất lớn đối với sức khỏe của họ. Cuộc thăm ḍ được tiến hành như là một hoạt động gây quỹ cho chương tŕnh có tên gọi là “Sức mạnh của t́nh yêu” với mục tiêu giúp cho những bệnh nhân tim mạch. Cuộc thăm ḍ ư kiến về mối quan hệ giữa t́nh yêu và sức khỏe. Cụ thể cứ 6 trong số 10 người được hỏi đều tin tưởng mạnh mẽ rằng quan hệ yêu thương có ảnh hưởng nhiều đến toàn bộ sức khỏe của họ. Có nghĩa là họ sẽ bớt đau... tim hơn nếu lúc nào cũng được sống trong t́nh yêu thương.

Vậy có nên gởi thống kê này đến cho những người đă và đang chống đối Ngày Của Yêu Thương không nhỉ? Tự cổ chí kim, người viết bài này chưa thấy bạo lực nào có thể khuất phục được t́nh yêu bao giờ!

NGÔ TỊNH YÊN
Tháng 2/Mai nws

http://www.victorianrose.org/images/red_rose2.jpg

chieunhatnang
05-02-2008, 10:56 AM
http://img.photobucket.com/albums/v735/HDHP/luck1.jpg

ĐỊNH MỆNH, DUYÊN SỐ VÀ THỜI VẬN

Tại sao có người đẹp, có người xấu? Tại sao có người yếu, kẻ mạnh? Tại sao có người giàu, có người nghèo? Tại sao có người luôn phải sống trong buồn khổ, có người lại luôn sung sướng và hạnh phúc? Tại sao có người hiền lành, thật thà, có người lại gian dối, xảo quyệt? Tại sao có người thông minh, có người lại tối dạ?...

Hàng muôn ngàn câu hỏi tại sao trong cuộc sống thực tế của thế nhân. Tùy theo tŕnh độ kiến thức, vị trí, hoàn cảnh, mong ước, khát vọng... của mỗi cá nhân dẫn đến những câu hỏi "tại sao" khác nhau cho từng người nhưng một điều chắc chắn, là con người, về phương diện này hay phương diện khác, ít hay nhiều, ai cũng có những câu hỏi "tại sao" về những sự kiện xảy ra cho bản thân và xă hội chung quanh ḿnh. Những câu hỏi không trả lời được, không giải đáp được th́ dường như cách giải thích dễ nhất là "đổ thừa" cho định mệnh, cho duyên số, cho thời vận.

Suy nghĩ theo các nhà khoa học, mọi việc xảy ra đều có nguyên nhân hay lư do cụ thể của nó, những "sự kiện" xảy ra chưa giải thích được là v́ kiến thức của con người vẫn chưa đủ để giải thích. Nói cách khác, kiến thức của nhân loại vẫn c̣n giới hạn chưa đủ để giải thích tất cả những "hiện tượng" xảy ra trong đời sống con người và thế giới chung quanh. Phật giáo cũng có quan niệm tương tự như vậy, theo luật nhân quả của đạo Phật: "Bất cứ điều ǵ xảy ra là do một hay nhiều nguyên nhân chứ không phải v́ may mắn, v́ cơ hội hay do định mệnh." Mọi việc phải có mối liên hệ giữa nhân và quả. Chẳng hạn, bị bệnh có nhiều nguyên nhân cụ thể. Người bị nhiễm vi trùng và cơ thể của họ phải yếu đi v́ chính vi trùng đó đă gây ra bệnh. Có một mối quan hệ xác định giữa nguyên nhân (vi trùng và cơ thể yếu) với kết quả (bệnh) v́ chúng ta biết rằng vi trùng đă tấn công vào các tế bào và gây ra bệnh. Sự liên hệ giữa các hiện tượng xảy ra hoặc nguyên nhân và kết quả của tất cả hiện tượng là một phạm trù rất phức tạp và bao quát. Bài viết này chỉ đề cập một cách khái quát đến những quan niệm thông thường về định mệnh, duyên số, thời vận và những phương cách giải quyết thực tế trong khả năng của một người b́nh thường, như hầu hết chúng ta có thể làm được trong đời sống hàng ngày.

Quan niệm mỗi người đều có "số trời định sẵn" và không thể đổi khác được, tiêu biểu như Tố Như Nguyễn Du đă viết trong "Đoạn Trường Tân Thanh":

"Bắt phong trần phải phong trần
Cho thanh cao mới được phần thanh cao".

Số mệnh của Thúy Kiều do "thiên định" là phải như vậy nhưng tại sao số mệnh của Thúy Kiều phải như thế? Ai tạo ra hay đặt để số mệnh cho Thuư Kiều? Do tiền thân nghiệp chướng? Hay chỉ do "t́nh cờ" và có thể xảy đến cho bất cứ cô gái nào khác? Câu trả lời nào có lẽ cũng ngoài tầm hiểu biết "chắc chắn" của đa số chúng ta. Trường hợp của Thúy Kiều có thể chỉ là một câu chuyện văn chương, một phương tiện để diễn tả, chuyên chở quan điểm riêng của Nguyễn Du. Nhưng trong đời sống thực tế th́ cũng rất nhiều những trường hợp tương tự Thúy Kiều, hoặc thương tâm hơn nữa của những nàng Kiều ở mọi thời đại. Dĩ nhiên, làm thân con gái, chắc chắn không có ai muốn lâm vào cái cảnh túng quẩn đến nổi phải "bán thân". Chắc chắn là chúng ta, ai cũng muốn thành công và có một cuộc sống sung túc. Tuy nhiên, có người thành công, đạt được mục đích mong muốn một cách rất thuận lợi và dễ dàng, có người lại "làm hết sức" vẫn không toại ư và luôn gặp những khó khăn trở ngại ngoài ư muốn. Dường như giàu, nghèo, sang, hèn cũng đều do số trời. Chẳng hạn như việc trúng số "độc đắc", rất khó t́m một lư do nào khác để giải thích cho hợp lư hơn là "vận may" của người trúng số. Người Á đông tin rằng: "Đại phú do thiên, tiểu phú do cần". Chữ "may mắn" (luck) trong tự điển tiếng Anh được định nghĩa như: "May mắn là tin tưởng rằng bất cứ điều ǵ xảy ra, tốt hoặc xấu, đến với một người trong những diễn biến của các sự việc là do cơ hội, số mệnh hay vận may mà có" (luck as believing that whatever happens, either good or bad, to a person in the course of events is due to chance, fate or fortune ).

Trong lănh vực t́nh cảm, người Á đông tin tưởng có duyên nợ mới thành vợ chồng. Có duyên th́ dù xa vạn dặm cũng có thể gặp gỡ, c̣n không duyên th́ có ở gần cũng không gần gũi nhau về t́nh cảm, luyến ái.

"Hữu duyên thiên lư năng tương ngộ
Vô duyên đối diện bất tương phùng".

Hoặc như câu ca dao:

"Phải duyên th́ gắn như keo
Trái duyên đểnh đoảng như kèo đục vênh ".

Trong đời sống t́nh cảm, có thể nói chữ "duyên" đóng một vai tṛ quan trọng không những trong t́nh yêu mà c̣n trong nhiều quan hệ t́nh cảm khác nữa như tri kỷ, tri âm, bạn bè, quen biết... nhưng dù duyên số là quan trọng, khi có t́nh cảm với ai đó, cũng phải tận dụng cơ hội, tích cực bày tỏ và cố gắng "chiếm" t́nh cảm của đối tượng. Chứ không nên phó mặc cho chữ duyên và thản nhiên ngồi đợi: "Nếu có duyên th́ sẽ tới". V́ duyên tới th́ duyên cũng có thể đi. Đặc biệt, trong đời sống lứa đôi, cả hai phải nỗ lực để chứng tỏ, ngoài " ư trời" c̣n là "ư người" nữa. Nói cách khác, cả hai người phải làm cho nhau cảm thấy đây là một sự lựa chọn nghiêm túc và đúng đắn chứ không phải chỉ do "ư trời" .

Xin gởi đến các bạn vài mẩu chuyện về "định mệnh" để chúng ta cùng xem và suy gẫm.

Có một nhà tu sĩ Ấn Độ tên là Narada trên một chuyến đi hành hương ở đền thần Vishnu. Trên đường đi hành hương, ông được đón tiếp và tạm trú qua đêm trong một cḥi tranh của cặp vợ chồng hiếm muộn. Trước khi ông tiếp tục lên đường, người chồng nói: "Nhân dịp Ngài đi thờ phượng thần Vishnu. Ngài hăy xin Thần cho tôi một đứa con." Narada đă cầu xin với Thần Vishnu như sau: "Xin Thần thương xót vợ chồng đó và ban cho họ một đứa con". Thần Vishnu trả lời, với một giọng chắc nịch: "Định mệnh đă an bày, đôi vợ chồng đó không có con được." Năm năm sau, Narada đi hành hương nữa và cũng được đôi vợ chồng đó đón tiếp cho trú ngụ. Lần nầy, có hai đứa trẻ đang chơi đùa ở trước cḥi tranh. Narada hỏi: "Con ai vậy?". Người chồng trả lời: "Con tôi đấy." Narada rất ngạc nhiên v́ trái ngược với lời Thần Vishnu nói với ông. Người chồng nói tiếp: "Cách đây năm năm, sau khi ngài rời khỏi chúng tôi, một người hành khất đă đến ngôi làng chúng tôi. Chúng tôi cũng đă cho trọ một đêm và ngày hôm sau, trước khi ra đi, ông đă chúc phúc cho chúng tôi. Đây là kết quả của sự chúc phúc của vị ấy." Khi đến đền thờ thần Vishnu, Narada đă la lớn ngay từ ngoài cổng: "Phải chăng Ngài đă bảo tôi là định mệnh đă an bày cho vợ chồng đó không có con sao? Nay họ có hai mụn con!" Thần Vishnu nghe câu nói đó đă cười lớn tiếng và nói: "Điều đó chắc chắn phải là việc làm của một vị thánh. Các thánh có năng lực cải đổi số mệnh."

Trong một trận chiến, Nabunaga, một đại tướng Nhật Bản quyết định tấn công địch quân. Về quân số, ông chỉ có "một chọi mười" so với đối phương. Dù Nabunaga tin chắc sẽ thắng, nhưng binh sĩ của ông rất lo sợ. Trên đường đi đến chiến trường, họ đă dừng lại ở một đền thờ Thần Giáo. Sau khi cầu nguyện trong đền thờ, Nabunaga đi ra và nói: "Bây giờ, tôi tung một đồng tiền lên. Nếu mặt "ngửa" chúng ta sẽ thắng, nếu mặt "sấp", chúng ta sẽ thua". Ông tung đồng tiền lên và kết quả "ngửa". Các binh sĩ nức ḷng chiến đấu nên họ đă thắng địch quân. Ngày hôm sau, một sĩ quan phụ tá nói với Nabunaga: "Không ai có thể cải đổi Số Mệnh được.” Nabunaga trả lời: "Đúng thế!” và đưa cho viên sĩ quan phụ tá xem đồng tiền mà cả hai mặt đều "ngửa".

Dựa vào hai câu chuyện trên th́ Ai tạo ra định mệnh? Định mệnh có thể "sửa đổi" được không? Với kiến thức giới hạn của một người b́nh thường, như đa số chúng ta cũng khó mà trả lời một cách xác quyết được nhưng chắc chắn một điều là "khát vọng có con" của cặp vợ chồng hiếm muộn và "niềm tin tất thắng" của quân Nhật đă đóng một vai tṛ rất lớn về "kết quả" như đă xảy ra ở hai câu chuyện kể trên.

Dĩ nhiên trong cuộc sống chúng ta luôn có rất nhiều câu hỏi “tại sao” chưa trả lời được. Có lẽ cách đơn giản và hiệu quả nhất để đối diện với định mệnh là làm hết sức ḿnh trước và chấp nhận định mệnh - "tận nhân lực mới tri thiên mênh"-

Nói đến vận may và rủi, trong cuộc sống hai điều họa phúc cứ xoay vần với nhau, khó mà biết được, nên khi được phước không nên quá vui mừng mà quên đề pḥng cái họa sẽ đến, khi gặp điều họa cũng không nên quá buồn rầu đau khổ mà tổn hại tinh thần. Việc đời, hết may tới rủi, hết rủi tới may, chúng ta nên bắt chước tái ông mà giữ sự thản nhiên trước những biến đổi thăng trầm trong cuộc sống như câu chuyện "Tái ông thất mă, an tri họa phúc" (Ông lăo ở biên giới mất ngựa, biết đâu là họa hay là phúc.)

Chúc tất cả một cuối tuần vui vẻ và như ư .

Lư Lạc Long

Son Ha
05-04-2008, 03:27 PM
ĐỊNH MỆNH, DUYÊN SỐ VÀ THỜI VẬN
....

Hàng muôn ngàn câu hỏi tại sao trong cuộc sống thực tế của thế nhân. Tùy theo tŕnh độ kiến thức, vị trí, hoàn cảnh, mong ước, khát vọng... của mỗi cá nhân dẫn đến những câu hỏi "tại sao" khác nhau cho từng người nhưng một điều chắc chắn, là con người, về phương diện này hay phương diện khác, ít hay nhiều, ai cũng có những câu hỏi "tại sao" về những sự kiện xảy ra cho bản thân và xă hội chung quanh ḿnh. Những câu hỏi khôngtrả lời được, không giải đáp được th́ dường như cách giải thích dễ nhất là "đổ thừa" cho định mệnh, cho duyên số, cho thời vận.

Suy nghĩ theo các nhà khoa học, mọi việc xảy ra đều có nguyên nhân hay lư do cụ thể của nó, những "sự kiện" xảy ra chưa giải thích được là v́ kiến thức của con người vẫn chưa đủ để giải thích. Nói cách khác, kiến thức của nhân loại vẫn c̣n giới hạn chưa đủ để giải thích tất cả những "hiện tượng" xảy ra trong đời sống con người và thế giới chung quanh. Phật giáo cũng có quan niệm tương tự như vậy, theo luật nhân quả của đạo Phật: "Bất cứ điều ǵ xảy ra là do một hay nhiều nguyên nhân chứ không phải v́ may mắn, v́ cơ hội hay do định mệnh." Mọi việc phải có mối liên hệ giữa nhân và quả.
....

Quan niệm mỗi người đều có "số trời định sẵn" và không thể đổi khác được, tiêu biểu như Tố Như Nguyễn Du đă viết trong "Đoạn Trường Tân Thanh":

"Bắt phong trần phải phong trần
Cho thanh cao mới được phần thanh cao".

...

Lư Lạc Long
Để cho ACE ở MGP này được hiểu biết thêm về Định Mệnh, Duyên Số, hay "Thiên Mệnh chi vị Tính" với nền tảng Minh Triết hay Đạo Việt, tôi xin được trích đăng ở đây một phần trong cái chương "Từ định mệnh tới thiên mệnh" trong tác phẩm "Lạc Thư Minh Triết" của Triết Gia Kim-Định.

Từ định mệnh tới thiên mệnh


1.- Tây phương tố cáo Đông Phương theo định mệnh từ lúc nào?

Hầu hết các sách bàn về triết Đông của người Tây Phương lúc trước đều cho là Đông Phương theo thuyết định mệnh nghĩa là thụ động cái ǵ cũng đổ cho trời cho đất. Trời đất xếp đâu đành chịu đấy: trời bắt phải bần hàn cùng cực th́ ráng mà chịu chứ không dám cựa quậy chi cả để thoát ra ngoài ṿng khổ cực; đó là định mệnh. Đấy là niềm tin cố hữu nên trải qua bao ngàn năm những dân tộc Đông Phương vẫn bị giam giữ trong lạc hậu yếu hèn.

Tất cả những điều nói trên có vẻ thật bằng cái thật đau đớn ê chề nhục nhă, thấm vạo tận gan ruột, nghĩ đến xét lại câu nói trên, nhưng dồn trọn vẹn chủ lực vào việc chửi bới thậm tệ cái thuyết “an bần lạc đạo” của tiền nhân, v́ tin đó chính là đầu mối của sự túng nghèo kia, nên tất cả đều ra công vất bỏ trọn bộ đạo lư ngàn xưa, cho đấy là việc làm thiết yếu để Đông phương có thể trở nên hùng cường như Tây Âu.

Đấy là sự tin tưởng của thế hệ trước, một thế hệ tiếp sức với Âu Châu lần đầu nên chưa kịp đào sâu. Nhưng nếu đi sâu vào th́ sẽ thấy sự phiền toái của vấn đề thí dụ sẽ nhận ra rằng người Âu Tây đă trách người Đông Phương theo định mệnh mới tự thế kỷ 19 tức là tự lúc khoa học đang phát triển mạnh mẽ và nhờ đó Âu Châu đă nắm trọn tài nguyên trên thế giới trong tay. Từ đó triết học cũng hùa theo đà tiến trên để đề cao tự do đến cực độ cho rằng anh hùng tạo thời thế, rằng con người phải nắm lấy vận mệnh của ḿnh, rằng con người phải làm ra lịch sử v.v... Mới đọc ai cũng tưởng đó là một nền triết học mănh liệt đă giúp cho Âu Châu trở nên cường thịnh.


Nhưng khi cứu xét thêm mới nhận ra không phải triết học giúp cho Âu Châu hùng cường mà chính Âu Châu đă giúp cho triết học trở nên hùng cường. Nói khác v́ Âu Châu tiến bộ, hùng cường nên triết học cũng hùng cường theo. Vậy có nghĩa rằng đó chỉ là một triết học thiếu tự lập, một triết học chỉ biết theo đuôi: nó uỷ mị hay hùng cường là tuỳ t́nh huống xă hội. Khi xă hội giầu thịnh th́ triết học mạnh mẽ cứng cát, con nếu xă hội bần hàn cơ khổ như dọc dài bao ngàn năm trước thế kỷ 19 th́ triết học cũng lại yếu hèn, đến nỗi vâng theo nguyên lư của sự vật và trở thành triết học về sự vật (chosisme).

Nói sát vào vấn đề định mệnh th́ là một triết học nằm nép ḿnh dưới phủ việt của tất mệnh của tiền mệnh, trong đó con người chỉ được coi như cái chi rất tầm thường, tuyệt nhiên không có quyền định đoạt về ḿnh chi hết. Do đó đến lúc nhờ giầu thịnh nhận ra sự phục ṭng quá lố mới trỗi dậy đ̣i quyền tự do tuyệt đối và v́ thấy triết Đông không đ̣i như vậy nên chê Đông phương là theo định mệnh, mà không nhận ra rằng sở dĩ Đông Phương không phản loạn đ̣i quyền tự quyết rồi; Khỏi cần đ̣i hỏi, hay nếu có cần đ̣i hỏi th́ là đối với một số nào đó v́ bên Đông Phương không thiếu người theo định mệnh hoặc cũng có cả những thuyết định mệnh do những hoàn cảnh khổ đau tai ương xảy đến luôn luôn.


Điều đáng ngạc nhiên là những người theo định mệnh chỉ là những cá nhân lẻ tẻ, hay nếu là triết thuyết th́ lại là những triết thuyết hạng ba không có bề thế chi lắm. Trái ngược hẳn lại là có những nền triết thuyết dám đi ngược hoàn cảnh và măi tự xa xưa đă đưa ra thuyết cổ vơ cho con người biết “tự cường bất tức”, bất chấp những nghịch cảnh dồn dập xảy tới: như triết lư Việt Nho mà chúng ta đang nghiên cứu ở đây.


2.- ư nghĩa thực của hai chữ Thiên Mệnh


Sở dĩ có người bảo Nho giáo theo định mệnh là tại đă hiểu sai hai chữ Thiên Mệnh. Lư do đă gây ra sự hiểu sai đó là Hán Nho. Hán Nho đă hiểu theo chiều chính trị tôn quân quyền: nên thiên mệnh hiểu là quyền vua do trời ban cho. Hoặc nữa hiểu theo nghĩa ngoại lực. Nhưng tất cả những nghĩa ngoại đó đều là b́ phu chưa phải nghĩa chính.

Theo nghĩa nguyên sơ th́ Thiên Mệnh chính là tính: “thiên mệnh chi vị tính”. Chứ không phải mệnh trời hay ma quỉ thần thánh chi cả mà chính là tính bản nhiên con người. Để hiểu rơ hơn chúng ta hăy phân giải từng chữ. Trước hết cần hiểu tiếng mệnh là ǵ. Có nhiều nghĩa nhưng nghĩa cao hơn cả là mệnh lệnh của hoá công, hay nói theo khoa học th́ đó là những luật tắc thiên nhiên có tính cách phổ biến, v́ tất cả muôn vật trong vũ trụ hoàn toàn đều phải tuân phục dù muốn dù chăng, thí dụ nước chảy xuống, lữa bốc lên, cho được sống con người phải ăn phải thở.

Đấy là những luật phổ biến không loài nào thoát được, kể cả những người sáng lập ra thuyết duy nhơn với chủ trương con người được tự do tuyệt đối cũng không thể làm khác, và chỉ có những người mất trí mới dám nghĩ tới tuyệt đối chối bỏ, và tưởng là ḿnh muốn sao cũng được, tuyệt không phải tuân theo một luật tắc nào hết. Đó chỉ là ảo mộng của triết học duy nhân, một loại triết học đă lớn tiếng tố cáo Đông Phương theo định mệnh.

Hiện nay bên Tây Âu đă có những triết gia phản động lại như Spinoza với thuyết amor intellectualis fati hay Nietzsche với thuyết amor fati ông nói: “sự cao cả của con người biểu lộ ra trong ḷng yêu định mệnh”. Đó là công thức của tôi “La grandeur de l’homme s’exprime dans son amor fati, voilà ma formule” Ecce Homo. 67 ”


Nếu thế th́ tại sao con người c̣n được quan niệm cách cao cả như là một Tài trong Tam Tài, một vua trong ba vua? Thưa là v́ trước mệnh lệnh tuyệt đối của tạo hoá con người không chỉ có định mệnh nhưng c̣n có con đường tính mệnh. Định mệnh là khi hiểu cái mệnh từ ngoài đổ vào con người, con người không có tham dự chi cả.

Tính mệnh là tự nội, con người hoàn toàn nắm then chốt như một vua tự quyết định lấy về vận mạng của ḿnh. Như vậy tính mệnh là chóp bu, là lư tưởng mà con người cần phải vươn tới, c̣n định mệnh là nấc thang cuối cùng chỗ ḿnh đang ở và cần phải vượt lên. Muốn vươn lên đến tính mạng con người cần phải học cho biết khả năng của ḿnh, nếu không th́ tưởng rằng ḿnh sinh ra để làm tṛ chơi cho số kiếp và lúc ấy sẽ nằm ù ĺ lại trong tất mệnh, định mệnh.

Cho nên then chốt vấn đề nằm ở chỗ vị trí để hiểu rơ vai tṛ của con người trong vũ trụ. ở một chương trên đă nói phát xuất điểm của con người là thần, mà bản chất của thần là tự quyết tự định đoạt lấy số kiếp của ḿnh. Đă nói đến số kiếp là nói đến những vị trí khác nhau. Có khác nhau mới có thể quyết định v́ quyết định bao hàm sự lựa chọn. Lựa chọn bao hàm đa tạp v́ nếu chỉ có một hướng th́ chọn cái chi.


Đây là chân lư quan trọng cần đặt ra trước mắt mỗi khi bàn đến vấn đề định mệnh, hầu định vị trí cho con người. Nếu đặt không đúng vị trí th́ không sao làm vua nổi, không sao tự làm chủ được, rồi th́ hoặc tùng phục Thiên hay Địa như Âu Châu trước thế kỷ 19 về sau. Đó là hai thái độ quá đáng đều không phải là của vua an nhiên tự tại trong địa hạt của ḿnh, có đặt bộ ngoại giao với trời cùng đất, không việc chi phải phản loạn cả. Sự phản loạn thường gây ra do sự không biết ḿnh, biết trời, biết vũ trụ, nên không biết đặt vị trí đúng cho ḿnh. Cứ tưởng rằng một là tự do th́ tuyệt đối không phải theo quy luật nào cả. Hai là đă phục ṭng định mệnh th́ cũng tuyệt đối, không c̣n chỗ cho tự do, nhiều đủ để con người có thể làm vua nghĩa là tự ḿnh quyết định về vận mệnh của ḿnh.


Điều cần là phải biết những luật tắc của thiên địa. Khi hiểu được những luật tắc th́ chúng sẽ trở nên những cột trụ chống đỡ cho sự tự quyết của ta. Những luật tắc đó qui ra được ba loại theo tam tài là thiên, địa, nhơn. Và chỉ có ở đợt tam tài mới nhận ra quyền lực cũng như vị trí của con người nguyên vẹn. Cho được đạt tới đó th́ phải có được cái biết tṛn đầy gọi là chu tri hay trí tri, nó là cái biết của tâm linh ngược với cái biết thông tục của lư trí, là cái biết hàng ngang xoay quanh hiện tượng. Khi người ta chỉ biết có đợt trí thức thông thường này th́ tất nhiên cũng chỉ thấy ḿnh như một trong những vật thể, dù có tinh thần hơn vạn vật nhưng là cái thá chi đối với vũ trụ bao la, và v́ thế nên bị trói buộc trong xiềng xích của định mệnh.


C̣n khi có cái biệt trí tri th́ sẽ nhận ra rằng ch́a khoá mở dây xích định mệnh không nằm ở đợt hiện tượng hạ trí, nhưng là ở đợt nội ngă tâm linh, ở đợt chi tâm. Chỉ có ở đợt đó mới hiểu được rằng con người phải xuất tự đợt Thần, mà bản chất của Thần là quyết định lấy đường hướng tiến hoá cho ḿnh. Trên đă nói là con đường tiến hoá có hai ngả: ngả thiên ngả địa, thiên là đi lên, địa là đi xuống.


Đi lên sẽ là tiến hoá để cuối cùng trở nên như thần, tức là lúc thần nhộng trở nên thần ngài. Đấy gọi là con đường tính mệnh hay thiên mệnh; ḿnh làm chủ lấy ḿnh. C̣n trở xuống là để cho thần nhộng bị bó kết lại trong nhiều lớp vỏ nặng nề để ch́m sâu xuống trong vật chất và chẳng bao giờ được tiến hoá, và tự lúc đó th́ hoàn toàn trở nên đồ chơi cho định mệnh.



(Bạn nào muốn hiểu biết thêm về Luật Nhân Quả theo nền tảng Minh Triết, xin mời đọc lại
http://motgocpho.com/forums/showthread.php?p=48477#post48477)

chieunhatnang
05-20-2008, 06:51 PM
http://img.photobucket.com/albums/v735/HDHP/tintuc/shelf480.jpg

PHỦI BỤI NHỮNG TRANG SÁCH

Tuần qua, dự một buổi ra mắt sách của người quen về, phủi bụi lại cái tủ sách đă quá tải của ḿnh, tôi chợt nghĩ: Thật khó nói sách vở quan trọng như thế nào với một đời người, tuy vậy không phải ai cũng thích đọc sách, người thích cái này, người thích cái kia, hăy tôn trọng sở thích của mỗi người. Nhưng bảo rằng ra mắt sách là một việc mà nhiều người vẫn thường dè bỉu (những câu mà v́ tế nhị nên không tiện nêu ra ở đây) th́ không đúng. Riêng tôi đó vẫn là nơi gắn kết mọi người lại với nhau cho dù cách mặt bao lâu, phương trời nào… đó là nơi thể hiện sự quan tâm lẫn nhau, chúc mừng nhau… “c̣n yêu đời quá đấy nhé!”… chẳng hạn.

Đă lâu v́ bận rộn nhiều việc riêng, tôi không c̣n có dịp ra mắt giới thiệu những đứa con tinh thần của ḿnh nữa, nhưng vẫn nhớ cái không khí đầy t́nh thân của những buổi văn nghệ như thế. Bạn không thích đọc, tôi đọc, xin hăy tôn trọng nhau mà sống. Ngày 3 tháng 3 hằng năm, là Ngày Sách Thế Giới. Đây là một ngày lễ do UNESCO đặt ra với mục đích tôn vinh việc đọc sách trên thế giới. Theo đài BBC, trên toàn nước Anh có nhiều sự kiện được tổ chức nhằm khuyến khích nhiều người hơn nữa mua sách và đọc sách. Với các em bé, ngày hôm ấy, các em được cho các phiếu trị giá 1 bảng Anh. Nếu các em đem phiếu này đến tiệm sách, sẽ có thể mua các tác phẩm đặc biệt in ra cho ngày này với giá một bảng. Thông thường tại Anh th́ sự kiện Ngày Sách Thế Giới nhắm đến trẻ em là chủ yếu. Tuy nhiên, gần đây người lớn cũng được nhắm đến. Các nhà tổ chức đă in ra 8 triệu tấm bưu thiếp. Những tấm này được kèm vào trong các tờ báo, tạp chí, để trong thư viện, tiệm sách, v.v... Mặt sau của tấm bưu thiếp là tên một quyển sách và nội dung cho biết sách này có thể tặng ai. Thí dụ bạn có thể chọn một tấm bưu thiếp phù hợp để gửi cho người yêu, bạn thân hay thậm chí kẻ thù của ḿnh. C̣n có một cuộc khảo sát dư luận, để người dân cho biết họ muốn các chính trị gia nổi tiếng như ông Tony Blair phải đọc sách ǵ. Đó là chuyện của nước Anh, c̣n tâm t́nh của người Mỹ đối với sách vở như thế nào nhỉ? Nói chung chung th́ to tát quá, thôi th́ chúng ta đọc thử một mẫu chuyện nhỏ mang tên “Quyển sách kỳ diệu của Ronny” vậy nhé! Ở lớp đầu tiên của cấp một, tôi đă t́nh nguyện dạy đọc những tiếng ê a cho lớp học của cậu bé Ronny. Thoáng nh́n, cậu bé ấy giống như mọi đứa trẻ khác, tóc bồng bềnh, giầy ṃn đế, có một ít cáu bẩn ở phía tai, một ít mẫu bánh c̣n tèm lem quanh miệng.

Nói một cách rơ hơn, th́ chính mặt mày tèm lem, cái mũi có vẻ bướng bỉnh và những ngón tay đầy đất bẩn của em đă cho tôi biết em đến trường theo cái cách tự nhiên như vậy mà không được chăm chút. Quần áo của em th́ rách rưới và không đồng bộ, đôi giầy vải th́ buộc dây, c̣n cái cặp đi học đơn giản chỉ là một cái túi nhựa để đi chợ. Với vẻ ngoại h́nh bên ngoài như thế, Ronny đứng lẻ loi tách biệt với các bạn cùng lớp. Do bị tật nói lắp v́ thế em không thể học đọc và viết đúng tuổi. Em phải học trễ một năm, và 8 tuổi mới vào lớp một. Cuộc sống gia đ́nh của em rất xáo trộn. Em chưa sống ở gia đ́nh nào quá một năm. Em chỉ ở khoảng vài tháng với những bậc cha mẹ nào thích em! Ronny có một gương mặt rất sáng sủa và thông minh mà tôi chưa từng thấy ở một đứa trẻ nào, điều này làm cho tôi nhanh chóng nhận ra rằng có một nét tương phản với vẻ ngoài lôi thôi của em. Từng bước một, tôi đă dạy cho tất cả các học sinh trong lớp của Ronny sao cho chúng có thể đọc tốt. Mỗi ngày khi tôi đến lớp, tôi đi đâu th́ cái đầu và cặp mắt của Ronny đều hướng theo đến đó. Khi tôi đứng lại một góc th́ em nài nỉ: “Gọi con đi! Gọi con đi!”, dĩ nhiên là tôi không thể gọi em đọc mỗi ngày được v́ những đứa bé khác cũng cần tôi giúp đỡ. Rồi một hôm, đến lượt của Ronny, sau khi nhận được sự gật đầu ra hiệu của tôi, trong chớp mắt em đă nhảy lên và như bay ra khỏi chỗ ngồi. Em ngồi thật gần tôi và tôi phải thừa nhận rằng em ngồi sát vào tôi và mở sách ra. Chúng tôi đă cùng đọc và nét mặt của em hiện lên với vẻ như em đang khai quật được một kho báu mà em chưa bao giờ thấy được trên thế giới. Tôi nh́n theo những ngón tay c̣n bẩn bụi bánh của em di chuyển chậm chạp dưới những mẫu tự khi em đang cố gắng để phát ra những âm Bud the Sub. Khi đọc em bị vướng những âm như: Baw Daw Saw v́ do tật nói lắp của em. Mỗi một từ ngữ đọc lên là một thử thách và chiến thắng v́ em phải quyết tâm để đọc được; Ronny đă chịu khó đọc lớn lên mỗi từ, sau đó cố tập hợp những từ có cùng một âm điệu như nhau. Gương mặt của em tràn ngập nụ cười toe toét khi em đọc lên những từ Bah lah hoặc bow mà không cần phải cố gắng, đôi mắt của em lấp lánh niềm vui và tràn ngập sự hănh diện. Em đă làm cho tôi xúc động khi mỗi lần đọc được như thế, tôi chỉ muốn kéo em ra khỏi cuộc đời tội nghiệp của em, mang em về nhà để chăm chút và yêu thương.

Nhiều đêm, sau khi các con tôi đă ngủ yên, tôi ngồi lặng lẽ và nghĩ về Ronny. Cậu bé đang ở đâu? Em có được an toàn không? Em có đang cuộn ḿnh trong chăn để đọc sách dưới ánh đèn không? Thậm chí không biết là em có chăn không nữa? Một năm trôi qua thật nhanh, Ronny đă có một ít tiến bộ nhưng em vẫn không đủ khả năng để được lên lớp. Chỉ có em là không biết điều đó. Hơn nữa em c̣n nghĩ là em đă đọc tốt rồi. Vài tuần trước khi năm học kết thúc, tôi đă tổ chức một buổi phát thưởng với bánh, quà và phát những giấy chứng nhận cho những em đạt thành tích cao như: Phát âm giỏi nhất, Đọc lớn nhất, Diễn cảm nhất và Đọc nhanh nhất. Phải mất một lúc tôi mới nghĩ ra là phải xếp Ronny vào giải nào; tôi cần một giải không lớn lắm nhưng phải có tính tích cực. Tôi nghĩ rằng phải trao cho em một giải khi đọc lên nghe phải có ư nghĩa. Khá lâu sau, cuối cùng tôi đă quyết định trao giải “Người đọc có cố gắng nhất” cho em. Tôi trao cho Ronny giấy chứng nhận và một quyển sách, mỗi quyển sách quư báu nhỏ bé này có giá 49 xu, đó là giá ở quầy tính tiền của tiệm tạp hóa. Những giọt nước mắt lăn xuống g̣ má làm trôi đi những vết bẩn luôn có ở trên gương mặt em khi em ôm chặt quyển sách vào ngực và vội vă quay trở về chỗ ngồi. Tôi cảm thấy nghẹt thở như có một vật ǵ đó đang chặn ngang cổ họng tôi. Tôi đă ở lại lớp hầu như suốt ngày hôm đó; Ronny không bao giờ rời quyển sách của em một lần nào cả. Quyển sách chưa bao giờ rời khỏi tay em.

Vài ngày sau, tôi trở lại thăm trường. Tôi đă thấy Ronny nơi băng ghế gần sân chơi, quyển sách mở ra trong ḷng em. Tôi có thể thấy môi của em mấp máy khi em đọc một ḿnh. Thầy giáo của em đến bên cạnh tôi và nói: Ronny chưa bao giờ rời khỏi quyển sách kể từ khi cô trao cho nó. Lúc nào nó cũng để quyển sách bên ḿnh thật gần với trái tim của nó như cái áo nó đang mặc. Không biết đó có phải là quyển sách đầu tiên mà nó được làm chủ hay không? Cố ḱm những giọt nước mắt, tôi tiến đến gần Ronny, nh́n qua vai em tôi thấy những ngón tay đầy đất bẩn di chuyển chầm chậm qua trang giấy. Tôi đặt tay lên vai em và hỏi: Con sẽ đọc cho cô nghe chứ, Ronny? Em nh́n lên và bị chói mắt bởi tia nắng mặt trời, em nhích qua một bên nhường chỗ cho tôi. Sau vài phút, em bắt đầu đọc cho tôi nghe với một chất giọng diễn cảm, rơ ràng và dễ dàng hơn mà tôi chưa bao giờ nghĩ là em làm được. Những trang giấy của quyển sách đă bị quăng góc như thể đă đọc hàng ngàn lần vậy. Khi đọc xong, Ronny xếp sách lại, vuốt cho thẳng với bàn tay đầy đất bẩn và đă thốt lên với giọng thỏa măn: “Quyển sách thật hay”. Một niềm tự hào thầm kín lắng đọng trong chúng tôi khi chúng tôi ngồi tại dải băng ghế ở sân chơi. Tay Ronny bây giờ đă ở trong tay tôi. Đứa bé bên cạnh đă làm tôi kinh ngạc và không ḱm được nước mắt. Tác giả của “Little Golden Book” đă có một phần đóng góp mạnh mẽ đă làm nên cuộc đời của một đứa trẻ có khiếm khuyết về giọng nói. Vào lúc đó, tôi biết rằng tôi phải làm nên được điều mà tác giả đă làm, có nghĩa là tôi phải nghiêm túc hơn đối với nghề viết của ḿnh, đó là viết một cốt truyện đă làm đổi thay cuộc đời của một đứa trẻ - một sự thay đổi hoàn toàn. Tôi nỗ lực để trở thành một người tác giả như vậy. Dù bị cạnh tranh bởi Internet, nhưng xem ra sách vẫn là điều kỳ diệu mà nhân loại đă từng có được. Không thể đi khắp thế giới để xem trong Ngày Sách Thế Giới mỗi nước tổ chức ra sao, nhưng vẫn nhớ câu này: “Mỗi người có trong đời ḿnh những trang sách mà ḿnh không hay biết và được viết nên bởi công trạng của kẻ khác.” Câu này của Guyau xin khép lại đôi ḍng tâm t́nh kỳ này.

NGÔ TỊNH YÊN
motgocpho.com

chieunhatnang
05-23-2008, 01:56 PM
http://img.photobucket.com/albums/v735/HDHP/tintuc/blueten.jpg

HOA TRE: HẠNH PHÚC CUỐI ĐỜI

Xứ lạnh vào khoảng giữa mùa xuân và giữa mùa thu thời tiết ấm áp. Vạn vật, đặc biệt là thảo mộc, h́nh như biết là những ngày nắng ấm sẽ qua nhanh nên "trưởng thành", đâm chồi, nẩy lộc, trổ lá, đơm bông, kết trái rất là vội vă so với thảo mộc của miền nhiệt đới. Nếu để ư quan sát, th́ chỉ cần một đêm, cảnh vật chung quanh đă đổi khác rất nhiều. Hay có lẽ đây chỉ là cảm nhận của những người sống nơi cực bắc của trái đất, cũng như thảo mộc, trong ḷng luôn chờ đợi, vui đón và tận hưởng những ngày nắng ấm. Từ màu trắng quen thuộc, buồn bă và chán ngấy của tuyết vây phủ bốn phía suốt mùa đông dài thay vào đó đủ màu sắc rực rỡ của cỏ cây hoa lá, một sự thay đổi mà h́nh như dân xứ lạnh luôn chờ đợi và mở rộng ṿng tay đón tiếp mỗi năm.

Chiều qua, đến thăm viếng người thầy cũ. Nh́n khu vườn "quê hương bỏ túi" của thầy, ngoài những giống hoa, cây kiểng bản xứ th́ c̣n vài chậu mai, trúc kiểng, quỳnh... và những loại hoa kiểng khác mà thầy và bạn bè của thầy đă cho phép chúng "nhập cảnh" lén, v́ ở Bắc Mỹ (Mỹ, Canada) quy định về nhập cảnh các loại thảo mộc lạ rất chặt chẽ. Thầy tôi, ở tuổi về hưu, nên có th́ giờ và có lẽ cũng như nhiều người Việt sống lưu vong khác, thầy "mang theo quê hương của ḿnh ra đất khách" như có thể "làm" được. Đây là một điểm đặc thù của dân Việt Nam mà ít có giống dân khác giống. Chữ "quê hương" ở đây bao gồm tập tục, thói ở, nết ăn, tính t́nh, văn hoá ... Nói chung th́ cho đến nay, trên xứ người, th́ "quê hương" mà người Việt sống tha hương mang theo có nhiều ưu điểm. Thí dụ như món phở, đă đủ sức đương cự với pizza của Ư, sushi của Nhật, chaomien của Tàu... và đă trở thành một món ăn khá quen thuộc với một số dân chúng ở Mỹ, Canada và một số nước ở Châu Âu. Cả tổng thống Mỹ Bill Clinton cũng đă từng "xơi ngon lành" hai tô phở và dĩa gỏi cuốn một lượt, trong một bữa ăn. Lẽ dĩ nhiên "quê hương" của người Việt mang theo ở xứ người không thể tránh được khuyết điểm như vụ "rau muống ở Florida". Rau muống do người Việt tỵ nạn thả trồng trong các lạch mương của vườn riêng đă mọc tràn lan ra các hồ nơi du lịch làm cản trở sự đi lại du thuyền của du khách. Tiểu bang Florida đă phải bỏ ra hàng triệu đô để dọn và diệt trừ rau muống v́ du khách là một trong những nguồn thu nhập chính của tiểu bang. Hiện nay, rau muống đă trở thành món rau "quốc cấm" cho dân Việt ở Florida. Và "tính đi trễ" của người Việt trong các buổi lễ hội của cộng đồng, đặc biệt là đi dự đám cưới, cho đến nỗi người ta đă có câu ví: "không say không phải Mễ, không trễ không phải Việt Nam".

Quê hương người Việt tha hương mang theo là một câu chuyện dài. Tôi xin trở lại chủ ư chính của bài viết hôm nay về hoa nói chung và đặc biệt hoa tre: Tre một loài cây chỉ nở hoa lúc cuối đời .

Trên trái đất, có muôn vạn loài hoa, mỗi loài có một nét đẹp và hương sắc riêng. Từ trinh nữ, lan rừng... sinh trưởng nơi hoang dă không cần bàn tay chăm sóc cho đến những hoa hồng rực rỡ kiêu sa trong những vườn hoa, những chậu lan quư được chủ nhân chăm sóc cẩn thận. Mỗi loài hoa, chúng ta biết hay chưa biết, h́nh như đều ẩn chứa một huyền thoại. Ai đă từng thức đêm ngắm hoa quỳnh nở chắc khó dằn được cảm xúc trước cái đẹp của hoa quỳnh, nh́n những cánh hoa cong trắng nơn nà, nhụy hoa điểm xuyết màu vàng, hương hoa ngào ngạt, ngây ngất, và chỉ qua đêm là hương sắc đă tàn phai. Nh́n hoa sen, chợt nhận ra lẽ vô thường của kiếp người, sự thanh cao, trong sạch của các bậc giác ngộ. Ai sẽ không buồn khi nh́n thấy hoa ty-gôn, h́nh tim vỡ, đỏ như màu máu và liên tưởng đến những câu thơ của TTKH. Như người xưa một lần qua núi, thấy hoa lau nở trắng bạt ngàn, đă phải buông ra một câu hỏi buồn với rặng phi lau: Sao vừa nở ra đă vội bạc đầu thế hở lau ơi?... Và có một loài cây chỉ nở hoa lúc cuối đời, nở xong là chết, nở như biết ḿnh đă đến và sẽ ra đi trong cuộc đời, nở như để dọn đường giă từ sự sống. Tre và hoa tre chết đứng chứ không rủ xuống như bao loài hoa khác, tre và hoa như đang thi gan cùng tuế nguyệt . Một h́nh ảnh hiên ngang và bất khuất giữa trời đất mênh mông, giữa muôn ngàn giống loài của thảo mộc. Thản nhiên trong cơi đi về tựa như một triết nhân đă ngộ được chân lư về sự sống chết của cuộc đời.

Trên thế giới, Việt Nam không phải là một quốc gia duy nhất có tre. Trừ Châu Âu và một số ít vùng Châu Úc, tre gần như có mặt ở khắp nơi. Tre có tên khoa học là Bambysaceae, lấy từ gốc Mă Lai là Bambu, xếp chung cho các loài tre - trúc. Ở Việt Nam, tre mọc rất nhiều và khắp nơi. Ngoài được trồng ở thôn xóm, làng xă... tre c̣n mọc tập trung thành rừng từ Bắc chí Nam. Tre gồm hơn 40 loài và 15 giống khác nhau như: Hoa, Bương, lồ ồ, gai, vầu, mỡ, nứa, tàu, mạnh tông, tầm vông, trinh, giang, le, trúc, là ngà v.v... Ở Mỹ, th́ có khu Vườn Tre (Bamboo Garden) của trường Foot Hill College, thành phố Los Altos, tiểu bang California. Khu vườn tre này có khoảng 70 loại tre trên thế giới, từ các loại tre ở miền nhiệt đới cho đến các loại tre miền ôn đới. Thông thường th́ tre đươc trồng bằng gốc và một gốc tre được ươm trồng, hai năm đầu chỉ bén rễ, đến năm thứ ba mới có măng (tre non). V́ nhu cầu kỹ nghệ, con người đă nghĩ cách trồng tre bằng hạt, nhưng chu kỳ ra hoa, kết quả của tre thường lâu: Từ 5 đến 60 năm 1 lần và sau khi ra hoa tre thường chết hàng loạt. Gần đây, các nhà khoa học Ấn Độ đă nghiên cứu kỹ thuật kích thích tre nở hoa trong pḥng thí nghiệm bằng dung dịch gồm có nước dừa, muối khoáng, đường, vitamin. Kết quả sau 15 - 20 ngày, tre đă nở hoa.

Đă là người Việt Nam th́ ai cũng biết cây tre, nhưng tôi nghĩ rất nhiều người không có dịp để thấy được "tre nở hoa". Tôi chỉ có dịp thấy hoa tre nở một lần vào giữa thập niên 60, những bụi tre gai ở góc vườn hương quả của tổ tiên, bung nở từng chùm hoa vàng nhạt như màu đất, xen giữa màu xanh của lá tre. Tôi không nhớ là bao lâu, những cây tre từ màu xanh dần chuyển sang màu ngà. Cho đến một hôm nọ th́ thân tre đă khô lại. Ở trên cao, những chùm hoa tre khô cong đong đưa trong gió như những bàn tay đang vẫy chào tiễn biệt. Tôi nhớ là Nội tôi thường ra vườn nh́n những bụi tre nở hoa và khe khẽ thở dài. H́nh như Nội đă tiên đoán một điều ǵ đó sẽ xảy ra. Những năm kế tiếp sau đó, th́ chiến tranh lan tràn đến làng tôi, bom đạn đă làm cháy hết cả nhà cửa, vườn tược, gia đ́nh tôi phải dọn về tỉnh ở. Từ sau 75, th́ dịu vợi quan san cách trở, tôi chưa có dịp để trở về thăm lại khu vườn xưa, có lẽ đă đổi chủ nhưng h́nh ảnh quê nhà và bụi tre nở hoa vẫn c̣n khắc đậm trong tâm trí. Kư ức hiện về và rơ ràng như những đoạn phim quay chậm.

Cây tre gắn bó với dân Việt Nam tự ngàn xưa. Tôi nghĩ đă là người Việt Nam, dù ở đâu và làm ǵ, ai cũng mang trong ḿnh một bóng tre của quê hương, xứ sở. Sau lũy tre làng, nơi quây quần chia xẻ buồn vui của cuộc sống của những cộng đồng người Việt từ hàng bao thế hệ. Hai chữ lũy tre thường gợi cho người nghe h́nh ảnh tươi mát thân yêu của một làng quê bên nội hay bên ngoại nào đó và không biết tự bao giờ, tre đă tham dự vào cuộc sống người Việt như một thành tố không thể thiếu được. Chuyện cổ tích về tre th́ cũng có nhiều như trong huyền sử Việt Nam, có truyện Phù Đổng Thiên Vương giúp vua đánh đuổi giặc Ân để cứu nước và giữ nước. Roi sắt bị găy, Phù Đổng Thiên Vương nhổ tre hai bên đường làm vũ khí để đánh đuổi giặc Ân. Hễ bụi này tan th́ chàng trai làng Gióng lại ném đi và nhổ bụi khác. Cứ thế cho đến khi giặc tan tác, đầu hàng, th́ chàng cỡi luôn ngựa sắt bay lên núi Sóc để về trời. Tôi chưa được tới thăm quê Thánh Gióng để chiêm ngưỡng di tích huyền sử. Nhưng theo lời kể lại của những người đă có dịp viếng thăm, th́ hai bên đường lên núi Sóc người ta c̣n thấy những ao lớn, theo truyền thuyết đây là dấu chân của ngựa sắt để lại, và những bụi tre nghiêng ngă tự bao đời là cháu chắt của những bụi tre Thánh Gióng ném ngày xưa. Lại có chuyện đời xưa kể rằng vào một mùa Đông, khi tuyết phủ khắp mọi nơi th́ bà mẹ Mạnh Tông trở chứng thèm măng. Mùa Đông làm ǵ tre có măng, Mạnh Tông thương mẹ quá, đành đội tuyết ra ôm gốc tre khóc lóc năn nỉ xin một búp măng để vui ḷng mẹ. Ḷng hiếu của Mạnh Tông đă làm cảm động gốc tre già và một mầm măng nhú lên như phép lạ. Phải chăng tre cũng có hồn và tấm ḷng để ḥa đồng và cảm thông với con người?

Cây tre có mặt trong truyện cổ tích, trong thi văn, trong hội họa, trong âm nhạc. Trong các loại nhạc khí cổ truyền của Việt Nam th́ có cây sáo trúc và cây đàn bầu được chế tạo từ họ nhà tre, rẻ tiền, dễ kiếm, cấu trúc đơn giản nhưng âm thanh vô cùng phong phú. Cái khèn của dân miền núi, cái đàn t’rưng cũng từ tre mà ra. Cái mơ ở chùa làm bằng gỗ, thường là gỗ mít, nhưng cái mơ của làng lại làm bằng tre. Dù trong thời buổi kỹ thuật tân tiến hiện đại, tre vẫn là một trong những h́nh ảnh quen thuộc thân yêu gắn bó với dân Việt. H́nh ảnh cái đ̣n gánh bằng tre nhịp nhàng đàn hồi theo bước đi làm nhẹ vai cô thôn nữ gánh nước từ bến sông, gánh hàng ra chợ bán. H́nh ảnh chiếc nón lá với mười sáu vành tre che nắng, che mưa của những người mẹ Việt tảo tần ngược xuôi, lo lắng sinh kế để nuôi đàn con khôn lớn. H́nh ảnh duyên dáng của những cô gái Việt bẽn lẽn, e ấp dấu nụ cười duyên với người t́nh dưới chiếc nón lá "bài thơ". Như nhiều dân tộc Á Đông khác chịu ảnh hưởng của nền văn hóa Trung Hoa, Tết Nguyên Đán của ta cũng bắt nguồn từ phuơng bắc, nhưng với cây nêu tre và bánh chưng, bánh tét (buộc với lạt giang - giang cũng thuộc vào họ nhà tre- ) th́ Tết Nguyên Đán đă trở thành Tết Việt Nam. Kể sao cho hết những đóng góp của tre cho đời sống của dân Việt từ ngàn xưa đến nay. Tre thủy chung một mối t́nh vĩnh cửu với người dân Việt. Tre lặng lẽ hiến dâng cho đời và hy sinh tất cả. Trong hành tŕnh dâng hiến của ḿnh, tre dâng tặng con người âm thanh từ máu thịt của nó. Tre tạo nên tiếng sáo trúc như tiếng Trương Chi đă làm điêu đứng Mỵ Nương, người con gái cành vàng lá ngọc. Tre tạo nên cây đàn bầu khiến cả thế giới phải nghiêng ḿnh trước ngón độc huyền của dân Việt. Tre là vũ khí giúp dân Việt chống đuổi ngoại xâm giữ ǵn bờ cơi. Tre lại c̣n là thực phẩm ngon cho con người (măng tre).

Trong kư ức tuổi thơ của tôi, th́ đầy ắp những kỷ niệm với tre, ống thụt bằng trúc, cần câu bằng tre gai, cần câu cá sông th́ bằng trúc, sườn diều bằng tre hay trúc... Và nhớ luôn cả cái ngu lúc c̣n đi học khi đọc bài ca dao "Lính Thú Đời Xưa" và dơng dạc "tuyên bố" giữa lớp là: " bài ca dao trật v́ cây mai làm sao có măng?" Đến nỗi ông thầy dạy Việt văn phải bật cười. V́ trong thực tế, ở ngoài Bắc, có một loại tre cũng được gọi là "mai" .
"Ba năm trấn thủ lưu đồn,
Ngày thời canh điếm, tối dồn việc quan.
Chém tre, đẳn gỗ trên ngàn,
Hữu thân hữu khổ, phàn nàn cùng ai?
Miệng ăn măng trúc, măng mai,
Những giang cùng nứa, lấy ai bạn cùng?
Nước giếng trong, con cá nó vẫy vùng!"

Và khi đọc câu ca dao ví von về khó khăn:" Nhất đốn tre, nh́ ve gái" th́ tôi đă hết hiểu nổi luôn, nhưng im thin thít. Ở vào cái lứa tuổi đó (lớp 6, lớp 7) th́ "dù nhất quỷ nh́ ma, thứ ba học tṛ", nhưng "ve gái" là một chuyện hầu hết chúng tôi đều xem đây là chuyện khó khăn nhất. Măi sau này lớn lên và có dịp xem đốn tre với kỷ thuật cần thiết để bảo đảm an toàn cho người đốn th́ tôi mới hiểu: Đốn tre không đúng kỹ thuật th́ người đốn có thể bị thương hay mất mạng do "sức bật" của cây tre bị đốn. C̣n "ve gái" th́ cùng lắm là bị cho "de" hay tệ hơn là bị cho "ăn guốc" mà thôi.

Theo luận án của vơ sư Nguyễn văn Sen, môn phái Vovinam, Việt Vơ Đạo: " Theo quan niệm đông phương, tre - trúc tượng trưng cho mẫu người quân tử. Cứng mà mềm mại, đổ mà không găy, ḷng rỗng không, biểu tượng cho tinh thần và khí độ an nhiên tự tại, không mê đắm quyền vị, vật chất của mẫu người quân tử Á Đông. Trúc hợp với Mai để làm một cặp biểu trưng thể hiện phẩm tính Âm - Dương, Cương -Nhu, nói lên t́nh cảm và hào khí dân tộc Việt. Một dân tộc có tiết tháo, phẩm hạnh vừa kiêu hùng, vừa quân tử. Ngoan cường nhưng hiếu ḥa, độ lượng." Và "bắt nguồn từ các quan điểm trên, nhưng phong phú hơn, Vovinam Việt Vơ Đạo quan sát cây tre ở nhiều góc độ để xây dựng một con người vừa cao quư như một bức tượng thần để chiêm ngưỡng, là mục đích để noi theo, đống thời cũng là một con người b́nh thường gần gũi, ḥa nhập với cộng đồng để mưu t́m hạnh phúc b́nh dị, chấp nhận mọi hoàn cảnh, mọi mẫu người. Coi đó như một tất nhiên và hóa giải các tất nhiên đầy mâu thuẩn bằng nguyên lư cương nhu phối triển. Cho nên, TRE c̣n là biểu tượng cho yếu lư vơ thuật."

Tóm lại, nếu " người ta là hoa của đất" như tục ngữ nói, và tùng bách là biểu hiện của ngườ́ quân tử ẩn dật, th́ tre là biểu tượng của ngướ quân tử dấn thân. Từ khi sinh ra, tre đă sống và trả nghĩa cho đất cho người. Khi tre nở hoa cũng là lúc tre giă từ cuộc sống. Một cái chết hùng tráng, không cho người cảm giác bi ai, năo nùng của sinh tử biệt ly. Tre nở hoa trước khi chết. Một cách đi vào cơi chết rất đẹp, ung dung tự tại tựa như một triết nhân đă giác ngộ chân lư về lẽ sống chết của cuộc đời.

Chúng ta là hoa của đất đang đi những trên con đường đầy hoa trong cuộc sống. Muốn vội vàng th́ cứ vội vàng, muốn la cà th́ cứ la cà, muốn dùng dằng th́ cứ dùng dằng, muốn vương vấn bước chân th́ cứ vương vấn ... Trời đất vần xoay, vạn vật biến chuyển, có lúc nào đường sẽ không hoa chăng? Có hoặc không, chắc không ai có thể trả lời cho bạn và tôi. Thôi th́ cứ dấn thân vào vạn nẻo đường đời gần xa của cuộc sống và tự ḿnh t́m cho ḿnh câu trả lời.

Chúc bạn và tôi một cuối tuần vui !

Lư Lạc Long/mgp

Phonglinh
06-06-2008, 01:40 AM
http://img.photobucket.com/albums/v735/HDHP/tintuc/vangtrang.jpg

NHỮNG VẦNG TRĂNG XƯA

Đêm về khuya, ngoài trời vẫn c̣n rất lạnh, cái lạnh của vùng đất ôn đới. Không gian về đêm thật yên tĩnh, huyền ảo... lấp lánh trên nền trời những ngôi sao và trăng treo lơ lửng như gần như xa, trăng của xứ lạnh, của đồi núi, của rừng cây bắt đầu mùa xuân sau những tháng ngày bị phủ lấp bởi tuyết trắng. Một thứ ánh sáng trong vắt và tinh khiết, không lộng lẫy, không kiêu kỳ, đầy sức sống. Cái vẻ đẹp của trăng vào thời điểm này giống như một cô gái đang dậy th́, bắt đầu làm người lớn, đẹp nhưng không biết là ḿnh đẹp. Vẻ đẹp không làm cho người ta phải sững sờ nhưng đầy sức quyến rũ. Cái quyến rũ của sự ngây thơ, trong sáng, mong manh và dễ vỡ. Tiếng gió đêm vi vu ḥa với tiếng lá thông reo. Văng vẳng trong đó những nhịp trầm bổng, mơ hồ, khói sương... cung đàn, điệu hát, những vầng trăng của ngày tháng xa xưa.

Thuở nhỏ, vào những đêm trăng sáng, tôi nh́n trăng và tưởng tượng ra bao nhiêu thứ để rồi thắc mắc đủ thứ: Tại sao trăng sáng mát dịu? Tại sao có lúc trăng tṛn có lúc khuyết? Tại sao có lúc trăng đi đâu mất? Có thêm ai ở trên đó ngoài Hằng Nga, chú Cuội, thỏ ngọc không?... Tôi hỏi lung tung cho đến nổi mẹ tôi phải nói: "Giống chi hông giống lại giống cái tính "mê trăng", đa sầu đa cảm khổ lắm đó con ơi!". Ngày lớn lên, với những kiến thức khoa học tôi đă biết "vầng trăng tuổi thơ" thật ra chỉ là một tinh cầu, nhưng trong ḷng tôi th́ vẫn luôn muốn trăng măi măi là một h́nh ảnh lung linh hư ảo đầy huyền hoặc như lúc nhỏ khi nh́n trăng và hát nghêu ngao: "Ánh trăng trắng ngà, có cây đa to, có thằng cuội già, ôm một mối mơ". Ừ mà phải chi có một phép mầu nào đó để tôi có thể giữ măi và tin rằng trăng là cơi thật, trên đó có một cô tiên tên là Hằng Nga xinh đẹp đang sống, có chú Cuội ngồi ôm gốc đa ...

Sau này có dịp đọc chuyện thần thoại La Mă và Hy Lạp, tôi khám phá ra là chẳng phải chỉ có người Á đông mới có những huyền thoại về trăng mà từ hàng ngàn năm qua, con người ở khắp nơi trên địa cầu cũng đă "mê trăng". Theo huyền thoại La - Hy, trăng cũng có rất nhiều tên gọi như: Luna, Diana, Cynthia, Phoebe, Selena (hoặc Selene). Theo thần thoại Hy Lạp, Selene là nữ thần mặt trăng, con gái của các vị thần Hyperion và Theia. Endymion là một anh chàng chăn cừu rất đẹp trai, hàng ngày chăn cừu trên đỉnh núi Latmus. Selene đem ḷng yêu Endymion và hai người đă sống như vợ chồng. Sau đó Selene sanh ra cho Endymion 50 đứa con gái. Chắc lúc ấy, chàng Endymion đă hát nghêu ngao: "Ai bảo chăn cừu là khổ, chăn cừu sướng lắm chứ!" T́nh yêu của hai người làm thần Zeus ghen tỵ, khép tội Endymion đă dụ dỗ một thần nữ yêu quư của ông và trị tội Endymion bằng cách hóa phép làm cho Endymion ngủ vĩnh viễn trên đỉnh núi Latmus với t́nh yêu của Selena. Theo thần thoại La mă th́ Diana là nữ thần mặt trăng, vị thánh tổ của phụ nữ, của thợ săn và là thần hộ mạng của rừng cây. Diana là biểu tượng của tấm ḷng trinh trắng, tính nết đoan trang của người con gái. Tượng Diana có thân h́nh thon thả, vóc dáng thanh nhă, tay cầm cung tên và có một con nai vàng ngơ ngác đứng bên cạnh. Chắc cũng v́ vậy mà ở các xứ Tây phương, chúng ta thấy con gái tên Diana nhiều hơn tên Selene (hoặc Selena).

Các quốc gia khác trên thế giới dường như nước nào cũng có truyện cổ tích về trăng. Tôi c̣n nhớ một câu truyện cổ tích về trăng của người Đại Hàn như sau: "Ngày xưa có một chàng tiều phu hiền lành, thật thà và mộc mạc sống với một bà mẹ già ở ven b́a rừng. Một hôm vào rừng đốn củi, thấy một con nai già đang bị thương năn nỉ cứu giúp. Với bản tánh hiền lành, thương loài vật, chàng tiều phu bèn để con nai trong gánh và lấy củi che lại. Lúc người thợ săn đuổi đến và hỏi chàng có thấy con nai bị thương chạy về hướng nào không? Chàng tiều phu chỉ đại một hướng cho người thợ săn đuổi theo. Cảm ơn cứu mạng và muốn trả ơn, nai già (là sơn thần hóa thành) hỏi chàng tiều phu có ước muốn ǵ không? Chàng cũng thực t́nh nói là muốn có một người vợ đẹp, nhưng hoàn cảnh nghèo như vầy th́ ai mà ưng. Tưởng nai già chỉ hỏi chơi, không ngờ nai nghiêm trang nói : "Việc này nai có thể giúp được". Trước khi từ giă, nai già chỉ cách và phương hướng cho chàng để t́m đến một suối tiên trong khu rừng và dặn chàng tiều phu đến ngày trăng tṛn hăy đến đó núp kín bên bờ suối th́ sẽ thấy nhiều tiên nữ xuống tắm suối. Cứ lén lấy một bộ xiêm y giấu đi và tiên nữ nào bị mất xiêm y sẽ trở thành vợ của chàng. Hăy giấu bộ xiêm y đó cho đến khi có đứa con thứ hai mới trả lại.

Vào đêm trăng tṛn sắp tới, chàng tiều phu t́m đến con suối tiên núp bên bờ suối như nai già dặn. Đêm xuống, trăng lên th́ có năm đóm sáng bay từ mặt trăng xuống, hoá thành năm nàng tiên xinh đẹp, cởi xiêm y máng trên cành cây, xuống suối tắm và nô đùa với nhau. Chàng tiều phu lấy một bộ xiêm y giấu đi (thật thà thiệt, nếu gặp chàng nào ma lanh th́ chắc giấu hết cả 5 bộ). Các tiên nữ sau khi tắm xong lên bờ t́m xiêm y mặc để bay về cơi tiên th́ thấy mất một bộ. Các nàng tiên quưnh quáng t́m kiếm, nhưng trăng cũng đă sắp lặn. Không chờ được nữa, 4 nàng tiên đành phải bỏ bạn lại và hóa thành những đốm sáng bay trở về cung trăng. Nàng tiên c̣n lại đang sợ hăi và khóc lóc th́ chàng tiều phu rời khỏi chỗ ẩn núp và đề nghị đưa nàng tiên về nhà ḿnh. Không có cách chọn lựa nào khác nàng tiên đành phải theo chàng về nhà. Sau đó, họ trở thành vợ chồng và một năm sau họ có đứa con đầu tiên. Nhưng trong những đêm trăng, thấy vợ thuờng hay nh́n trăng u sầu, chàng tiều phu không chịu được bèn đưa bộ xiêm y đă giấu ra trả cho vợ. Bộ xiêm y gặp lại nàng tiên như có sức hút bám chặt vào người nàng và đứa bé, rồi tất cả biến thành đóm sáng bay về cung trăng.

Chàng tiều phu nhớ vợ ,thương con ủ rũ, sầu năo. Vào rừng đốn củi mà chỉ ngồi than vắn thở dài th́ chợt thấy nai già hiện ra và bảo: Tôi đă dặn kỹ mà ân nhân không chịu nghe lời, nhưng tôi chỉ có thể giúp được thêm 1 lần này nữa thôi. Từ khi biết suối tiên đă có con người, các nàng tiên không được phép xuống đó tắm nữa mà chỉ thả cái gàu xuống lấy nước suối tiên về mặt trăng tắm. Ân nhân hăy t́m cách trốn vào gàu để lên mặt trăng đoàn tụ với vợ con. Vào đêm trăng tới chàng tiều phu v́ ḷng hiếu thảo, không thể bỏ mẹ, nên cơng mẹ theo đến suối tiên chờ. Đến khi trăng lên, th́ quả thật có thấy cái gàu, chàng vội đặt mẹ vào trước và định leo lên sau, nhưng chiếc gàu tiên đă bị rút lên trước khi chàng kịp leo vào. Chàng buồn bă trở về nhà định quyên sinh th́ chợt thấy một con ngựa đầu rồng, có cánh từ trên trời bay xuống và bảo chàng tiều phu lên lưng nó chở lên cung trăng gặp vợ con. Số là mẹ chàng lên cung trăng gặp lại nàng dâu tiên và cháu nội kể lại câu chuyện. Chúa tiên nghe câu chuyện cảm động v́ t́nh yêu và ḷng hiếu thảo của chàng tiều phu nên cho ngựa đầu rồng xuống đón chàng lên cung trăng sum họp với gia đ́nh. Người Đại Hàn tin rằng, ánh trăng ngời sáng là do hạnh phúc của gia đ́nh người tiều phu mang lại.

Khi đọc hai câu thơ trong truyện Kiều:
"Vầng trăng ai xẻ làm đôi
Nửa in gối chiếc nửa soi dặm trường".
Chúng ta nghĩ cụ Nguyễn Du chỉ dùng ngôn từ ẩn dụ để diễn tả sự chia ly vậy thôi . Nhưng trong thực tế, người Hồi giáo tin rằng giáo chủ của họ là Mohammed đă sử dụng phép mầu xẻ trăng làm đôi là thật. Tương truyền rằng Mohammed đưa hai tay lên trời và làm phép, mặt trăng rơi xuống trên nóc đền thờ cổ xây bằng đá tên là Kaaba nơi thánh địa hồi giáo Mecca, quay bảy ṿng rồi bay đến chui vào tay áo bên phải, chui ra phía tay áo bên trái. Kế đến, trăng lại chui vào cổ áo, xuống phía chân, rồi tách ra làm hai bay trở lên trời theo hai hướng đông tây. Sau cùng hai mảnh trăng mới hợp lại thành một.

Ngày 20/7/1969, phi thuyền Appollo 11 của Mỹ đă đáp xuống mặt trăng và phi hành gia Neil Amstrong là người đầu tiên của loài người đă đặt chân trước cửa nhà chị Hằn . Khi trở về trái đất Neil Amstrong đă nói câu nói nổi tiếng: "Đó là một bước ngắn của (một) người, một nhảy vọt lớn lao của nhân loại" (that's one small step for (a) man, one giant leap for mankind). Một câu nói vừa đủ khiêm nhượng, vừa đầy tự hào cho giới khoa học gia và tràn dư thất vọng năo nề cho thi nhân. Mặt trăng đă bị con người và khoa học kỹ thuật chinh phục. H́nh ảnh của trăng, một thế giới đầy mộng ảo với bao nhiêu huyền thoại diễm lệ truyền kỳ được ǵn giữ nâng niu trong tâm tưởng của con người, trong văn, trong thơ, trong nhạc... tự ngàn xưa đă bị phá vỡ.

Một nhà thơ đă viết :

"Người đă mang về đá mặt trăng
Phi thuyền nào chở hết ăn năn
Riêng ta hốt hoảng mê trường dạ
Nguyệt điện đ́u hiu bóng chị Hằng."
(Đá Mặt Trăng - Vương Đức Lệ)

Một tiếng kêu thảng thốt, thống thiết và hốt hoảng của thi nhân bị vỡ mộng. Thiệt đúng là thành công vượt bực của khoa học là thất vọng năo nề cho thi nhân. Khám phá về trăng của khoa học chắc đă làm cho nhiều người ngần ngại và e dè khi ngâm nga "Chưa gặp em tôi vẫn nghĩ rằng. Có người thiếu nữ đẹp như trăng... " (Bản nhạc "Mộng dưới hoa" phổ theo bài thơ "Tự t́nh dưới hoa" của thi sĩ Đinh Hùng). V́ người đẹp có thể "hiểu lầm" ḿnh chê mặt người ta lồi lơm như mặt trăng (mặt rỗ hoa).

Cho riêng tôi, những lúc như đêm nay, tôi tạm quên sự thật, không muốn nghĩ, không cần nhớ đến những khám phá của khoa học về trăng, mà thả hồn theo ánh sáng dịu mát của vầng trăng xứ lạ lúc đầu xuân của miền đất ôn đới để t́m về quá khứ thăm những vầng trăng tuổi thơ, những vầng trăng quê hương, những vầng trăng kư ức... Những h́nh ảnh huyền ảo, mơ mộng... của trăng lúc có lẽ sẽ măi măi bất diệt trong tôi.

"Hỡi cô tát nước bên đàng
Sao cô múc ánh trăng vàng đổ đi" ( Bàng Bá Lân).

Đừng nhé cô tát nước! Và ước chi khoa học để yên cho vầng trăng mơ của tôi. Dù biết rằng "người ta không thể nào tắm hai lần trên cùng một ḍng sông" nhưng thỉnh thoảng, như đêm nay, tôi vẫn mơ được đắm ḿnh lại trong ánh sáng của những vầng trăng ngày xa xưa.

Lư Lạc Long
(5/5/06)

hoaidiephaphuong
07-24-2008, 03:38 AM
http://img.photobucket.com/albums/v735/HDHP/whitelotus.jpg

HOA SEN, HỒN VIỆT

Sen thanh cao, trắng trong và tinh khiết; bùn đen đúa, nhớp nhúa và dơ bẩn.
Sen và bùn, dù là hai thái cực, hai h́nh ảnh tương phản, đối chọi nhau, nhưng lại rất gần nhau.
Nói đến sen người ta nghĩ ngay đến bùn, nghĩ đến sự cao quư vươn lên sống ngạo nghễ từ giữa những vùng đất tội lỗi.

Trong đầm ǵ đẹp bằng sen,
Lá xanh, bông trắng, lại chen nhụy vàng.
Nhụy vàng, bông trắng, lá xanh,
Gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn. (CD)

Về ư nghĩa của câu ca dao, ai cũng hiểu nhưng nếu ai đă từng trầm ḿnh trong những đầm sen, từng thọc tay vào bùn để kéo lên những ngó sen trắng nỏn th́ sẽ thấm thía với câu ca dao trên hơn, v́ không chỉ ngó sen màu trắng nỏn tương phản với màu bùn đen mà hương vị của hoa sen cũng chẳng vướng víu hay bị nhiễm mùi bùn, ngược lại c̣n phảng phất một mùi hương nhẹ nhàng thanh khiết và dễ chịu. Sen sống giữa bùn śnh nhưng không bị lấm lem, sen tặng cho cuộc đời những bông hoa tinh khiết, thanh cao. Ban ngày hoa sen nở, nhưng sẽ khép kín lại lúc về đêm như để tránh sự xâm nhập của bóng đêm u tối, giữ vẹn toàn hương sắc trinh bạch, thanh cao của một loài hoa cao quư.

Hoa sen tượng trưng cho sự uy dũng bất khuất của người quân tử, giữ chặt ḷng ḿnh trước cám dỗ của lợi danh, giữ cho ḿnh sự trong sạch dù ở giữa chốn bùn dơ. Với Phật giáo, hoa sen là biểu tượng của sự giác ngộ, cũng như sen mọc giữa chốn bùn lầy, người giác ngộ sống giữa hồng trần, cuộc sống thế nhân với muôn vàn ô trọc vẫn b́nh thản giữ ǵn đạo hạnh và sự trong sạch của bản thân không để bị vướng bụi trần thế, bả lợi danh. Sen không chỉ là một loài hoa đẹp, một biểu tượng của người quân tử, của sự giác ngộ, mà tất cả các phần của sen, theo đông y, đều là thuốc chữa bệnh. Hạt sen (liên nhục) chữa thần kinh suy nhược, mất ngủ. Nhụy của hạt sen (liên tâm) có vị đắng có tác dụng an thần. Gương sen (liên pḥng) phơi khô sắc uống có tác dụng cầm máu trong đại tiểu tiện. Tua nhụy của hoa sen (liên tu) phơi khô sắc uống chữa băng huyết, thổ huyết, di mộng tinh. Lá sen (hà diệp) dùng tươi, sắc uống chữa nôn ra máu, chảy máu cam. Ngó sen (liên ngẫu), dùng làm thức ăn giải nhiệt, làm thuốc cầm máu, nấu nước tắm sẽ làm cho da thịt mịn màng, cơ thể sảng khoái. Ngoài ra sen c̣n được biến chế thành những món ăn quốc túy, hương vị đặc biệt VN như gỏi ngó sen, mứt sen. Trà sen, một loại trà được ướp với hạt gạo trong hoa sen là một loại trà ngon, quư và được người uống trà ưa chuộng.

Ngày xưa, lúc đọc 2 câu thơ của nhà thơ Nguyên Sa :

"Vẫn biết ḷng ḿnh là hương cốm,
Chả biết tay ai làm lá sen."

Sinh trưởng ở trong Nam, dù sen cũng là một h́nh ảnh rất quen thuộc, nhưng tôi không thấm và hiểu được hai câu thơ diễn tả mối t́nh "cốm, sen" của Nguyên Sa. Măi sau này, tôi mới biết là ở ngoài Bắc, người ta dùng lá sen để gói cốm. Có một tác giả nào đó, tôi không nhớ tên, đă viết: "Ăn cốm làng Ṿng chấm với hồng chín đỏ, thưởng thức hương thơm và ngọt nhẹ của cốm, với mùi thơm và vị ngọt gắt của hồng. Ăn một nhúm cốm như vậy, giống như đang nếm tất cả hương vị của đất trời, đồng nội, hương hoa...". Th́ ra là như vậy, tôi đă có thể tưởng tượng. Những lá sen rộng bản, vươn cao khỏi mặt nước. Buổi sáng, với những hạt sương, long lanh, trong vắt, c̣n đọng lại trên mặt lá như những hạt trân châu trời đất ban tặng cho sen. Dù nắng hay mưa, ngày qua ngày, những lá sen vẫn vươn cao, mở rộng che chắn cho những bông sen đang nở. Một ngày nào đó, một bàn tay ngà của một cô gái ngắt lấy tấm lá sen đem về gói những hạt dẻo thơm, màu xanh ngọc thạch. Hương đồng, cỏ nội quấn quyện với "hương đồng cỏ nội". Lá sen giữ cho cốm dẻo và thơm lâu, những hạt cốm xanh màu ngọc thạch nằm yên ổn trong ḷng lá: Mùi sen trong hương cốm - Một sự kết hợp hài ḥa và tuyệt vời - cuối cùng tôi đă hiểu nhà thơ Nguyên Sa ví ḷng ông như hương cốm, hương của những hạt ngọc quư của đất trời, của hương đồng cỏ nội, của quê hương Việt Nam và t́m đâu người tri âm, tri kỷ. Khám phá, hiểu, giữ ǵn, ḥa hợp, bổ sung... cho nhau như lá sen và hạt cốm.

Hoa sen đă đi vào ḷng người, đi vào cuộc sống của người Việt tự ngàn xưa. Có thể nói, nh́n sen, ta có thể liên tưởng và nhận ra con người Việt Nam nhưng nh́n người Việt Nam có nhận ra được HOA SEN không? Ngày nay, nh́n vào xă hội của người Việt Nam (cả hải ngoại và trong nước), một người Việt có đủ tự hào và khả năng để giải thích một cách tường tận ư nghĩa của câu ca dao trên cho một người ngoại quốc nghe không? Câu hỏi làm trăn trở nhiều người Việt có tấm ḷng tha thiết với quê hương và dân tộc.

Nửa thế kỷ, dưới "ánh sáng" nhân tạo, quá cường độ và gay gắt của một chủ nghĩa ngoại lai, đă trở thành ngọn lửa thiêu đốt và hủy hoại những giá trị căn bản tạo thành dân tộc Việt. Việt Nam trở thành một xă hội, nơi mà t́nh người, lương tâm và đạo đức... khan hiếm như bóng cây, như nguồn nước giữa sa mạc. Đầm nước Việt cạn khô, hoa sen Việt tàn úa chết rũ. Bóng đêm bao phủ, cơn ác mộng của những bông sen đỏ ngoi lên từ vũng máu thịt nhầy nhụa, lạnh ngắt, tanh tưởi, nồng nặc mùi tử khí. Cố gắng vượt qua vùng bóng tối lại mơ thấy những bông sen tạp chủng ngoi lên từ những vũng nước ao tù. T́m ở đâu đây, hương vị dịu dàng và bóng dáng thanh cao của Hoa Sen Hồn Việt?

Buổi chiều cuối tuần, tịch mịch, yên vắng đến lạnh lùng. Vạt nắng cuối ngày hờ hững rớt qua song, những dăi mây xám trôi lững lờ, lang thang, vài bóng chim bay điểm những chấm đen di động trên nền trời. Không biết những đám mây kia sẽ trôi theo gió về đâu và những cánh chim có phải đang vội vă bay về tổ ấm? C̣n ta sẽ đi về đâu cuối đoạn đường lưu lạc? Nửa thế kỷ đă qua, một dấu chấm nhỏ của thời gian, một đoạn đường ngắn của lịch sử, một đời người. Như những giọt sương đọng trong ḷng chiếc lá sen, đẹp lóng lánh như kim cương dưới ánh sáng mặt trời buổi b́nh minh bốc hơi mất dạng dưới cơn nắng gắt buổi trưa, những giấc mơ hồng thời niên thiếu cũng tan dần với thời gian và cuộc sống bươn chải, tất bật nơi quê người.

Mặt trời đă lặn, giọt nắng cuối cùng đă tắt, bóng đêm bao phủ vạn vật, một ngày nữa đă qua. Giấc mơ hoa sen hồn việt nở rộ lại nơi quê ta, xứ người có về chăng, đêm nay? Có lẽ lại thêm một đêm trăn trở nối tiếp một ngày buồn thiu ....

Vẫn biết hồn ta là sen Việt.
T́m ở đâu những hạt cốm thơm?

Lư Lạc Long
(Mai 5/4/2006)

chieunhatnang
07-25-2008, 01:08 AM
http://www.viet.no/images/stories/div/hanhphuc.jpg


HẠNH PHÚC

Sơn Nghị

Ở cơi đời này có 3 bí nhiệm (mysteries). Đó là T́nh Yêu, Đau Khổ, và Sự Chết. Sở dĩ gọi là bí nhiệm v́ đây là những vấn đề gay cấn nhất trong cuộc sống. Biết bao nhiêu chữ nghĩa được viết ra nhằm giải thích chúng nhưng vẫn hoài công. Con người đă bỏ công t́m ṭi nhưng chỉ hiểu được một phần nào ư nghĩa đích thực của chúng. Chưa một ai dám tự hào đă hiểu trọn vẹn hết những góc cạnh sâu thẳm nhất của những bí nhiệm này.

T́nh Yêu hiện diện trên cơi đời này ngay từ thuở hồng hoang. Cho dù Agape (T́nh Yêu Dâng Hiến) hoặc Eros (T́nh Yêu Nhục Dục), T́nh Yêu muôn thuở vẫn là một bí ẩn. Xuân Diệu nói, “Có ai cắt nghĩa được t́nh yêu?...” Bi quan hơn lại cho rằng, “T́nh Yêu đứng xa trông như hạt kim cương nhưng đến gần chỉ là giọt nước mắt.” Có người thở dài bảo, “Con người không có T́nh Yêu như trái đất không có mặt trời.” Mỗi người tùy theo quan niệm và kinh nghiệm sống của riêng ḿnh định nghĩa T́nh Yêu mỗi cách khác nhau. Không một ai đúng hoàn toàn và cũng chẳng một ai sai.

Sự Chết cũng thế. Con người sinh ra để rồi già đi, vướng bệnh và chết. Chết là từ giă cơi đời này. Có người cho rằng chết là hết nhưng lại có người lại tin rằng chết là bước sang một thế giới khác. V́ muốn chống lại sự chết nên đă có người cố công t́m cho được thuốc trường sanh bất tử. Họ thèm sống. Nhưng không một ai căi lại được định luật của Tạo hóa. Đúng theo tam đoạn luận của Socrate; phàm là con người đều phải chết, tôi là con người, vậy tôi cũng phải chết. Sự chết đă bám dai dẳng trong suy tư của con người. Một đời người vỏn vẹn chỉ được trăm năm và rồi biến mất hẳn khỏi trần gian này. Thật vô lư nhưng đó là một thực tại không thể chối căi được.

Nhưng Đau Khổ là vấn đề nhức nhối nhất theo thiển ư của người viết. Có người dùng đau khổ để thăng hoa, để cứu chuộc như Đức Giêsu. Nhưng nó nhức nhối v́ đau khổ luôn hiện diện trong đời sống của con người. Nhân loại vẫn không thể hiểu được tại sao một người sinh vào cơi đời này để rồi chuốc lấy đau khổ. Có lẽ v́ thế mà con người là động vật duy nhất sinh vào cơi đời này bắt đầu bằng tiếng khóc chăng? Chẳng một ai muốn sống đau khổ cả. Họ muốn sống sung sướng. Sống sung sướng nghĩa là sống thụ hưởng hạnh phúc, ngược lại với sống chịu đựng đau khổ.

Vậy làm thế nào để cuộc sống có hạnh phúc? Đă có nhiều sách vở bàn luận về hạnh phúc. Cũng có nhiều diễn giả nói về vấn đề khúc mắc này. Tôn giáo là một giải pháp giúp con người có b́nh an trong tâm hồn; để từ đó dẫn đến hạnh phúc trong cuộc sống. Nhưng thử bàn luận vấn đề nan giải này trên kinh nghiệm, qua những con số thống kê thực tế trong xă hội. Mới đây, tờ Readers Digest số tháng 5, Arthur Brooks đă tóm tắt cuốn “Gross National Happiness” (chính ông là tác giả) và đưa ra kết quả dựa trên khoa học và kinh nghiệm làm thế nào để đạt được hạnh phúc. Mời quư độc giả theo dơi cuộc khảo sát giá trị của Arthur Brook sau đây.

Quư vị muốn sống hạnh phúc ư? Tôi tạm cho là quư vị cũng có một ước muốn như tôi. Socrate đă có lần nói với các học tṛ, “không phải ai ai cũng muốn hạnh phúc sao?” Nếu suy nghĩ của Socrate đúng th́ một câu hỏi hợp lư đặt ra là xă hội mà chúng ta đang sống cũng phải tạo ra những điều kiện để người dân có thể mưu cầu hạnh phúc chứ? Trong bản Tuyên Ngôn Độc Lập, những vị Khai Quốc không bao giờ xem hạnh phúc là một khái niệm mơ hồ; nhưng họ tin tưởng rằng con người luôn muốn hạnh phúc và có quyền mưu cầu nó. Theo sát đời sống và tự do, hạnh phúc là nhịp cầu nối liền giữa Thượng đế với vận mạng của quốc gia, và chính khả năng của người dân mưu cầu hạnh phúc là thước đo sức mạnh và nền luân lư của xă hội.

Nhưng ngày nay, những vị lănh đạo hầu như quên mất điều này. Cứ nghe những nhà chính khách hoặc các chính trị gia nói về tổng sản lượng quốc gia, cuộc cách mạng y tế và tiền già, người ta nghĩ rằng những vị Khai Quốc nếu c̣n sống sẽ cảm nhận rơ ràng là con người được sinh ra để cố mua sắm những món hàng có phẩm chất cao, hoặc thỏa măn về một nền kinh tế tăng trưởng vững vàng với mức lạm phát thấp và lực lượng lao động dồi dào. Những vị Khai Quốc không hề nói đến những vấn đề này, không phải là tại v́ chúng không quan trọng, nhưng bởi v́ Họ tin tưởng rằng đạt được hạnh phúc không chỉ đơn thuần như thế, mà hạnh phúc mang một chiều kích sâu xa hơn.

Là một giáo sư ngành kinh doanh và chính sách quốc gia, đă từ lâu tôi xem mưu cầu hạnh phúc là một khái niệm quốc gia. Theo những cuộc khảo sát tin cậy liên quan đến hàng ngh́n người dân ở quốc gia này th́ nếu người dân càng sống hạnh phúc, thịnh vượng quốc gia cũng tăng theo, và làm vững mạnh đời sống cộng đồng. Hạnh phúc làm con người tốt hơn, và chính những công dân tốt sẽ là nhân tố quan trọng thúc đẩy xă hội tiến triển lành mạnh. Hạnh phúc, nói một cách khác, rất quan trọng trong đời sống của xă hội Hoa kỳ.

Sau đây là 5 nhân tố ảnh hưởng đến hạnh phúc. Chúng không những liên quan mật thiết với nhau mà c̣n hỗ trợ nhau, bổ túc cho nhau trong việc mưu cầu hạnh phúc.

1. Niềm Tin

Khoảng 85% người dân nh́n nhận có theo một tôn giáo nào đó, và khoảng 1/3 tham dự một nghi thức tôn giáo hàng tuần. Con số này thay đổi một ít trong vài thập niên trở lại. So với các nước khác th́ con số dân Mỹ theo đạo và giữ đạo khá cao so với các nước tân tiến khác trên thế giới. Chẳng hạn như chỉ có 9% dân Ḥa lan tham dự thánh lễ hàng tuần; c̣n ở Pháp con số lại thấp hơn, 7% và ở Latvia chỉ có 3%.

Nh́n chung, những người Mỹ có niềm tin (đi dự lễ hàng tuần hoặc nhiều hơn) có hạnh phúc hơn những người tuy có đạo nhưng chẳng bao giờ đến nơi thờ phượng. Năm 2004, cuộc Khảo Sát Xă hội Tổng Quát (General Social Survey) cho thấy 43% những người dân từng tham dự nghi thức thờ phượng nh́n nhận họ sống hạnh phúc, so sánh với 23% những người chẳng hề bao giờ tham dự. Con số những người hữu thần nh́n về tương lai cảm thấy lạc quan so với những người vô thần có lạc quan cách biệt 33%. C̣n con số những người vô thần cảm thấy thất bại trong cuộc sống gấp đôi con số những người hữu thần có cùng một cảm nghĩ.

Tôn giáo và hạnh phúc gắn chặt với nhau như tương quan nhân quả. Niềm tin vào bất cứ tôn giáo nào đều đưa đến một hạnh phúc gần giống nhau. Những cuộc khảo sát khác cũng cho thấy những người Thiên Chúa giáo (Tin lành, Công giáo, Mormon, và các giáo phái khác) và Do thái giáo nhận thấy họ sống hạnh phúc hơn, rất xa con số của những kẻ vô thần. Năm 2004, 36% những người cầu nguyện hằng ngày cảm thấy hạnh phúc, so với 21% những người chẳng hề bao giờ cầu nguyện.

Dĩ nhiên, không phải tất cả những người hữu thần đều hạnh phúc, hoặc tất cả những người vô thần đều không thấy hạnh phúc. Nhưng một điều không thể phủ nhận là niềm tin tôn giáo chính là một nhân tố quan trọng dẫn đến hạnh phúc.

2. Công Việc

Nếu trúng số độc đắc, quư vị có nghỉ việc không? Nếu quư vị là người Mỹ th́ có thể điều đó không xảy ra, nghĩa là trúng số rồi nghỉ việc. Năm 2002, khoảng 1000 người được hỏi rằng, “Nếu có đủ tiền bảo đảm một cuộc sống thoải mái cho đến lúc chết, liệu quư vị có nghỉ việc không?” th́ chỉ có khoảng 1/3 số người trả lời sẽ nghỉ việc.

Trái ngược với rất nhiều người lầm nghĩ, hầu như tất cả những người Mỹ yêu thích công việc làm của họ. Năm 2002, con số đó lên đến 89%. Con số phần trăm này lại không áp dụng vào trường hợp những người có mức lương bổng cao, hoặc những người với việc làm đ̣i hỏi nhiều kỹ năng nhưng lại đúng với số nhân công với lợi tức trung b́nh. Con số phần trăm này cũng gần đúng với những người có hoặc không có bằng đại học làm trong các công ty tư nhân, trong các hội từ thiện, hoặc trong các công sở của chính quyền.

Hầu hết những người Mỹ cho rằng sự yêu thích việc làm (job satisfaction) quan trọng ngang ngửa với sự yêu thích cuộc sống (life satisfation). Trong số những người cảm thấy yêu thích cuộc sống th́ 95% cũng cảm thấy yêu thích việc làm. Kết quả những cuộc khảo sát c̣n cho thấy, yêu thích việc làm dường như dẫn đến hạnh phúc trong cuộc sống nhưng lại không đúng trong trường hợp ngược lại.

Vấn đề lơi cốt là nếu muốn hạnh phúc, quư vị cần phải làm việc. Việc ǵ cũng được nhưng cần phải làm; có thể là t́nh nguyện làm một công việc từ thiện nào đó ở các hội thiện nguyện, hoặc giúp nhà thờ, chùa chiền…v..v. Biết bao nhiêu công việc ở những cơ quan công cọng như nhà thương, thư viện, trường đại học đang cần nhiều người t́nh nguyện. Quan niệm này cũng cần nên chia sẻ với con cháu của quư vị.

3. Hôn Nhân & Gia Đ́nh

Có những quan niệm sai lạc về hôn nhân kể từ thập niên 60. Những lời đồn đăi này làm nhụt chí, trong đó phải kể đến giới phụ nữ, nhiều người không dám nghĩ đến việc lập gia đ́nh. Đừng tin vào những lời đồn đăi như thế.

Năm 2004, khoảng 42% những người lập gia đ́nh nói họ t́m thấy hạnh phúc. Trong khi đó, chỉ có 23% những người độc thân cảm thấy họ có hạnh phúc. Con số phần trăm này càng ít đi đối với những nhóm khác: 20% những người góa vợ hoặc chồng, 17% những người ly dị, 11% những người sống ly thân chờ ly dị. Nh́n tổng quát, số người lập gia đ́nh cảm thấy hạnh phúc cao gấp 6 lần số người tuy lập gia đ́nh nhưng lại không cảm thấy hạnh phúc. Nói chung, phụ nữ lập gia đ́nh cảm thấy hạnh phúc nhiều hơn đàn ông lập gia đ́nh.

Hôn nhân không những tương quan đến hạnh phúc mà chính nó mang đến hạnh phúc, ít nhất là cho hầu hết mọi người. Một trong những thống kê hoàn tất năm 2003 sau hơn một thập niên khảo sát 24.000 người đưa đến một nhận xét rằng mức độ hạnh phúc đă gia tăng đáng kể sau khi lập gia đ́nh. Chỉ một số nhỏ trong nhóm 24.000 người này cảm thấy mức độ hạnh phúc giảm dần sau vài năm lập gia đ́nh, trở lại mức độ trước khi chung sống nhưng hầu hết đều cảm thấy hạnh phúc tiếp tục tăng trưởng theo thời gian chung sống.

C̣n con cái th́ thế nào? Nếu chỉ nói đến sinh con đẻ cái thôi th́ h́nh như mức độ hạnh phúc có phần thuyên giảm nhưng những cuộc khảo sát đều thấy một điểm tương đồng rằng con cái hầu hết là một nhân tố gắn liền với hạnh phúc trường cửu, trong đó bao gồm cả niềm tin và hôn nhân. Hăy cân nhắc điều này: trong khi 50% những người lập gia đ́nh có con cái và đặt niềm tin vào tôn giáo cảm thấy hạnh phúc th́ chỉ có 17% những người vô tôn giáo, không lập gia đ́nh, không con cái cảm thấy có hạnh phúc trong cuộc sống.

4. Từ Thiện

Ai cũng biết rằng tiền của không dẫn đến hạnh phúc và cho đến tận bây giờ điều này vẫn là một chân lư. Nhưng nếu cho bớt tiền tài của cải th́ lại dẫn đến hạnh phúc. Hai điều này vẫn là chân lư tuyệt vời nhất.

Bằng chứng thật rơ ràng là biếu tặng cho các hội từ thiện mang đến một niềm vui đáng kể cho những người rộng lượng. Nếu quư vị muốn một hạnh phúc đáng giá $50 th́ nên dâng cúng cùng một số tiền cho một hội từ thiện mà quư vị ưa thích.

Những người dâng cúng tiền của cảm thấy rất hạnh phúc 43% nhiều hơn những người không bao giờ dâng tặng. Những người t́nh nguyện (làm việc không lương) cảm thấy rất hạnh phúc 42% nhiều hơn những người không bao giờ dấn thân trong các công tác t́nh nguyện. Cho đi mới quan trọng, cho ai đôi khi lại không quan trọng lắm; nghĩa là quư vị dâng tặng của cải cho nhà thờ, chùa chiền, hội từ thiện, hoặc bất cứ cơ quan thiện nguyện nào đều mang đến một niềm hạnh phúc như nhau và cảm nhận hạnh phúc hơn hẳn những người không bao giờ dâng tặng. Ngay cả đến việc hiến máu, và đặc biệt tặng những di sản cá nhân, luôn dẫn đến một đời sống lạc quan hơn.

Thực tế thật rơ ràng, càng cho đi càng hạnh phúc.

5. Tự Do

Những vị Khai Quốc đă khẳng định quyền tự do với quyền theo đuổi và mưu cầu hạnh phúc cho chính mỗi công dân. Đây là những quyền căn bản của con người trong một quốc gia độc lập. Nói cho cùng, tự do và hạnh phúc tương quan mật thiết với nhau: những người cảm thấy có tự do trong cuộc sống luôn thấy hạnh phúc hơn những người không có tự do. Năm 2000, cuộc Khảo Sát Xă Hội Tổng Quát cho thấy số người có “hoàn toàn tự do” hoặc “rất tự do” cảm thấy đời sống hạnh phúc có tỉ lệ gấp đôi số người không có tự do cảm nhận được hạnh phúc.

Tuy vậy, không phải tất cả các loại tự do đều mang đến hạnh phúc. Tự do về kinh tế quả mang đến hạnh phúc, kể cả tự do về chính trị và tôn giáo. Nhưng tự do về luân lư, một loại tự do phóng khoáng thiếu tự chế, th́ hoàn toàn không mang lại hạnh phúc. Những người cảm thấy họ có rất nhiều sự chọn lựa (quá tự do) về luân lư trước những vấn đề, chẳng hạn như, t́nh dục và ma túy thường không cảm thấy hạnh phúc hơn những người cảm thấy họ không có quá nhiều sự chọn lựa trước cùng một vấn đề.

Cử tri Mỹ hiểu điều này rất rơ ràng. Những người đi bầu cử chọn Tổng thống năm 2004 khi được hỏi xă hội đang đối diện với vấn đề nào nghiêm trọng nhất th́ hầu hết mọi người đều cho là vấn đề luân lư. Vấn đề này vượt hẳn lên trên những vấn đề khác như kinh tế, khủng bố, chiến tranh Iraq, y tế là những khúc mắc làm họ nhức đầu từ bấy lâu nay. Những nhà chính trị lại mong dân Mỹ gạt bỏ vấn đề luân lư sang một bên và nghĩ đến vấn đề khác để họ dễ kiếm phiếu. Những nhà phê b́nh cho đó là một bằng chứng hiển nhiên rằng không dễ ǵ nắm được cử tri Mỹ. Thật thế, những giá trị luân lư đang dằn vặt tâm trí những người dân. Điều này nói lên rằng: là một người dân trong xă hội này, chúng ta làm tất cả những ǵ có thể làm để ǵn giữ một nền tự do kinh tế và chính trị đồng thời đề pḥng những loại “văn hóa” cổ vơ một nếp sống phóng túng và thác loạn.

BÀI HỌC CHO DÂN MỸ CHÚNG TA

Những số liệu này cho thấy hạnh phúc không phải ở chỗ sở hữu thật nhiều cho ḿnh nhưng chính là bảo toàn những giá trị lành mạnh. Không có những giá trị căn bản này, việc làm và nền kinh tế của chúng ta chỉ mang lại một sự vô cảm và sự giàu có vô nghĩa. Sẽ chẳng có lư do nào để chúng ta chiến đấu bảo vệ cuộc sống này cả. Hệ thống y tế tân tiến ở đất nước này sẽ giúp chúng ta sống thọ hơn nhưng sống lâu làm ǵ khi cuộc sống không t́m thấy hạnh phúc.

Kết quả của công tŕnh khảo sát này cũng giúp chúng ta t́m thấy ch́a khóa hạnh phúc ở đời này. Đó là những giá trị căn bản giúp con người đạt được hạnh phúc. Nên nhắc lại những giá trị này một lần nữa mà không cảm thấy thừa; đó là niềm tin, việc làm, gia đ́nh, từ thiện, và tự do. Những giá trị mà chúng ta nên ǵn giữ và bảo vệ để bảo toàn hạnh phúc. Kết quả của công tŕnh khảo sát đồng thời gửi đi một thông điệp đến những nhà lập pháp, những nhà lănh đạo tinh thần cũng như xă hội về tầm mức quan trọng của sự mưu cầu hạnh phúc cho quần chúng. Chúng ta phải tỉnh thức để lên tiếng khuyến cáo họ về sự thật của niềm hạnh phúc trong tâm hồn của từng người cũng như trong mỗi gia đ́nh chúng ta. Mỗi khi họ ra những đạo luật làm giảm thiểu giá trị của niềm tin, việc làm, gia đ́nh, từ thiện, và tự do th́ chúng ta phải vô hiệu hóa những đạo luật đó bằng những quyền công dân mà hiến pháp Hoa-kỳ cho phép. Ứng cử viên trong bất cứ mọi địa hạt hoặc lănh vực nào đều phải trả lời cho chúng ta rơ quan niệm của họ về hạnh phúc như thế nào, và làm thế nào để mưu cầu hạnh phúc cho người dân. Câu trả lời của họ chắc chắn phải liên quan đến 5 nhân tố quan trọng trên. Câu trả lời này đồng thời sẽ quyết định lá phiếu của chúng ta.

Hạnh phúc rất quan trọng trong đời sống của mỗi chúng ta. Và không một ai có quyền xem nhẹ những nhân tố tinh thần dẫn đến niềm hạnh phúc mà Thượng đế đă ban tặng cho nhân loại.

Nguồn: viet.no

chieunhatnang
08-04-2008, 03:17 AM
http://vnthuquan.net/truyen/anhminhhoa/HoaQuynh1.jpg

HƯƠNG SẮC QUỲNH HOA

Trong tất cả các loài hoa trên mặt đất, có lẽ hoa quỳnh là một trong những loài hoa hiếm hoi đặc biệt nhất. Cây hoa giản dị, ban ngày trông xoàng xĩnh tầm thường nhưng về đêm lại là vua của muôn hoa.

Hoa Quỳnh thường được gọi là "Night Blooming Cereus" (Queen of the Night, Moon Cactus, Night Cactus, Orchid Cacti), thuộc họ xương rồng(Cactaceae) có tên khoa học là Epiphyllum grandilobum, Epiphyllum oxypetallum, Phyllocactus grandis, Selenicereus grandiflorus... Sau khi tra cứu, tôi vẫn không biết đích xác danh từ khoa học nào áp dụng cho loại hoa quỳnh màu trắng ở Việt Nam thường chỉ nở về đêm nhưng thôi chuyện này hăy để dành lại cho những nhà khảo cứu chuyên môn. Hôm nay tôi chỉ muốn mời bạn cùng tôi thưởng thức hương sắc của hoa quỳnh qua những vần thơ, những cảm xúc của thi nhân ghi lại khi ngắm quỳnh hoa - nữ hoàng của các loài hoa nở trong đêm - khoe sắc tỏa hương và huyền thoại của hoa quỳnh.

Từ ngàn xưa, hoa được coi là thông điệp của tâm hồn. Chúng ta ai mà chẳng yêu hoa, ai mà chẳng có kỷ niệm đẹp về những loài hoa. Từ cổ chí kim, hoa bao giờ cũng được coi là biểu tượng của cái đẹp và các thi sĩ cổ kim từ đông sang tây, hầu hết đều rung động, cảm xúc trước cái đẹp của hoa. Có thi sĩ nào lại không yêu hoa và trân trọng vẻ đẹp của các loài hoa. Đỗ Phủ, một nhà thơ Trung Quốc, đă viết: "Nhất phiến hoa phi giảm khước xuân" (Mỗi cánh hoa rơi cũng làm giảm đi vẻ đẹp của mùa xuân). Người Á đông có phong cách độc đáo riêng trong sự thưởng thức vẻ đẹp của các loài hoa: Tao nhă, tinh khiết, trầm lắng... một phong cách Á đông. Ngắm Quỳnh nở hoa được các cụ ngày xưa liệt vào loại thú vui tao nhă bậc nhất trên đời. Mỗi lần biết hoa sắp nở, họ thường mời thêm vài người bạn thân đến để thưởng hoa. Trong khi chờ ngắm hoa nở, các cụ thường pha một ấm trà ngon, thưởng thức hương vị đậm đà của chun trà nóng trong khi chờ đợi Quỳnh khai hoa nở nhụy. Nhân gian bảo hoa Quỳnh nở vào nửa đêm nhưng không phải vậy. Hoa quỳnh nở sớm hơn rất nhiều. Từ chập tối, nụ hoa đă no tṛn chúm chím. Đài hoa mở dần, những đường gân hoa trắng xanh bung ra từ từ. Cuống hoa mới ban ngày c̣n rất nhỏ, vào đêm thoắt dài ra như cánh tay con gái xanh xao. Thường cứ vào tám giờ là giờ hoa Quỳnh bắt đầu nở. Nh́n nụ hoa mở ḷng trinh bạch, thi nhân nghe tim ḿnh bỗng dưng đập rộn. Gió đêm thoảng nhẹ, cuống hoa cứ vươn dài ra, những cánh hoa run run e ấp. Từ giữa ḷng hoa, lấm tấm một dăy nhụy trắng đội mũ vàng trạng nguyên tỏa sâu vào ḷng đêm. Mùi xạ hương bay ra ngất ngây.

Bên mái trăng non,đêm quá nửa
Muôn hương vườn ngậm cánh mong manh.
Gió mơ, lá ngủ, sương đi lăng,
Bẽn lẽn hoa quỳnh hé ư trinh.
(Đông Hồ)
Ôm ấp dáng tinh hoa của trời đất
Cánh ngọc ngà, hương khép nép lời dâng
Một phút giây tô điểm nét giang san
Một phút giây mà ngh́n thu dậy sắc

(Hoàng Ngọc Quỳnh)

Khi hoa nở những cánh trắng tươi nơn nà mềm mại x̣e ra, tỏa hương thơm d́u dịu quyến rũ đưa người thưởng hoa vào cơi bát ngát tận cùng của hư không... rồi từ từ khép lại giữa những đài hoa phong kín như ban đầu...

Hoa trăng với lại hồn tôi
Phút giây hư thực đất trời trôi qua.
Đến khi thức dậy nh́n ra
Ánh trăng vừa tắt, sắc hoa vừa tàn

(Tế Hanh)

Lặng lẽ bốn mùa với nắng mưa, hoa có thể nở bất cứ giờ phút nào. Từ lúc b́nh minh khi những hạt sương óng ánh c̣n đọng trên cành lá, hay lúc ban trưa dưới ánh nắng gay gắt chói chang của mặt trời, hay trong đêm dưới ánh trăng sao khi đa số chúng ta đang yên giấc. Có lẽ v́ vậy mà ít người để ư đến một thế giới huyền bí kỳ ảo của những loài hoa chỉ khoe sắc tỏa hương trong đêm với trăng sao và trong thế giới của các loài hoa đêm này, hoa quỳnh đă được tôn là nữ hoàng. Người tây phương nói hoa Quỳnh tượng trưng cho "sắc đẹp phù du" (transient beauty), nở đó để rồi tàn đó, khoe sắc hương tuyệt vời chỉ trong vài giờ phù du.

Hoa nở để mà tàn
Trăng tṛn để mà khuyết
Bèo hợp để mà tan
Người gần để ly biệt

(Xuân Diệu)

Nhưng cũng có người nói rằng hoa Quỳnh tượng trưng cho "vẻ đẹp chung thủy" (loyal beauty), v́ quỳnh chỉ nở một lần rồi tàn tạ, cũng như một t́nh yêu đầu tiên nguyên thủy và duy nhất dâng hiến cho người t́nh trăm năm.

Tóc em ngọn gió trăm nguồn
Chở đầy thương nhớ vây buồng phổi ta
Từ em hơi thở quỳnh hoa
Nụ thơ hàm tiếu ru ta t́nh đầu

(Vương Ngọc Long)

Có lẽ không có màu trắng nào sánh được với màu trắng của hoa quỳnh. Dường như có chút ǵ đó rất liêu trai trong hương sắc hoa quỳnh. Một màu trắng trinh bạch, một vẻ đẹp huyền ảo mong manh làm xao xuyến ḷng người. Cho nên không lạ khi nhiều người ngắm hoa quỳnh bỗng nghe lẫn trong mùi hương quỳnh văng vẳng tiếng vó ngựa lao xao, tiếng reo ḥ một thuở và tiếng bật khóc nức nở của ai đó bên ngoài hiên vắng... Từ hoa nở đến hoa tàn chỉ trong vài giờ. Ngắn ngủi kiếp hoa, phù du kiếp người như nhắc nhở chúng ta mọi việc trên đời đều vô thường.

Quỳnh hoa âm thầm nở
Bóng đêm hờ hững rơi
Giọt sương hay giọt lệ
Lặng lẽ trên môi cười
Hương đêm vương lá cỏ
Chuông điểm thời công phu
Chú tiểu lơi tiếng mơ
Hoa lẻn vào kinh thư
Bát Nhă Ba La Mật
Thơm ngát quỳnh hương ơi!
Đời vô thường,
Không thật
Đêm tàn,
Trăng khuyết rồi.
Chú tiểu ngân nga tụng:
"Huyễn mộng bào ảnh thôi"
Vườn trăng.
Hoa quỳnh nở
Vườn trăng,
Hoa quỳnh rơi
Chú tiểu c̣n tĩnh tọa
Trăng đă vỡ làm đôi
Chú tiểu vừa nhập định
Trăng đă thành mặt trời

(Diệu Trân)

Theo truyền thuyết, vào thời nhà Tùy (605-617) ở Dương Châu,Trung Quốc, có Tùy Dạng Đế là ông vua hôn quân vô đạo, chơi bời trác táng, xa hoa, phung phí, một đêm nằm mơ thấy cây trổ hoa đẹp. Cùng thời điểm ấy, tại Lạc Dương thành có ngôi chùa cổ kính là Dương Ly, vào giữa canh ba, ngoài cửa chùa th́nh ĺnh ánh sáng rực lên như lửa cháy, hương thơm sực nức lạ lùng, như sao trên trời sa xuống, làm dân chúng bàng hoàng đổ xô đến xem đông như kiến cỏ. Gần giếng nước trong sân chùa chợt mọc lên cây bông lạ, trên ngọn trổ một đóa ngũ sắc với 18 cánh lớn ở phía trên, 24 cánh nhỏ ở phía dưới, mùi thơm ngào ngạt bay tỏa khắp nơi nơi, lan xa ngàn dặm. Dân chúng đặt tên là hoa Quỳnh. Điềm báo mộng của vua Tùy Dạng Đế được ứng với tin đồn đăi, nên Vua yết bảng bố cáo: "Ai vẽ được hoa Quỳnh đem dâng lên, Vua trọng thưởng". Không đầy tháng sau... có một họa sĩ dâng lên Vua bức họa như ư. Nh́n đóa hoa trong tranh vô cùng xinh đẹp, tất nhiên hoa thật c̣n đẹp đến dường nào! Nghĩ vậy, Vua liền quyết định tuần du Dương Châu để thưởng ngoạn hoa Quỳnh. Trong chuyến tuần du cần có đủ mặt bá quan văn vơ triều thần hộ giá, nên để tiện việc di chuyển, Tùy Dạng Đế ban lệnh khai kênh Vạn Hà từ Trường An đến Dương Châu. Hàng chục triệu ngày công làm việc phải bỏ ra, hàng vạn con người phải vất vả bỏ ḿnh. Kênh rộng cả chục trượng, sâu đủ cho thuyền rồng di chuyển. Hai bên bờ kênh được trồng toàn lệ liễu đều đặn cách nhau 10 mét một cây (điển tích "dặm liễu" xuất phát từ đó, như trong câu thơ: "Dặm liễu sương sa khách bước dồn" của Bà Huyện Thanh Quan). Kinh đào xong, một buổi lễ khánh thành được cử hành trọng thể, đoàn thuyền giương buồm gấm khởi hành... cả ngh́n cung nữ xiêm y rực rỡ, mặt hoa da phấn... thuyền rồng th́ được buộc bằng các dải lụa dùng để kéo đi. Vua Tùy Dạng Đế ngồi trên mui thuyền rồng uống rượu nghe đàn hát ca, ngắm cảnh sắc Giang Nam và đàn cung nữ tuyệt thế giai nhân, hễ thấy nàng nào vừa ư th́ vua cho vời vào hầu ngay. Chuyến tuần du này của Tùy Dạng Đế vô cùng xa xỉ, hao tốn công quỹ triều đ́nh. Đây là một trong những nguyên nhân đẩy đất nước đến đói nghèo, loạn lạc khắp nơi, đưa nhà Tùy đến sụp đổ, tạo cơ hội cho nhà Đường dựng xây cơ nghiệp đế vương. Trong những quan quân hộ giá, có cha con Lư Uyên. Qua thời gian hơn 90 ngày, đoàn du hành đến đất Dương Châu. Thuyền vừa cặp bến, con của Lư Uyên - phương danh là Lư Thế Dân - cùng bằng hữu rủ nhau lén lút đi xem hoa ngay trong đêm, sợ sáng hôm sau triều thần cùng đi đông th́ lớp trẻ như họ khó chen chân lọt vào vườn hoa. Lư Thế Dân là người có chân mạng đế vương (về sau là Vua Đường Thái Tông 627-649) nên khi hoa vừa nh́n thấy chàng, Quỳnh hoa nhún ḿnh lên xuống 3 lần để nghinh đón. Cánh hoa cong trắng nơn, nhụy hoa điểm xuyết màu vàng, hương hoa ngọt ngào. Dưới ánh trăng vằng vặc hoa đẹp tuyệt vời! Lư Thế Dân và bằng hữu xem xong th́ một cơn mưa to đổ xuống làm hoa rủ cánh hết. Sáng hôm sau Tùy Dạng Đế xa giá đến xem hoa, chỉ c̣n thấy chơ vơ cánh hoa úa rũ, tan tác. Vua tức giận, tiếc công ngh́n dặm không được xem hoa liền ra lệnh nhổ bỏ, vứt đi. Từ đó hoa Quỳnh chỉ nở về đêm cho những ai có ḷng lân ái: "Khi xem hoa nở, khi chờ trăng lên". Sau chuyến tuần du, nhiều cuộc bạo loạn nổi lên khắp nơi Tùy Dạng Đế bị cận thần sát hại dẫn đến nhà Tùy mất ngôi, Lư Thế Dân đứng lên lập nên nhà Đường.
Người ta trồng Quỳnh bằng cách cắm cành và Quỳnh được trồng trong chậu để dễ di chuyển khi xem hoa nở. Kỹ thuật trồng Quỳnh nở về đêm theo Peter Hines (The Oregonian, Home and Garden, October 2, 2003) th́ trồng Quỳnh để có hoa nở về đêm được xem là tương đối... dễ dàng (?). Sau đây là cách trồng của Peter Hines về hoa Quỳnh tại Portland (Oregon): Cắt một đoạn lá từ cây gốc, ngâm trong nước đến khi rễ mọc ra từ lá và trồng cây vào chậu có hỗn hợp 2/1 đất "potting" và "peat". Giữ cây đủ ẩm trong mùa hè và khô trong mùa đông. Chăm sóc cây bằng cách tưới phân "Peter" 2 tuần một lần. Khi cây bắt đầu đâm chồi, dùng phân có chứa nhiều "phosphorus" hơn. Trong các tháng 10-11, tùy thời tiết có giá lạnh hay không, chuyển cây vào trong nhà xe để có độ lạnh mát cần thiết thúc cây nở hoa. Đưa cây ra ngoài trở lại vào tháng 4-5 (tùy thời tiết bên ngoài), điều quan trọng là giữ Quỳnh đừng chịu ánh nắng trực tiếp mỗi ngày quá 1 giờ (nắng sáng hay chiều, tránh nắng giữa trưa). Quỳnh sẽ trổ hoa trong tháng 9. Hoa bắt đầu nở khoảng 8-9 giờ tối, tỏa hương thơm và nở trọn vẹn vào nửa đêm... rồi tàn ngay vào sáng hôm sau.

Dù chúng ta, ai cũng yêu thích hoa nhưng cuộc sống tất bật vội vă của thế kỷ hiện đại, với quá nhiều nhu cầu khác của đời sống thực tế có lẽ đa số các bạn cũng như tôi chưa có dịp hoặc không có th́ giờ và điều kiện để thưởng thức cái thú vui tao nhă này. Cuộc đời vô thường, kiếp người phù du, công hầu khanh tướng, giàu nghèo sang hèn... rồi th́ khi xuôi tay cũng sẽ trở về cùng cát bụi. Một lần ngắm Quỳnh hoa nở trong đêm nơi xứ người là ước vọng của tôi hiện giờ. Có lẽ nay mai tôi sẽ ươm cho ḿnh một chậu Quỳnh...
Chúc các Bạn một cuối tuần vui!

Lư Lạc Long
(TTL/TCT/MAI/ 06/08/05)

chieunhatnang
08-17-2008, 12:10 AM
http://www.herbalsynergies.com/images/tea_leaves_steeping_in_a_zhong_caj_05_small.jpg



TẢN MẠN VỀ TRÀ & TRÀ ĐẠO



Hầu như mọi dân tộc, mọi xứ sở trên trái đất đều biết uống trà.

Theo ước tính, đây là loại nước uống phổ biến nhất sau "nước" và mỗi ngày thế giới tiêu thụ chắc không dưới một tách trà, đủ các loại. Theo sách vở ghi lại th́ tục uống trà của nhân loại bắt nguồn từ Trung Quốc. Theo cuốn Trà kinh, của Lục Vũ viết năm 780 th́ uống trà bắt đầu từ thời Thần Nông, truyền sang Chu Công nước Lỗ (Lục Vũ là một cuồng sĩ đất Hồng Tiệm đời Đường, thường lang thang ngâm thơ rồi khóc. Ông để lại cho đời sách Trà Kinh gồm ba quyển bàn về trà, gốm trà, cách pha và uống trà, được người đời sau gọi là ông tiên trà, thờ làm ông tổ của trà đạo Trung Quốc). Như vậy loài người biết uống trà vào khoảng năm 3300 - 3100 trước Công nguyên. Qua các thời đại Trung Quốc, tục uống trà và tác dụng của cây trà ngày được nâng cao và khai thác triệt để. Cách uống trà cũng theo những con đường buôn bán tơ lụa, đồ gốm và qua sự thông thương của các thương gia tỏa ra khắp thế giới.

Cuối thế kỷ 11 đầu thế kỷ 12, cùng với thiền, trà ở Trung Hoa tràn sang Nhật. Người Nhật tiếp thu cả hai thứ văn hoá vật chất và tôn giáo này, đem nó hoà quyện với văn hoá bản xứ và nâng lên thành triết lư riêng của dân tộc Nhật gọi là Trà đạo. Theo truyền thuyết Nhật, vào khoảng thời gian này, có một vị cao tăng người Nhật là sư Eisai (1141-1215), sang Trung Hoa để tham vấn học đạo. Khi trở về nước, sư Eisai mang theo một số hạt trà về trồng trong sân chùa. Sau này chính Eisai này đă sáng tác ra cuốn "Phẩm Trà Dưỡng Sinh Kư" (Kissa Yojoki), nội dung ghi lại mọi chuyện liên quan tới thú uống trà. Những công dụng của trà về mặt y khoa và hương vị hấp dẫn đặc biệt của trà đă thu hút nhiều người dân Nhật đến với cái thú uống trà. Họ đă kết hợp thú uống trà với tính Thiền của Phật giáo để nâng cao nghệ thuật thưởng thức trà, phát triển nghệ thuật này trở thành trà đạo. Trà đạo phát triển dựa trên triết lư xem uống trà như là một thú tiêu khiển thanh tao và nghi lễ của việc uống trà do các sư Thiền tông đặt ra để giữ cho họ thức tỉnh. Đến đời thiền sư Senno Rikyu (1521-1591) th́ trà đạo ở Nhật thực sự trở thành một nghệ thuật gắn liền với đời sống thiền thông qua việc định nghĩa các yêu cầu của trà đạo như là sự hài ḥa, tĩnh lặng, thanh khiết và trang trọng. Như Kakuzo Okakura đă viết trong cuốn "Quyển sách về Trà" xuất bản vào năm 1906: "Trà đạo là một giáo phái được sáng lập dựa trên ḷng tôn thờ cái đẹp, cái đẹp giữa những thực tế nhớp nhúa trần ai. Trà đạo bao gồm những nghi lễ thiêng liêng thấm đượm chất tâm linh tôn giáo, biến việc uống trà trở thành một cuộc lễ. Bất cứ một thiền thất nào của môn phái Trà đạo đều có những trà thất. Tuy được xây dựng hết sức giản dị, tự nhiên nhưng được coi là nơi thiêng liêng nhất. Đó là những gian nhỏ được ghép bằng tre, gỗ, lợp tranh rất nguyên sơ. Trong nhà bài trí một vài bức thư pháp cổ, hoặc tranh thuỷ mạc. Một bếp đun nước, một ḷ hương thơm, một lọ hoa cắm chỉ một bông như mọc lên từ kẽ đá. Ngồi trong căn pḥng lặng im nghe tiếng nước sôi nhè nhẹ như tiếng gió. Người ta cảm thấy như ngồi giữa một thảo am nơi sơn dă, chỉ có mây trắng và tiếng nhạc thiên nhiên làm bạn, ḷng cảm thấy thanh thoát. Con người như vượt lên trên những giới hạn tương đối và một thoáng nh́n vào vĩnh cửu. Ấm trà được sắp lên toả hương thơm thanh cao, tinh khiết. Uống chén thứ nhất thấy ḷng tĩnh lặng, tâm không c̣n dao động, tự soi được vào cơi tâm ḿnh. Thiền nhân gọi đó là trạng thái vấn tuệ. Uống xong chén thứ hai thấy nơi ấn đường ấm nóng, tư duy thiền sắp được khai thông. Uống xong chén thứ ba cả hai trạng thái trên đều biến mất. Thân xác như hoà vào trời đất. Người ta nói đó là đạt tới thiền và là Trà đạo.

Theo hai cuốn sách “The Empire of Tea: The Remarkable History of the Plant That Took Over the World” ( Đế Quốc Trà ) của Alan Macfarlane and Iris Macfarlane và “Tea: Addiction, Exploitation, and Empire” (Trà: Nghiện, Bóc Lột, và Đế quốc) của Roy Moxham mới xuất bản gần đây th́ các tác giả người Anh này thuật lại rằng các nhà buôn bán Tây phương để ư đến trà vào khoảng thế kỷ 17. Cuốn “Đế quốc trà” mở đầu với một hồi kư ngắn và cảm động của Iris về nhận thức văn hóa mà bà mang theo cùng chồng đến nông trại trồng trà Assam. Bà viết: "Tôi lớn lên với tất cả những mưu mẹo, những lời nói hoa mỹ rằng ‘Bên ấy ở Ấn Độ’ có những người da ngăm thấp kém không thể cứu chữa, những người rất may mắn được chúng ta cai trị". Sau đó, tác giả kể lại những t́nh trạng đối xử tàn bạo với những công nhân làm việc trong các nông trại trồng trà, những hồi tưởng buồn bă. Cuốn "Đế quốc trà" phân tích một cách dí dỏm sắc nước của trà và qua đó suy luận về vai tṛ của trà trong việc duy tŕ một hệ thống trật tự xă hội theo đẳng cấp ở Anh. Tác giả c̣n t́m cách trả lời một câu hỏi: Có phải quả thật trà đă thuần hóa người Anh? Có phải trà làm cho những người da trắng, thích ăn thịt đỏ và uống bia trở thành những người hiền lành hơn và dễ mến hơn? Không! Đó là câu trả lời. Những người Anh, chủ đồn điền trà, khinh miệt công nhân người bản xứ, họ cho đó là những cu-li (coolies). Họ đối xử tàn bạo đối với những người phu địa phương và gây cái chết cho hàng trăm ngàn người. Theo thống kê của Moxham, cho đến năm 1900, hơn 200 ngàn mẫu trà được khai khẩn và trồng trong rừng Assam, nó làm mất đi sinh mạng của hàng trăm ngàn người phu Ấn Độ nhưng chỉ vài mạng người Anh. Đó chỉ là một thảm nạn trồng trà ở vùng Assam; nhiều thảm nạn c̣n xảy ra ở Darjeeling, Tích Lan (Ceylon), và nhiều nơi khác.

Quy tŕnh sản xuất trà ở Ấn Độ được mô phỏng theo cách tổ chức sau cuộc Cách mạng kỹ nghệ: Giờ làm việc dài, điều kiện làm việc cực xấu và thiếu an toàn. Macfarlane viết: “Công nhân trở thành một phần của bộ máy sản xuất khổng lồ. Trong bộ máy đó họ là những con người làm việc không hồn. Cái giá nhân sinh mà con người phải trả cho những công việc nhàm chán và không cần đến trí óc, đó là chưa kể đến t́nh trạng công nhân phải đứng hết giờ này sang giờ khác để hái trà. Thật khó tưởng tượng nổi!”

Trà, ngoài là thức uống và những công dụng tốt cho sức khỏe , cái "lá cây thơm ngát" này đă là đề tài làm say mê nghệ nhân để sáng tạo ra những b́nh sứ thời xưa ở Việt Nam, Nhật Bản và Trung Hoa. Trà đă là chất xúc-tác khuyến khích các tay thực dân Âu châu ; là chất châm ng̣i cuộc chiến tranh Nha phiến; là cảm hứng cho cho những nhà thiết kế thuyền bè vào thế kỷ 19th; và là một trong những nguồn cung cấp sinh lực cho cuộc Cách mạng kỹ nghệ . Gần đây ở Việt Nam có nhiều "trà quán" mở cửa theo nhu cầu thị trường, tôi t́nh cờ đọc một số bài viết so sánh và tỏ ư ngưỡng mộ nghệ thuật uống trà của Nhật và Trung Hoa. Phải công nhận là các nước khác thành công hơn Việt Nam trong việc quảng bá truyền thống tốt đẹp của dân tộc họ. Trà đạo của Nhật nổi tiếng đă lâu và Trung Hoa th́ cũng vậy. Mặc dù theo truyền thuyết th́ Việt Nam đă biết đến trà từ thời Đông Hán và trà đạo Việt thành h́nh khoảng vào đời nhà Đường. Sách Trà Kinh của Lục Vũ nhập đề rằng "trà là loài cây lớn ở phương nam". Chứng tích trà đạo Việt c̣n lưu lại trên những b́nh bát trà gốm Việt Dao từ thời Bắc thuộc, lên đến tột đỉnh thời Lư, Trần, thời Phật giáo thịnh nhất trong lịch sử VN. Trà đạo Việt là đạo mà không đạo, đạo vô môn quan: Không cửa vào, không lối ra. Cũng như Việt Nam, lúc bấy giờ Phật giáo ở Nhật bén rễ vào giới thế quyền. Tăng sư là khách quư của các sứ quân và các phú hào. Họ học Phật rồi tiêm nhiễm luôn đạo thưởng trà. Uống trà nhằm luyện con người khu trừ những chướng ngại phiền năo, để đạt chỗ rốt ráo của an bần lạc đạo, ḥa đồng với Tự Nhiên, tức là Chân Như. Uống trà, hành trà đạo phải có các trà khí mà ngành gốm Nhật bấy giờ rất phôi thai. Nên trà gốm từ Cao Ly, Trung Hoa, Đại Việt đưa sang giá đắt, chỉ được xử dụng giới hạn trong hàng sứ quân và đại phú. Thay v́ hấp thu nếp thanh bần, họ bèn mượn trà đạo làm tṛ trà dư tiêu khiển, đặt ra các quy tắc kiểu cách (Cha No Yu), muốn vào phải qua cổng Hữu Môn Quan. Trà đă đưa thiền vị đạm bạc vào trú ngụ chỗ đền các xa hoa. Trong khuôn viên cung đ́nh nguy nga, các lănh chúa sai dựng nên trà thất bắt chước lều cỏ bần hàn của ẩn sĩ để hành trà đạo. C̣n bên nước Việt, đạo đă từ cung cấm ra đi, bỏ phú quư phù vân để phiêu bồng nơi cảnh thật của "rừng trúc lắm chim" (Trúc lâm đa túc điểu) như thơ ngài Huyền Quang. Các vua Lư, Trần bỏ kinh về núi, thực hiện hạnh tầm đạo, dẫm theo bước chân của đức Phật. Đây là chỗ khác biệt trong lịch sử thiền đạo Việt - Nhật .

Thời đại chúng ta đang sống, kỹ thuật hiện đại cho phép mọi người tiếp xúc với môi trường bên ngoài, với các nền văn hoá khác nhau trên thế giới, tạo điều kiện cho việc học hỏi các điều mới lạ và bổ ích để mở mang kiến thức, để áp dụng cho lợi ích của bản thân và đất nước. Nhưng chúng ta phải biết gạn lọc và đừng quên gốc rễ của ḿnh. Ngưỡng mộ, thích và trân trọng Trà đạo của Nhật Bản hay Trung Hoa th́ cũng tốt, nhưng so sánh và chê bai nghệ thuật và phong cách uống trà hay trà Việt Nam là một điều không đúng và nhất là khi dựa vào chỉ mấy "trà quán" phục vụ nhu cầu nhất thời của thị trường. Cái áo Kimono của Nhật, áo sườn- xám của Trung Hoa, cái áo dài của Việt Nam.... mỗi cái có những nét đẹp riêng. Ở đời không có ǵ là tuyệt đối hoàn hảo. Và người ta thường nói "có nằm trong chăn mới biết chăn có rận" và không có một quốc gia nào hoàn hảo hơn một quốc gia nào.

Tách trà thơm ở Việt Nam đă từ lâu là quà đón khách, là tâm t́nh của chủ nhà với khách viếng thăm. Không thể nói là v́ người VN không pha chế trà cầu kỳ như người Nhật hay người Trung hoa và v́ vậy mà thịnh t́nh của chủ với khách suy giảm. Phần tôi th́ với nghệ thuật uống trà theo Trà đạo của Nhật bản hay Trung hoa th́ cũng rất ngưỡng mộ và áo Kimono hay sường sám, cũng rất đẹp mắt... Nói cách khác là tôi chỉ "cỡi ngựa xem hoa". Nhưng tách trà Việt nam tôi sẽ pha đăi khách và chiếc áo dài VN vẫn là đẹp nhất, gần gũi thân thương nhất. Lư do rất đơn giản: V́ tôi là người Việt Nam. Riêng về phong cách uống trà hay thiền đạo th́ vô môn quan (Việt Nam) hay hữu môn quan (Nhật Bản)... "tốt" hơn ? Tôi xin phép gởi đến các bạn câu truyện "Trà Đạo" dưới đây: "Khách đến viếng một trà thất, chủ nhân tiếp đón theo nghi phong trà đạo Nhật Bản, khách th́ lại cứ rót uống tự nhiên không theo luật lệ nào cả. Chủ nhân liền thuyết tŕnh về trà đạo, về cách pha trà và phong thái uống tràv.v... Nghe xong khách nói:

- À, th́ ra trà đạo là vậy. Tôi lại tưởng đạo trà là khát th́ uống thôi chứ.

Rồi khách xuất khẩu ngâm:

Xưa nay trà là đạo.
Khát cứ việc uống thôi.
Nghĩ thêm trà với đạo.
Đầu thượng trước đầu rồi!"

Mời các bạn tách trà thơm (pha kiểu Việt Nam) và chúc tất cả một cuối tuần như ư .

Lư Lạc Long
(TTL/TCT/MAI 05)

chieunhatnang
10-15-2008, 06:48 AM
ĐỊNH MỆNH, DUYÊN SỐ VÀ THỜI VẬN


Lư Lạc Long

Tại sao có người đẹp, có người xấu? Tại sao có người yếu, kẻ mạnh? Tại sao có người giàu, có người nghèo? Tại sao có người luôn phải sống trong buồn khổ, có người lại luôn sung sướng và hạnh phúc? Tại sao có người hiền lành, thật thà, có người lại gian dối, xảo quyệt? Tại sao có người thông minh, có người lại tối dạ?...

Hàng muôn ngàn câu hỏi tại sao trong cuộc sống thực tế của thế nhân. Tùy theo tŕnh độ kiến thức, vị trí, hoàn cảnh, mong ước, khát vọng... của mỗi cá nhân dẫn đến những câu hỏi "tại sao" khác nhau cho từng người nhưng một điều chắc chắn, là con người, về phương diện này hay phương diện khác, ít hay nhiều, ai cũng có những câu hỏi "tại sao" về những sự kiện xảy ra cho bản thân và xă hội chung quanh ḿnh. Những câu hỏi không trả lời được, không giải đáp được th́ dường như cách giải thích dễ nhất là "đổ thừa" cho định mệnh, cho duyên số, cho thời vận.

Suy nghĩ theo các nhà khoa học, mọi việc xảy ra đều có nguyên nhân hay lư do cụ thể của nó, những "sự kiện" xảy ra chưa giải thích được là v́ kiến thức của con người vẫn chưa đủ để giải thích. Nói cách khác, kiến thức của nhân loại vẫn c̣n giới hạn chưa đủ để giải thích tất cả những "hiện tượng" xảy ra trong đời sống con người và thế giới chung quanh. Phật giáo cũng có quan niệm tương tự như vậy, theo luật nhân quả của đạo Phật: "Bất cứ điều ǵ xảy ra là do một hay nhiều nguyên nhân chứ không phải v́ may mắn, v́ cơ hội hay do định mệnh." Mọi việc phải có mối liên hệ giữa nhân và quả. Chẳng hạn, bị bệnh có nhiều nguyên nhân cụ thể. Người bị nhiễm vi trùng và cơ thể của họ phải yếu đi v́ chính vi trùng đó đă gây ra bệnh. Có một mối quan hệ xác định giữa nguyên nhân (vi trùng và cơ thể yếu) với kết quả (bệnh) v́ chúng ta biết rằng vi trùng đă tấn công vào các tế bào và gây ra bệnh. Sự liên hệ giữa các hiện tượng xảy ra hoặc nguyên nhân và kết quả của tất cả hiện tượng là một phạm trù rất phức tạp và bao quát. Bài viết này chỉ đề cập một cách khái quát đến những quan niệm thông thường về định mệnh, duyên số, thời vận và những phương cách giải quyết thực tế trong khả năng của một người b́nh thường, như hầu hết chúng ta có thể làm được trong đời sống hàng ngày.

Quan niệm mỗi người đều có "số trời định sẵn" và không thể đổi khác được, tiêu biểu như Tố Như Nguyễn Du đă viết trong "Đoạn Trường Tân Thanh":

"Bắt phong trần phải phong trần
Cho thanh cao mới được phần thanh cao".

Số mệnh của Thúy Kiều do "thiên định" là phải như vậy nhưng tại sao số mệnh của Thúy Kiều phải như thế? Ai tạo ra hay đặt để số mệnh cho Thuư Kiều? Do tiền thân nghiệp chướng? Hay chỉ do "t́nh cờ" và có thể xảy đến cho bất cứ cô gái nào khác? Câu trả lời nào có lẽ cũng ngoài tầm hiểu biết "chắc chắn" của đa số chúng ta. Trường hợp của Thúy Kiều có thể chỉ là một câu chuyện văn chương, một phương tiện để diễn tả, chuyên chở quan điểm riêng của Nguyễn Du. Nhưng trong đời sống thực tế th́ cũng rất nhiều những trường hợp tương tự Thúy Kiều, hoặc thương tâm hơn nữa của những nàng Kiều ở mọi thời đại. Dĩ nhiên, làm thân con gái, chắc chắn không có ai muốn lâm vào cái cảnh túng quẩn đến nổi phải "bán thân". Chắc chắn là chúng ta, ai cũng muốn thành công và có một cuộc sống sung túc. Tuy nhiên, có người thành công, đạt được mục đích mong muốn một cách rất thuận lợi và dễ dàng, có người lại "làm hết sức" vẫn không toại ư và luôn gặp những khó khăn trở ngại ngoài ư muốn. Dường như giàu, nghèo, sang, hèn cũng đều do số trời. Chẳng hạn như việc trúng số "độc đắc", rất khó t́m một lư do nào khác để giải thích cho hợp lư hơn là "vận may" của người trúng số. Người Á đông tin rằng: "Đại phú do thiên, tiểu phú do cần". Chữ "may mắn" (luck) trong tự điển tiếng Anh được định nghĩa như: "May mắn là tin tưởng rằng bất cứ điều ǵ xảy ra, tốt hoặc xấu, đến với một người trong những diễn biến của các sự việc là do cơ hội, số mệnh hay vận may mà có" (luck as believing that whatever happens, either good or bad, to a person in the course of events is due to chance, fate or fortune ).

Trong lănh vực t́nh cảm, người Á đông tin tưởng có duyên nợ mới thành vợ chồng. Có duyên th́ dù xa vạn dặm cũng có thể gặp gỡ, c̣n không duyên th́ có ở gần cũng không gần gũi nhau về t́nh cảm, luyến ái.

"Hữu duyên thiên lư năng tương ngộ
Vô duyên đối diện bất tương phùng".

Hoặc như câu ca dao:

"Phải duyên th́ gắn như keo
Trái duyên đểnh đoảng như kèo đục vênh ".

Trong đời sống t́nh cảm, có thể nói chữ "duyên" đóng một vai tṛ quan trọng không những trong t́nh yêu mà c̣n trong nhiều quan hệ t́nh cảm khác nữa như tri kỷ, tri âm, bạn bè, quen biết... nhưng dù duyên số là quan trọng, khi có t́nh cảm với ai đó, cũng phải tận dụng cơ hội, tích cực bày tỏ và cố gắng "chiếm" t́nh cảm của đối tượng. Chứ không nên phó mặc cho chữ duyên và thản nhiên ngồi đợi: "Nếu có duyên th́ sẽ tới". V́ duyên tới th́ duyên cũng có thể đi. Đặc biệt, trong đời sống lứa đôi, cả hai phải nỗ lực để chứng tỏ, ngoài " ư trời" c̣n là "ư người" nữa. Nói cách khác, cả hai người phải làm cho nhau cảm thấy đây là một sự lựa chọn nghiêm túc và đúng đắn chứ không phải chỉ do "ư trời" .

Xin gởi đến các bạn vài mẩu chuyện về "định mệnh" để chúng ta cùng xem và suy gẫm.

Có một nhà tu sĩ Ấn Độ tên là Narada trên một chuyến đi hành hương ở đền thần Vishnu. Trên đường đi hành hương, ông được đón tiếp và tạm trú qua đêm trong một cḥi tranh của cặp vợ chồng hiếm muộn. Trước khi ông tiếp tục lên đường, người chồng nói: "Nhân dịp Ngài đi thờ phượng thần Vishnu. Ngài hăy xin Thần cho tôi một đứa con." Narada đă cầu xin với Thần Vishnu như sau: "Xin Thần thương xót vợ chồng đó và ban cho họ một đứa con". Thần Vishnu trả lời, với một giọng chắc nịch: "Định mệnh đă an bày, đôi vợ chồng đó không có con được." Năm năm sau, Narada đi hành hương nữa và cũng được đôi vợ chồng đó đón tiếp cho trú ngụ. Lần nầy, có hai đứa trẻ đang chơi đùa ở trước cḥi tranh. Narada hỏi: "Con ai vậy?". Người chồng trả lời: "Con tôi đấy." Narada rất ngạc nhiên v́ trái ngược với lời Thần Vishnu nói với ông. Người chồng nói tiếp: "Cách đây năm năm, sau khi ngài rời khỏi chúng tôi, một người hành khất đă đến ngôi làng chúng tôi. Chúng tôi cũng đă cho trọ một đêm và ngày hôm sau, trước khi ra đi, ông đă chúc phúc cho chúng tôi. Đây là kết quả của sự chúc phúc của vị ấy." Khi đến đền thờ thần Vishnu, Narada đă la lớn ngay từ ngoài cổng: "Phải chăng Ngài đă bảo tôi là định mệnh đă an bày cho vợ chồng đó không có con sao? Nay họ có hai mụn con!" Thần Vishnu nghe câu nói đó đă cười lớn tiếng và nói: "Điều đó chắc chắn phải là việc làm của một vị thánh. Các thánh có năng lực cải đổi số mệnh."

Trong một trận chiến, Nabunaga, một đại tướng Nhật Bản quyết định tấn công địch quân. Về quân số, ông chỉ có "một chọi mười" so với đối phương. Dù Nabunaga tin chắc sẽ thắng, nhưng binh sĩ của ông rất lo sợ. Trên đường đi đến chiến trường, họ đă dừng lại ở một đền thờ Thần Giáo. Sau khi cầu nguyện trong đền thờ, Nabunaga đi ra và nói: "Bây giờ, tôi tung một đồng tiền lên. Nếu mặt "ngửa" chúng ta sẽ thắng, nếu mặt "sấp", chúng ta sẽ thua". Ông tung đồng tiền lên và kết quả "ngửa". Các binh sĩ nức ḷng chiến đấu nên họ đă thắng địch quân. Ngày hôm sau, một sĩ quan phụ tá nói với Nabunaga: "Không ai có thể cải đổi Số Mệnh được.” Nabunaga trả lời: "Đúng thế!” và đưa cho viên sĩ quan phụ tá xem đồng tiền mà cả hai mặt đều "ngửa".

Dựa vào hai câu chuyện trên th́ Ai tạo ra định mệnh? Định mệnh có thể "sửa đổi" được không? Với kiến thức giới hạn của một người b́nh thường, như đa số chúng ta cũng khó mà trả lời một cách xác quyết được nhưng chắc chắn một điều là "khát vọng có con" của cặp vợ chồng hiếm muộn và "niềm tin tất thắng" của quân Nhật đă đóng một vai tṛ rất lớn về "kết quả" như đă xảy ra ở hai câu chuyện kể trên.

Dĩ nhiên trong cuộc sống chúng ta luôn có rất nhiều câu hỏi “tại sao” chưa trả lời được. Có lẽ cách đơn giản và hiệu quả nhất để đối diện với định mệnh là làm hết sức ḿnh trước và chấp nhận định mệnh - "tận nhân lực mới tri thiên mênh"-

Nói đến vận may và rủi, trong cuộc sống hai điều họa phúc cứ xoay vần với nhau, khó mà biết được, nên khi được phước không nên quá vui mừng mà quên đề pḥng cái họa sẽ đến, khi gặp điều họa cũng không nên quá buồn rầu đau khổ mà tổn hại tinh thần. Việc đời, hết may tới rủi, hết rủi tới may, chúng ta nên bắt chước tái ông mà giữ sự thản nhiên trước những biến đổi thăng trầm trong cuộc sống như câu chuyện "Tái ông thất mă, an tri họa phúc" (Ông lăo ở biên giới mất ngựa, biết đâu là họa hay là phúc.)

Chúc tất cả một cuối tuần vui vẻ và như ư .

http://img.photobucket.com/albums/v735/HDHP/luck1.jpg

Ngo-Quang-Vo
11-09-2008, 04:17 PM
THƯ CHO CON


Giáo Già






"Yes, We Can Change"


Ngày 5-11-2008

http://img.photobucket.com/albums/v735/HDHP/thu-cho-con-giao-gia.jpg


H,


Là con trai của một phụ nữ da trắng và một người đàn ông Kenya da đen, ông Barack Obama, năm nay 47 tuổi [sinh năm 1961 tại Hawaii], đă trải qua thời thơ ấu tại hải đảo trong Thái B́nh Dương, có cả Indonesia. Ông theo học tại trường đại học Columbia ở New York, sau khi tốt nghiệp, trở thành một người tổ chức cộng đồng tại thành phố Chicago. Sau đó, ông theo học luật tại trường đại học Harvard, từng là tổng biên tập tạp chí "Luật Pháp" của trường. Ông đắc cử vào Thượng Viện Hoa Kỳ và tuyên thệ nhậm chức ngày 4 tháng 1 năm 2005.

Barack Obama vận động tranh cử Tổng thống với một thông điệp hy vọng và đoàn kết, một thông điệp ngắn gọn trong 4 chữ "Yes, We can change" [Đúng, chúng ta có thể thay đổi], thông điệp nhấn mạnh tới lời kêu gọi thay đổi sau 8 năm Đảng Cộng Ḥa kiểm soát Ṭa Bạch Ốc dưới chính phủ của Tổng Thống Bush, để trở thành người trẻ thứ nh́ trong tất cả 44 đời tổng thống Mỹ [sau Tổng thống John F. Kennedy vào Ṭa Bạch Ốc ở tuổi 43], nhơn vật có quyền lực nhất trong hơn 6,8 tỷ người trên thế giới hiện tại.

Obama cùng vợ và hai con giữa công viên Grant ở Chicago

Vừa được công bố đắc cử [với 349 trên 538 phiếu cử tri đoàn 63.493.372 tức 52% phiếu bầu của cử tri], tối ngày 4-11-2008, Tổng thống tân cử Barack Obama xuất hiện cùng vợ với hai con gái và các thành viên trong gia đ́nh của Phó Tổng thống tân cử Joseph Biden, trước cả trăm ngàn người tại công viên Grant ở Chicago, giữa tiếng reo ḥ vang dội, ông nói:

"Nếu có ai đó c̣n nghi ngờ việc nước Mỹ là nơi có thể xảy ra mọi thứ, c̣n thắc mắc liệu giấc mơ của những người lập quốc có c̣n tồn tại trong thời đại của chúng ta hay không, c̣n nêu vấn đề về sức mạnh của nền dân chủ, th́ câu trả lời đă đến trong đêm nay".

Đứng trước đám đông các ủng hộ viên lên đến 200.000 người, ứng cử viên đắc cử Barack Obama dơng dạc nói:

"...Sự thay đổi đă đến với nước Mỹ... Con đường dài đang chờ đợi chúng ta. Con đường sẽ gập ghềnh. Chúng ta có lẽ sẽ không đạt được mục tiêu trong một năm, hay cả trong một nhiệm kỳ. Nhưng, tôi chưa bao giờ có nhiều hy vọng rằng chúng ta sẽ đến".

Sau khi điện thoại chúc mừng ông Obama, ứng cử viên thất cử John McCain đă nói với những người ủng hộ ḿnh ở Phoenix, Arizona, rằng:

"Sự thất bại này là của tôi, không phải là của quư vị... Nhân dân Mỹ đă nói và đă nói một cách rơ ràng... Đây là một cuộc tuyển cử lịch sử... Tôi đă hứa với ông Tổng thống tương lai Obama là tôi sẽ làm hết sức ḿnh, trong khả năng của ḿnh để giúp ông ta dẫn dắt chúng ta qua những thách đố mà chúng ta đang đối diện".

Nếu người ta không đem thành bại để luận anh hùng, th́ cái bại của McCain là cái bại của một anh hùng, ông đă nhiều lần chứng tỏ ḿnh là một anh hùng, kể từ khi phi cơ của ông bị bắn rơi trên bầu trời Hà Nội, bị giam trong nhà tù khắc nghiệt nhứt thế giới mang tên Hỏa Ḷ, bị ngược đăi tàn tệ, bị cai tù và các người điều tra đánh đập, tra tấn vô cùng dă man... ông vẫn không khuất phục trước bất cứ lời đe dọa hay dụ dỗ nào như một anh hùng, để khi được trao trả tù binh ông hiên ngang về nước như một anh hùng; để rồi trở thành Thượng Nghị sĩ bước vào Quốc Hội Mỹ như một anh hùng... Hơn nữa, khi được kẻ cựu thù tưởng như quyến rũ được ông tham dự ngày ăn mừng "chiến thắng" 30/4 của chúng, th́ ngay giữa thành phố bị chúng xâm lăng trước đây, ngay giữa buổi lễ được tổ chức tưng bừng, ông đă hiên ngang tuyên bố "kẻ xấu đă thắng" trước sự ngỡ ngàng của bọn người cao ngạo và sự thán phục của thế giới... Và ngày 4-11-2008 vừa qua, chấp nhận thất bại trong cuộc bầu cử như một anh hùng, người anh hùng của nền "Dân chủ Pháp trị", người anh hùng gọi đối thủ vừa qua của ḿnh là Tổng thống và tuyên bố tiếp tục phục vụ Tổ Quốc Hoa Kỳ, người anh hùng sẵn sàng đứng dưới sự lănh đạo của cựu đối thủ của ḿnh trong tư thế của một Thượng Nghị sĩ, tư thế của một công dân "làm hết sức ḿnh, trong khả năng của ḿnh" để phục vụ Tổ Quốc Hoa Kỳ.

Xin xếp lại chuyện tranh cử để nh́n về tương lai, để thêm một lần nữa nh́n nhận rằng kết quả khép lại ngày bầu cử với thắng lợi của Barack Obama là hệ quả của nền "Dân chủ Pháp trị". Lá phiếu của cử tri ngày 4-11-2008 đă quyết định sự thành bại của các ứng cử viên. Với một số đông người, thắng lợi của Obama cho thấy giấc mơ của Mục sư Luther King [bị ám sát ngày 4-4-1968] đă được thực hiện. Nó không là thắng lợi của riêng Obama mà c̣n là thắng lợi của dân Mỹ. Nó xóa bỏ mọi ranh giới chủng tộc, màu da, tôn giáo... Nó là tấm gương sáng giá để tất cả các dân tộc c̣n bị độc đảng độc tài cai trị như Cộng Sản Việt Nam, Trung quốc, Bắc Triều Tiên... soi rọi, học tập... và ghi nhớ lấy câu nói của Obama: "Yes, We can change". Nó là bài học "Dân chủ Pháp trị" mà hơn 86 triệu dân Việt và thiểu số lănh đạo hàng đầu "Độc tài Pháp trị" của Đảng và Nhà nước Cộng ḥa Xă hội Chủ nghĩa Việt Nam tại Việt Nam phải học. Nó cũng là nỗ lực "We can change", nỗ lực "Dân Chủ Hóa Việt Nam" của toàn dân Việt từ quốc nội đến hải ngoại.

Tổng thống Jimmy Carter [1977-1981]

Bốn năm nữa sẽ chứng minh những ǵ Tổng thống tân cử Obama nói và làm, chứng minh mọi khía cạnh buồn vui nằm trên từng lá phiếu. Bốn năm có thể là thời gian quá ngắn cho Tổng thống tân nhiệm Obama, nhưng đủ dài cho những cử tri đưa ông lên vị thế tuyệt đỉnh quyền lực thấy ông có thực tài giải quyết trùng trùng khó khăn trên khắp các lănh vực mà ông cam kết thực hiện trong suốt thời gian tranh cử, được coi như dài nhứt lịch sử tranh cử của Hoa Kỳ, để ông c̣n được tiếp tục lưu cư tại Ṭa Bạch Ốc thêm 4 năm nữa hay phải ngậm ngùi từ giă như cựu Tổng thống thứ 39 của Hoa Kỳ Jimmy Carter [1977-1981].

Tổng thống tân nhiệm Obama có 4 năm để thử thách, trong khi Cộng sản Việt Nam ít nhứt cũng đă có hơn 33 năm thử thách khi chúng hoàn tất cuộc xâm lăng Miền Nam Việt Nam bằng bạo lực và lừa đảo, rồi cai trị cả nước bằng "Độc tài Pháp trị", để đặt cả nước dưới quyền cai trị của một tập đoàn lănh đạo gian tham hàng đầu thế giới, mà mỗi biến cố xảy ra trên đất nước Việt Nam là thêm một lần cho thế giới thấy đ̣i hỏi Dân Chủ Hóa Việt Nam, đ̣i hỏi một nền "Dân chủ Pháp trị", đ̣i hỏi "Yes, We can change" là đ̣i hỏi cấp thiết đưa dân tộc Việt thoát khỏi trầm luân, trăm ngàn lần hơn cảnh Hà Nội đang bị trầm luân v́ lũ lụt trong mấy ngày qua, kể từ cuối tháng 10/2008.

Đem chuyện trầm luân của dân Hà Nội dưới cơn lũ lụt trầm trọng nhứt lịch sử để so sánh với chuyện trầm luân của dân tộc Việt không có nghĩa làm giảm nhẹ hay tăng thêm nỗi trầm luân của dân tộc, mà chỉ có ư cho thấy h́nh ảnh sống động vô cảm và vô trách nhiệm của đám lănh đạo hàng đầu Cộng sản Việt Nam trước thống khổ của dân tộc dưới quyền cai trị bằng "Độc tài Pháp trị" của chúng.

Cái vô cảm và vô trách nhiệm đầu tiên ai cũng thấy là thái độ vô cảm và vô trách nhiệm của các cấp lănh đạo hàng đầu Cộng sản Việt Nam, điển h́nh là Ủy viên Bộ Chánh trị, Bí thư Thành ủy Hà Nội, tên phạm quang nghị, mấy ngày sau khi lũ lụt nhận ch́m Hà Nội dưới nước; đó là ngày 3-11-2008, khi được phóng viên Đài BBC phỏng vấn, Nghị đă ra giọng kẻ cả nói với phóng viên này rằng: "Chính quyền đă xử lư tích cực, kịp thời, không có chuyện chậm chạp hay lúng túng", trong khi thực tế các cấp chánh quyền, từ trung ương đến địa phương Hà Nội, chẳng có làm ǵ để được gọi là xử lư hết, và chuyện lúng túng chậm chạp th́ ai cũng thấy. Chính người lănh đạo thuộc loại hàng đầu của Nhà nước Cộng ḥa Xă hội Chủ nghĩa Việt Nam là Bộ trưởng Nông nghiệp - Phát triển Nông thôn Cao Đức Phát, trong cùng ngày, đă thẳng thắn nói "Hà Nội chậm chạp trong giúp dân". Trong phiên họp, Bộ trưởng Phát chẳng "xử lư" mà c̣n lúng túng đưa ra lời cảnh báo "chỉ cần một đợt mưa với lượng 200 milimét trong những ngày tới th́ nguy cơ vỡ đê là rất cao v́ đê bao trên hệ thống Bắc Hưng Hải đều ở trong nguy cơ vỡ bất kỳ lúc nào".

Đă vậy Phạm Quang Nghị coi như dửng dưng vô cảm khi điềm nhiên nói: "Ngày 1 tháng 11 chánh quyền Hà Nội c̣n bận họp 'tổng kết vấn đề tôn giáo'." [Phải chăng v́ tôn giáo đă khiến Nghị và đồng bọn không cướp được đất của Ṭa Khâm Sứ và Giáo xứ Thái Hà đă được 'hóa giá' đắc hơn vàng?!] Chưa hết, khi trả lời VNN Nghị c̣n thờ ơ nói chỉ đến chiều hôm đó ông mới "đi ô tô kiểm tra các điểm ngập lụt trong nội thành" và đến hôm sau mới "đi ra ngoại thành".

Cùng ngày 03-11-2008 này, tin được đài RFA cho biết:

"Trận mưa lũ lịch sử đă làm 65 người thiệt mạng ở các tỉnh miền Bắc Việt Nam. Hăng Reuters đưa tin này trưa ngày 3 tháng 11, trong khi đó các nguồn tin chính thức của Việt Nam cho biết có 51 người chết, 7 người mất tích, 4 người bị thương và chỉ riêng Hà Nội số nạn nhân là 20 người. Ban chỉ đạo lụt băo Trung ương cho biết tính đến chiều 3 tháng 11 thiệt hại vật chất ở Bắc Bộ lên tới 5.300 tỷ đồng, ứơc tính sơ bộ Thủ đô Hà Nội thiệt hại khoảng hơn 3.000 tỷ đồng. Có khả năng 250 ngàn héc ta hoa màu ở phía Bắc bị mất trắng. Nhiều hệ thống đê kè cống thuỷ lợi bị hư hỏng nặng. Dịch bệnh như tả lỵ sốt xuất huyết đang đe dọa miền Bắc, đặc biệt là Thủ đô Hà Nội nơi 48 tuyến đường ngập sâu nhiều ngày trong nứơc bẩn. Cho đến nay chính quyền Hà Nội chưa có câu trả lời chắc chắn bao giờ thành phố hết ngập..."

Đến chiều, Thành ủy Hà Nội và Uỷ ban Nhân dân Thành phố mới họp về vấn đề mưa lụt này, nhưng cũng không ai nghe có biện pháp nào cụ thể được đề ra và có kế hoạch nào được thực thi để phục hồi sinh hoạt cho dân chúng, hoặc đề pḥng t́nh h́nh diễn biến tệ hại hơn.

Qua hôm sau, ngày Thứ Ba 4/11, nhiều Web site thế giới đưa tin về lũ lụt tệ hại của Miền Bắc Việt Nam, vẫn có 23 khu phố c̣n ch́m dưới 1 feet nước ngập, và nỗi lo sợ đê sông Hồng có thể vỡ. Chừng đó, Bộ Y Tế Cộng sản Việt Nam đă ra thông báo kêu gọi mọi người đề pḥng bệnh dịch bùng phát do nước lũ không chịu rút. Một viên chức bộ này nói: "Sau 1 tuần bị ngập nước, các chứng dịch tả, tiêu chảy và thương hàn có thể bùng ra", nhưng cũng không ai thấy có biện pháp cấp thời nào được đưa ra để giải quyết.

C̣n nhớ, mới hai tuần trước, người Hà Nội [hay đúng hơn là nhà cầm quyền] c̣n chưa hết ầm ĩ về chuyện mở rộng thành phố của ḿnh thành thủ đô có diện tích lớn thứ hai thế giới, cùng lúc với tiết lộ Hà Nội mở rộng có số người mù chữ cao nhất cả nước và chuyện đi xe máy cần có đến hơn tám chục tiêu chuẩn sức khỏe, trong đó có chuyện nực cười làm sặc sụa dư luận là cấm người ngực lép lái xe. Đùng một cái, cơn mưa lớn ngày Thứ Sáu 31-10-2008 đổ nước xuống khiến câu chuyện về một thủ đô già nua chưa được làm cho có thành tích "lớn thứ hai thế giới" không đủ sức đề kháng đă trở thành một vũng nước mênh mông.

Nó cũng khiến dư luận chợt nhớ thêm một chuyện động trời nữa là mấy tháng trước, để đối phó với những giáo dân cầu nguyện đ̣i đất ở Giáo xứ Thái Hà và Ṭa Khâm sứ bị nhà cầm quyền Thành phố Hà Nội của Bí thư Phạm Quang Nghị và Thiếu tướng Giám đốc công an Nguyễn Đức Nhanh phô trương lực lượng với đủ loại vơ khí chống bạo động (cứ tưởng như cầu nguyện là bạo động), với hàng rào sắt, dây thép gai, roi điện, dùi cui, hơi cay, chó săn... cộng thêm với đủ mặt thanh niên cộng sản và tội phạm h́nh sự mạnh tay trấn áp. Để sau cùng, thấy không thể lấy đất của Giáo xứ Thái Hà và Ṭa Khâm sứ, đă được "hóa giá" đắc hơn vàng, làm của riêng, liền bất cần quy hoạch, bất th́nh ĺnh, huy động toàn lực trong thời gian ngắn ngủi năm ba ngày, biến cả hai khu đất thành hai công viên, gạch đá gập ghềnh, hoa cỏ héo úa, cây cối lung lay, phải làm đi làm lại đôi ba lần, rồi tưng bừng khánh thành; trong khi mưa lũ ngập lụt cả thành phố th́ thờ ơ với nguy cơ, thờ ơ với mọi thống khổ của đồng bào, khiến suốt 5 ngày ngập lụt Hà Nội tuyệt nhiên không thấy bóng dáng một lực lượng nào ra giúp dân chạy ngập, bảo vệ người, bảo vệ tài sản, điều hành giao thông. Từ đó, dư luận có ngay câu nói: "Các lực lượng hùng hậu của Bí thư Nghị và Thiếu tướng Nhanh chỉ để đối phó với giáo dân, c̣n dân Hà Nội th́... chết bỏ".

Phải chăng v́ vậy mà Bí thư Thành ủy Phạm Quang Nghị khi trả lời phỏng vấn của VNN, hết cao ngạo lếu láo lên giọng đểu "thay Trời làm mưa" theo đúng các bài học trong các sách giáo khoa có từ thời mới chiếm được Miền Nam Việt Nam, Bí thư Nghị không dám nhận lỗi, lại đổ lỗi "Nhân dân ta bây giờ so với ngày xưa ỷ lại Nhà nước lắm. Cứ chờ trên về, chờ cung cấp cái này, hỗ trợ cái kia chứ không đem hết sức ra tự làm"; Nghị nói như kẻ bề trên mắng dân thời phong kiến, mà không chịu nhận trách nhiệm của Đảng và Nhà nước đă "phát triển" thành phố theo kiểu quy hoạch "sống chết mặc 'dân' tiền 'thần' bỏ túi", suốt từ thời chiếm được Miền Bắc từ tay thực dân Pháp sau Hiệp định Geneve 1954; nhứt là sau năm 1975, lấy uy cán bộ thực hiện chánh sách 4V [Vào Vơ Vét Về] mang của Miền Nam ra Bắc, và dồn viện trợ từ hải ngoại vào túi tham của lănh đạo các cấp trên đường tiến nhanh, tiến mạnh, tiến lăo đăo lên Xă hội Chủ nghĩa, sang thời van xin Mỹ cho "đổi mới".

Trước thảm cảnh này, Thông tấn xă Đức DPA cho biết chỉ riêng tại Hà Nội, khoảng 107,000 căn nhà bị hư hại, 278,000 mẫu hoa mầu bị lũ lụt phá hủy, thiệt hại vật chất khoảng 315 triệu đô la Mỹ, trong khi tin của VietnamNet lại nói rằng thiệt hại vật chất v́ lũ lụt trên cả nước trong vài ngày qua là khoảng 331 triệu đô la Mỹ, trong có 187 triệu đô la của Hà Nội. Riêng tin của AFP th́ cho biết 44 khu vực trong thành phố Hà Nội vẫn bị ch́m dưới 1 tới 2 mét rưỡi nước. Phần Bác sĩ Nguyễn Thu Hương của Bệnh Viện Nhi Đồng tại Hà Nội cho biết thêm là mỗi ngày có khoảng 120 trẻ em được đưa tới chữa bệnh tiêu chảy và những bệnh về đường hô hấp, thay v́ 90 em như thường lệ. Theo bà, chỉ riêng sáng thứ Ba đă có tới 80 em được đưa tới bệnh viện.

Một bản tin nhận được từ trong nước cho biết thêm:

"...4 ngày liền, điện mất... Tin tức, không biết, không hay... Tôi chỉ nghe kể lại từ một cô bé hàng xóm bên nhà, rằng ở gần khu tôi, người ta thấy một cái xác trôi lềnh bềnh giữa ḍng nước. Cái xác của một đứa trẻ 13 tuổi... Tôi cũng nhớ rất rơ, có một chiếc xe cứu thương gần ngă tư chùa Bộc đă chết im tại chỗ, không nhúc nhích nổi trong đám đông ùn tắc đến nghẹt thở. Chiếc xe thỉnh thoảng lại rú lên inh ỏi báo hiệu nhường đường, nhưng đường nào để nhường cho xe?! Không biết người được đem cứu chữa trên chiếc xe cứu thương ấy có c̣n giữ được sinh mạng?! Những cái chết vô nghĩa, mà khi phải chứng kiến trong những t́nh huống liên quan trực tiếp đến cuộc sống hoặc dễ nhận thấy, người ta mới lưu tâm tới nguyên nhân... Những người quy hoạch đô thị cứ phân lô, chia nền nữa đi! Cứ lo làm đầy túi tư nữa đi! Thiệt hại về vật chất (khoảng 3000 tỷ đồng), thiệt hại về sinh mạng con người (khoảng 20 mạng), và vô số thiệt hại không thể cân đo đong đếm khác, là kết quả của ḷng tham và tính vô trách nhiệm của những người đáng ra phải rất có trách nhiệm và biết đặt lợi ích cộng đồng lên trên hết".

Diễn tiến nội vụ liên tục xảy ra khiến dư luận không thể không đặt ra câu hỏi về tầm nh́n của các lănh đạo từ trung ương đến Thủ đô Hà Nội.

Xin nói thêm cho rơ Bí thư Thành ủy Hà Nội Phạm Quang Nghị đó được gọi là một nhà chính trị cộng sản kỳ cựu, có bằng tiến sĩ triết học ở Liên Xô, từng làm phóng viên, làm cán bộ Ban Tuyên huấn, Ban Tư tưởng - Văn hóa, làm thư kư riêng cho Đào Duy Tùng [người lănh đạo công tác tuyên huấn và báo chí Việt cộng trong một thời gian dài].

Cũng cần biết thêm là đối với các quốc gia trên thế giới, khi có chuyện nghiêm trọng như vậy th́ cấp tốc cấp lănh đạo hàng đầu quốc gia đều đến tận nơi xem xét để có ngay biện pháp cứu trợ cấp thời và có kế hoạch giải quyết cụ thể, có người lên tiếng nhận lỗi và xin từ chức. Ngay cả Trung quốc là bực thầy của Hà Nội về chuyện "thí dân để làm giàu" [điển h́nh như chuyện độc tố melamine, làm giàu cả thành phố, làm giàu lủ khủ cán bộ lớn nhỏ...], khi trận động đất xảy ra ở Tứ Xuyên, Thủ tướng Ôn Gia Bảo đă lập tức lên máy bay đến tận nơi chỉ đạo việc cứu trợ. C̣n Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng của Cộng sản Việt Nam th́ phải đợi bốn năm hôm sau, ngày 3/11/2008, mới được báo chí đưa tin cùng ngày rằng Dũng mới "gởi công điện yêu cầu tập trung mọi nguồn lực thực hiện các biện pháp khẩn cấp khắc phục hậu quả mưa lũ", nhưng dân Hà Nội chẳng thấy mặt ông đâu và "mọi nguồn lực" có làm ǵ không th́ không ai được biết.

Cho tới chiều 4/11, trên các báo mạng không thấy sự hiện diện của Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh và Chủ tịch Nguyễn Minh Triết; và cũng không ai được nghe các phát biểu dứt khoát của họ trước t́nh trạng khẩn cấp. Riêng Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh th́ trang tiếng Anh điện tử của báo Đảng, tờ Nhân Dân, có bài ở trên cao nhứt, ra ngày 4/11/2008, đưa tin Mạnh ca ngợi Công đoàn Việt Nam nhân đại hội 10 của tổ chức này, trong khi bài nói về 64 nạn nhơn lũ lụt được cho đứng hàng thứ ba trên tờ báo này, cũng không nghe Mạnh đá động ǵ tới thiên tai vô cùng tệ hại xảy ra ngay tại Hà Nội. Trong khi đó, có thêm chuyện trớ trêu là các cơ quan ngoại giao nước ngoài và các công ty du lịch đều phải trả lời câu hỏi của công dân nước họ về khả năng có đến Hà Nội theo nghị tŕnh nữa hay không v́ t́nh trạng úng lụt và nguy cơ mắc bệnh dịch.

Nói chung, nh́n lại vấn đề, bỏ qua những tuyên bố lếu láo của Phạm Quang Nghị, để cứu văn Hà Nội trong tương lai, chuyện nâng cấp hệ thống thoát nước, chống lũ lụt cho thành phố là một yêu cầu cấp bách; yêu cầu này muốn được thực hiện đ̣i hỏi một yêu cầu cấp bách hơn là cải tiến hệ thống chính trị Việt Nam hiện nay. Bởi chỉ có một hệ thống chính trị có trách nhiệm trước dân mới có thể giải quyết được những nan giải khác nữa như chuyện sập cầu Cần Thơ, Hyundai-Vinashin, lạm phát phi mă, vật giá gia tăng vùn vụt, "sập" thị trường chứng khoán, hụt tăng trưởng kinh tế, PMU18, PCI, VeDan...


Đó là yêu cầu Dân Chủ Hóa Việt Nam, yêu cầu có được một nền "Dân chủ Pháp trị", yêu cầu đă đưa Barack Obama lên địa vị hàng đầu lănh đạo Hoa Kỳ, lănh đạo hàng đầu thế giới, qua câu nói lịch sử: "Yes, We can change".

Hẹn con thư sau

Giáo Già

chieunhatnang
11-15-2008, 12:30 PM
QUÊ HƯƠNG CÓ PHẢI LÀ CHÙM KHẾ NGỌT ?



LƯ LẠC LONG

Cuối hạ chớm thu, những cơn gió hè nóng nực đă bắt đầu dịu lại, gió heo may và những cơn mưa sụt sùi của mùa Ngâu đă về. Tháng Bảy âm lịch là tháng của mưa, những giọt mưa có thể là những giọt lệ t́nh ái của Ngưu Lang Chức Nữ, là những giọt lệ hiếu tử nhớ cha thương mẹ đă khuất núi, là những giọt lệ khóc than của các oan hồn vất vưởng phiêu diêu không nơi nương tựa. Chắc chưa có ai thấy được "quạ ô bắc cầu" cũng như h́nh dáng của chàng Ngưu nàng Chức ra sao, nhưng mối t́nh "ngăn sông cách núi" và chung thuỷ thiên thu của họ đă đi vào ḷng người với sự cảm thông và mến mộ. Tấm gương hiếu thảo và tấm ḷng bồ tát của ngài Mục Kiền Liên đă xuống tận địa ngục A Tỳ để cứu mẹ và các oan hồn uổng tử đă trở thành một gương sáng cho hậu thế noi theo. Hiện nay, lễ Vu Lan đă trở thành một tập tục và "nghi thức tưởng niệm" được hầu hết các Phật tử của các nước vùng Đông nam Á tổ chức một cách trọng thể tại các chùa chiền hoặc tại gia. Tương truyền ngày rằm tháng bảy c̣n là ngày "xá tội vong nhân", ngày cúng kiến (bố thí) cho các oan hồn uổng tử, không người thừa tự chăm sóc hương khói, vất vưởng chẳng nơi nương tựa ... Gọi nôm na là lễ "cúng cô hồn".

Ở Việt Nam, ngoài các kinh điển lưu truyền của Phật giáo liên quan đến ư nghĩa, nghi thức... của lễ "Vu Lan Bồn", văn hào Nguyễn Du để lại cho hậu thế bài "Chiêu Hồn Thập Loại Chúng Sinh" liên quan đến vấn đề này. Tác phẩm gồm 184 câu thơ song thất lục bát, và được chia ra làm 3 phần chính. Trong phần 1 tác giả diễn tả cảnh sắc thê lương của tháng bảy trên dương gian:

Tiết tháng bảy mưa dầm sùi sụt
Toát hơi may lạnh buốt xương khô
Năo người thay bấy chiều thu
Ngàn lau nhuốm bạc lá ngô rụng vàng ...

để ta có thể tưởng tượng một cơi âm u tối mịt mù, thế giới của hồn ma bóng quế:

"Cơi dương c̣n thế nữa là cơi âm."

Trong phần 2, tác giả cung chiêu tất cả các loại cô hồn từ hàng vương đế, quan quyền, văn nhân tài tử cho đến thứ dân, từ già cho đến bé. Trong phần 3, tác giả gởi những lời nhắn nhủ với các "cô hồn" hướng về nẻo thiện, nương nhờ Phật lực để siêu thoát. Có người nói rằng Nguyễn Du mượn chuyện cơi âm để nói chuyện cơi dương và có người c̣n đi xa hơn nữa là cụ Tố Như dùng bài "Chiêu Hồn" để phác họa xă hội lúc đó, để gởi gắm tâm sự, để chống đối, tố cáo, phê phán ... giai cấp "cường hào ác bá" theo kiểu gán ép của nền văn học "xă hội chủ nghĩa" như trong một số bài nghiên cứu tôi có dịp đọc qua th́ thiệt là không có sức thuyết phục chút nào cả. Có lẽ đây là hệ quả của căn bịnh trầm kha "uốn nắn và bóp méo sự thật" mà chúng ta thường thấy ở các nhà nghiên cứu (tư tuởng, văn học...) trong các nước cộng sản, điển h́nh là VN với mục đích duy nhất là tuyên truyền để phục vụ cho chế độ. Nói khác, sử dụng kỹ thuật tuyên truyền kiểu "Tăng Sâm giết người" là chuyện b́nh thường. Tóm lại, "sự thật" là những ǵ cấp "lănh đạo" muốn thấy và nghe. Nếu không đủ "chỉ tiêu" địa chủ và phú hào th́ cứ việc nâng cấp trung nông lên cho đủ là xong. Cái mạng sinh mệnh con người đúng là không bằng con ong cái kiến trong tâm trí của những kẻ phi nhân bản. Nhân dịp lễ Vu Lan, bên cạnh việc tưởng niệm công ơn sinh thành, cầu nguyện cho thân bằng quyến thuộc, tôi xin chân thành thắp một nén tâm hương cầu nguyện cho những người đă chết oan ức, các oan hồn uổng tử trong cuộc "cải cách ruộng đất" ở miền Bắc trong thập niên 1950, những người đă hy sinh trong cuộc chiến tranh phi lư, những người đă chết oan ức trong chốn lao tù, những người đă bỏ mạng trên đường t́m tự do nơi rừng thiêng nước độc, ngoài biển khơi ... mà hồn ma bóng quế vẫn c̣n vất vưởng, uất ức nên vẫn quẩn quanh và lạc loài không nơi nương tựa được siêu sinh tịnh độ.

Theo Phật giáo mùa Vu Lan là mùa báo hiếu của người con đất Việt và hiếu từ không phải chỉ riêng đối với cha mẹ, mà là với tất cả chúng sanh. Tuy nhiên, ở một góc nh́n hẹp hơn, lễ Vu Lan có lẽ tương tự như ngày Hiền Mẫu (Mother s day) ở các nước Âu Mỹ. Một phần, có lẽ do nguồn gốc xuất phát của lễ Vu lan là sự tích bồ tát Mục Kiền Liên vào ngục A Tỳ để cứu mẹ là Thanh Đề. Kế đến, mặc dù con là kết tinh của mẹ cha và "công cha như núi Thái sơn" là một sự thật ai cũng biết nhưng sinh vật, đặc biệt là con người, th́ đă vất vả với mẹ từ lúc c̣n là bào thai trong bụng nên t́nh cảm của đứa con dường như gắn bó với mẹ hơn cha. Điều này cũng hợp lư v́ ngoài đất đá, sự sống của vạn vật đều bắt đầu từ MẸ .

Mẹ lại là biểu tượng của quê hương. Nói đến mẹ, cho những người phải sống xa ĺa nơi sinh trưởng chúng ta không khỏi liên tưởng và thương nhớ về một nơi chôn nhau cắt rún ở một nơi nào đó trên trái đất. Một nơi chúng ta thường gọi là quê hương và mỗi người chỉ có một quê hương như nhà thơ Đỗ Trung Quân có viết một bài thơ về quê hương tôi đă rất thích nhưng gần đây tôi lại bị "dị ứng" với bài thơ v́ chính quyền cộng sản đă sử dụng nó để tuyên truyền, khơi dậy nỗi nhớ quê hương, ve vuốt "khúc ruột thừa ngàn dặm" và méo mó bài thơ để rù quến một cách rất bất chính. Việc này đă làm tôi nghi ngờ luôn cả tâm ư "thực" của tác giả muốn chuyên chở đến độc giả qua bài thơ.

"Quê hương là ǵ hở mẹ
Mà cô giáo dạy phải yêu
Quê hương là ǵ hở mẹ
Ai đi xa cũng nhớ nhiều
Quê hương là chùm khế ngọt
Cho con trèo hái mỗi ngày
Quê hương là đường đi học
Con về rợp bướm vàng bay
Quê hương là con diều biếc
Tuổi thơ con thả trên đồng
Quê hương là con đ̣ nhỏ
Êm đềm khua nước ven sông
Quê hương là cầu tre nhỏ
Mẹ về nón lá nghiêng che
Là hương hoa đồng cỏ nội
Bay trong giấc ngủ đêm hè
......
Quê hương mỗi người chỉ một
Như là chỉ một mẹ thôi
Quê hương nếu ai không nhớ
Sẽ không lớn nỗi thành người"

(Bài Học Đầu Cho Con, Đỗ Trung Quân)

Tôi không biết nhiều lắm về tiểu sử của nhà thơ Đỗ Trung Quân chỉ biết anh ĐTQ sinh năm 1955, hiện c̣n sống và viết ở Sài G̣n (qua một bài viết của Nhă B́nh đăng ở trang web Tiền Vệ). Tôi hơi tiếc là không biết anh ĐTQ nhiều hơn chút như anh sinh ở đâu (quê hương, bối cảnh không gian)? Viết bài thơ này lúc nào (bối cảnh thời gian)? Để tưởng tượng, để h́nh dung được cái "cảm xúc" về quê hương của tác giả đúng hơn và thưởng thức bài thơ một cách trọn vẹn hơn.

Căn cứ theo năm sanh của anh (1955), tôi có cảm tưởng quê hương của anh phải là một nơi nào đó ở trong miền Nam v́ quê hương tuổi thơ của tôi cũng rất giống như anh diễn tả trong bài thơ. Rất nhiều lần tôi đọc bài thơ này của anh và mỗi lần đọc tôi đều thả hồn về với tuổi thơ, nhớ đến những ước mơ thời niên thiếu, nhớ và suy nghĩ về quê hương đất nước. Lời thơ b́nh dị, nhẹ nhàng nhưng thâm thuư, khơi dậy được xúc cảm. Nhất là đoạn kết của bài thơ. Nhưng tôi không dám đoan chắc đây là lời cho con anh, thế hệ Việt mai sau? Lời cho anh, người ở lại với MẸ? Hay đây là lời nhắn nhủ cho người rời xa quê hương, "bỏ Mẹ t́m Cha" v́ những đứa con cs bất nhân, bất hiếu, buôn bán Mẹ, tàn sát anh em? - Những việc đă và đang xảy ra - tôi nghĩ anh Đỗ Trung Quân với tâm hồn mẫn cảm, với con mắt tinh tế của một nhà thơ, của một người cầm bút làm sao mà không nh́n thấy và cảm nhận được? Nhưng thôi đây là riêng tư của anh. Tôi không bàn xa hơn về chuyện này.

Chỉ "tiếc" cho cái bài thơ của Đỗ Trung Quân đă bị dùng như một phương tiện tuyên truyền rẻ tiền làm giảm đi không ít giá trị nghệ thuật chân chính của nó với những độc giả hải ngoại như tôi.

Anh ĐTQ nói đúng "quê hương mỗi người chỉ một", như định mệnh an bài, anh và tôi đều sinh ra ở một nơi nào đó trên cái dăy đất h́nh chữ S thân yêu. Anh và tôi, mỗi người có một người mẹ, có một quê hương trên cùng dăy đất chữ S để nhớ. Dân tộc Việt có chung một bà mẹ Âu Cơ và đất nước Việt cũng chẳng phải của riêng ai, non sông có thể đổi thay, chính quyền đến chính quyền sẽ đi, chỉ có dân tộc Việt trường tồn và không một người nào là không nhớ Mẹ của ḿnh nhưng tôi bắt buộc phải chọn xa Mẹ (quê hương), t́m Cha (tự do) để "lớn nỗi thành người", để nên người, để làm "con người" đúng nghĩa như "con người". Mẹ tôi là bà tiên hiền ḥa đang bị bất lực trên giường bịnh v́ những đứa con bất nhân đă t́m trăm phương ngh́n kế vắt kiệt sức sống của Mẹ và những người anh em hiền ḥa khác. Cha chúng ta là giống Rồng. Chúng tôi, những người ra đi, thừa hưởng sự di truyền đó, cần có tự do để sống chứ không thể chịu trận nằm chết cạn ở ao bùn. Như một quy luật tất yếu của cuộc sống, một người cần phải tự giúp bản thân trước rồi mới có thể giúp người khác được và một người chết th́ không có làm được việc ǵ hay có thể giúp đỡ được ǵ cho ai hết.

Tôi không rành về cổ sử, nhưng câu ca dao dưới đây làm tôi cảm thấy man mác về nguồn gốc của dân tộc Việt tự ngàn xưa :

"Gió Động Đ́nh mẹ ru con ngủ
Trăng Tiền Đường ấp ủ năm canh
Tiết trời thu lạnh lành lanh
Cỏ cây khóc hạ, hoa cành thương đông
Bống bồng bông, bống bồng bông
Vơng đào mẹ bế, con Rồng cháu Tiên" (Ca Dao)

Gió Động Đ́nh, Trăng Tiền Đường giờ chỉ c̣n lại lời ca dao năo nuột của Mẹ! Cũng như Ải Nam Quan, một số hải đảo của biển Đông đă biến mất trên bản đồ VN và cả biển Đông cũng đang bị thu hẹp dần lại. Một ngày nào đó có lẽ anh, tôi và con cháu sẽ nghe Mẹ VN ru con bằng những câu ca dao tiếc nhớ "Ải Nam Quan và ..." mà giá buốt tâm can.

Trong thực tế quê hương VN của anh và tôi không phải là "chùm khế ngọt" để cho các em bé gái VN bị bọn vô nhân tính bán làm nô lệ t́nh dục trong các nhà thổ ở xứ Miên, hoặc các nàng kiều Việt bán thân trên khắp thế giới kiếm tiền nuôi thân, giúp cha mẹ nghèo khó, hoặc các lao nô bán sức lao động v́ miếng cơm manh áo, bị bóc lột chèn ép từ mọi phía, và dân ngu khu đen thấp cổ bé miệng trong nước …"trèo hái" được. Họ là "những kẻ lạ" ngay trên chính quê hương của ḿnh. Anh, tôi và hầu hết mọi người VN biết rơ điều này và chỉ có cái khác nhau là chọn "làm" một cái ǵ đó để giúp những kẻ không may mắn hay nhắm mắt quay lưng "làm ngơ". Hoặc tệ hơn nữa tiếp tay với lũ người bất nhân v́ những quyền lợi ích kỷ của bản thân.

Có một điều tôi rất chắc chắn là Mẹ VN sẽ ở măi trong tim của những người con đất Việt dù ở gần hay xa. Không ai có thể quên nơi chôn nhau cắt rún của ḿnh được. Mẹ và cha, mỗi người chỉ có một để thương, để nhớ nhưng trong gia đ́nh cần có mẹ và cha, con cái thuận ḥa, nhường nhịn, thành thật thương mến nhau th́ sinh hoạt gia đ́nh mới có cơ hội thành công và các phần tử trong gia đ́nh mới có thể sống trong hạnh phúc được. Cho quê hương th́ cũng giống như vậy. Nếu trở về mà như người xa lạ trên chính quê hương của ḿnh, trở về để tự đặt ḿnh trong cái bối cảnh mà chúng tôi đă liều chết để ra đi trước đây th́ trở về để làm ǵ? Và dường như câu ca dao "Ta về ta tắm ao ta / Dù trong dù đục ao nhà vẫn hơn" đă được nhiều người Việt hải ngoại chứng minh là không có đúng lắm cho cái ao nhà Việt Nam. Phải loại bỏ được những kẻ đang quậy đục làm bẩn nước, ngăn ḍng nước chảy, phải t́m cách làm cho nước trong, phải làm cho nước ao nhà tốt hơn hoặc tương đương nước ao người th́ ao nhà mới "xài" được. Hành động là cách chứng minh tốt nhất chứ những lời sáo rỗng, lừa mị theo kiểu tuyên truyền cộng sản của nửa thế kỷ trước đây chẳng c̣n có tác dụng như xưa nữa. Cố Tổng Thống Nguyễn văn Thiệu đă nói một câu để đời và đúng 100%: " Đừng nghe những ǵ cộng sản nói mà hăy nh́n những ǵ cộng sản làm".

Vâng, "Quê hương là chùm khế ngọt" nhưng không phải "Để con trèo hái mỗi ngày" mà là "Để đảng trèo hái mỗi ngày". Quê hương và Mẹ vẫn luôn ở trong tâm trí tôi, tôi yêu mến quê hương tôi nhưng không có nghĩa là tôi phải yêu chủ nghĩa xă hội, phải yêu đảng cộng sản, phải yêu những chính sách hay những con người phi nhân bản ... Vâng, không có ǵ hạnh phúc hơn là được sống, có cơ hội làm việc để phát triển bản thân và góp sức xây dựng quê hương nhưng TỰ DO và QUYỀN LÀM NGƯỜI là "thiêng liêng" và "quư báu" với tôi (trong quá khứ, tôi đă sẵn sàng đổi cả mạng sống để có được những quyền này). Không có những quyền này, tôi biết là tôi sẽ mất khả năng để bay cao như chim Lạc, để vượt Vũ môn hóa Rồng, để tranh tài thi sức cùng bạn bè năm châu. Và làm "con gà bịnh" hay con "giun" th́ có ích lợi chi cho bản thân nói riêng và cho xă hội nói chung?

Quê hương vẫn luôn đầy ắp trong trái tim tôi, từ thuở vừa biết suy nghĩ cho đến nay, chưa lúc nào phai nhạt nhưng tại sao tôi đă không "lớn nỗi thành người" ngay trên chính quê hương ḿnh? Tôi chợt nhận ra là dường như là có một cái ǵ đó thiếu sót và không hợp lư lắm trong bài thơ "Bài học đầu cho con". Nhắm mắt hồi tưởng, trở lại vùng kư ức tuổi thơ, tôi đă nhớ ra rồi anh Đỗ Trung Quân ạ! Bài học đầu của cha tôi dạy tôi là phải nói thật, sống thật với bản thân và mọi người. Vâng tôi đă t́m ra nguyên nhân chính tại sao tôi đă không thể "thăng hoa" và "lớn nỗi thành người": Những con người yêu chuộng sự thật, dám nói sự thật không ai có thể "thăng hoa" hoặc "lớn nỗi thành NGƯỜI" trong một quốc gia mà đảng cộng sản nắm chính quyền và cai trị. Cám ơn bài thơ "Bài Học Đầu Cho Con" của anh v́ ngoài giá trị của một bài thơ hay, nó đă giúp tôi xác định chắc chắn thêm hướng đi của ḿnh. YÊU CỘNG SẢN VÀ QUƯ TỰ DO là hai thái cực đối nghịch, như nước và lửa không thể dung ḥa và những người yêu chuộng và dám nói SỰ THẬT không có đất sống trong chế độ cộng sản là một sự thật tôi vừa "thấy" thêm qua bài thơ của anh.

ĐỂ CHO BÀI THƠ VÀ TÁC GIẢ CÓ ĐẤT SỐNG TH̀ SỰ THẬT PHẢI HY SINH . Cho tôi, bài học đầu tôi sẽ dạy cho con tôi là Sự Thật, như cha tôi đă dạy tôi, sự thật sẽ bao gồm luôn sự thật của quê hương VN và biết sự thật con tôi sẽ biết yêu quê hương của nó một cách chân chính hơn chứ không phải yêu một cách mù quáng, nhắm mắt yêu bừa hoặc tệ hơn nữa là yêu bằng miệng.

Và đọc thêm bài thơ "Thực Tại Hư Vô" của Phan Huyền Thư

"Quê hương không là mẹ
Quê hương chỉ là hương... " (PHT)

Tôi đă hiểu tại sao giới trẻ Việt Nam vẫn tiếp tục t́m đường rời khỏi quê hương để sinh sống và làm việc (dù con đường này có rất nhiều hiểm nguy và cạm bẫy đang chờ đợi họ, một bước lỡ lầm di hận thiên thu). Quê hương với họ không phải là chùm khế ngọt, là mẹ hiền. Quê hương đơn thuần chỉ là mảnh đất nơi họ đă được sinh ra. Giới trẻ VN đă thẳng tay bác bỏ những "h́nh ảnh quê hương" của thế hệ đi trước gầy dựng và để lại. Với họ, đó chỉ h́nh ảnh ảo huyền, huyễn hoặc ... Theo tôi, hiện tượng này là một điều đáng buồn cho quê hương VN và có lẽ nhà thơ ĐTQ cũng nghĩ như vậy (căn cứ theo bài thơ "Bài học đầu cho con" của anh). Tội lỗi này với MẸ VN do ai gây ra? Ai sẽ là người chịu trách nhiệm? Và ai sẽ là người gánh chịu hậu quả?

Xứ người đẹp đẽ nhưng chẳng phải quê hương.
Việt Nam, quê hương lại biến thành xứ lạ .

Quê hương VN vẫn c̣n đó, nhưng quê hương tuổi thơ của tôi trong quá khứ, đă chết!
Quê hương hiện tại gom lại chỉ là những h́nh ảnh xót xa và đau ḷng, chỉ c̣n lại hy vọng ở quê hương VN tương lai …

(Mai news - Mùa Vu Lan, 2006)

CÓ TỰ DO DÂN CHỦ => QUÊ HƯƠNG SẼ LÀ CHÙM KHẾ NGỌT CHO MỌI NGƯỜI DÂN VIỆT


http://www.limsi.fr/Individu/dang/webvn/icons/carambol.gif

Mời xem thêm nơi đây:

TẢN MẠN CUỐI TUẦN (http://motgocpho.com/forums/showthread.php?t=950)

NHỮNG GIỌT MƯA ĐỜI (http://motgocpho.com/forums/showthread.php?p=78385#post78385)

chieunhatnang
11-18-2008, 01:01 AM
Văn Hóa “Đ..” Cộng Sản Việt Nam Xin Không Đúng Lỗi


Giáo Già

http://img.photobucket.com/albums/v735/HDHP/thu-cho-con-giao-gia.jpg

Ngày 12-11-2008

H,

T́nh cờ, lục lại các bài ghi được trên Internet, thấy có đoạn nói về nền văn hóa “đ..” của Cộng sản Việt Nam [chữ đ... mang tính khiếm nhă không tiện ghi lại nơi đây, nhưng ai đọc qua cũng có thể h́nh dung ra]. Nó cũng có thể được hiểu là “đểu”, khiến nền văn hóa “đểu giả” của Cộng sản Việt Nam biến thành hành động “đểu” thật của bọn người Xă hội Chủ nghĩa. Xin ghi lại đoạn văn này:

“Lần đầu tiên, mới tới Hà Nội, tôi không khỏi bỡ ngỡ, khi t́m nhà của một người quen làm trưởng một khu phố văn hóa. Thấy có mấy đứa trẻ con đang nô đùa ngoài ngơ, tôi hỏi: “Này các cháu có biết nhà ông trưởng khu phố văn hóa ở đâu không?” Một đứa trẻ trai, trạc trên dưới 10 tuổi, ngước nh́n tôi bằng ánh mắt xấc láo, ranh mănh, đáp gọn lỏn: “Biết, nhưng đ.. chỉ!”
Tôi lắc đầu đi sâu vào ngơ văn hóa, gặp một thanh niên, tôi hỏi: “Anh ơi, anh có biết nhà ông trưởng khu phố văn hóa này ở chỗ nào không anh?” Gă trẻ tuổi chẳng thèm ḍm ngó ǵ đến tôi, trả lời cộc lốc: “Đ.. biết!”
Khi gặp ông trưởng khu phố văn hóa, tôi đem chuyện này kể cho ông ta nghe với lời than thở: “Anh ạ, các bậc phụ huynh ở đây không dạy dỗ con em hay sao mà để chúng nó ăn nói với khách lạ thô bỉ đến thế hả anh?!” Chẳng cần suy nghĩ ǵ, ông trưởng khu phố văn hóa đă thuận miệng trả lời tôi ngay: “Có dạy đấy chứ, nhưng chúng nó đ.. nghe!”
Lúc ấy cô con gái của ông bạn tôi là cô giáo, dạy môn văn, vừa đi dạy về và tôi đem chuyện ấy ra kể lại. Thay v́ trả lời trực tiếp cho tôi, cô giáo xin phép thuật lại một chuyện như sau:
- “Hôm ấy cháu giảng bài văn, có đoạn kể thành tích anh hùng và dũng cảm của nhân dân ta đă đánh gục Tây, đánh nhào Mỹ v.. v.. Cuối cùng, cháu kêu một em học tṛ trai lớn nhất lớp, bảo nó cắt nghĩa hai chữ: “dũng cảm là ǵ?”. Nó đứng lên suy nghĩ một lúc rồi đáp gọn lỏn: “Nghĩa là… là… đ.. sợ!”
Sau đó cháu lại có cuộc tiếp xúc với ông Bộ trưởng Giáo dục và đào tạo, liền đem chuyện thằng bé học tṛ đă cắt nghĩa 2 chữ “dũng cảm” là: “đ.. sợ!” cho ông nghe. Nghe xong, ông bộ trưởng tỏ vẻ đăm chiêu, ra điều suy nghĩ lung lắm. Cuối cùng, ông nghiêm nghị nh́n cháu rồi gật gù như một triết gia uyên bác vừa khám phá ra một chân lư, chậm răi đáp: “Ừ, mà nó cắt nghĩa như thế cũng…. đ.. sai!…
Cô kết luận: “Đấy, bây giờ luân lư, đạo đức của con người dưới chế độ này như thế đấy. Rồi đây, các thế hệ trẻ miền Nam cũng vậy thôi! Làm sao tránh được?”
Ông bố rầu rĩ thở dài: “Đất nước kiểu này th́… đ.. khá…”

Từ câu chuyện “tiếu lâm” mang tính “văn hóa” Xă hội Chủ nghĩa trên, trở lại chuyện mưa lụt vừa diễn tra ngay trên Thủ đô Hà Nội và chuyện đểu của Nhà nước Cộng ḥa Xă hội Chủ nghĩa Việt Nam, Ba nghe từ chỗ sâu kín nhứt của ḷng ḿnh trào lên đủ vị đắng cay chua chát của một nền văn hóa Xă hội Chủ nghĩa sa đọa; sa đọa ngay từ cấp lănh đạo hàng đầu trong Bộ Chánh trị Đảng Cộng sản Việt Nam cho tới những nạn nhơn cầm viết bị trói chân trên cái lề đường bên phải của độc tài pháp trị, mà điển h́nh mới nhứt ai cũng thấy là Ủy viên Bộ Chánh trị, đương nhiệm Bí thư Thành ủy Hà Nội Phạm Quang Nghị, ngay trong vụ lũ lụt trầm trọng nhứt lịch sử Việt Nam thời Cộng sản. Đó là vụ xin lỗi “đểu” của người cầm quyền lănh đạo Hà Nội khiến người không lỗi phải xin lỗi kẻ có lỗi.

Xin nói rơ, trong trận mưa lớn kéo dài 72 giờ đồng hồ trút hơn 20 triệu mét khối nước xối xả đổ xuống thủ đô Hà Nội, gây nên cảnh ngập lụt tồi tệ chưa từng có, mà theo lời mô tả của một cư dân Hà Nội với Đài Á Châu Tự Do [RFA 9-11-2008]: “Ba ngày thật là khủng khiếp, chưa bao giờ, chưa thấy trận mưa nào khủng khiếp như thế, cứ tưởng tượng nó mưa như mưa đá, mái tôn kêu ầm ầm suốt hai ngày giời mưa không ngớt tí nào, thực sự như vậy không hiểu nước đâu ra mà lắm thế.”

Từ đó, những bài báo trên mạng nêu ra những câu hỏi lớn: “Chính quyền đă ở đâu, làm ǵ, khi nước ngập toàn bộ Hà Nội, sự phản ứng một cách bị động thiếu chuyên nghiệp về công tác cứu hộ pḥng chống thiên tai của chính quyền Hà Nội, có thể xem là trách nhiệm về những cái chết thương tâm của 22 nhân mạng là cư dân thủ đô. Trong đó có cả những cái chết của trẻ em đi trên đường phố bị sa chân xuống cống thoát nước, hoặc người đi làm bị nước cuốn trôi mà sau này mới t́m thấy thi thể”.

Blogger Huy Đức viết: “Người dân Hà Nội có ngay nơm, có ngay vó để bắt cá trên đường phố. Người dân Hà Nội kết bè để di chuyển đàn bà, trẻ em ra chỗ cao hơn. Người dân Hà Nội, đến hôm 2 tháng 11, đă huy động được cả xe ngựa vào làm phương tiện đi lại trong nội thành. Cho dù rất thiếu kỹ năng sông nước, người dân Hà Nội, rơ ràng là đă tự xoay xở lấy, thay v́ chờ đợi vào chính quyền”.

Trước sức tấn công của các bloggers trên các Diễn đàn Internet, Bí thư thành ủy Hà Nội Phạm Quang Nghị thấy nhột, không thể dùng quyền uy bịt miệng dân như công an đă bịt miệng Linh mục Nguyễn Văn Lư giữa ṭa, nên gọi báo điện tử VietnamNet vào văn pḥng, bảo báo phỏng vấn, để Nghị trả lời các bloggers dám hỗn với Đảng và Nhà nước Cộng ḥa Xă hội Chủ nghĩa Việt Nam. Tuyên bố trong cuộc phỏng vấn, Nghị lên tiếng mắng dân Hà Nội rằng: “…Thiên tai là điều không ai muốn, và cũng là điều không ai tính trước được… Do đang đi kiểm tra dưới cơ sở, ông nhận thấy là nhân dân bây giờ so với ngày xưa ỷ lại Nhà Nước lắm. Cứ chờ trên về, chờ cung cấp cái này, hỗ trợ cái kia chứ không đem hết sức ra tự làm”. [Câu nói của Nghị khiến người đọc VietnamNet nhớ ngay bài học được Đảng và Nhà nước dạy người dân Miền Nam trong các buổi học tập chánh trị tại phường khóm, và dạy học sinh các cấp, ngay sau ngày 30-4-1975, rằng: “Bàn tay ta [Đảng CSVN] làm nên tất cả; dưới sức người [CS] sỏi đá cũng thành cơm”]

Phải chăng v́ vậy mà ngay lập tức, Blogger Thuyền Nhân lên tiếng: “Nhà nước đă cung cấp ǵ đâu mà bảo là dân Hà Nội ỷ lại; ông Nghị có biết di chuyển trong thành phố rất khó khăn không. Muốn đi là phải thuê thuyền đi ra cái chỗ hết nước, chỗ gửi xe đạp đêm qua, rồi lấy xe, c̣ng lưng đạp qua rất nhiều vũng nước để đến chỗ làm việc”.

Chính báo Thanh Niên Online cũng nhận xét rằng: “…Trong những lúc nguy cấp nhất, đă không thấy lực lượng phản ứng nhanh ở chỗ đang cần tới họ, không thấy cảnh sát giao thông tăng cường tại những giao lộ kẹt cứng ḍng xe cộ, không thấy nhân viên công lực và t́nh nguyện viên dùng phương tiện phù hợp đưa người dân ra khỏi những ốc đảo bị nước cô lập hay bến xe, bệnh viện, ṭa nhà văn pḥng, khu dân cư ngập sâu, và tại sao không cung cấp nước uống, thức ăn nhanh cho những người già, phụ nữ mang thai, trẻ nhỏ có nhu cầu đang bị kẹt…”

Đồng loạt, các bloggers ào ạt lên tiếng “mắng” Nghị, khiến ba ngày sau khi trả lời phỏng vấn trên VietnamNet, ngày 5/11, Nghị phải một lần nữa nhột nhạt ra lịnh gọi VietnamNet vào để phóng viên có cuộc trao đổi, tạo cơ hội cho Nghị nói lời xin lỗi, rằng Nghị “thực sự rất lấy làm tiếc và muốn chân thành xin lỗi bạn đọc, xin lỗi mọi người về những lời gây nên sự bức xúc và bị phê phán”.

Đọc giả c̣n thấy cả h́nh ảnh Nghị đi tham quan cho biết sự t́nh ở chỗ không có nước ngập, khiến người xem chỉ thấy Nghị đội nón cối, mặc áo mưa… không giống ai và chẳng thấy nước lụt ở đâu hết.

Nhiều người nghe Nghị xin lỗi đă vội mừng cho rằng “Việt Cộng xin lỗi thằng dân th́ quả là chuyện động trời, khiến nhiều người kinh ngạc”. Nhưng, đọc lại lời xin lỗi của Nghị người ta mới thấy điều kinh ngạc hơn nữa, đó là thấy thêm cùng lúc hai cái “đểu” của Nghị.

Thứ nhứt là người kư giả được Nghị gọi vào phỏng vấn đă nh́n thấy tấm gương bị “mất ghế” của hai người lănh đạo báo Đại Đoàn Kết của Mặt Trận Tổ Quốc chỉ v́ đăng bài của Tướng Vơ Nguyên Giáp, rồi hốt nhiên rơi vào tâm trạng hoảng sợ… rất có thể sẽ bị Nghị trừng phạt, sẽ bị treo viết hay một cách nào đó, nên thay v́ hănh diện v́ đả sốt sắng đăng bài “dạy dân” chống lũ lụt “không chờ trên về” của Nghị, lại phải cong lưng mỏi gối xin lỗi Nghị về sự sốt sắng của ḿnh [mà lúc đó không sốt sắng có thể sẽ bị rầy la hoặc trừng phạt v́ tội bê trễ không đăng bài đă được Nghị chỉ đạo... phỏng vấn], tạo thành nghịch lư đểu là “người không lỗi phải sợ sệt xin lỗi kẻ có lỗi”.

Thứ hai là Nghị chỉ “xin lỗi bạn đọc, xin lỗi mọi người về những lời gây nên sự bức xúc và bị phê phán” chớ tuyệt nhiên không ai nghe Nghị xin lỗi đúng cái lỗi của nó, xin lỗi v́ “Đảng và Nhà nước Cộng ḥa Xă hội Chủ nghĩa Việt Nam đă có những sai lầm trong việc quy hoạch thành phố”.

Nghị không xin lỗi việc “Hàng ngàn tỷ đồng đổ ra trong những năm qua, cả tiền thuế của dân lẫn tiền đi vay nước ngoài, đă được dùng vào việc ǵ để đổi lấy một kết cấu hạ tầng tệ hại như vậy?”

Nghị không xin lỗi về “Chi phí hoàn tất dự án cải tạo thoát nước Hà Nội giai đoạn một khoảng gần 200 triệu đôla, sao nước không thoát đi được như vậy?”

Nghị không xin lỗi về “Hệ thống thoát nước nội thành quá kém, dù có hoàn tất giai đoạn hai dự án cải tạo cũng sẽ úng ngập nếu gặp trận mưa đến 600 mm, như Chủ tịch Ủy ban Nhân dân Thành phố Hà Nội Nguyễn Thế Thảo nói với báo giới”.

Nghị không xin lỗi về “T́nh trạng phát triển đô thị tùy tiện, lấp chỗ trũng để có chỗ phân lô xây thêm nhà, xây thêm đường xá theo yêu cầu của… tham nhũng và bọn gian thương lũng đoạn thị trường nhà đất, khiến ḍng chảy tự nhiên của nước bị ngăn chận; đó là chưa kể các khu gọi là đô thị mới đă làm thành cái đê nhân tạo ngăn ḍng nước chảy…”

Điều đó đă được báo Thanh Niên Online nhấn mạnh: “Điều tương phản mà nhiều người phát hiện ra là chính những khu phố cũ, phố cổ được xây dựng từ thời Pháp dành cho một số dân cư trú ít hơn rất nhiều so với hiện nay vẫn chứng tỏ được khả năng thoát nước nhanh chóng hơn cả trong những ngày qua”.

Đâu đă hết, trong lúc mưa lụt gây thiệt hại trầm trọng như vậy mà Đảng và Nhà nước Cộng ḥa Xă hội Chủ nghĩa Việt Nam lại đem Dân Oan ra xử. Tin được đài RFA loan đi ngày 08-11-2008 cho biết:

“Một người tham gia khiếu kiện lâu nay tại Việt Nam hôm qua bị ṭa kết án 18 tháng tù về tội gây rối trật tự. Tờ Straits Times của Singapore trích lại bài trên báo Nhân Dân cho biết đương sự là cô Lê Thị Kim Thu, người bị bắt giam hồi trung tuần tháng 8 vừa qua ở Hà Nội, khi đang tham gia một cuộc khiếu kiện đất đai tổ chức ở Vườn hoa Mai Xuân Thưởng tại Thủ đô Hà Nội. Bản thân là người Đồng Nai nhưng cô Lê Thị Kim Thu phải ra tận trung ương để khiếu kiện. Nhóm tuyên ngôn dân chủ nhân quyền cho Việt Nam, thường được gọi là Khối 8406, cho biết cô Lê Thị Kim Thu từng bị công an thẩm vấn nhiều lần, và bị câu lưu trong suốt kỳ diễn ra thượng đỉnh Diễn đàn Hợp tác Kinh tế Á Châu - Thái B́nh Dương, APEC, hồi năm 2006. Tổ chức Phóng viên Không Biên giới th́ nói cô Lê thị Kim Thu là một trong số ít nhất 10 người bị bắt giam kể từ hồi tháng tư năm nay v́ có kế hoạch tổ chức biểu t́nh chống Trung Quốc nhân dịp rước đuốc Thế vận hội đến thành phố Saigon”.

Mặt khác, phóng viên Gia Minh của đài RFA, trong bản tin ngày 9-11-2008, cũng cho biết thêm là Bà Hồ Thị Bích Khương, một người từng đi khiếu kiện, giúp người khác khiếu kiện về các oan sai, sau đó sử dụng mạng Internet để công khai các bài viết tố cáo những bất công của nhà cầm quyền Cộng sản Việt Nam, bị bắt ngay tại quán Internet, hồi Tháng Tư 2007, ở Nam Đàn, Nghệ An; đă bị ṭa án xử 2 năm tù giam hồi tháng 4 năm nay.

Theo lời tiết lộ của Bà Hồ Thị Lan [chị của Bà Khương] với phóng viên Gia Minh, th́ Bà đă đi thăm Bà Khương tại trại tù, hôm 30-10-2008. Phải chờ từ sáng tới chiều mới được gặp. Đến khi công an dẫn Bà Khương ra, thấy Bà Khương, Bà Lan hỏi: “Khương à, không biết ra răng mà người ngợm bây giờ là gầy xanh xao như thế?” th́ được Bà Khương trả lời: “Khương bị công an đánh chết ngất ngày chuyển trại và bữa ni là đang nằm trạm xá”. Bà Khương cũng nói thêm là: “Khi hôm chuyển trại th́ Khương nói bản án đó là Khương không nhận cho nên là Khương không có việc ǵ mà phải đi tù, đi giam cả. Rồi nó cũng bắt, cũng cưỡng chế, bắt lên. Lúc đó không biết Khương điên lên hay làm sao mà nó đập cho chết ngất đi. Nói chung là mặt tinh thần Khương nói nếu chết th́ thôi, c̣n đang sống là đang theo đấu tranh cho được mới thôi”.

Chuyện dài Việt cộng trong mùa Hà Nội ch́m ngập trong mưa lụt vẫn chưa hết. Tin được nhiều báo điện tử Online ra ngày 11-11-2008 cho biết:

“Bốn viên chức công ty tư vấn kiến trúc kiều lộ của Pacific Conlsultants International (PCI) có trụ sở chính ở Tokyo, Nhật Bản, nh́n nhận trước ṭa là họ đă đưa hối lộ nhiều lần cho Hùynh Ngọc Sĩ, Phó Giám đốc Sở Giao thông Vận tải Thành phố Sài G̣n, số tiền khoảng $820,000 USD liên quan đến dự án xây dựng Đại lộ Đông Tây của Thành phố Sài G̣n. Đây là dự án dài 22 cây số gồm cả một con đường hầm chui qua sông Sài G̣n đến khu vực Thủ Thiêm vẫn chưa hoàn tất (các đoạn đừơng hầm đúc nối đang bị nứt nẻ) với tổng vốn đầu tư khoảng hơn $600 triệu USD. Bốn bị cáo gồm Masayoshi Taga, 62 tuổi, nguyên chủ tịch PCI; Kunio Takasu, 65 tuổi, nguyên giám đốc điều hành PCI; Haruo Sakashita, 62 tuổi, nguyên giám đốc của PCI; và Tsuneo Sakano, 59 tuổi, nguyên trưởng văn pḥng tại Hà Nội của PCI. Tất cả đă bị truy tố v́ vi phạm Luật Pḥng Chống Cạnh Tranh Bất Chính với các điều khoản cấm hối lộ cho các quan chức các chính phủ ngoại quốc. Cả 4 người nói trên đă nhận tội (pleaded guilty) trong phiên xử đầu tiên, dự trù nhiều ngày, tại ṭa án quận Tokyo.
Nhưng cho tới nay, cả Hùynh Ngọc Sĩ đến nhà cầm quyền Hà Nội đều phủ nhận có chuyện ăn hối lộ xảy ra trong dự án Đại Lộ Đông Tây cũng như những dự án xây dựng phát triển khác đựơc thực hiện với vốn vay ưu đăi của Nhật Bản, thường đựơc gọi tắt là ODA (Official Development Assistance).
Điều đặc biệt đáng lưu ư là sau khi tai tiếng bùng nổ, đám cưới con Hùynh Ngọc Sĩ lấy con Lê Thanh Hải, bí thư thành ủy Sài G̣n, đă bị hủy bỏ dù thiệp cưới đă in xong với ngày giờ địa điểm tổ chức đă sắp xếp đâu vào đó. Cả Sĩ cũng như Hải đều xuất thân từ tổ chức “Thanh Niên Xung Phong”, một tổ chức ngoại vi của Đảng CSVN. Nhiều dự án xây dựng do cái tổ chức “TNXP” đứng thầu xây dựng đều rất tai tiếng, gồm cả dự án xây dựng ‘cầu nổi Văn Thánh’ chưa xây xong đă lún sụt. Báo chí trong nước đăng tải rất nhiều về những cái quái đản và kinh hoàng trong cái dự án này nhưng rồi cũng chẳng đi đến đâu”.

Vẫn chưa hết, hôm 29-10-2008 vừa qua, năm người vợ của năm nhà đấu tranh Dân Chủ Hóa Việt Nam đă kư vào một lá đơn chung do họ thảo, yêu cầu nhà nước và Bộ Công an Cộng sản Việt Nam trả tự do cho chồng của họ đang bị giam giữ tại trại B14 ở Hà Nội. Cả năm nhà hoạt động dân chủ này bị bắt từ tháng Chín, bị khép tội tuyên truyền chống phá nhà nước, vi phạm điều 88 Bộ Luật H́nh Sự. Năm người kư vào đơn đ̣i công lư cho chồng là:
1. Bà Nguyễn Thị Nga, vợ ông Nguyễn Xuân Nghĩa ở Hải Pḥng;
2. Bà Nguyễn Thị Huyền Trang, vợ ông Phạm Văn Trội ở Hà Tây;
3. Bà Bùi Thị Rề, vợ ông Nguyễn Văn Túc, ở Thái B́nh;
4. Bà Lư Thị Tuyết Mai, vợ ông Vũ Hùng, ở Hà Tây;
5. Bà Nguyễn Thị Lộc, vợ ông Nguyễn Kim Nhàn, ở Bắc Giang.

Cùng lúc, đơn cũng được gởi đến Liên Hiệp Âu Châu, hạ viện Hoa Kỳ, các tổ chức nhân quyền quốc tế, người Việt và các tổ chức Việt Nam hải ngoại.

Trả lời đài RFA từ Hải Pḥng, bà Nguyễn Thị Nga, vợ nhà văn Nguyễn Xuân Nghĩa, cho biết: “Tôi mong giới truyền thông và những người bênh vực công lư ở trong và ngoài nước lên tiếng để bảo vệ, bênh vực những người đấu tranh cho công bằng lẽ phải trong đó có chồng tôi. Chồng tôi th́ đă bị bắt rồi, và tôi muốn chính phủ Việt Nam này phải nh́n rộng một chút và cũng nên nh́n xa với thế giới, không nên đàn áp người dân của chính ḿnh”.

Đến chuyện Tim Aline Rebaud, cô gái già người Thụy Sĩ được Nguyễn Cao Kỳ Duyên [con gái của Nguyễn Cao Kỳ] về Việt Nam móc nối vận động cho Tô văn Lai và Nguyễn Ngọc Ngạn thổi pḥng thành nàng Tiên huyền Diệu trên sân khấu và trong cuốn DVD Paris By Night 90, khiến nhiều người xem rớt nước mắt xúc động thán phục kẻ không phải là Việt Nam lại quá thương dân Việt. Để sau đó lấy trớn đi quyên tiền khắp nơi trên thế giới với chiêu bài chỉ làm từ thiện, không làm chánh trị.

Nhưng, đến đêm gây quỹ 25 tháng 10 năm 2008 Tim đă lộ mặt lợi dụng hảo tâm của người Việt hải ngoại để làm lợi cho Cộng sản Việt Nam, khi ra lịnh cho ông Chủ tịch Mười Trương của Hội Người Việt San Fernando Valley phải hạ lá Cờ Vàng Việt Nam, khi cô xuất hiện, với lư do giản dị “chúng tôi không làm chính trị”. Để từ đó, dư luận thấy rơ mặt thật của Tim; và hơn nữa, chuyện từ thiện của Tim cũng làm lộ rơ nhiều khuôn mặt lấy từ thiện làm lối mưu sinh, cho dầu có phải gói lương tâm trong chiếc quần dơ tưởng đă giặt sạch giữa ḍng nước đỏ.

Chuyện “không làm chánh trị” với sự “chống đối Cờ Vàng” của Tim khiến dư luận nghĩ ngay đến chuyện Hồng y Phạm Minh Mẫn với lá Cờ Vàng Ba Sọc Đỏ của người Quốc gia Việt Nam mà di lụy đă khiến ông phải trốn chạy cộng đồng người Việt tỵ nạn cộng sản ở nhiều nơi thế giới. Nó làm lộ rơ hơn ư đồ của Cộng sản Việt Nam trước thế kẹt của những những người nhẹ dạ “sợ chánh trị hơn sợ cộng sản”, những kẻ đă lót đường cho những con buôn chánh trị làm chuyện lót đường cho cộng sản hoàn tất cuộc xâm lăng Miền Nam Việt Nam năm 1975. Đến khi đào thoát ra hải ngoại một số lớn lại “sợ chánh trị làm mờ nghĩa nhơn đạo”, hay nói rơ hơn một số không nhỏ lợi dụng vấn nạn “sợ chánh trị” để dễ cấu kết làm ăn với bọn “độc quyền chánh trị” đem tiền bố thí tô đẹp Nghị quyết 36, lủng đoạn người Quốc gia tỵ nạn Cộng sản mà cứ tưởng như ḿnh đang bước trên đại lộ lên thiên đàng.

Bao nhiêu tội lỗi trùng trùng điệp điệp năm này qua năm khác, kẻ có lỗi chẳng bao giờ biết xin lỗi, đến khi xin lỗi lại không nhận đúng lỗi để xin. Tệ hại hơn nữa nó lại khiến người không lỗi phải sợ sệt xin lỗi kẻ có lỗi, và những kẻ ăn theo cũng không biết lỗi, cũng biện minh tội lỗi bằng đủ loại thủ đoạn của kẻ bất lương triền miên gian dối không biết ngượng, trong đó có chiêu bài “không làm chánh trị”.

Chuyện chánh trị lưu manh và ngây thơ không làm chánh trị cho tới giờ này vẫn c̣n là vấn nạn khiến các thế lực độc tài vẫn c̣n có chỗ kư sinh. Tuy nhiên, vấn nạn “không làm chánh trị”, hay đúng hơn là “trốn chạy chánh trị”, đă không ù ĺ giậm chân tại chỗ, mà càng lúc đất nước càng có thêm những người hết sợ chánh trị, dấn thân bước vào chánh trị trên đường Dân Chủ Hóa Việt Nam, khiến ánh sáng cuối đường hầm thấp thoáng gần hơn ḷng mong đợi của mọi người. Nó khiến Ba nghĩ tới câu nói của Ḥa thượng Thích Quảng Độ: “Phật giáo không làm chánh trị, nhưng phải có thái độ chánh trị” đă khích lệ rất nhiều Phật tử và nhiều người dấn thân vào chánh trị; và xa hơn nữa nhớ lại bài viết “Thái độ Phi Chánh trị” của cố Giáo sư Nguyễn Văn Bông, tới nay, hơn 37 năm sau, vẫn c̣n nguyên giá trị, được đăng lại trong cuốn Di Cảo Giáo sư Nguyễn Văn Bông, vừa được Mekong-Tynan và Nguyễn Ngọc Huy Foundation tái bản, trong ngày giỗ cố Giáo sư Nguyễn Văn Bông, hai ngày qua, 10-11-2008 [v́ cột báo dành cho Thư Cho Con có giới hạn, không trích đăng được ở đây; xin xem sách đă phát hành, liên lạc địa chỉ Mekong-Tynan, P.O. Box 1303, Newark, Ca 94560].

Hẹn con thư sau,
Giáo Già

Posted by hoanghieu/Người Việt Boston

LyLacLong
11-23-2008, 02:09 PM
Niềm Tin và Cuộc Sống


LƯ LẠC LONG


Có lẽ không ǵ buồn chán bằng một cuộc sống không định hướng! Không ǵ thất vọng bằng một cuộc đời không lư tưởng, không lẽ sống! Sống mà không biết tại sao ḿnh sống! Sống mà không biết ḿnh sẽ đi về đâu là điều làm cho con người chán chường, khổ đau và thất vọng nhất. Mọi người, bạn cũng như tôi, cần phải có một niềm tin vào một lư tưởng hay một lẽ sống nào đó để mà sống .

Theo một câu chuyện cổ ở nước Anh, liên tục trong 500 năm liền. Cứ mỗi đêm Giáng Sinh dân chúng tại một thành phố nọ đều tụ họp lại ở một thánh đường, không phải để mừng ngày sinh của Chúa mà để chờ đợi Chúa trở lại. Từ 500 năm qua, cứ mỗi đêm Giáng Sinh, mọi người đều đến ngôi thánh đường đổ nát ấy để cầu nguyện theo ư hướng ấy. Nhưng ngày trở lại của Chúa Giêsu vẫn chưa xảy đến. Khi được hỏi: Bạn có thực sự tin rằng Chúa Giêsu sẽ trở lại trong đêm Giáng Sinh tại thành phố của bạn không? Một trong những nhân vật chính trong câu chuyện trả lời như sau:
- Không, tôi không bao giờ tin như thế.
- Vậy tại sao bạn lại đến đây mỗi đêm Giáng Sinh?
Nhân vật này mỉm cười trả lời:
- Giả như Chúa thực sự trở lại trong đêm đó và tôi là người duy nhất vắng mặt th́ sao?
Nhân vật chính trong câu chuyện trên đây quả thật không có một niềm tin siêu nhiên nhưng ít ra người này c̣n có một niềm tin nào đó để đến ngôi thánh đường trong đêm Giáng sinh cầu nguyện với mọi người.

Gần đây một vị mục sư, tại một nhà thờ Anh Quốc đă phải công khai xin lỗi các trẻ em v́ ông ta đă quả quyết là không hề có ông già Noel. Ông nói với các em rằng: Người tặng quà cho các em trong đêm Giáng Sinh không phải là ông già Noel mà chính là cha mẹ các em. Các em đă khóc sướt mướt, khiến cho cha mẹ các em đă phải lên tiếng phản đối và cuối cùng vị mục sư này đă công khai đính chính.

Qua hai câu chuyện trên, chúng ta thấy, dù ông già Noel chỉ là truyền thuyết nhưng cần thiết cho tâm hồn trong trắng của trẻ em cũng như niềm tin cần thiết cho cuộc sống của chúng ta. Chúng ta cần có niềm tin để tiếp tục sống. Chúng ta cần có niềm tin để vượt qua những nghịch cảnh và thử thách trong cuộc sống.

Nhưng niềm tin là ǵ?
Có hai quan niệm cơ bản trái ngược nhau về thực chất của niềm tin.
Quan niệm thứ nhất cho rằng, niềm tin có trước ư thức, mở đầu cho ư thức và sau đó các ư thức hệ, tín ngưỡng, tôn giáo... được h́nh thành từ niềm tin. Quan niệm thứ hai th́ ngược lại, cho rằng niềm tin là sản phẩm của ư thức. Việc quan niệm nào đúng sai là một chủ đề rất bao quát và rộng lớn ngoài khuôn khổ của bài viết. Nhưng có một điều chắc chắn là bất kỳ quan điểm nào đúng th́ h́nh như ai cũng "đồng ư" là niềm tin có một giá trị độc lập của nó. Niềm tin giúp con người vượt qua những giới hạn của ư thức để h́nh thành những khả năng khó ngờ và siêu phàm của con người.

Niềm tin đến từ đâu hay cái ǵ tạo ra niềm tin? Cảm xúc là nguồn cảm hứng để khơi gợi, xây dựng niềm tin và những cảm xúc - đặc biệt cảm xúc tạo niềm tin - là một phần thiết yếu của đa số tôn giáo. Cảm xúc cũng là cái duy tŕ niềm tin, lư do này rất quan trọng v́ muốn được niềm tin th́ t́nh trạng cảm xúc tạo niềm tin đó phải được giữ vững. Niềm tin đến với chúng ta từ nhiều cơ duyên. Niềm tin có thể phát sinh từ sự trực nhận của ngũ giác quan như mắt thấy, tai nghe, lưỡi nếm, mũi ngửi, tay sờ. Có niềm tin đến với chúng ta do nhận thức và suy luận như khi thấy có khói th́ lư trí suy luận và tin là nơi đó phải có lửa, như khi nghe tường thuật tin tức về một án mạng chúng ta có thể suy luận đây là một tai nạn hay là sự cố ư sát nhân. Có niềm tin đến do bối cảnh của truyền thống văn hóa, nền tảng giáo dục và đạo đức nhưng v́ khác biệt văn hóa, người Tây phương tin rằng nụ hôn cho nhau lúc gặp mặt là biểu hiện của sự thương mến và quư trọng nhưng người Á đông th́ không tin như vậy; như v́ nền tảng giáo dục th́ sinh ra ở trong gia đ́nh theo tôn giáo nào th́ thường con cái sẽ theo đạo đó. Có niềm tin đến với chúng ta từ sự thực nghiệm, cảm nhận, kinh nghiệm của cuộc sống, như lúc c̣n trẻ tuổi khi nghe nói là lúc già cơ thể bị lăo hóa sẽ không c̣n linh hoạt nữa, hay khi nghe những người lớn tuổi than thở về sự suy giảm của sức khỏe, mệt mỏi, chúng ta không thật sự hiểu và tin cho đến khi bản thân chúng ta trải qua giai đoạn này th́ sẽ hiểu và tin; như những lời dạy của Phật, của Chúa, của các bậc thánh nhân hiền triết th́ phải qua sự thực nghiệm chúng ta mới thực sự hiểu và tin.

Niềm tin, nói chung có thể chia thành hai loại chính: Loại thứ nhất là loại ngăn trở trí tuệ. Loại này dựa vào kích động, thậm chí ép buộc. Cấm hẳn việc nghi ngờ chủ thuyết hay giáo điều. Chỉ được phép phục tùng. Niềm tin theo loại này không có chỗ cho trí tuệ phát triển. Phải có niềm tin, phải phục tùng, trung thành triệt để và bất chấp lư trí. Loại niềm tin thứ hai là con đường dẫn tới trí tuệ. Loại này kích thích tính ṭ ṃ, khích lệ khởi sự việc học tập. Trên thế giới này có quá nhiều điều cần phải biết. Không có niềm tin, chúng ta không biết phải bắt đầu từ điểm nào, đường hướng nào phải theo để học tập, nhưng khi một người có niềm tin, đề tài hay giáo lư sẽ cho điểm khởi thủy. Niềm tin thức tỉnh sự chú ư và khích lệ chúng ta tiến tới đề mục đă quan tâm. Tin tưởng vào con người, đặc biệt, sẽ dẫn đến việc tiếp xúc và học hỏi nơi người khác.

Như chúng ta đều đồng ư, là làm người ai mà không có niềm tin và ước vọng, tin nơi chính ḿnh, tin nơi người khác, ước vọng cuộc đời ḿnh sẽ như thế này hoặc như thế nọ. Một người mà đánh mất niềm tin và ước vọng th́ sẽ không c̣n thấy được ư nghĩa của cuộc đời nữa. Đánh mất niềm tin và ước vọng th́ người ta gọi là tuyệt vọng, không c̣n một chút hy vọng ǵ cả đối với cuộc đời này. Trong đời sống thường nhật, khi làm bất cứ điều ǵ chúng ta cũng có niềm tin và ước vọng là sẽ thành tựu và khi thất bại th́ chúng ta thường hay có thái độ tuyệt vọng, chán nản, mất niềm tin vào chính ḿnh. Trong số những niềm tin và ước vọng của con người, có một niềm tin và ước vọng rất lớn, rất mănh liệt, đó là niềm tin và ước vọng vào cuộc sống, vào sự hiện hữu giá trị của ḿnh trên thế gian. Chính niềm tin và ước vọng vào cuộc sống này đă và sẽ dẫn dắt chúng ta đi suốt cả đời người. V́ vậy nếu chúng ta thiết lập niềm tin và ước vọng không chính đáng th́ cuộc đời của chúng ta cũng sẽ theo định hướng sai lầm đó. Thế nhưng, xác định được niềm tin đúng theo nhận thức thường nghiệm của thế gian lại là một vấn đề không đơn giản. Một thí dụ cụ thể, là ở vào thập kỷ này hầu hết chúng ta đều tin vào sự chính xác của kiến thức khoa học hiện đại, nhưng khoa học hiện đại th́ không như là những ǵ chúng ta tin tưởng, cái đúng hôm nay có thể bị chứng minh là sai hay thiếu sót ngày mai, không có ǵ để đảm bảo kiến thức khoa học là chân lư tuyệt đối. Một số các lư thuyết khoa học một thời đă được cho là chân lư khoa học, đă làm nền tảng cho kiến thức khoa học, với thời gian đều tự nó không đủ bảo đảm sự giá trị xác đáng vĩnh viễn. Như hiện nay, thuyết tương đối (General Theory of Relativity) của Albert Einstein, các nhà khoa học đă xem như là không đủ để giải thích toàn vẹn và rơ ràng các hiện tượng vũ trụ và Stephen Hawking, một nhà vật lư học người Anh, đă phải phối hợp thuyết "cơ học lượng tử" (Mecanique quantique) để đề xuất ra một hướng mới cho vũ trụ học. Và với tiến bộ của khoa học, ngay lư thuyết cơ bản về nguyên tử (Atom) cũng đă được giải thích khác nhau. Hiện nay, với khái niệm về "hạt điện tử" (quark) th́ ranh giới của cơ cấu vật chất định h́nh gần như bị xóa mất và tiến dần vào cảnh giới vô h́nh, vô tướng.

Một nhận xét đáng được nêu ra, là với sự phát triển của khoa học, con người được trang bị những kiến thức khoa học hiện đại, h́nh như con người đă không c̣n dựa vào niềm tin tôn giáo như lúc xưa. Nhưng niềm tin tôn giáo cái mà chúng ta gọi là tín ngưỡng và tôn giáo nhân gian th́ vẫn c̣n rất gần và thật với con người. Niềm tin tôn giáo hay tín ngưỡng, vẫn tồn tại như đă có từ bao nhiêu thế hệ. Niềm tin khoa học th́ dường như thay đổi với thời gian. Trong lịch sử nhân loại, cũng đă có những người trở thành cuồng tín với một chủ thuyết nào đó, mà một thời thao tác trên thế giới này, rồi cuối cùng lại phát hiện ra rằng đó chỉ là một thứ lư thuyết không tưởng, huyễn hoặc gấp ngàn lần hơn niềm tin, tín ngưỡng và tôn giáo nhân gian. Thí dụ cụ thể là sự sụp đổ và phá sản về niềm tin vào chủ thuyết duy vật, đúng hơn là chủ thuyết cộng sản (Communism) trên thế giới trong hai thập kỷ vừa qua. Gần đây, những nhà khoa học cho biết, trong tương lai, họ có thể biết một người đang nghĩ ǵ, đơn giản chỉ cần dùng một cái máy, hay phân tích các chất tiết ra từ bộ năo. Những việc như vậy có cơ sở khoa học thực tế và có thể thành công, nhưng sự thật của các vấn đề ấy sẽ cho thấy, có giống như Sir Arthur Eddington khám phá "Cái bóng của thế giới các kư hiệu"? Không phải thực sự là chân lư mà chỉ là cái bóng của chân lư?

Và mới vài hôm gần đây, theo tin từ BBC và Livescience, một nhóm các nhà khoa học Thụy Sĩ đă phát hiện ra một loại hormone trong người, tên là oxytocxin, có công dụng làm cho con người tin cậy lẫn nhau. Như vậy th́ tương lai con người có thể t́m thêm được "niềm tin chứa đựng trong lọ thuốc" (?). Nhóm nghiên cứu nàyđă dùng chất oxytocxin để thí nghiệm về quan hệ giữa việc tin nhau và trao tiền cho nhau. Tiến sĩ Michael Korsfel là kinh tế gia, tại Viện Nghiên Cứu Mô H́nh Kinh Tế đặt tại Zurich, Thụy Sĩ và là trưởng nhóm nghiên cứu cho biết:”Chúng tôi phát hiện công dụng của hormone niềm tin trong một cuộc thí nghiệm, khi chúng tôi yêu cầu những người tham gia giao tiếp với những người khác bằng cách cho tiền. Tức là một người có thể trao tiền cho người khác. Hành động này đo lường mức độ họ tin cậy lẫn nhau v́ một người muốn trao tiền th́ phải có ḷng tin vào những người khác. Những người ngửi hít oxytocin biểu lộ trạng thái dễ dàng tin tưởng vào người khác, theo khía cạnh là họ sẵn sàng trao tiền cho họ”. Để xác định kết quả này có do ḷng tin tạo nên, các nhà nghiên cứu đă thực hiện một thí nghiệm thay thế người được ủy thác bằng máy tính. Những nhà đầu tư - cho dù đă được ngửi oxytocin - vẫn không dễ dàng mạo hiểm số tiền của ḿnh cho máy móc. Các nhà nghiên cứu cho rằng kết quả chứng tỏ oxytocin tăng cường niềm tin giữa con người, hơn là đẩy lùi nỗi lo sợ rủi ro của người ta. Antonio Damasio, một nhà nghiên cứu tại Đại học Iowa, nhận định: "Kết quả đă mở ra những khả năng cho việc t́m hiểu các điều kiện mà ở đó ḷng tin được tăng lên hoặc suy giảm, như trong trường hợp tự kỷ".
Oxytocin là loại hóa chất do năo bộ tạo ra một cách tự nhiên, được thôi thúc bởi một loạt các chất kích thích, trong đó bao gồm chuyện cho con bú và làm t́nh với nhau. Theo các khoa học gia th́ trong tương lai hormone này có thể giúp chữa các loại bệnh về bất ổn tinh thần.

Chân lư hay là cái bóng của chân lư, th́ trong thực tế nền văn minh khoa học hiện đại được xây dựng dựa trên những nguyên tắc nghiêm túc, khách quan, thực nghiệm và lư trí. Xa hơn nữa, chúng ta không có ai có thể phủ nhận được các thành quả hữu ích mà khoa học đă mang lại cho loài người, trong đủ mọi lĩnh vực của đời sống và rất là nhiều không thể kể xiết. Một thí dụ cụ thể trước mắt là bản thân tôi, nếu không ở vào thời đại điện toán, th́ có lẽ tôi không có dịp để nghe, đọc những cuộc diễn thuyết, phỏng vấn, các bài viết, tài liệu v.v... để học hỏi thêm từ mọi người, ở khắp mọi nơi trên thế giới, từ mọi nẻo đường đời, để mở mang kiến thức, có nguồn cảm xúc tạo cảm hứng để tôi xây dựng niềm tin, tin ở chính ḿnh hơn chút và tin ở người khác để học hỏi một cách hiệu quả và dễ dàng như thế này. Nói một cách khác, là cơ duyên để niềm tin đến với tôi tăng lên rất nhiều với sự giúp sức của những thành quả khoa học. Lư do đơn giản thôi v́ nếu không có mạng lưới internet th́ có lẽ rất nhiều bài viết liên quan đến niềm tin, tôi sẽ không bao giờ có dịp để xem và tôi sẽ không có dịp hiểu thêm chút về niềm tin để có đủ tự tin mà viết bài này.

Để kết luận bài viết, tôi xin gởi đến các bạn một câu chuyện về niềm tin: “Nhà bác học thời danh của Pháp là Louis Pasteur không những nổi tiếng v́ những khám phá trong lănh vực y khoa mà c̣n được nhắc nhở hơn v́ niềm tin sâu sắc của ông. V́ niềm tin ấy người ta thường kể giai thoại như sau:
Trên một chuyến xe lửa xuyên tỉnh, một sinh viên trẻ tuổi ngồi gần bên cụ già, chỉ vài phút đồng hồ sau khi đoàn tàu chuyển bánh cụ già liền rút trong túi ra một cỗ tràng hạt và từ từ ch́m đắm trong sự cầu nguyện, người sinh viên theo dơi cử chỉ của cụ già và xem chừng như không c̣n đủ kiên nhẫn nữa cho nên mới lên tiếng nói:
- Thưa ông, nếu tôi không lầm th́ ông c̣n tin ở chuyện nhảm nhí ấy?
Cụ già điềm tĩnh trả lời:
- Đúng thế, tôi vẫn c̣n tin, c̣n cậu, cậu không c̣n tin sao?
Người sinh viên cười một cách ngạo mạn và quả quyết:
- Lúc nhỏ tôi tin, nhưng bây giờ làm sao tôi tin những chuyện nhảm nhí ấy nữa, khoa học quả thực đă mở mắt cho tôi, ông cứ tin tôi đi, hăy quăng cái tràng chuỗi ấy đi và học hỏi những khám phá mới của khoa học, ông sẽ thấy rằng tất cả những ǵ ông tin từ trước đến giờ đều là mê tín dị đoan.
Cụ già điềm tĩnh hỏi người sinh viên:
- Cậu vừa nói về những khám phá mới của khoa học, cậu có cách nào giúp tôi hiểu được những điều đó không?
Người sinh viên hăng hái đề nghị:
- Ông cứ cho tôi địa chỉ, tôi sẽ gởi đến cho ông một quyển sách, ông sẽ tha hồ đi vào thế giới của khoa học.
Cụ già từ từ rút trong túi ra một tấm danh thiếp và trao cho người thanh niên, người thanh niên lặng lẽ dời chỗ sang toa khác khi đọc xong danh thiếp bởi v́ tấm danh thiếp ấy cậu đă được đọc như sau: Louis Pasteur, Viện nghiên cứu khoa học Paris”.

Chúc các Bạn thiết lập được niềm tin và ước vọng vào cuộc sống xác đáng cho bạn .

http://farm1.static.flickr.com/103/313926881_e167a208cc.jpg

(TTL/TCT/MAI/14/07/2005)

Mời xem thêm ở đây:

TẢN MẠN CUỐI TUẦN (http://motgocpho.com/forums/showthread.php?t=950)

chieunhatnang
11-26-2008, 02:33 PM
TẢN MẠN VỀ ĐÔI MẮT



http://img.photobucket.com/albums/v735/HDHP/avatarhdhp/conmattimb.jpg

Lư Lạc Long


"Đôi mắt là cửa sổ của tâm hồn" (Eyes are the window to the soul). Câu ví von bất hủ nầy bắt nguồn từ câu nói của nhà hiền triết Marcus Tullius Cicero (106-43 B.C.), cũng là một chính trị gia lỗi lạc, nhà hùng biện đại tài của La Mă: "Utimago est animi voltus sic indices oculi." (The face is a picture of the mind as the eyes are its interpreter) - Khuôn mặt là chân dung của tâm hồn mà đôi mắt làm công việc diễn giải - Tâm hồn con người như căn nhà kín cổng cao tường, ai mà biết được trong đó chứa đựng những ǵ ? Muốn nh́n thử tâm hồn của một người chất chứa những ǵ? Chỉ có nh́n qua "đôi mắt" mới có thể làm được điều đó. Tất cả t́nh cảm con người: Thương yêu, giận hờn, oán ghét, khổ đau… đều dồn cả vào mắt. Đôi mắt chừng như lúc nào cũng lặng thinh, không nói ǵ cả, nhưng thật ra đă nói rất nhiều, những lời trần t́nh "không lời".

Trong văn học, đôi mắt đẹp đă là nguồn cảm hứng cho rất nhiều văn thi sĩ. Từ Á sang Âu, kể không hết những áng văn chương ghi lại cảm xúc của văn thi nhân về những đôi mắt đă gây ấn tượng mạnh và khó quên trong cuộc đời của họ. Khi diễn tả vẻ đẹp một giai nhân, h́nh như là không thể thiếu hay bỏ sót "đôi mắt" được. Đôi mắt đă được các thi nhân diễn tả bằng những h́nh ảnh trừu tượng hoặc cụ thể, huyễn hoặc hay chân thật. Dù là h́nh ảnh diễn tả như thế nào th́ mỗi biểu tượng của đôi mắt cũng đều có sức hấp dẫn và âm hưởng riêng biệt. Mỗi h́nh ảnh tiêu biểu "cửa sổ của tâm hồn" đều mang những nét tinh tế, lúc nhẹ nhàng thanh tao, lúc tê tái năo ḷng, lúc lặng lẽ mơ màng… đă là nguồn cảm hứng vô tận cho thi nhân. Những đôi mắt được diễn tả trong thi ảnh rất tuyệt vời, rất thiết tha, rất da diết... tùy vào hoàn cảnh tâm sự và cảm nhận của mỗi thi nhân nh́n vào đôi mắt, thả hồn phiêu du vào cơi mộng, giao hưởng với sắc màu và âm thanh, dấn thân đi t́m ṭi, khám phá những bí ẩn đàng sau cặp mắt đă làm ḿnh rung động.

Trong ngũ quan của con người (lưỡi , mắt, miệng, mũi, tai ), có thể nói mắt hay thị giác là giác quan, quan trọng nhất. Nhờ vào cặp mắt, con người mới có thể nh́n thấy, thưởng thức và chiêm ngưỡng được vẻ đẹp vạn vật chung quanh. Hầu hết những sinh hoạt căn bản của một người ít hay nhiều cũng cần vào sự đóng góp của đôi mắt. Thiếu hay mất đi thị giác, mọi hoạt động căn bản của một người đều bị đ́nh trệ. Giác quan nào cũng quan trọng với con người cả nhưng thí dụ chỉ có thể chọn để có một th́ con người chúng ta sẽ chọn giác quan nào trong ngũ quan? M. Beinouk của Romania đă trả lời hộ chúng ta:

Chỉ Cần Đôi Mắt

Hăy cưa đôi chân của tôi đi
Để tôi khỏi lang thang
Hăy xẻo đôi môi của tôi đi
Để tôi không c̣n hôn em được nữa
Hăy chặt đôi tay của tôi đi
Để tôi không thể ôm em
Hăy đập vỡ trái tim của tôi
Để nó không làm tôi điên dại
Xin hăy để lại cho tôi đôi mắt
Để tôi khóc người t́nh
Đă mất hút của tôi ...
(M. Beinouk - Phạm Viết Đào dịch)

Tôi tạm trích một số thơ về "mắt" dưới đây. Và xin nhường lại cho bạn đọc sự cảm nhận, sự ḥa nhịp rung động của ḿnh với cảm xúc các tác giả qua lời thơ tiếng nhạc.

Kiều càng sắc sảo, mặn mà,
So bề tài, sắc, lại là phần hơn.
Làn thu thủy, nét xuân sơn,
Hoa ghen thua thắm, liễu hờn kém xanh
(Đoạn Trường Tân Thanh)
(Làn thu thủy, nét xuân sơn.... bắt nguồn từ câu chữ Hán: Nhỡn quang như thủy, my tự xuân sơn: Mắt trong như nước mùa thu, mày như núi mùa xuân.)

Vẻ phù dung một đóa khoe tươi,
Nụ hoa chưa mỉm miệng cười,
Gấm nàng Ban đă lạt mùi thu dung.
Áng đào kiểm đâm bông năo chúng,
Khóe thu ba rợn sóng khuynh thành
(Cung Oán Ngâm Khúc)
("thu ba" là sóng mùa thu, khóe thu ba chỉ mắt của con gái lấp lánh trong sáng như sóng mùa thu .. )

Đôi mắt em lặng buồn
Nh́n thôi mà chẳng nói
T́nh đôi ta vời vợi
Có nói cũng không cùng…
(Lưu Trọng Lư)

Vừng trăng lên mái tóc mây
Một hồn thu lạnh mơ say hương nồng
Mắt em là một gịng sông
Thuyền ta bơi lội trong gịng mắt em
(Lưu Trọng Lư)

Buổi chiều vàng như thóc
Gạt xuống từng khe xanh
Đôi mắt nàng long lanh
Chất nồng nàn nắng quái
Nắng chiều như hoa chanh
Lung linh từng sợi tóc
Mắt em, thuyền độc mộc
Chèo lướt trong hồn ta
.........
Ta trở thành cái cốc
Đọng nắng chiều long lanh
Đôi mắt thuyền độc mộc
Em thả xanh hồn ta (Phạm Thiên Thư)
Thời gian qua kẽ tay
Làm khô những chiếc lá
Kỷ niệm trong tôi
Rơi như tiếng sỏi
trong ḷng giếng cạn
Riêng những câu thơ c̣n xanh
Riêng những bài hát c̣n xanh
Và đôi mắt em
như hai giếng nước
(Văn Cao)

Cuối thu vàng núi quanh bờ
Nước non trong sạch ai ngờ thần tiên
Em cười, đôi ngọc mắt đen
Nửa in sắc nước nửa đen sắc trời
(Xuân Diệu)

Trời chưa mùa thu, tươi lắm thay,
Em nhỏ ngây thơ, đôi mắt biếc
Gói tṛn thương tiếc chiếc khăn tay
(Thâm Tâm)

Đôi mắt người Sơn Tây
U uẩn chiều lưu lạc
Buồn viễn xứ khôn khuây
(Quang Dũng)

Ôi ! cặp mắt của người trong tợ ngọc
Sáng như gươm và chấp chóa kim cương !
Mỗi cái ngó là một v́ sao mọc !
Mỗi liếc yêu là phảng phất mùi hương .
Hai mắt ấy chói hào quang sáng ngợp
Dẫn hồn ta vào thế giới thiêng liêng,
Hớp nhiều trăng cho niềm trinh rất ngớp
Say nhạc hường nổi bổng giữa đào nguyên
(Bích Khê)

Chuỗi ngọc chàng cho em, mất rồi !
C̣n đây một chuỗi Tiếc - thương dài
Và đây, vạn giọt ḷng ngưng đọng
Ư ngọc T́nh châu chớp mắt rơi ....
(Đông Hồ)

Anh nhớ sông có nguyệt lạ lùng
Có trời lau lách chỗ hư không
Em t́m âu yếm trong đôi mắt
Thấy cả vô cùng dưới đáy sông
(Nguyên Sa)

Bỏ trăng gió lại cho đời
Bỏ ngang ngửa sóng giữa lời hẹn hoa
Bỏ người yêu, bỏ bóng ma
Bỏ h́nh hài của tiên nga trên trời
Bây giờ riêng đối diện tôi
C̣n hai con mắt khóc người một con
(Bùi Giáng)

Đôi mắt người ngây thơ
Không hề vương vấn tội
Có chở t́nh ta theo
Tới cơi nào diệu vợi?
(Nguyễn Tất Nhiên)

Ôi mắt xa xôi, ôi mắt dị kỳ.
Ta thấy đó một trời ta mơ ước.
Ta thấy cả một vừng trăng thuở trước.
Cả con đường sao mọc lúc ta đi.
Cả hoàng hôn mây phủ lối ta về.
Khắp vũ trụ bỗng vô cùng thương nhớ…
(Đinh Hùng)

Những con mắt t́nh nhân
Nuôi ta biết nồng nàn
Những con mắt thù hận
Cho ta đời lạnh câm
Những mắt biếc cỏ non
Xanh cây trái địa đàng
Những con mắt bạc t́nh
Cháy tan ngày thần tiên
(Trịnh Công Sơn)

Trong văn học dân gian th́ đôi mắt cũng được nhắc nhở đến rất nhiều. Một số câu ca dao diễn tả đôi mắt như :

Trời sinh con mắt là gương
Người ghét ít ngó, người thương ngó hoài
(CD)

Những người con mắt lá răm,
Lông mày lá liễu đáng trăm quan tiền
(CD)

Chín thương cô ở một ḿnh
Muời thương con mắt có t́nh với ai…
(CD)

Ai buồn ai khóc thiết tha
Tui vui tui cũng chan hoà giọt châu
(CD)

Ai làm Nam Bắc phân kỳ
Cho hai gịng lệ đầm đ́a nhớ thương
(CD)

Khăn thương nhớ ai
Khăn chùi nước mắt
Đèn thương nhớ ai
Mà đèn không tắt
Mắt thương nhớ ai
Mắt ngủ không yên
Đêm qua anh những lo phiền
Lo v́ một nỗi không yên một bề …
(CD)

Trong lĩnh vực ca nhạc th́ đôi mắt cũng đă là nguồn cảm hứng cho rất nhiều nhạc sĩ sáng tác. Một số bài về mắt tiêu biểu như: Giọt Nước Mắt Ngà (Ngô Thụy Miên), Thu Trong Mắt em (Phạm Anh Dũng), Nước Mắt Rơi (Phạm Duy),Trong Đôi Mắt Em (Trần Quang Lộc), Đôi Mắt Người Sơn Tây (Phạm Đ́nh Chương), Mắt Đêm (Hoài An), Mắt Đẹp (Tuấn Khanh), Đôi Mắt Người Xưa (Trúc Phương), Mắt Lệ Cho Người (Từ Công Phụng), Mắt Lệ Cho Người T́nh (Phạm Mạnh Cương), Màu Mắt Nhung (Đức Huy), Mắt Biếc (Cung Tiến), Giọt Sương Trên Mí Mắt (Thanh Tùng), Đôi Mắt Nào Mở Ra , Những Con Mắt Trần Gian (Trịnh Công Sơn), Đôi Mắt Thuyền Độc Mộc (Vơ Tá Hân, Nguyễn Tuấn), T́nh Yêu Mắt Nai (Quốc Dũng), Mắt Em Vương Giọt Sầu (Đăng Khánh), Lệ Đá (Trần Trịnh- Hà Huyền Chi) ...

Trong lĩnh vực hội họa th́ nhà danh họa Leonardo da Vinci đă nổi tiếng với bức danh họa Mona Lisa, c̣n có tên là La Gioconda, mà điểm đặc trưng bức chân dung này là nụ cười và ánh mắt. Điểm khiến chúng ta chú ư và ngạc nhiên là mức độ thật của bức chân dung với nụ cười và đôi mắt có vẻ sống động, như một người thật đang chăm chú nh́n chúng ta. (She really seems to look at us and to have a mind of her own- Nicholas Pioch). Trong lĩnh vực tôn giáo, mắt cũng được dùng làm biểu tượng (như giáo phái Cao Đài). Và trong lĩnh vực khoa học huyền bí th́ chúng ta thường nghe truyền tụng về "thuật điểm nhăn hay khai nhăn" của thầy pháp là mở mắt cho một vật nào đó từ vô tri trở nên linh thiêng. Theo giới y học cổ truyền, một vị thầy giỏi chỉ cần nh́n vào đôi mắt, là biết một người khoẻ hay bệnh. Đôi mắt có thể cho biết người đó sắp bệnh, đă bệnh, bị bệnh đă lâu… và bệnh ǵ...v.v. Nh́n vào đôi mắt, họ có thể biết người đó vui hay buồn, hận thù, đau khổ hay hạnh phúc...

Tương truyền, bốn đệ nhất mỹ nhân của Trung Hoa ngày xưa là Điêu Thuyền, Chiêu Quân, Dương Quư Phi và Tây Thi đều có đôi mắt rất đẹp, quyến rũ mê hồn. Điêu Thuyền th́ đẹp lộng lẫy đến trăng nh́n "trăng phải thẹn". Sóng mắt Điêu Thuyền đă làm say mê đắm đuối hai cha con Đổng Trác và Lữ Bố khiến Lữ Bố v́ ghen đă giết chết nghĩa phụ của ḿnh. Đôi mắt nhung huyền của Tây Thi như tỏa ra ngàn sợi tơ t́nh, điểm tô nhan sắc tuyệt trần của nàng thêm lộng lẫy, cộng thêm tài đàn ca múa hát đă làm cho Ngô Phù Sai mê mệt. Ngô Phù Sai v́ say đắm nhan sắc Tây Thi mà bị mất nước và vong mạng. Đường Minh Hoàng cũng v́ say mê sắc nước hương trời, "làn thu thủy, khóe thu ba" của Dương Quư Phi mà đất nước loạn lạc và dân chúng khổ đau. Chiêu Quân nổi tiếng với danh hiệu "trầm ngư lạc nhạn" (cá lặn chim sa), cũng có đôi mắt rất đẹp, nhưng bị Mao Diên Thọ v́ tư thù cá nhân, đă thêm cái nốt ruồi vào dưới khóe mắt của bức chân dung và sàm tấu với vua Hán rằng Chiêu Quân tuy đẹp nhưng có cái nốt ruồi "thương phu trích lệ", mà sách tướng gọi là nốt ruồi sát phu. Vua Hán nghe lời nên chẳng nghĩ ǵ đến Chiêu Quân, đến khi nàng vào ra mắt vua trước khi đem đi cống Hồ, nhà vua mới thấy và vô cùng hối hận, luyến tiếc nhưng tất cả đều muộn màng. Trong buổi chia ly đau đớn, những giọt lệ long lanh trên khóe mắt của trang quốc sắc thiên hương, nghẹn ngào thương khóc kiếp "hồng nhan bạc mệnh"... Bốn tuyệt thế giai nhân với những đôi mắt "đẹp" đă một thời gây băo tố trong cung đ́nh các triều đại Trung Hoa cổ xưa. Nước mắt là một vũ khí rất là lợi hại của phái nữ và nam nhi th́ đă mấy ai cầm ḷng được với nước mắt của nữ nhi, nhất là khi người đó lại là người ḿnh yêu thương. Cái câu: "Chí lớn trong thiên hạ không chứa đầy đôi mắt của giai nhân" có lẽ vẫn luôn luôn đúng.

Nếu có những đôi mắt "đổ nước nghiêng thành" th́ cũng có những đôi mắt có thể phân định được chính tà. Nguyễn Tịch trong nhóm "Trúc Lâm thất hiền" đời nhà Tấn có đôi mắt rất "lạ thường ". Gặp người hiền lương, đạo đức, tài giỏi, ngay thẳng th́ mắt ông chuyển thành màu xanh. C̣n gặp kẻ giả dối, lừa đảo, tham ô, ác độc mắt ông sẽ chuyển thành màu trắng. Điển tích "mắt xanh" phát xuất từ câu chuyện này. Ai lọt vào mắt xanh, người đó coi như "đạt tiêu chuẩn" và "xài" được.

Về mặt khoa học, những thập niên gần đây, sự tiến triển của khoa học kỹ thuật giúp con người hiểu rơ hơn về đôi mắt. Làm sao cặp mắt con người có thể cảm nhận chính xác về kích thước, h́nh dáng, vị trí, chiều sâu và màu sắc của sự vật bên ngoài. Càng hiểu thêm, các nhà khoa học càng hết sức thán phục những đặc tính và cấu trúc kỳ diệu của thị giác con người, một kỳ công của tạo hóa. Hiện nay khoa học đang t́m cách sử dụng những hiểu biết về thị giác để chế tạo mắt nhân tạo thay thế cặp mắt tự nhiên. Nhưng những máy móc tinh vi nhất hiện nay vẫn chưa thể thay thế khả năng thâu nhận, tổng hợp và phân tích của cặp mắt tự nhiên. Về nhiều phương diện chẳng hạn như khả năng phân biệt màu sắc và cường độ ánh sáng, cử động nhanh chậm, h́nh thể kích thước, khoảng cách xa gần của vật thể, mắt nhân tạo vẫn thua xa mắt tự nhiên.

Đôi mắt quư báu giữ một nhiệm vụ hết sức thiết yếu: Giúp ta nh́n thấy sự vật xung quanh. Nhưng mắt cũng có thể là... nguồn thông tin cho những ai quan sát được chúng, chủ yếu là cung cấp các manh mối trực giác về cảm xúc và... ư định của một người. Gần đây, hai nhà khoa học của trường Đại học Columbia, GS Shree Nayar và TS Ko Nishino, vừa phát hiện thêm một đặc tính khác của đôi mắt mà đến nay chưa một ai biết đến là đôi mắt có khả năng phản ánh lại thế giới xung quanh chúng. Họ đă phát minh một hệ thống thu và phân tích các bức ảnh được thể hiện thoảng qua trên các màng chiếu là... giác mạc (của đôi mắt con người.)

"Hệ thống h́nh ảnh giác mạc", như cách gọi của họ, khi mới nghe qua chẳng có vẻ ǵ là sáng tạo: Về cơ bản, họ dùng máy chụp ảnh kỹ thuật số (digital) có độ phân giải cao để chụp cận cảnh khuôn mặt của người họ muốn “đọc ư nghĩ thông qua mắt”. Giai đoạn chính thật sự chỉ bắt đầu sau khi ảnh chụp được chuyển qua máy tính, nơi một nhu liệu (software) tinh vi được dùng để cô lập vùng tṛng đen của mắt – nơi một màng rất mỏng của nước mắt phủ trên giác mạc phản chiếu lại h́nh ảnh của thế giới xung quanh, tương tự cảnh vật phản chiếu xuống mặt hồ. Đến lúc này, ta có thể tha hồ quan sát được tất cả mọi thứ mà người đó nh́n thấy khi bức ảnh được chụp. Tóm lại "chụp và phân tích" các h́nh ảnh được thể hiện trên giác mạc mắt có thể giúp cho việc đọc được nhận thức của một người .

Bắt đầu việc nghiên cứu này từ tháng 3/2003, Nishino và Nayar đă nhanh chóng nhận ra rằng "bức tranh toàn cảnh h́nh cầu" được phản chiếu trên mắt là bao quát hơn cái thật sự rơi vào vơng mạc cho ta "nh́n thấy". Điều đó có nghĩa: Nếu ta mă số hóa (coding) và lưu giữ h́nh ảnh mắt của ḿnh trong một thời điểm nào đó, chúng ta có thể xem lại các h́nh ảnh mắt đó và quan sát được những ǵ mà ta đă bỏ sót trong khi đang tập trung cái nh́n của ḿnh về một hướng khác. Để xác định được cái mà bạn đang thật sự nh́n vào, các nhà nghiên cứu trường Đại học Columbia sử dụng đặc điểm cấu tạo của mắt và một số thảo tŕnh toán được xây dựng hết sức công phu, để có thể tính toán ra “hướng nh́n chằm chặp" của bạn và xác định được cái thật sự rơi vào trong vơng mạc. Khả năng này làm cho những cái liếc trộm và những câu nói dối kiểu "tôi mà thèm để ư vào" của quư ông với vị hôn thê của ḿnh khi đi ngang qua các cô nàng xinh đẹp không thể tái diễn được nữa (!). Sau khi làm dự án này, Nishino đùa rằng "Tôi phải tự xét lại ḿnh, chứ có nhiều thứ tôi không được phép nh́n vào đâu”.

Quy tŕnh chụp ảnh giác mạc, từ trái sang:

(1) Ổ mắt: Sau khi dùng máy ghi h́nh kỹ thuật số có độ phân giải cao chụp ảnh của mắt, một phần mềm đặc biệt sẽ được dùng để cô lập phần giác mạc.

(2) Phản ánh toàn diện: Ảnh trên giác mạc phản ánh cho thấy một h́nh ảnh bao quát của cảnh vật xung quanh.

(3) Phạm vi quan sát: "Bức tranh toàn cảnh h́nh cầu" cho thấy nhiều sự vật hơn thực tế nh́n thấy.

(4) Tại tiêu điểm: Dựa vào kết quả trên, có thể tính toán cái mà đối tượng đang nh́n vào.
Tiềm năng là kỹ thuật có thể được sử dụng trong lĩnh vực an ninh. Nayar đă tỏ ư là không muốn phát minh này được dùng bởi các chính quyền độc đoán, chẳng hạn họ có thể sử dụng các kỹ thuật của ông lần ra các dấu vết, khi nh́n vào các tấm ảnh chụp mắt, những điều mà một người muốn che giấu. Tuy nhiên, người ta cũng có thể nghĩ tới việc áp dụng kỹ thuật này cho máy quan sát tại các trạm kiểm soát an ninh để theo dơi xem có ai đó đang nh́n quá chăm chú vào các khu vực trọng yếu hay không. Ít rắc rối và ít gây tranh luận hơn sẽ là trường hợp các nhà tâm lư học có thể dùng kỹ thuật này để biết được chắc chắn là đối tượng (thân chủ) đang nh́n vào cái ǵ trong một thời điểm xác định, nhằm nghiên cứu phản ứng của người này. Bên cạnh đó, các nhà thiết kế giao diện cho máy tính có thể sử dụng phát hiện này để tạo ra một loại phần mềm, có khả năng cung cấp cho người sử dụng thông tin dựa trên cái mà họ đang nh́n vào trên màn ảnh (screen).

Cuối mùa hè này, Nishino và Nayar sẽ chuyển công tŕnh của họ cho Siggraph, thuộc Công ty Woodstock, để thử nghiệm xem hệ thống này có thể trợ giúp đắc lực ra sao cho việc thực hiện phim "kỹ thuật số". Trên lư thuyết, theo họ, khi phân tích các h́nh ảnh được phản chiếu trên giác mạc mắt, chúng ta có thể thêm rất dễ dàng một đối tượng vào một cảnh quay nào đó, hoặc thậm chí có thể thay thế một diễn viên bằng một nhân vật được dựng lên bằng máy tính trong khi vẫn tái tạo lại được chính xác trạng thái ánh sáng gốc. GS Nayar dự tính lật lại các ảnh phản chiếu của mắt từ các bức ảnh cũ và xem lại quang cảnh xung quanh được thể hiện qua cái nh́n của đối tượng được chụp ảnh ra sao. “Bạn có bao giờ tưởng tượng là ngày nay chúng ta có thể khám phá được cái mà mục sư Martin Luther King đang nh́n thấy khi bức ảnh của ông được chụp không?” - GS Nayar hỏi.

Với văn thi sĩ, mắt là cửa sổ của tâm hồn và hiện nay th́ khoa học đă chứng minh mắt không những là "cửa sổ của tâm hồn" mà c̣n là "cửa sổ cả một thế giới "của một người. Mặc dầu c̣n nhiều bí ẩn, nhưng những khám phá và hiểu biết về hiệu năng của mắt trong nhiều thập niên qua, cho thấy cặp mắt con người không thể nào là một sản phẩm t́nh cờ của tự nhiên.

Đôi mắt, một kiệt tác phẩm của tạo hoá ban cho loài người, một "Cánh cửa vô cùng, xin chớ bao giờ khép lại.... "




Mời xem tiếp TẢN MẠN CUỐI TUẦN (http://motgocpho.com/forums/showthread.php?t=950)

Góc Biên Khảo: T́m Hiểu Quốc Kỳ và Quốc Ca (http://motgocpho.com/forums/showthread.php?t=2772)

QUÁN VĂN (http://motgocpho.com/forums/forumdisplay.php?f=93)


(TTL/TCT/MAI/05)

chieunhatnang
11-30-2008, 04:48 AM
BIẾT ƠN TỪNG KHOẢNH KHẮC


Ngô Tịnh Yên

Cám ơn các bạn, những người chế nhạo tôi.
Không có các bạn tôi sẽ không biết giá trị của nước mắt.

Mỗi mùa lễ Tạ Ơn đến trên đất nước Hoa Kỳ, người tị nạn Việt Nam ḿnh không biết nên khóc hay nên cười, nên tạ ơn hay không tạ ơn những kẻ đem ta đến chốn này… để các ông các bà ăn trên ngồi trốc trong nước vừa chế nhạo chúng ta là kẻ "thiếu quê hương" vừa ngửa tay xin tiền "từ thiện". Có nên tạ ơn những kẻ bố thí cho chúng ta hai chữ tự do rồi khuyên chúng ta nên bắt tay với một chủ nghĩa đă "đem con bỏ chợ" hầu kiếm tiền về nuôi dưỡng bọn chúng. Tôi h́nh dung ra những đứa trẻ mồ côi bị đánh đập mỗi ngày nếu không đem đủ tiền về cho bọn buôn người.

Nói thẳng, tôi không thích nước Mỹ nhưng tôi thương những người dân Mỹ hiền ḥa và hiếu học… tôi thích những người Mỹ như Suzy Allegra, người đă viết cuốn "How to be Ageless" nói về ḷng biết ơn, trong đó có chương "Biết ơn từng khoảnh khắc ngắn ngủi":

Càng lớn tuổi, người ta thường cảm thấy cay đắng hay nuối tiếc v́ đă không đạt được một mục tiêu hoặc chưa làm được môt điều ǵ đó. Họ nghĩ rằng lẽ ra họ phải được thăng chức này, phải đi thăm thú thêm nhiều chỗ nọ, và phải có thêm món tiền kia. Dường như người ta không cảm thấy đủ với những ǵ ḿnh đă và đang có, mà luôn muốn nhiều hơn. V́ cứ mắc kẹt vào cái ṿng lẩn quẩn đó mà đa số chúng ta không nh́n thấy được những ǵ ta hiện có trong tay. Chúng ta cứ hay tưởng rằng những của cải vật chất mà ḿnh đạt được trong đời sẽ làm chúng ta rất là vui sướng và đó là những thứ mà chúng ta phải ghi ơn suốt đời.

Trong khi đó, điều mà chúng ta cần trân trọng và biết ơn thực sự th́ chúng ta lại quên mất. Đó là những ǵ mà chúng ta đang có trong tay: sức khỏe, trí tuệ, công việc, t́nh thân… Khi biết ơn những ǵ bạn đang có, một cảm giác hài ḷng sẽ xâm chiếm tâm hồn bạn. Bạn hài ḷng là v́ bạn biết trong tay ḿnh đang có những kho báu qúy giá. Đó là sự khôn ngoan cùng với những kinh nghiệm mà bạn tích lũy trong cuộc sống, là tài sản cá nhân mà bạn tích cóp bằng chính sức làm việc của ḿnh, và những mối quan hệ t́nh thân mà không bạc tiền nào có thể đánh đổi được. Tất cả thật đáng để bạn biết ơn. V́ vậy, bạn hăy cố gắng đừng mong muốn nhiều hơn, đừng tiếc nuối cho những ǵ không phải là của bạn, mà hăy suy gẫm về những điều kỳ diệu đang hiện diện trong cuộc sống của bạn vào những phút giây này.

Chính những khoảnh khắc nhỏ nhất trong đời chúng ta mới là đáng quư, v́ chúng sẽ góp nhặt lại thành những kết quả to lớn hơn đối với chúng ta. Nếu hôm nay là một ngày nắng đẹp, th́ ta hăy biết ơn, v́ ta có thể thong thả đi dạo dưới những tàng me xanh biếc. Nếu con cháu của ta tặng cho ta một nụ cười hay một ṿng tay ôm, th́ ta hăy biết ơn, bởi biết đâu mai sau chúng sẽ cách xa ta cả nửa ṿng trái đất. Nếu ta may mắn đọc được một quyển sách hay, th́ ta cũng hăy biết ơn v́ ta c̣n có thể đọc được những điều hay ho bằng chính đôi mắt của ḿnh. Và nếu ta đang tṛ chuyện qua điện thoại với một người bạn lâu ngày không gặp th́ ta cũng hăy biết ơn v́ sự kết nối đó, bởi thời cha ông của ta làm ǵ có điện thoại để nối kết giữa hai nơi cách xa nhau như vậy.

Trong cuộc sống hằng ngày, có biết bao con người, cảnh vật, sự việc… mà bạn cần biết ơn. Đó chỉ là những khoảnh khắc đơn giản của cuộc sống, nhưng khi bạn biết ơn chúng, bạn sẽ thấy ḿnh vui vẻ hơn và hài ḷng hơn, bạn sẽ không phí thời gian để tự hỏi ngày mai sẽ đem ǵ đến cho bạn, bởi dù bất cứ điều ǵ xảy ra, bạn vẫn mang ơn cuộc sống này. Ai trong chúng ta cũng đều có nhiều thứ để biết ơn, bởi tặng vật của cuộc sống th́ nhiều vô kể - nhưng chỉ cho những ai biết nhận ra chúng và biết ơn v́ đang có chúng.

Bạn hăy thử cộng những khoảnh khắc ngắn ngủi trong đời bạn lại, và hăy để ư xem có phải là bạn đă có biết bao là thứ rồi không. Vậy mà đôi khi bạn c̣n muốn có thêm hoặc muốn có những thứ khác hơn, lạ hơn. Chuyện đó thật ra cũng chẳng có ǵ sai. Sở dĩ con người ta muốn có thêm hoặc muốn những thứ khác hơn bởi v́ họ tin rằng những ǵ họ đang có chưa phải là tốt nhất. Thế th́ bạn hăy cứ ghi nhận rằng những ǵ bạn hiện có đă là rất tốt và bạn hăy biết ơn tất cả những điều đó, rồi kế tiếp, bạn cứ việc thay đổi những ǵ bạn cảm thấy là cần thiết để biến mong muốn của bạn thành sự thật.

Hồi tôi chưa ly dị, tôi đă từng rất dễ dăi và để mặc cuộc sống xảy ra như thế nào cũng được. Nhưng sau bước ngoặt của cuộc đời ḿnh là ly dị chồng, tôi mới khám phá ra sức mạnh của trí tuệ và sự quan trọng của mục tiêu là như thế nào. Thế là tôi quyết định thay đổi 180 độ ngay lập tức. Tôi tập trung vào mục đích làm cho chính ḿnh và cuộc sống của ḿnh tốt đẹp hơn. Tôi theo đuổi ước mơ với một quyết tâm hầu như không ǵ lay chuyển được. Tôi bận rộn tới mức đánh mất luôn cả khả năng biết ơn những ǵ tôi đang có. Tôi cũng quên luôn cả việc ḿnh phải biết ơn những chi tiết nhỏ bé nhưng rất tuyệt vời trong cuộc sống của tôi. Tôi đă kỳ vọng rằng ḿnh có thể tạo nên những điều kỳ diệu, nhưng khi cuộc sống không được như mong muốn, tôi đă rơi tỏm vào một biển thất vọng cùng giận dữ.

Cuối cùng, giữa những chán nản cùng cực nhất, tôi ngồi trầm ngâm nh́n cảnh mặt trời lặn trên băi biển, mới chợt ngộ ra những xúc cảm mà tôi đă đánh mất từ lâu, và nhận ra rằng tôi đă bỏ qua những điều đáng quư ở cuộc sống quanh ḿnh, từ những cảnh hoàng hôn đẹp đẽ đến những ṿng tay ấm áp t́nh đồng loại. Giữa thiên nhiên bao la, con người mới nhỏ bé và mong manh làm sao. Vậy mà tôi đă bỏ lỡ những mảnh nhỏ tuyệt vời của cuộc sống để chạy theo những ảo vọng của một kiếp người. Giờ đây tôi cảm thấy biết ơn những điều tưởng chừng vụn ặt nhất - ngay cả việc t́m được một chỗ đậu xe lư tưởng ở băi đậu xe công cộng vào một ngày mua sắm đông nghẹt người cũng khiến ḷng tôi tràn ngập biết ơn!

Chúng ta đă thấy một người sống trong tâm trạng biết ơn sẽ hạnh phúc, thư thái và dễ thành công hơn rất nhiều so với những người hay oán trách. Ḷng biết ơn thường xuất phát từ những tấm ḷng nhân hậu, những trái tim lạc quan và mở rộng.

Hăy mở rộng ḷng biết ơn. Có biết bao điều để bạn đặt vào đó ḷng biết ơn của ḿnh. Việc tồn tại trên đời này chẳng là một ân sủng hay sao? Hăy cảm ơn cha mẹ đă sinh ra ta… v́ được sống trong một hành tinh xanh, giữa cộng đồng loài người, là tạo vật thông minh, nhạy cảm nhất và không ngừng t́m cách để cuộc đời ngày càng tốt đẹp hơn. Cảm ơn thầy cô nghiêm khắc để ta lo học hơn. Cảm ơn cả sự chê bai của bạn để ta nh́n lại ḿnh. Cảm ơn những thử thách, khó khăn đă hun đúc cho ta ư chí.
Cám ơn các bạn, những người không hề yêu mến tôi
Không có các bạn tôi hẳn sẽ không quư trọng tấm chân t́nh.
Và cám ơn các bạn, những người bỏ rơi tôi
V́ nếu không, tôi sẽ chẳng thể tự nghiền ngẫm, khám phá hết bản thân ḿnh.
Nhưng các bạn, những người nghĩ rằng tôi chỉ là "đồ rác"
Tôi muốn được cám ơn nhiều nhất.
Bởi những suy nghĩ ấy sẽ khiến tôi phải cố gắng hơn.

Và cám ơn Suzy cũng như cám ơn những người Mỹ tốt bụng đă giúp đỡ chúng ta trong những khoảnh khắc nào đó trên xứ sở này. Thôi th́ biết ơn mà đừng nghĩ tại sao phải biết ơn, ḷng ḿnh sẽ tử tế hơn chăng….

Happy Thanksgiving!


http://img.villagephotos.com/p/2004-9/840501/happy-thanksgiving.gif

chieunhatnang
11-30-2008, 05:13 AM
TIỆC SINH NHẬT


Lm . Ngô Phúc Hậu

EM.

Tôi đến thăm Em, chẳng thấy Em đâu. Mẹ Em ngồi khóc rưng rức. Cha Em ngồi hút thuốc, mặt lầm ĺ, nhả khói bâng quơ. Thấy tôi tới, cha Em vứt mẫu thuốc xuống mương; mẹ Em hỉ mũi, lấy tay vắt, bôi vào chân cột, rồi ào tới đón.

-Có ǵ mà vợ chồng buồn hiu vậy?
-Con Thúy nó trốn đi hồi hôm.
-Nó đi đâu?
-Con không biết. Hu ... Hu .....
-Con biết. Lát nữa con sẽ đi kiếm. Ba em trả lời b́nh tĩnh như thế.

Tôi ngồi tâm sự với cha mẹ Em. Uống hết một b́nh trà. Đốt hết nửa gói thuốc. Hiểu hết ngọn nguồn.

1-

Đă từ lâu rồi Em cứ than thở là cha mẹ không thương. Tiếng than thở bắt đầu thống thiết từ một câu chuyện nhỏ mọn. Bạn Em mừng sinh nhật. Em nhận được thiệp mời. Bạn Em là con nhà giàu tổ chức sinh nhật mà mướn ban nhạc xịn đến giúp vui. Trong thiệp có thông báo chương tŕnh "Chúng ḿnh hát với nhau". Em nghèo, nhưng được mời tha thiết, v́ có giọng ca top-ten của trường.

Em đến ngồi bên mẹ. Ôm vai mẹ. Vuốt tóc mẹ. Xum xeo với mẹ.

-Mẹ cho cho con xin một trăm ngàn
-Chi mà dữ vậy?
-Con mua quà sinh nhật tặïng bạn.
-Sinh nhật tụi bây là con nít th́ hai chục ngàn là được rồi.
-Hai chục ngàn th́ con mất mặt với tụi nó sao?
-Cha mầy chạy xe ôm, dầm mưa dăi nắng, mổi ngày chỉ kiếm được có năm chục ngàn. Muốn đẹp mặt với bạn, mà không thương xót mồ hôi nước mắt của cha mẹ.
-Mẹ ...
-Không mẹ ... ǵ hết. Chỉ có hai chục ngàn. Không lấy th́ thôi.
-Sao mẹ khó quá vậy ... giống như Taliban ấy.
-Không khó với bay, th́ bay hư!

Em cầm tờ giấy 20.000 vứt vào ḷng mẹ. Rồi chui vào buồng ôm gối đầu mà khóc. Bỏ ăn. Bỏ học ...

2-

Từ hôm ấy mặt Em lúc nào cũng giống như mặt đưa đám. Bầu không khí gia đ́nh căng thẳng. Cha Em th́ nghiêm nghị. Mẹ Em th́ ch́ chiết. C̣n Em th́ cúp cua liên miên. Không đi lễ. Không đi tập hát. Cứ thậm thọt, thù th́ với cô Hà, chủ quán cà phê T́nh Yêu ở ngoại ô thị trấn.

-Ngoại h́nh của Em ăn khách đấy. Chị tô điểm thêm cho em một tí nữa thôi là "năm bờ oăn" liền.
-Quần áo của em toàn là đồ cũ không à.
-Chuyện nhỏ. Khỏi lo.
-Mỗi tháng chị cho em bao nhiêu?
-Ăn ở: Miễn phí. Lương căn bản: Năm trăm ngàn đồng. Tiền thưởng của chị là tiền boa của khách th́ tùy sự ứng xử khéo léo của em. Có đứa kiếm một đêm được cả trăm ngàn.

Em ngước mắt nh́n trời. Đầy tự tin. Em giũ bỏ quá khứ, nh́n về phía trước, quyết tâm làm nên sự nghiệp. Không thèm lệ thuộc. Không thèm năn nỉ. Không thèm ỉ ôi. Năn nỉ là hèn. Ỉ ôi là con nít. Em vỗ ngực bụp một cái, cuốn gói ra đi quyết tâm không bao giờ trở lại.

3-

Cha Em chạy xe ôm, nên thuộc ḷng mọi ngơ ngách của thị trấn. Cô Hà là ai, quán cà phê T́nh Yêu sinh hoạt ra sao, khách quen của quán gồm những khuôn mặt nào, th́ cha Em biết rành rẽ c̣n hơn là Em biết các mốt thời trang. Cha Em sẽ đến đó để đón Em về. Em sẽ cự nự. Em sẽ gào lên để chống đối. Nhưng ...về đi Em. Về đi, v́ tôi có nhiều điều phải nói với Em.

Em hăy nh́n lại chân dung của cha Em. Đen đúa quá chừng! Chỉ v́ thương vợ thương con mà suốt ngày phơi nắng ở ngoài đường. Em c̣n nhớ đêm hôm ấy không? Cha Em đưa khách đường xa, mười giờ khuya mới về tới nhà. Mẹ Em sợ hết hồn.

-Anh đi đâu mà về trể dữ vậy?
-Hồi sáu giờ, tính về rồi. Về sớm cho khỏe cái thân. Ai dè lại có khách đi Cái Đôi Vàm vừa xa, vừa vắng, ớn thấy mẹ. Tính từ chối, th́ sực nhớ con Thúy chưa có áo dài mặc lễ Giáng Sinh. Thế là ôkê liền. Cực một tí cho con nó mừng.
-Em sợ quá à! Từ nay anh đừng đưa khách đường trường như vậy nữa. Lỡ... cái th́ sao.
-Kể ra th́ cũng liều thật. Nhưng thương con th́ hết biết sợ.

Cha Em như vậy đó. Lầm lầm ĺ ĺ. Không biết nịnh vợ, chẳng biết nựng con. Nhưng thương vợ thương con th́ dám lều như thế đó.

Bây giờ Em hăy nh́n ngắm mẹ. Mẹ Em xuưt xoát bốn mươi. Tuổi hơn hớn. Tuổi hồi xuân. Ở tuổi mẹ Em, người ta đua nhau chưng diện để níu kéo nhan sắc đang hối hả tàn phai. Mẹ Em th́ chỉ biết trau dồi cho con, quên bẵng bản thân. Mẹ Em lại c̣n rất vụng về trong phương pháp giáo dục. Tŕnh độ văn hóa của mẹ Em chỉ là 5/12. Suốt đời chỉ lẩn quẩn bên vườn dừa. Cứ nh́n mẹ Em vắt mũi chùi tay vào chân cột th́ đủ biết. Nhưng ḷng mẹ th́ vẫn bao la như biển Thái B́nh dạt dào. Không biết dạy con, nhưng thương con th́ chẳng thua ai. C̣n Em th́ đang ở tuổi ô mai. Thôi làm con nít, nhưng chưa thành người lớn. Không c̣n ngu, nhưng chưa hết dại. Thích làm chủ đời sống của ḿnh, nhưng thường bị người ta lợi dụng.

Em rất khổ tâm khi phải ch́a tay xin tiền... Em rất bực bội, v́ mỗi lần cho tiền, th́ mẹ lại cằn nhằn, nhăn nhó. V́ thế Em quyết định ra đi, để thấy ḿnh được tự do, không lệ thuộc. Nhưng Em lại đang lệ thuộc vào đồng tiền đến độ sắp phải trả giá bằng chính cuộc đời của ḿnh. Mỗi lần khách boa cho Em một cách hậu hĩnh, th́ họ bắt đầu đ̣i Em phải trả giá. Giá ǵ? Cứ nh́n cặp mắt của họ. Cặp mắt của họ đang hau háu nh́n vào chỗ nào trên cơ thể của Em, th́ đó là chính cái giá mà Em phải trả.

Như vậy là hết ư rồi phải không Em?


http://www.truthforce.info/images/terrafertil.jpg

chieunhatnang
12-04-2008, 12:51 PM
T̀NH YÊU VÀ HẠNH PHÚC



Lư Lạc Long



T́nh yêu là ǵ?

Theo tự điển th́ t́nh yêu được định nghĩa là t́nh cảm, sự yêu thương, luyến ái... của người và người như t́nh cảm của đôi lứa, của bạn bè, của gia đ́nh... hay nói một cách tổng quát là t́nh cảm của người dành cho "vạn vật" chung quanh cuộc sống. Trong cuộc sống, th́ ai chắc cũng đă nghe qua những câu quen thuộc như: "Tôi yêu em (anh)"; "Tôi thương bạn "; "Tôi yêu thương cha mẹ "; "Tôi yêu tổ quốc quê hương"... v.v. Hôm nay xin "bàn phiếm" với các bạn chút về t́nh yêu lứa đôi và theo nhà thơ Xuân Diệu th́: "Làm sao định nghĩa được t́nh yêu".

T́nh yêu đôi lứa là một chủ đề mà văn thi sĩ đă tốn không biết bao nhiêu bút mực đề cập đến tự ngàn xưa và vẫn sẽ c̣n tiếp tục cho đến ngàn sau. T́nh yêu đôi lứa sẽ luôn luôn là một chủ đề hấp dẫn và thích thú với hầu hết mọi người, ở mọi lứa tuổi .

T́nh yêu có tuổi không?

Người ta thường nói tuổi trẻ là tuổi của hy vọng và tuổi của yêu đương. C̣n trẻ, có nhiều thời gian và đầy đủ tâm lực nên có nhiều hy vọng để thực hiện được những hoài băo ôm ấp trong ḷng như mơ ước. C̣n trẻ, có nhiều hy vọng để t́m được người bạn đời lư tưởng, để yêu và được yêu. Thi sĩ Bryon ví t́nh yêu của tuổi trẻ như một vườn hoa có nhiều bông hoa đang bừng nở, khoe sắc thắm trong mùa xuân và theo Thomas Moore th́ chẳng có ǵ ngọt ngào bằng nửa sự ngọt ngào của giấc mơ t́nh yêu trong thời trẻ tuổi.

Đúng như vậy, tuổi trẻ là tuổi của yêu đương, của hồn nhiên và mộng mơ nên t́nh yêu trong thời trẻ tuổi là t́nh yêu lư tưởng, thánh thiện và trong sạch, chưa bị phấn bụi đường đời làm vẩn đục. Yêu chỉ v́ yêu, trong chúng ta, nếu ai đă đi qua đoạn đường tuổi trẻ và nh́n lại th́ quả thật "chẳng có ǵ ngọt ngào bằng nửa sự ngọt ngào của những giấc mơ t́nh yêu trong thời trẻ tuổi". Dù có trải qua bao nhiêu thăng trầm, bể dâu đổi dời của cuộc sống, chúng ta cũng vẫn hoài nhớ những "giấc mơ t́nh yêu" của thời tuổi trẻ. Đặc biệt là "mối t́nh đầu tiên", dù có trọn vẹn hay dở dang, cũng sẽ vĩnh viễn tồn tại trong ngăn tủ kư ức. V́ vậy, các bạn c̣n trẻ hăy "yêu", yêu ḿnh, yêu người, yêu đời như các bạn có thể yêu, thưởng thức sự ngọt ngào của t́nh yêu tuổi trẻ, và sẽ không phải hối hận, tiếc nuối và thắc mắc về sau: Phải tự hỏi ḿnh những câu hỏi: Phải chi?... Nếu lúc đó ?... v.v.

Những điều ở trên chỉ nhấn mạnh tuổi trẻ là giai đoạn lư tưởng nhất cho t́nh yêu, nhưng t́nh yêu th́ như N. Karamzine đă nói: " T́nh yêu không có tuổi tác, lúc nào trái tim c̣n đập người ta c̣n yêu". Câu nói này của N. Karamzine được phản ảnh và chứng minh rất rơ ràng trong văn thơ của thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng. Nhà thơ Huy Cận cũng có nhận xét giống như N.K về t́nh yêu và tuổi tác và đi xa hơn một chút thêm vào nhận xét về thơ t́nh và tuổi tác: " T́nh yêu không có tuổi và thơ t́nh hay càng không tính tuổi được bao giờ". Thực tế th́ đúng như N. karamzine và Huy Cận đă nhận xét . T́nh yêu không có tuổi tác và có lẽ giới hạn duy nhất là đời sống trần thế của một người và một trong những kết quả của t́nh yêu là thi ca. Cho thi ca th́ có thể nói không có tuổi và bất tử và nói về t́nh yêu mà bỏ qua thi ca th́ là một thiếu sót.

T́nh yêu và thi ca

Có thể nói t́nh yêu là một động lực chính, duy nhất trong thi ca và thi ca là kết quả của t́nh yêu (lứa đôi, bạn bè, quê hương ... cho "vạn vật" nói chung). Những áng văn, những bài hát, những bài thơ t́nh hay là những hoa t́nh và trái yêu bất tử, vượt thời gian và không có tuổi tác. T́nh yêu đă là động lực giúp cho các văn thi nhân sáng tác được những tuyệt tác và ngược lại th́ như nhà thơ Từ Huy đă nhận xét: " Thơ ca t́nh yêu đă làm con người dịu lại giữa cuộc đời, bởi chỉ có t́nh yêu, con ngướ mới quay về với nhân bản, quay về với bản sắc hồn nhiên khi tạo hóa tạo ra con người". Nhà văn Ư Leopardy th́ cho rằng "thơ trữ t́nh có thể coi như tổng hợp, như tuyệt đỉnh của thơ và thơ là tuyệt đỉnh của tiếng nói loài người." Đành rằng chỉ một số rất ít trong chúng ta có khả năng viết văn, làm thơ, phổ nhạc, có khả năng dùng chữ để diễn đạt, chuyên chở tâm ư, cảm xúc của chính ḿnh nhưng qua những "nghệ nhân" này chúng ta sẽ t́m được chính ḿnh. Họ đă nói hộ ta những cảm xúc, những suy nghĩ, nhưng buồn vui, khát khao, mơ ước... của chính bản thân ta. Tạm trích một số câu thơ về t́nh yêu của một số thi sĩ và tin rằng bạn sẽ t́m thấy chính ḿnh qua một hay nhiều tác giả dưới đây:

Vầng trăng ai xẻ làm đôi
Nửa in gối chiếc, nửa soi dăm trường (Nguyễn Du)

Trái tim là một con tàu suốt
Chẳng có sân ga trạm cuối cùng (Kiên Giang Hà Huy Hà)

Gió mưa là bệnh của trời
Tương tư là bệnh của tôi yêu nàng (Nguyễn Bính)

Hiu hắt ḷng ta như thiếu nắng
Như những ngày những tháng không em (Chế Lan Viên)

Cái thuở ban đầu lưu luyến ấy
Ngh́n năm hồ dễ có ai quên (Thế Lữ)

Anh sẽ trầm luân ngàn kiếp nhớ
Cho dẫu ngày mai em lăng quên (Vũ Hoàng Chương)

T́nh chỉ đẹp khi c̣n dang dở
Đời mất vui khi đă vẹn câu thề (Hồ Dzếnh)

Em là sóng nhưng xin đừng như sóng
Đă xô vào, xin chớ ngược ra khơi (Đỗ Trung Quân)

Đưa em về tôi chọn đường xa nhất
Đón em sang tôi lựa ngơ thật gần (Trần Lữ Vũ)

Người tôi yêu đă đi xa
Người yêu tôi lại ở nhà. Buồn không? (Phan thị Thanh Nhàn)

T́nh Yêu là đau khổ hay hạnh phúc?

Người ta thường nói "yêu là đau khổ" và có đúng như vậy không? Nếu xuyên qua thi ca th́ h́nh như là vậy v́ hầu hết những t́nh thơ tuyệt tác đều được sáng tác trong lúc tác giả đang ở đỉnh tuyệt cùng của đau khổ v́ nhớ nhung, trái ngang, dang dở ... trong t́nh yêu. Có lẽ đau khổ là cảm xúc cần thiết cho thơ t́nh tương tự như gạch ngói là vật liệu cần thiết để xây một ngôi nhà đẹp. Và có phải khi được toại nguyện, có hạnh phúc th́ thi nhân không sáng tác được thơ t́nh hay, xuất xắc, gây nhiều xúc động cho độc giả? Nếu nh́n qua thi ca dường như cũng đúng như vậy. Nhưng trong thực tế th́ t́nh yêu có thể đem tới hạnh phúc tuyệt vời và cũng có thể đem tới đau khổ tột cùng. T́nh yêu là một tặng phẩm cần thiết mà tạo hóa đă ban cho nhân loại, v́ không có t́nh yêu th́ nhân loại sẽ không c̣n tồn tại nữa trên trái đất. Dù t́nh yêu dẫn đến đau khổ như nhà thơ Lamartine của Pháp đă nhận xét:

T́nh trường là cánh đồng hoa
Đố ai qua đó không sa lệ sầu (Nguyễn Tiến Lăng dịch)

Hay hạnh phúc như Xuân Diệu đă diễn tả :

Từ lúc yêu nhau , hoa nở măi
Trong vườn thơm ngát của ḷng tôi .

Hầu hết mọi người cũng đă, đang và sẽ phải yêu. T́nh yêu là "nhu liệu" cần thiết cho đời sống của con người, cho sự tồn tại của loài người trên quả địa cầu cũng như chất đốt là nhu liệu cần thiết giữ cho ngọn lửa cháy. Hơn nữa, theo thiển ư của tôi th́ đau khổ hay hạnh phúc trong t́nh yêu cũng tùy vào quan niệm, ước muốn và cảm nhận của một người. Nếu quan niệm t́nh yêu là cho và nhận chứ không đ̣i hỏi, những mất mát hay không có được không phải là đau khổ, và hạnh phúc là những ǵ bạn đang có trong tay... th́ một người sẽ t́m thấy hạnh phúc trong t́nh yêu dù rơi vào bất cứ hoàn cảnh, trạng thái nào trên con đường t́nh yêu.

- Yêu người và được yêu th́ là quá hoàn hảo hảo không có ǵ để nói nữa .
- Yêu người một chiều, ừ th́ hơi thất vọng chút, nhưng ít ra ḿnh cũng đă t́m được đối tượng để trao gởi t́nh yêu .
- Vỡ tan, ừ th́ buồn, đau và khổ thiệt, nhưng ít ra ḿnh cũng đă có một thời yêu người và được yêu.
- Người không yêu ai, ... có lẽ là người cô đơn, khổ sở, đáng thương và đau khổ nhất.

Tôi thích hai câu thơ về t́nh yêu của Lê Thị Giáng Vân :

Ai bảo yêu nhau là đau khổ
Xin một đời đau khổ để yêu nhau

Và xa hơn nữa, nếu chúng ta có thể "hiểu" được hạnh phúc như nhà thơ Lư Bạch của Trung Hoa đă nói:" Bạn hỏi tôi đâu là hạnh phúc tuyệt vời trên thế gian này? Đấy là lúc bạn nghe cô bé gái vừa đi vừa hát sau khi hỏi thăm nhờ bạn chỉ đường", th́ khi t́nh yêu không như ước muốn và mộng mơ của ḿnh, chúng ta có thể sẽ thất vọng, nhưng sẽ không bao giờ đau khổ nữa.

Hạnh phúc tuyệt vời với một tâm hồn cao đẹp như Lư Bạch là như vậy, thật giản dị và chỉ có thế thôi và hạnh phúc tuyệt vời này chắc cũng có thể đến với bạn và tôi được, phải không? Hy vọng là như vậy!

(TTL,TCT,MAI 20/4/05)


http://www.crestock.com/images/110000-119999/115877-xs.jpg

Ô QUY
01-01-2009, 07:09 PM
Tản mạnVề những mùa Giáng Sinh





*Giáng Sinh trong lao tù




http://farm1.static.flickr.com/72/163317165_3cceece59b.jpg?v=1149816810


Người nữ “phạm nhân” bên kia vách conex “kỷ luật” của trại cải tạo Hàm Tân-Z30D cất tiếng hát “Đêm Thánh Vô Cùng” trong đêm đông lạnh lẽo Chúa sinh ra đời với anh chị em đang chịu trăm cay ngh́n đắng, khổ nhục đoạ đày trong ṿng rào kẻm gai do lũ vô thần tạo dựng khắp nơi khi thành phố Sài G̣n mất tên…Bên nầy vách, tôi tiếp sức giọng ca tuy thánh thót nhưng hầu như hụt hơi v́ thiếu dinh dưỡng trầm trọng; cũng trong t́nh trạng thiếu hơi. Conex kỷ luật được ngăn đôi, nam một bên, nữ một bên. Không thiếu conex, nhưng thiếu t́nh người: bọn cai ngục muốn giảm thiểu tối đa diện tích chỗ nằm và dung lượng không khí cho những người bị tống vào conex mà chúng gán tội “thiếu tinh thần giác ngộ kách mệnh, thiếu thiện chí học tập”.
Người nữ bên kia vách nghe đâu thuộc lực lượng Phục Quốc, tôi, sĩ quan QLVNCH. Một nam bên nầy, một nữ bên kia, đói, khát, ngày nóng như điên, đêm lạnh như cắt, “độc thân tại chỗ” như mọi quân, cán, chính và thường dân bị cho đi “tập trung cải tạo”, cất tiếng ḥa ca đón Đêm Noel 1977 không ánh đèn, không trăng sao, trong một khám tối tí teo nằm trong nhà tù nhỏ đặt trong nhà tù vĩ đại cho cả nước. Conex kỷ luật, phân nửa nằm bền nầy, phân nửa nằm bên kia rào ngăn chia hai khu nam, nữ “phạm nhân”.
Bài thánh ca cùng xướng tạo cơ hội tốt cho chúng tôi đồng cảm thân phận tù đày, xa cách mọi người thân. Chắc hẳn hai đứa đều có tâm sự riêng…Tôi buồn rầu nghĩ tới một người rất xa xưa, chỉ một lần chớp nhoáng xuất hiện trong khuôn viên đại học Xứ Anh Đào năm nào rồi ra đi biền biệt, giờ đây xiêu lạc hà phương -biết đâu chẳng cùng chung số phận tù đày như người nữ bên kia vách- khe khẻ ứng khẩu, ngâm nga:


Thôi em về với chiêm bao
Vầng trăng đơn chiếc dầu hao nửa đèn
Ḿnh tôi ṿ vơ đêm đen
Nằm trên sắt lạnh nghe thèm thịt da


Bất ngờ bên kia vách người nữ, có lẽ cùng tâm trạng, tiếp nối ḍng thơ bất chợt:


Thôi em về với xót xa
T́nh mươi năm cũ giờ qua mất rồi
Bây giờ mỗi đứa mỗi nơi
Nhớ nhà tê tái vang lời thánh ca


Cảm kích, hứng khởi, tôi cất cao giọng hát:


Ave Maria! (Ave Maria!)
Cầu xin Đức Mẹ (Cầu xin Đức Mẹ) ban cho Ơn Lành…


Cùng lúc chuông nhà thờ ngân nga ngoài ṿng kẻm gai của trại tập trung lao động khổ sai, có lẽ từ một giáo đường hoang vắng, cô quạnh v́ thời cuộc…


Chuông nhà thờ đổ mệt
Tượng Chúa gầy hơn xưa
Chúa bây giờ có lẽ
Rơi xuống trần gian mưa


H́nh như, cô nàng “không tên” được ra khỏi conex trước tôi. (Bài thơ ứng khẩu liên hoàn nầy, tôi phổ nhạc sau đó, tựa đề “Đêm nghe Thánh ca”). Chưa kịp hỏi tên nhau cũng như chưa được một lần thấy nhau. Cho nên, với cô nàng tôi cũng là anh chàng “không chân dung”!
Vài tháng sau, toàn bộ nữ “phạm nhân” nầy được chuyển đi nơi khác. Nh́n những nữ chiến hữu nối đuôi leo lên xe tôi nghĩ rằng có lẽ cũng như tôi tự hỏi nàng là ai, nàng cũng sẽ tự hỏi chàng là ai trong đám con trai đứng lố nhố sau ṿng kẻm gai chứng kiến nàng và các bạn đồng tù chuyển trại…


**Giáng Sinh trên đất khách
http://lh5.ggpht.com/_OF6AB_7fBb0/R32A4YiKDnI/AAAAAAAAAVs/XV0ivKlYNgo/s640/IMG_5319.jpg



Đám công nhân thuộc Nghiệp đoàn tài xế bus, métro, Công Quản Chuyên Chở của Thành phố Montréal -thành phần được ưu đăi quá mức- “chung thân bất măn”, lúc nào cũng chực chờ làm áp lực thường xuyên đ̣i hỏi tối đa đặc quyền đặc lợi, nhưng lợi dụng giới sử dụng phương tiện chuyên chở công cộng làm con tin để các yêu sách của họ được nhanh chóng thoả măn. Và họ có thói quen “chiến thuật” là đ́nh công vào…mùa đông băng giá, lúc hàn thử biểu tuột xuống hơn -30 độ C! No bus, no metro giữa mùa tuyết băng thần sầu quỷ khóc, quí vị thử nghĩ!
Năm đầu tiên đặt chân trên vùng đất tạm dung, chân ướt chân ráo, tôi đơn độc lầm lũi mưu sinh, đường sá b́nh thường đă mù tịt, mùa đông lại càng mù mịt lối đi lối về. Trăm sự chỉ c̣n biết trông nhờ vào bus, métro. Thế mà mấy ông cố nội “siêu” tài xế lương lậu hậu hỉ lại nỡ nhẫn tâm “chơi khâm” dân ngu khu đen lặn lội trong băng tuyết với đồng lương tối thiểu nuôi sống gia đ́nh trên xứ lạ! Lại c̣n thêm cái nạn kỳ thị ngấm ngầm của dân bản xứ: lên bus hỏi về các trạm ngừng để dễ t́m đường, hỏi tiếng Pháp, quan tài xế trả lời tiếng Anh và…ngược lại. Ra cái điều bọn immigrants chúng bây không xứng đáng sử dụng ngôn ngữ của Molière, Shakespeare…
Mùa đông năm ấy, 28 năm về trước, nơi tôi t́m được việc làm là vùng nói tiếng Anh. Vào đúng ngày Noel tới phiên tôi trực cơ quan. Và đúng ngày đó có băng giá trơn trợt (verglas) mà không có bus, métro! Ra “đứng đường” giơ ngón tay cái đón xe xin quá giang, dưới cái lạnh nứt đá -32 độ C (-42 độ C với ảnh hưởng gió!) chân tay, mặt mũi tôi không c̣n cảm giác. Tôi có cảm tưởng sắp thành tượng băng như binh lính của Nă Phá Luân đệ I trong lần lui quân thảm bại từ Nga (Retraite de Russie) năm xưa!...Nhiều xe phớt tỉnh chạy qua. Một số dừng lại, ngôn ngữ bất đồng: Ả rập, Tàu, Khờ-me, Lào, Ấn Độ, Phi Châu, v.v…chỉ thạo tiếng Anh, mà tôi th́ bập bẹ Ăng-lê, không đủ chữ diễn tả rơ yêu cầu. Sau cùng một ông da trắng dừng xe, tôi vội vă sấn tới:
-Ông nói tiếng Pháp được không? (Do you speak French?)
-Tôi là người Pháp mà ông! (Mais je suis français, monsieur!)
-!!!
Hết phiên trực, tôi lại cuốc bộ ra đường cái đón xe xin quá giang đi lễ chiều ở nhà thờ Marie-Reine-du-Monde, trung tâm thành phố Montréal. Giáo đường nguy nga, đồ sộ nhưng…trống vắng! Vị chủ tế trấn an giáo dân, v́ thời tiết quá khắc nghiệt, ai không đến dự Thánh lễ được sẽ không có tội.
Tan lễ, một lần nữa tôi lại phải “đứng đường” dưới cơn băo tuyết càng lúc càng dữ dội xin quá giang về nhà, ở tận cực bắc thành phố! Lúc di chuyển ra lộ cái, từng cơn giông cực mạnh xô tôi dính cứng vào hàng cây trên lề đường…
May thay, một linh mục từ trong nhà thờ thấy tôi nguy khổn vội chạy ra cùng với hai người giúp lễ kéo lôi tôi vào trong thánh đường…chập chộ cho hoàn hồn với ly cà phê nóng ḥa cognac!
Linh mục đưa tôi về tận nhà bằng xe riêng. Ngài mở radio: nhiệt độ tại phi trường Dorval là -38 độ C, nhưng với sức gió, hàn thử biểu đă thực sự tuột xuống mức độ ghê rợn -52 độ C. Xướng ngôn viên nhắc nhở mọi người, nếu đang ở ngoài trời nhất thiết phải cử động, nếu không sẽ…chết cóng tại chỗ!
Tôi lắc đầu ngao ngán thở dài nghĩ tới bài ca mừng Noel: Hoan hô gió! Hoan hô gió! Hoan hô gió…mùa đông! (Vive le vent! Vive le vent! Vive le vent d’hiver!).
Hết ư!

Thôn trang Rêu-Phong, Xứ Tuyết, Giáng Sinh 2008
-Lê Tấn Lộc

Ô QUY
01-01-2009, 11:32 PM
Noel buồn trong ḷng một dân tộc bị lừa dối

Lê Sáng

Khởi đầu của một đời người là một hài nhi. Sự ra đời của một hài nhi dù trong một gia đ́nh nghèo khó hay trong một gia tộc giầu sang… đều được đón nhân hân hoan. Không ai lại có thể ghét bỏ một hài nhi, bởi tính thánh thiện, sự ấp ủ tương lai nhân loại đương nhiên mang trong hài nhi đó. Con trẻ chính là sự sống kéo dài của những thế hệ già nua, chắc chắn sẽ phải ra đi khỏi cuộc đời này. Đó chân lư vĩnh cửu, không ai có thể đánh tráo cũng như không ai có thể làm giả một hài nhi.


Khởi đầu của một chế độ bạo tàn là sự lừa dối. Bởi sự bạo tàn luôn làm người ta kinh hăi, nếu không lừa dối, con người sẽ nhận diện và tiêu diệt mầm mống cái ác v́ chính sự an nguy của ḿnh… Không ai lại có thể chấp nhận sự bạo tàn với ḿnh, bởi bạo tàn chắc chắn sẽ đưa vật chủ đến chỗ diệt vong. Không cần phải có bằng cấp, nếu muốn kẻ có ḷng gian là có thể lừa dối…

Khởi đầu của nhà nước cộng sản là chủ thuyết cộng sản. Nó được ra đời trong sự ngộ nhận, mơ tưởng về một cuộc sống tốt đẹp. Từ những suy tưởng trong những căn pḥng êm ấm, các lư thuyết gia cộng sản cho ra đời một chủ thuyết mà nếu họ được chứng kiến hậu quả của nó đến ngày hôm nay, chắc chắn họ sẽ kinh hăi hơn ai hết. Chính lư thuyết gia cộng sản đă lừa dối ḿnh, đánh tráo chân lư nếu không v́ mù loà th́ cũng là v́ "danh" mà thôi. Tựu chung lại cũng là lừa dối, vừa là thủ phạm vừa là nạn nhân.

Khởi đầu của giai đoạn lịch sử đau thương dân tộc Việt Nam kể từ khi một nhóm người tự xưng là vô sản đại diện cho nhân dân lao động rước chủ nghĩa cộng sản về Việt Nam. Mặc dù họ nhận chỉ thị, súng đạn từ cái tổ chức gọi là quốc tế cộng sản - Một tổ chức khi ra đời c̣n chưa biết nước Việt Nam ở đâu. Nhưng họ luôn rêu rao rằng họ đại diện cho dân tộc Việt Nam - Kẻ thực hành lừa dối gớm ghiếc nhất trong lịch sử nhân loại.


Lich sử dân tộc Việt mấy ngàn năm, chưa từng có thế lực chính trị nào lại công khai bán đất bán nước cho ngoại bang một cách hèn hạ như Việt gian Cộng sản. Đất đai của tổ tiên được những kẻ tự xưng đại diện cho dân tộc Việt Nam kư công hàm giao cho đồng chí Cộng sản Trung hoa. Đường biên giới trên bộ trên biển được chúng kư hiệp định lùi sâu vào nội điạ Việt Nam. Hiệp định kư công khai, nhưng chưa được công bố v́ đang bảo mật. Bản chất của hành vi "bảo mật" này là để lừa dối công luận.

Mấy vuông đất của Tổng Giáo Phận Hà Nội - Sao một nguyên thủ quốc gia mà phải lừa dối? phải hứa lèo? phải ăn không nói có? CSVN cũng thừa biết nếu Công Giáo có đ̣i lại được cũng chẳng thành của riêng ai. Suy cho cùng vẫn là của dân tộc Việt. Nhưng CSVN không trả, mà gửi tín hiệu ra bên ngoài rằng: Công Giáo Làm thủ tục xin đất th́ sẽ cấp. Đ̣i đất th́ không bao giờ trả. Tại sao lại thế? Cuối cùng th́ vẫn có trao đất cho Công Giáo mà? CSVN phải làm thế để lừa dối dư luận, tránh việc dân oan đồng loạt đ̣i đất, tiến tới đ̣i lại công lư. Bản chất của vấn đề là có chấp nhận sự lừa dối của cộng sản hay không. Nếu chấp nhận, Công Giáo sẽ có đất.

Noel vốn là ngày lễ lớn của Đạo Thiên Chúa Giáo với gần 2 tỉ tín đồ, nay lễ Noel là một ngày lễ của cả nhân loại. Noel giờ là ngày lễ mừng tương lai nhân loại trong biểu tượng một hài nhi. Nhưng Noel năm nay ở Tổng Giáo Phận Hà Nội buồn trong không khí tang tóc. Cộng sản Việt nam tuyên chiến với tôn giáo và đưa giáo dân ra toà. Không chỉ thế, chúng c̣n đang lăm le tấn công, hạ độc, thủ tiêu không chỉ với người Công Giáo, mà với bất cứ ai dám đến gần, đứng cạnh người Công Giáo.


Trong khi đón Noel, lại đang có những dấu hiệu cho thấy Cộng sản Việt nam ngấm ngầm tổ chức lại một cách qui mô hơn những "đội đặc nhiệm nhân dân" chuyên hành động trong bóng đêm, ngoài luật pháp, nhưng theo ư của những người cộng sản. Cái đội quân phi nghĩa chúng gọi là quần chúng nhân dân đó, từ cải cách ruộng đất, đến cải tạo XHCN, và gần đây nhất là vụ Toà Khâm và Thái Hà đă gây ra bao nhiêu tội ác, bao nhiêu máu người vô tội, mà có lẽ không bản án nào có thể tương xứng được với hành vi của nó.

Thật là kinh hăi khi mà hệ thống Nhà nước Cộng sản đă tan ră, khi mà chính mồm người cộng sản c̣n sống sót nói ra rằng phải hội nhập, phải sửa đổi dần luật pháp cho phù hợp với thế giới văn minh mới có thể tồn tại… Vậy mà xảy ra vụ Tổng Giáo Phận Hà Nội, nó không ngần ngại dùng các thủ đoạn đê hèn vô luật pháp, chà đạp lên chính luật lệ nó ban hành… Rồi lại thói vừa đánh trống vừa la làng vừa ăn cướp của thời cải cách ruộng đất… Bất chấp tất cả…

Càng kinh hăi hơn khi nghe chính quyền cộng sản chính thức tuyên bố với quốc tế về cái đội quân này, và dùng nó để de doạ hai dân biểu Âu Châu rằng: Nếu Marco Perduca và Marco Pannella sang Việt Nam sẽ làm dấy lên một cuộc phản đối của quần chúng Việt Nam, của các hội đoàn, của các nhà dân chủ, v.v… V́ "những kẻ thù của Việt Nam" sắp tới... "V́ an ninh của quư ông xin quư ông đừng tới Việt Nam". (*) Bản chất của hành động lưu manh này là để lừa dối - Lừa dối dư luận quốc tế.


Noel buồn trong ḷng một dân tộc bị lừa dối. Noel buồn trong ḷng một dân tộc có nhiều kẻ lừa dối. Noel buồn trong ḷng một dân tộc không ít người tự lừa dối. Đâu là căn nguyên? Xin không xét đến các nguyên nhân từ phía người cộng sản, bởi bản chất họ đă phơi bày. Chỉ xét các nguyên nhân từ phía thế giới văn minh, và dân nghèo Việt Nam, nạn nhân của cộng sản đương thời - Gọi chung là nạn nhân cộng sản. Đâu là nguyên nhân từ phía nạn nhân cộng sản?

Về Cộng sản Việt nam - Không chỉ đối với các dân tộc khác trên thế giới, mà ngay cả người dân Việt, đứng trước bạo quyền cộng sản không ít người cho rằng: "Tránh voi chẳng xấu mặt nào" – "Thôi để cho Trời phân xử nó" – "Không dây với hủi" – "Chắc nó chừa ḿnh ra" – "Ác giả ác báo" – "Thế nào nó cũng chết" – "Ngày tàn bạo chúa sắp điểm" – "Kẻ giết người sắp phải đền mạng" – Sắp… sắp… sắp… Nói chung là thời tương lai của Cộng sản Việt nam rất xấu…

Nhưng như thế th́ có nghĩa ǵ? Có phải là AQ tự uống thuốc an thần để ngủ qua tối - Sống qua ngày chăng? Cộng sản Việt nam nó sẵn sàng cấp thuốc an thần miễn phí. Nếu ai muốn nhận không cần phải đăng kư trước, cứ đến văn pḥng các mặt trận tổ quốc, các uỷ ban đoàn kết ABC, (đừng nghĩ bậy) các uỷ ban người Việt ở nước ngoài, các "hợp tác xă tôn giáo"… Gặp đồng chí X, linh mục Y, hoà thượng Z … Sẽ được niềm nở đón tiếp và thoả măn nhu cầu…

Hỡi ôi ! Người dân nước Việt c̣n bị cộng sản lường gạt đến bao giờ mà vẫn đứng ở bên đường, xem cộng sản giết người rồi bán tín bán nghi "Chắc nó chừa ḿnh ra"? Vẫn c̣n phiêu bạt tận những phương trời xa, mơ một ngày ai đó giúp ḿnh dọn sạch bóng cộng sản trên quê hương th́ về? Chính sự lừa dối đă giết chết nhiều người chúng ta. Chính sự tự lừa dối ḿnh mới là nền tảng cho sự lừa dối của cộng sản trổ hoa độc tàn phá quốc gia dân tộc Việt Nam.


(*) Xin xem thêm:

http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/Two-european-parliament-members-invite...

Lê Sáng

chieunhatnang
04-26-2009, 04:08 AM
http://blog.wired.com/photos/uncategorized/2007/04/30/vietnam_escape.jpg


Tháng 4 buồn không vui

Ngô tịnh Yên

Trước hết xin cảm ơn những e-mail của quư vị đă gởi về để an ủi cho một “trái tim mùa đông”. Chuyện t́nh nhân gian quả là không ai giống ai, nhưng đa số đều khổ là cái chắc, nếu không sao có câu “t́nh là dây oan” chứ! Qua đó, tôi đă biết được nhiều câu chuyện t́nh cũng lâm ly bi đát chẳng kém ǵ của ḿnh. Yêu nhau rồi phụ nhau để làm chi vậy? Vui lắm sao?

Thời gian đôi lúc chặn đứng tim ta nghẹn ngào. Trước bao nhiêu sóng gió cuộc đời, cánh buồm thơ luôn bị neo về, kềm tỏa. Thế là lại dạo phố một ḿnh, đi coi phim một ḿnh, ai tin được rằng tôi đang sống những chuỗi ngày đơn độc, và một lần nữa tôi lại muốn gục đầu lên vai ai đó mà khóc. Phải chi bây giờ có người ấy ở kề bên để chia sẻ với tôi một điều ǵ đó. Sao tôi vẫn nghĩ đến “kẻ bạc t́nh” kia, mặc dù người ta đă bỏ tôi đi trong cơn hoạn nạn. Có lẽ tôi phải để chân chạm xuống mặt đất, cứ đứng trên mây hoài chẳng biết t́nh đời đổi trắng thay đen ra sao” Đứng lại hai chân trên đất rồi, thay v́ ngước lên trời rơi lệ hỏi “tại sao?” th́ cười ba tiếng mà nói “đời mà!”

C'est la vie! Dù không muốn chúng ta cứ phải bị cuốn theo lực ly tâm của xă hội v́ bản chất cuộc đời luôn luôn là tàn nhẫn (???) Tôi muốn theo Marcel Proust tôi đi, đi “t́m lại thời gian đă mất”, bên cạnh tôi ngày xưa là hạnh phúc. Mất mà vẫn chưa tin là thật. Quẩn quanh trôi măi.. ḷng người như nước chảy sông trôi. Con sông đời không như ḍng sông tuổi nhỏ, tôi vẫn bơi theo những luồng tưởng nhớ suưt bao lần chết đuối không may.

Hạnh phúc! Chẳng bao giờ đủ, bởi v́ nó.. mong manh hơn mây trời, nhẹ hơn nước và mềm hơn tơ, hạnh phúc thực sự chỉ đến với ai biết t́m kiếm nó, không bao giờ hạnh phúc tự đến với loài người. Tự nhiên sau một cú sốc t́nh cảm ḿnh triết lư ghê dzậy ta! Chao ôi! Khi đau khổ th́ nhất định là có kẻ gây ra cớ sự, và phải đem cái kẻ đó ra để mà.. gây sự. Khốn nỗi kẻ này lại là cả một tập đoàn đang cai trị dân ta, nước ta. Không phải sao? Nhất là tháng Tư lại về th́ phải lôi cổ chúng ra mà hài tội. Không có cái 30 tháng 4 oan nghiệt kia, th́ đâu có bao nhiêu người yêu phải chia ĺa, ngăn cách. Chia ở biển này, cách ở sông kia.. Cái mà họ gọi là ..Mẹ Tổ Quốc. Định nghĩa này chứa một nội dung sâu xa. Mẹ Tổ Quốc không bao giờ mất đi vẻ kiều diễm của ḿnh, bao giờ cũng âu yếm, xinh đẹp.. Cái “Mẹ Tổ Quốc” mà họ thường ca tụng kiểu đó, đă không đem lại hạnh phúc cho những đứa con của mẹ. Chúng phải chia ĺa nhau v́ vận nước, và trong cơn chia ly ấy, đă có bao nhiêu mối t́nh đă không vượt qua được thử thách của hai phương trời cách biệt?

Không có ǵ tệ bạc bằng chối bỏ những ǵ ḿnh đă yêu thương. T́nh yêu là đôi đũa mà bẻ găy sẽ có một chiếc thừa. Ngày tháng trôi qua sao ḷng vẫn chưa nguôi ngoai một h́nh bóng, gieo dối trá làm sao gặt được sự chân thành, ấy vậy mà gieo chân thành cứ lại gặp dối gian. Không nên giao ước với điều ǵ khi chưa tin vào điều đó, chúng ta không chỉ thấy những trơn tru, tṛn trĩnh mà c̣n thấy những sù ś, góc cạnh của cuộc đời, ở đó là sự b́nh an của một con sóng hiền ḥa và c̣n là tiếng kêu thét của một hồi chuông báo động. Có lẽ người chỉ là cái bóng của một t́nh yêu suốt đời t́m kiếm, chúng tôi đă có những ngày thân ái đẹp làm sao.. Ô! Cơn mưa đầu mùa nào cũng đẹp làm sao! Và mối t́nh đầu nào cũng không bao giờ trở lại lần nữa. Cảm ơn những cơn mưa như ta đă cảm ơn đời, cảm ơn cuộc t́nh, cảm ơn người đă yêu ta trong cơi đắng cay này. Kỷ niệm mà ta đă vô t́nh đánh mất sẽ trở về rực rỡ như t́nh đầu.

Trong khoảnh khắc giữa giờ trưa này tôi bắt gặp một cái ǵ trong tâm tư chợt nghèn nghẹn thương nhớ. Nhớ quê hương và những hàng me, trời xanh gió, lá xanh cây, ḥa lẫn màu nắng vàng hanh tạo cho không gian chút ǵ thật sinh động, gợi thổn thức, gợi nao nao, gợi khắc khoải. Khắc khoải như những khuya chợt tỉnh giấc thấy ḿnh đối diện với một sự im lặng màu đen. Khi người ta có một tâm hồn lai láng, lai láng như nước thủy triều kia không bao giờ ngơi nghỉ, th́ một ly nước suông cũng có thể là biển cả. Hăy hiện diện giữa đời như những đợt sóng trào hay chỉ là người hiện diện cô đơn.. Có phải chúng ta đă bỏ phí đi biết bao tuổi thanh xuân tươi đẹp để mỗi ngày lại ch́m đắm trong khổ đau và đào sâu thêm cái hố chán chường mà người ta thường vô t́nh tẩn liệm trước đời ḿnh trong đó.

Nếu tạm quên t́nh cảm riêng tư đi cũng c̣n nhiều điều nhức nhối để thấy tháng Tư buồn không vui.. Hồi c̣n ở VN, có lần vào chơi một nhà ở phố cổ Hội An t́nh cờ tôi thấy một tờ lịch bướm có in ḍng chữ “Nếu quí vị biết tin tức về những người Mỹ mất tích, xin vui ḷng thông báo cho chính quyền địa phương hay các viên chức Hoa Kỳ gần nhất”. Tờ lịch được in năm 1975, không ghi tháng nào, nó gợi lên trong tôi một cái ǵ đó buồn buồn khó tả. Người ta giết nhau rồi tỏ ḷng thương xót cho những nắm xương tàn..

34 năm, thời gian thật chậm khi có hai tâm hồn bên nhau, thời gian thật nhanh khi tâm hồn cô đơn thiếu vắng. Tôi chợt nhớ một câu của nhà văn Tolstoi: “Không phải rơi xuống mà phải nở rộ - phải thức tỉnh dậy để mà ham muốn, phải yêu, ḥa hợp. Quên lăng không c̣n là một cái mầm sống cô đơn nữa, và toàn bộ giấc mộng ngắn ngủi này để rồi lại chết, lại chia ly và một chuyến bay của những tinh thể giá lạnh!” Điều quan trọng là thức tỉnh để đừng “rơi xuống”, đừng để bao người yêu quí ta phải đọc những ḍng phân ưu ta chỉ v́ một người không biết qúi trọng ta.

Và 34 năm nhiều người đă phải xa nhau v́ một cái tháng Tư đau buồn đó, tháng Tư sẽ măi măi buồn nếu như quê hương ta vẫn c̣n ngoại nhân đến hành hạ đồng bào ta trong các hăng xưởng, lấy các thiếu nữ Việt về đất nước họ làm nô lệ sex, lấy đất đai tổ tiên ta làm của họ .. Bao giờ th́ chúng ta mới có được một tháng Tư vui?

chieunhatnang
11-30-2009, 03:47 PM
http://remotecontrol.mtv.com/wp-content/uploads/2008/02/backpacker.JPGSỰ T̀NH CỜ HẠNH PHÚC
Ngô Tịnh Yên


Để bắt đầu hành tŕnh đến với các pho tượng không đầu ở Ankor Wat, Siem Reap, mà chất vấn Thần Thánh, tôi phải khởi đi từ Phố Tây Ba Lô, nghĩa là phải làm một “tây ba lô” thứ thiệt, thâm nhập vào cái thế giới kỳ lạ và phức tạp ngay giữa Saigon. Nơi mà có người từng “có job” bán hàng ở đây một thời gian nhận định: Đây là nơi chứa đầy hỉ, nộ, ái, ố giữa Tây với Tây và Tây với” Ta mà có thể rất nhiều người chưa biết”. C̣n giữa Ta với- Ta nữa chứ!

“Mày bán vé số th́ lo bán đi, đừng có bày đặt làm đĩ!”

Tiếng chửi kia thốt ra từ miệng một chị, sau khi cả hai lao vào đánh nhau túi bụi làm náo loạn cả một góc đường Phạm Ngũ Lăo, ngay dưới khu khách sạn mà tôi đang ở trọ. Hoạt cảnh này có thể nh́n thấy thường xuyên ở cái “Ngă Tư Quốc Tế” này, khi mà các cô gái nghèo Việt Nam sẵn sàng đánh nhau chí chết để tranh dành từng đồng đôla rẻ mạt của các anh Tây Ba Lô mua phấn buôn hoa. Dù không ưa truyện Kiều lắm! (thấy nó có vẻ như đề cao gái điếm) trong đầu tôi vẫn bật ra câu thơ “Đau đớn thay phận đàn bà!” của Nguyễn Du.

Là đàn bà, dĩ nhiên là tôi không tiện “xâm nhập thực tế” vào mấy cái ổ con nhền nhện, nhưng chỉ cần đi một ṿng các con đường nhỏ xíu của khu phố Tây Ba Lô, là đă có thể nắm bắt được cái mảng đen tối đàng sau vẻ nhộn nhịp, hối hả không ngừng của cuộc sống trong “đặc khu” này. Xong việc gia đ́nh ở Việt Nam, thay v́ nghe lời khuyên của Thùy Dương đi máy bay qua Siem Reap v́ sợ tôi cực khổ (sao quư vị cực khổ lại không cho tôi khổ cực?) tôi lại chọn con đường xuất phát từ khu Phố Tây Ba Lô, t́m một bus tour đi Cam Bốt qua cửa khẩu Mộc Bài, đến thủ đô Nam Vang rồi mới cập bến Siem Reap.

Có quá nhiều tour đi Siem Reap ở nơi tập trung “Tây” này, ai dám bảo đảm rằng những ông Tây với vẻ ngoài hiền lành lịch sự kia, lại không phải là một con yêu râu xanh đang mượn bàn đạp Việt Nam để đến Cam Bốt t́m vui trên thân xác những bé gái Việt Nam đang bị đày đọa trong các ổ điếm ở đó. Có đi theo hành tŕnh này tôi mới có thể cảm nhận được toàn cảnh bi thương ở nơi tôi đang muốn đến.

Saigon có hai khu mà Tây rất thích. Một là khu vực phường Bến Nghé và hai là khu phường Phạm Ngũ Lăo. Ở khu phường Bến Nghé (đường Nguyễn Huệ - Tự Do kéo dài từ Nhà Thờ Đức Bà đến bờ sông Bến Nghé) tập trung những khách sạn, quán cà phê lớn và sang trọng. Nơi đây dành cho “Tây Vali” ngụ trong những ṭa nhà sang trọng. C̣n có một thế giới khác dành cho Tây Ba Lô, chủ yếu gồm các khách sạn và nhà hàng, quán cà phê dành cho những khách du lịch nghèo hay những du khách thích phiêu lưu kiểu “bụi đời”, những người quanh năm rong ruổi trên khắp các miền đất lạ để thỏa tầm mắt, hay đơn giản chỉ là đi cho hết năm “gap-year”, và cũng rất có thể lang thang v́ thất nghiệp.

Phố Tây Ba Lô phát triển hoàn toàn tự phát, sống ở đây bạn có cảm tưởng như đang tham dự một cuộc họp ở Liên Hiệp Quốc. Nơi đây là sự giao thoa của các nền văn hóa và đă có nhiều du khách t́nh nguyện trở thành “hột vịt lộn” trên đất Việt Nam (ngoài là nước ngoài, trong là VN). Hiện mỗi ngày có từ 3 đến 4,000 du khách các nước lưu trú tại đây. Trong đó cứ 333 du khách th́ có đến 24 quốc tịch thuộc nhiều nước khác nhau, trong đó Anh chiếm 17%, Úc 14%, Pháp 13%, Mỹ 9%, c̣n lại là khách Tây Ban Nha, Nam Phi, New Zealand, Nhật, Nam Hàn Du khách trẻ, 24 - 34 tuổi, chiếm 43%, với nhiều thành phần rất đa dạng như: nhà nghiên cứu, luật sư, sinh viên, bác sĩ, kỹ sư, thương gia, nhân viên công ty và các ngành nghề khác... Tuy là khách du lịch ba lô nhưng trung b́nh họ chi tiêu đến $66,4 đôla mỗi ngày.

Nếu ở khu : “Tây vali” sang trọng bao nhiêu, th́ ở đây b́nh dân bấy nhiêu. Một nét “văn hóa Việt” thân thiện đến mức bạo dạn thể hiện một cách rơ nét. Người Việt nói tiếng Anh bồi, người Tây nói tiếng Việt bồi. Mà đôi khi cũng chẳng cần ngôn ngữ cho cái khu phố đa văn hóa này. Những chuyện eo sèo như Tây say xỉn quậy phá, quịt tiền pḥng “ là “chuyện thường ngày ở huyện. Ngă Tư Quốc Tế xưa là 2 đường Đề Thám - Bùi Viện tạo thành một khu vực đặc biệt nhất Saigon. Phố ở đây nối nhau thành những network với rất nhiều hẻm hóc. Bây giờ là nơi đầu tiên ở Việt Nam được gọi bằng cái tên ngộ nghĩnh: Phố Tây Ba Lô. C̣n trong nhiều guide book (sách hướng dẫn du lịch của người ngoại quốc) Phố Tây Ba Lô được ghi dưới tên: Foreigner Town, Backpacker Area, Backpacker Land, Western Backpackers.

Khu Tây Ba Lô nằm ở phường Phạm Ngũ Lăo với những dăy phố hẹp dài, một nơi mà ḍng chảy cuộc sống dường như là mạnh nhất Saigon. Và cũng dường như cái chật hẹp ngột ngạt này làm nên sự quyến rũ kỳ lạ đối với du khách. Rayanam, một anh Mỹ đen đă ở đây cả năm trời nói “Bạn có thể sống cả năm ở đây mà chẳng cần phải đi đâu cả”. Ray đến từ khu Mỹ đen ở Houston, Texas, đến đây để dễ thở hơn bằng trợ cấp thất nghiệp. Bạn có thể dễ dàng bắt gặp những người như Ray lang thang la cà quán xá trên khu Bùi Viện - Đề Thám cả ngày.

Anh Tư ở hẻm 241 Phạm Ngũ Lăo kể, từ khi nền túc cầu mở cửa cho phép cầu thủ ngoại quốc được thi đấu ở các giải trong nước th́ người châu Phi tụ về đây khá nhiều. Một số ít đá banh giỏi, biết sử dụng computer th́ làm ra tiền, c̣n phần đông không có nghề ngỗng ǵ, không có tiền mướn pḥng trọ nên ngày la cà ngoài đường, đêm đến trải chiếu dưới đất nằm, hết chỗ th́ ra vỉa hè, công viên ngủ. Nhiều trường hợp đi xe ôm, ăn cơm xong không trả tiền, bỏ chạy là chuyện không có ǵ để ngạc nhiên nữa.

Tiền nộp thuế của phường Phạm Ngũ Lăo, quận 1, có năm đă lên đến hơn 100 tỉ đồng VN, hơn thu nhập GDP của một tỉnh nghèo. Với 527 khách sạn, nhà trọ, 12,000 du khách/tuần lưu trú, đây là nơi có mật độ khách trọ và pḥng cho thuê nhiều nhất nước. Con số trên chưa dừng lại khi các khách sạn vẫn đang đua nhau mọc như nấm sau mưa. Bất kể hẻm lớn, nhỏ cứ có nhà là “mọc lên” khách sạn. Nhà nào dư một, hai pḥng cũng có thể cho Tây thuê ở. Ở một cái khu thượng vàng hạ cám như thế, nhà nghỉ cũng lắm chuyện. Giàu th́ mướn pḥng riêng, nghèo th́ vào dorm chung ngủ qua đêm cũng là “chuyện thường t́nh thế thôi!” Văn hóa ở đây “thông thoáng” cũng v́ thế. Những người làm tour sale hay bán hàng cũng ngồi chầu chực trước cổng, khách đi qua là toét miệng chào líu lo như thể người thân mới gặp lại. Già th́ “papa”, “mama”, trẻ th́ “bro” với “sis”. Cái “văn hóa chào” cũng từ đây mà ra.

C̣n về “văn hóa chào hàng”. Mỗi khi có xe chở khách mới về là hàng loạt các cô các chú các em ùa ra và tiếp thị khách sạn để lấy hoa hồng. Không quen người quen việc th́ dễ bị bị các cô đanh đá ở đây “cho vỡ mặt”. Họ là những người phụ nữ sống trong hẻm sâu nhưng ban ngày tụ tập ở ngoài đường và khách đến th́ đon đả dẫn khách đi. Thường là họ được 30 ngàn cho một khách và khách sạn.

Những người làm ở đây cũng có đủ loại: chủ nhà, sinh viên làm thêm và street seller “lên đời”. Chủ nhà tức là những người trực tiếp mở tiệm và đứng ra bán hàng, “street seller lên đời” là những đứa đă nhẵn mặt phố và sơi tiếng Anh bồi, lên đời bán hàng trong shop cho sang một chút. Sinh viên làm thêm là đáng ngại nhất. Phần đông (chứ không phải tất cả) họ là sinh viên nghèo và bươn chải kiếm cơm hàng ngày. Một khách vào đă là mừng rồi, sinh viên th́ đâu thể bạo dạn ngay được. Họ phải vượt qua những mặc cảm của chính ḿnh và cả sự kèn cựa của các hàng quán kế bên. Một sinh viên Đại Học Kỹ Thuật cũng là một trường hợp như vậy. Có lần anh v́ không chịu được sự dèm pha của những “promoter” quán kế bên nên đă lời qua tiếng lại và cuối cùng đành chịu thiệt hại mất ít máu và một cái răng. Theo lời kể lại của một “cựu nhân viên bán hàng” ở con phố lạ lùng này.

Đúng là một khu phố “đa văn hóa”. Một tối vác ba-lô đi t́m thuê khách sạn ở khu này, đang đứng lớ ngớ trước đường Phạm Ngũ Lăo, tôi được một bé gái giới thiệu đến một khách sạn khác ở đường Bùi Viện. Cũng muốn xem khách sạn qua “c̣” giới thiệu ra làm sao, sau khi thỏa thuận giá cả là $10 VN/một đêm pḥng máy lạnh, tôi theo cô bé đến khách sạn. Khi được đưa lên coi pḥng, thấy pḥng máy quạt tôi hỏi tại sao, người chủ (hoặc manager ǵ đó) lại bảo “ở đỡ pḥng quạt đêm nay, ngày mai đổi qua pḥng máy lạnh”. Tôi bèn cám ơn rồi đi một nước. Sao cái xă hội ǵ mà ngày càng lắm điều quái đản vầy nè? Ăn đầu sóng nói đầu gió hoài... Thế cái văn hóa này gọi là văn hóa ǵ đây? “Văn hóa thông thoáng” chăng?

Ăn bánh ḿ, uống nước lạnh, đi lang thang khắp hang cùng ngơ ngách ở Phố Tây Ba Lô, tối về khách sạn 1 sao, tôi mang theo bao nhiêu là giai thoại của khu phố này. Xấu có, tốt có. Xấu như câu chuyện có thật từ chủ nhà nghỉ 104/8 Bùi Viện: “Cách đây khoảng 5 năm, có 2 anh chàng Tây đến đây thuê pḥng ở nhưng cứ 2 tiếng đồng hồ lại ra, vào. Măi sau mới phát hiện nhóm này có đến 8 người, cứ 2 người vào tắm, ngủ trong 2 tiếng, rồi ra đổi áo, quần cho người khác vào tắm, ngủ 2 tiếng, v́ Tây nh́n giống nhau nên rất khó phân biệt, tôi đành cười trừ!” Hoặc một “chuyện t́nh xuyên biên giới” có kết cục buồn thảm là một người phụ nữ tên M., khi sinh ra đứa con đen thui đă bỏ đứa bé lại trong khách sạn rồi đi biệt tăm biệt tích.

Chuyện tốt là một quán bánh do 4 người ngoại quốc (3 Mỹ, 1 Anh) làm chủ: quán Sozo, ở 176 Bùi Viện. Đó là 4 phụ nữ có tên Tracy Tuning, Max Raabe, Rachel Lutz và Cindy Zuspan. Năm 1997, họ du lịch tới Việt Nam, thấy nhiều em nhỏ bán bưu thiếp trên đường phố, 3 năm sau họ trở lại và vẫn thấy những em này nên đă nảy ra ư định sẽ giúp đỡ các em. Max Raabe, trưởng nhóm, kể: “Chúng tôi muốn làm một điều ǵ đó thiết thực để giúp các em nên tổ chức làm các loại bánh ngọt kiểu Mỹ để các em bán cho du khách ở khu phố Tây Ba Lô. Thế là tiệm Sozo ra đời”.

Khi được hỏi cái tên Sozo mang ư nghĩa ǵ? Raabe giải thích: “Sozo theo tiếng Hy Lạp có nghĩa là Thay Đổi Cuộc Sống”. Biết mục đích hoạt động của tiệm, nhiều sinh viên t́nh nguyện đă đến Sozo cùng chia sẻ, giúp đỡ người nghèo. Hiện nay, Sozo có 22 nhân viên. Họ được trả lương xứng đáng, được rèn luyện những kỹ năng cơ bản trong cuộc sống, được gửi đến trường, học cách làm bánh, quản lư tiền bạc và cách buôn bán. Mỗi tối thứ 6, Sozo có chương tŕnh “Góc Tiếng Anh”, sinh viên đến đây để luyện tập tiếng Anh khá đông (90 người).

Cách đây hơn 20 năm, một nhà báo Pháp đến Việt Nam để xin Visa vào” Cam Bốt. Việt Nam lúc ấy với anh chỉ đơn giản là một trạm trung chuyển. Anh cũng chẳng thể ngờ là sau đó hằng năm vẫn nhiều lần quay trở lại để cập nhật những thay đổi mới nhất của Việt Nam đưa đến bạn bè thế giới. Đó là Olivier Page, Tổng Biên Tập của cuốn cẩm nang du lịch về Việt Nam thuộc hàng best-seller ở châu Âu và châu Mỹ: “Le Guide du Routard (Việt Nam)”.

Không tin vào số phận, nhưng Page luôn tin vào một thứ mà anh gọi là “sự t́nh cờ hạnh phúc” (hasard heureux). Gặp Khu Phố Tây Ba Lô để giới thiệu với khách du lịch quốc tế, hay được tṛ chuyện với hoa hậu Mai Phương Thúy với anh ta là một sự t́nh cờ hạnh phúc. Th́ với tôi, gặp được tổ chức VOICE cứu giúp các em bé Việt Nam bị đọa đày ở Cam Bốt và tṛ chuyện với MC Thùy Dương là một sự t́nh cờ hạnh phúc.

Với hàng trăm dịch vụ du lịch lữ hành, một ngày có khoảng gần trăm chuyến xe du lịch, khách chỉ một bước lên xe bus là có thể đi bất cứ nơi đâu. Tôi cũng đến Khu Phố Tây Ba Lô để xin Visa vào Cam Bốt như Page, nhưng hành tŕnh mà tôi đang đến sẽ không thú vị như những hành tŕnh của anh ta để giới thiệu những nơi chốn ăn chơi cho khách du lịch ngoại quốc. Ở đó, nơi tôi sẽ đặt chân đến - là một địa ngục trần gian - mà tôi đang mong mỏi nó sẽ được xóa sổ trên thế gian này.

Ảnh: Khu phố Tây Ba Lô