PDA

View Full Version : Chúng đă nhượng biển, nay nhượng nốt rừng !!! Xă luận bán nguyệt san Tự do Ngôn luận số 94 (01-03-2010)



Thường Dân Nam Bộ
03-01-2010, 07:20 PM
Chúng đă nhượng biển, nay nhượng nốt rừng !!!

Xă luận bán nguyệt san Tự do Ngôn luận số 94 (01-03-2010)

Các lănh tụ Cộng sản là những con buôn không cần vốn. Vốn của họ, nếu có, chỉ là nước bọt. Sử dụng thứ chủ nghĩa Mác-Lê đầy lừa mị, khai thác triệt để các bất công mà xă hội nào cũng có, trưng chiêu bài "đấu tranh cho dân tộc độc lập, dân quyền tự do, dân sinh hạnh phúc", trâng tráo uốn lưỡi hứa hẹn "những ngày mai ca hát", "một xă hội không c̣n cảnh người bóc lột người", trong đó "ai nấy theo khả năng mà làm, theo nhu cầu mà hưởng", họ đă quyến rũ được khối quần chúng công nhân hay nông dân vô sản ít học (và cũng không ít trí thức dại khờ hay tham vọng) đi theo làm "cách mạng" lật đổ chế độ cũ, xóa sạch nhiều chính quyền, để xây nên một chế độ mới, thiết lập một chính quyền mới mà trong đó họ trở thành những ông vua chưa từng có trong lịch sử. Chưa từng có bởi lẽ họ vừa ngồi trên ngai thống trị chẳng cần ai bầu lên và chẳng sợ ai chất vấn, vừa ra luật cho ḿnh sở hữu toàn bộ tài sản đất nước (dưới mỹ từ "quản lư thay cho toàn dân"), vừa kiểm soát được mọi tâm tư, t́nh cảm và hành động của quốc dân vốn đă bị biến thành bầy nô lệ. Có lúc chơi ngon, họ c̣n bán trời không văn tự, như qua công hàm Phạm Văn Đồng dâng cho Trung Quốc hai quần đảo Hoàng Trường Sa do Việt Nam Cộng ḥa quản lư, vơ cả những đồng bào đă chạy trốn họ, đă bị họ gọi là "ma cô đĩ điếm, ôm chân đế quốc, ham bơ thừa sữa cặn tư bản", làm thành "khúc ruột ngàn dặm thân thương", "một bộ phận không tách rời của cộng đồng dân tộc", chẳng được quyền chống lại họ, một phải góp phần củng cố chế độ ác ôn mà họ đang duy tŕ.
Chính với năo trạng coi ḿnh là những ông chủ tuyệt đối uy quyền (dù miệng luôn leo lẻo là "đầy tớ nhân dân"), chẳng cần hỏi ư kiến ai (dù có dựng lên cả một cơ chế để lấy ư kiến mang tên "Quốc hội"), chẳng sợ trách nhiệm trước ai, trả lẽ với ai, tŕnh bày cho ai, các lănh tụ CSVN, kể từ Hồ Chí Minh, đă b́nh thản dâng đất, dâng biển cho kẻ thù truyền kiếp, bá quyền Bắc phương, quan anh Ba Tàu để củng cố và bảo vệ chiếc ghế quyền lực. Giang sơn mà "vua Hùng và bao thế hệ đă có công dựng, nay Bác và lũ cháu đồng đảng đă cùng nhau… nhờ Trung Cộng giữ giùm"! Ải Nam quan, Thác Bản Giốc, gần cả ngàn km vuông lănh thổ vùng biên giới, rồi chục ngàn km vuông lănh hải thuộc Biển Đông, cả trăm đảo lớn nhỏ thuộc Hoàng Trường Sa lần lượt rơi vào tay Anh Cả Đỏ trong thế kỷ XX qua những hiệp định mờ ám, bất chấp xương máu của bao chiến sĩ và phản kháng của bao con dân. Đến đầu thế kỷ XXI, vùng đất chiến lược Tây Nguyên, thắt lưng đất nước, lại ngon ơ dâng cho Đại Đồng Chí qua dự án khai thác bauxite, bất chấp cảnh báo của bao tướng lĩnh, phê phán của bao nhà khoa học và chống đối của bao đồng bào. Biển Đông, nguồn gốc và nguồn sống của ḍng giống Lạc Hồng, ngày càng bị thu hẹp, mưu sinh của ngư dân Việt ngày càng khó khăn và nguy hiểm, thủy sản và khoáng sản (trên biển) của Tổ quốc ngày càng vơi cạn hay khó khai thác, hải lộ của Quốc gia ngày càng bị kiểm soát và đe dọa... Trên đất liền th́ Trung Cộng xâm lăng về kinh tế (tuôn tràn hàng hóa với giá cả rẻ nhưng phẩm chất kém, thắng thầu các dự án xây dựng nhà máy, khai thác nguyên liệu, giết chết vô số công ty, xí nghiệp, sản phẩm địa phương…), xâm lăng về văn hóa (phim Tàu, nhạc Tàu, tiếng Tàu, triết Tàu, h́nh ảnh Tàu tràn ngập…, trẻ em thuộc sử Việt không bằng sử Tàu…), xâm lăng về dân số (dân Tàu, làng Tàu, khu vực Tàu, con lai Tàu xuất hiện khắp nơi, từ Nam chí Bắc…), xâm lăng về chính trị (điệp viên Tàu, tay sai Tàu có mặt trong nhiều tổ chức quan trọng của đảng, quân đội, công an, nhà nước…. ai phê phán hay chống đối Tàu, dù dưới bất cứ h́nh thức nào, đều bị trừng trị thẳng tay… luận điệu Tàu, lập trường Tàu được bày tỏ trên chính các trang mạng của nhà nước và đảng). Tất cả chỉ v́ sự khiếp nhược đê hèn, nếu không muốn nói là sự đồng lơa tội lỗi của hàng lănh đạo CSVN.
Và người ta những tưởng như thế là đủ các mặt xâm lăng của Trung Cộng, các mặt nhượng bộ của Việt Cộng rồi. Đùng một cái, bức thư tố cáo của hai tướng CS là Đồng Sĩ Nguyên và Nguyễn Trọng Vĩnh hôm 22-01 làm cho tất cả cộng đồng người Việt trong lẫn ngoài nước giật ḿnh kinh hoảng. Hai ông viết: "Theo chỉ thị của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, Bộ trưởng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Cao Đức Phát đă cử đoàn cán bộ liên ngành trực tiếp kiểm tra hai tỉnh Lạng Sơn và Quảng Ninh, đồng thời tổng hợp báo cáo 8 tỉnh Cao Bằng, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Nam, B́nh Định, Kon Tum và B́nh Dương… Kết quả cho thấy 10 tỉnh đă cho 10 doanh nghiệp nước ngoài thuê đất rừng đầu nguồn dài hạn (50 năm) trồng rừng nguyên liệu với tổng diện tích 305,3534 ngh́n ha, trong đó Hồng Kông, Đài Loan, Trung Quốc chiếm trên 264 ngh́n ha; 87% ở các tỉnh xung yếu biên giới". Tiếp đó hai ông cảnh báo cách mạnh mẽ: "Đây là một hiểm họa cực lớn liên quan đến an ninh nhiều mặt của quốc gia. Hám lợi nhất thời, vạn đại đổ vào đầu cháu chắt. Mất của cải c̣n làm lại được, c̣n mất đất là mất hẳn. Cho Hồng Kông, Đài Loan, Trung Quốc khai thác rừng đầu nguồn là tiềm ẩn đầy hiểm họa. Họ đă thuê được th́ họ có quyền chặt phá vô tội vạ. Rừng đầu nguồn bị chặt phá th́ hồ thuỷ lợi sẽ không c̣n nguồn nước, các nhà máy thuỷ điện sẽ thiếu nước không c̣n tác dụng, lũ lụt, lũ quét sẽ rất khủng khiếp. Năm qua nhiều tỉnh miền Trung đă hứng chịu đủ, chẳng phải là lời cảnh báo nghiêm khắc hay sao? Các tỉnh bán rừng là tự sát và làm hại cho đất nước. C̣n các nước mua rừng của ta là cố t́nh phá hoại nước ta và gieo tai họa cho nhân dân ta một cách thâm độc và tàn bạo. Nếu chúng ta không có biện pháp hữu hiệu, họ có thể đưa người của họ vào khai phá, trồng trọt, làm nhà cửa trong 50 năm, sinh con đẻ cái, sẽ thành những "làng Đài Loan", "làng Hồng Kông", "làng Trung Quốc". Thế là vô t́nh chúng ta mất đi một phần lănh thổ và c̣n nguy hiểm cho quốc pḥng".
Gần tháng sau, ngày 20-02, một nhà khoa học địa chất là Vũ Ngọc Tiến, lại nêu lên một nguy cơ khác: thất thoát tài nguyên khoáng sản. Ông cho biết: Các vùng Việt Bắc, Lào Cai, Yên Bái, Sơn La, Điện Biên, Kon Tum -theo các nhà khoa học Pháp, Nga, Việt- đều giàu kim loại màu và kim loại quư hiếm, thậm chí có cả uranium. "Trước năm 1986, quy tŕnh bảo mật của ngành địa chất đối với các mỏ quặng loại này vô cùng nghiêm ngặt. Thế nhưng kể từ khi bắt đầu đổi mới (1986), các quy định về bảo mật tài nguyên bị xâm phạm nghiêm trọng. Các tỉnh đua nhau mời chuyên gia địa chất đo vẽ bản đồ địa chất–khoáng sản cho riêng địa phương ḿnh mà thực chất và chủ yếu là sao chụp lại tài liệu trong lưu trữ quốc gia… Đây là kẽ hở chết người dẫn đến tệ nạn "khai thác thổ phỉ" tại các mỏ quặng diễn ra kéo dài và phổ biến khắp nơi, không loại trừ khả năng bí mật về khoáng sản ở các tỉnh biên giới cũng theo đó mà lọt vào tay người nước lạ! Tôi ngờ rằng, trong 264 ngàn ha rừng đầu nguồn ở các tỉnh biên giới đă cho người nước lạ thuê kia không chỉ có gỗ mà c̣n có cả khoáng sản và đó mới là mục đích sâu sa, thâm hiểm của ông bạn nước lạ"
Trước những những lời tố cáo của hai "tướng về hưu" và nhà khoa học nói trên, giới lănh đạo cao cấp đảng Cộng Sản và bộ máy chính quyền trung ương, như thường lệ, chẳng buồn đáp lại. Giống như họ từng tỏ ra khinh khỉnh, bỏ qua không thèm trả lời mấy ngàn nhà trí thức phản đối vụ Bauxite. Cho tới nay, người ta chỉ mới thấy phản ứng của các lãnh đạo CS địa phương. Chẳng hạn ông Đào Đức Hoan, Chánh Văn phòng UBND tỉnh Lạng Sơn, đă bác bỏ quan ngại về nguy cơ "mất rừng". Ông ta nói với BBC ngày 22-02 rằng khi cấp phép cho các dự án, chính quyền địa phương đã cân nhắc kỹ lưỡng "vì lợi ích chung của cộng đồng, vì sự phát triển kinh tế-xã hội của tỉnh và quốc gia". Ông Lý Vinh Quang, Giám đốc Sở Kế hoạch - Đầu tư Lạng Sơn, thì khẳng định rằng đất giao cho chủ đầu tư nước ngoài hoàn toàn là "rừng sản xuất chứ không phải rừng phòng hộ" và "không có mua bán đất đai, chuyển nhượng sở hữu mà chỉ có cho thuê". Ông cũng nói cơ quan Tài nguyên-Môi trường tỉnh có cơ chế để giám sát các dự án sao cho bảo đảm về môi trường lâu dài và việc cho thuê đất được thực hiện theo đúng quy trình quy định của Nhà nước. Cuối cùng ông ta bác bỏ quan ngại về yếu tố Trung Quốc trong các dự án, với lý do rằng quá trình thẩm định không phân biệt nhà đầu tư đến từ nước nào. Đây là luận điệu lưỡi gỗ và lường gạt của hầu hết các lănh đạo CSVN, mà người ta từng nghe thấy trước đó qua dự án khai thác mỏ than Quảng Ninh và mới đây qua dự án khai thác bauxite (lẫn uranium) ở Lâm Đồng. Lối khẳng định chắc nịch và lời đoan hứa mạnh bạo kiểu ấy đă và đang sinh ra hậu quả nào cho nhân dân và đất nước th́ ai cũng thấy rơ.
Tất cả các thái độ đó của nhà cầm quyền trung ương lẫn địa phương CSVN ngoài ra c̣n cho thấy một vấn đề đáng lo ngại. Đó là t́nh trạng "quân hồi vô lệnh", "lănh chúa cát cứ" đối với bờ cơi thiêng liêng của Tổ quốc. Dưới không dám phê b́nh trên, để cho trên muốn làm ǵ mặc ư th́ trên cũng thả lỏng cho dưới tha hồ đem tài sản của toàn dân ra "đổi trao bán chác" để kiếm miếng lợi về ḿnh. Ai chịu trách nhiệm ở đây và nhân dân – chủ nhân ông của đất nước – sẽ truy cứu h́nh sự đối với những kẻ nào? Ngày xưa chính quyền trung ương luôn luôn quan tâm đến chính sách "ky my" (trói buộc) để các vị đầu lĩnh nơi biên ải triệt để phục tùng, không thể làm hao tổn một tấc đất nào của Tổ quốc. Nay th́ "ky my" xem ra lại là một sự đổi trao ngầm: anh để cho tôi làm mưa làm gió kiếm lợi ích riêng th́ tôi cũng thả lỏng cho anh tự tung tự tác (theo Vũ Ngọc Tiến).
Cái đó tựu trung nằm trong chính quan niệm của Cộng sản về quyền lực và quyền lợi: toàn thể dàn lănh đạo từ trung ương tới địa phương chỉ là một tập đoàn lợi ích cấu kết với nhau kiểu băng đảng mafia, nắm hết mọi cơ chế quyền lực trong tay để chia chác cho nhau mọi tài nguyên quyền lợi. Chúng bất chấp công lao của tổ tiên, khốn khổ của đồng bào, tụt hậu của đất nước, nguy cơ của giống ṇi. Từng nhượng biển nhượng hải đảo cho lân bang không chút e dè, nay chúng tiếp tục nhượng rừng nhượng khoáng sản là điều tự nhiên. Bởi lẽ đối với chúng, ghế quyền lực và gói quyền lợi là giá trị tối thượng trên đời.

BAN BIÊN TẬP

Kim
03-01-2010, 08:58 PM
Cảnh giác với thủ đoạn bành trướng mềm của Trung Quốc

Nguyễn Trọng Vĩnh


Thiếu tướng Nguyễn Trọng Vĩnh, người có 13 năm làm Đại sứ tại Trung Quốc trong những năm mối quan hệ giữa hai nước đang từ anh em trở thành cừu thù, là người có thẩm quyền hơn ai hết trong việc đo lường bụng dạ nông sâu của nước lớn láng giềng phương Bắc, cũng là một trong những bậc lăo thành cách mạng có mối quan tâm đặc biệt đến sự “hiện diện” bằng nhiều phương cách của Trung Quốc trên đất nước chúng ta hôm nay. Thiếu tướng lại vừa gửi đến chúng tôi bài viết nóng hổi dưới đây, xin trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc. Bauxite Việt Nam Có thể nói bành trướng là một bản chất bất biến của những người cầm quyền Trung Quốc, một sản phẩm mang tính Đại Hán được kế thừa nguyên vẹn từ thế hệ này sang thế hệ khác và phát triển đến mức ngang ngạnh nhất cùng với Nhà nước Trung Hoa hiện đại

I. Thủ đoạn bành trướng cứng (bằng lực lượng vũ trang) của Nhà nước Trung Hoa th́ Việt Nam cảm thấy rơ hơn ai hết. Năm 1974, họ dùng lực lượng mạnh hơn đánh chiếm quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam. Năm 1979 họ đem nửa triệu quân xâm lược các tỉnh biên giới Việt Nam, tuy bị quân dân ta phản kích phải rút lui nhưng nhiều điểm cao sát bên kia th́ vẫn nằm lỳ và giở chiến thuật lấn đất, đắp bờ kè trên sông, nhổ cột mốc thừa cơ cắm dịch sâu vào đất ta để tranh từng tấc sông ngọn núi của ta, khiến cuộc đàm phán về đường biên giới giữa hai nước biến thành một cuộc đấu tranh giai dẳng kéo dài – có thể nói là dài nhất trong lịch sử mọi cuộc thương thuyết biên giới ở Việt Nam từ trước đến nay – mà sự lỳ lợm ranh ma của đối phương trong việc hoạch định đường biên giới trên thực địa khiến các đoàn công tác của chúng ta nhiều lúc phải đối phó hết sức vất vả (xem Wikipedia: Vấn đề lănh thổ biên giới Việt Nam – Trung Quốc). Năm 1988 họ chiếm một số băi đá ngầm ở quần đảo Trường Sa, dùng chiến hạm đánh đắm tàu và giết hại 74 chiến sỹ Việt Nam ra tiếp tế cho quân đồn trú của Việt Nam giữ quần đảo Trường Sa của ḿnh. Họ lại tự ư vẽ một cái “lưỡi ḅ” xâm phạm hải phận quốc tế và bao chiếm gần hết biển Đông. Như thế mà mồm họ cứ nói rất giẻo là Trung Quốc muốn bắt tay với các nước để xây dựng một thế giới hài ḥa, làm sao mà ai nghe được.
Nhắc lại một lần nữa về quần đảo Hoàng Sa. Từ đời vua Minh Mạng thứ 15, đă có sắc chỉ ban cho Đội trưởng Hải đội quân Hoàng Sa, phái Hải đội ra Hoàng Sa t́m kiếm hải sản, coi giữ các đảo và cắm bia khẳng định chủ quyền của nước Đại Nam (Việt Nam ngày nay). Tại đảo Lư Sơn thuộc Quảng Ngăi hiện c̣n miếu Âm Linh, nơi đó dân chúng và Triều đ́nh tế sống các thành viên Hải đội Hoàng Sa trước khi xuất phát. Thời Pháp thuộc th́ Hoàng Sa do một phân đội quân Pháp đóng giữ. Thời Việt Nam Cộng ḥa th́ Hoàng Sa thuộc quyền cai quản của một phân đội quân VNCH. Thử hỏi có bóng dáng một người Trung Quốc nào trên băi “cát vàng” này trong suốt những thời kỳ dài như vậy?
Cho dầu Trung Quốc có lục hết mọi kho thư tịch cũng không t́m ra được cứ liệu cổ xưa nào ghi danh Hoàng Sa thuộc lănh thổ của họ. Ngay cả tấm bản đồ mà tướng Đặng Chung, Tổng binh trấn thủ Quỳnh Nhai (đảo Hải Nam) vẽ cũng ghi Hoàng Sa là thuộc An Nam (Việt Nam). Bí quá, gần đây họ lại bày tṛ “khảo cổ” khai quật Hoàng Sa “t́m thấy tự liệu văn vật Trung Quốc” ḥng chứng minh cái gọi là chủ quyền. Nhưng tư liệu khảo cổ đâu có thể là tiêu chí để xác định chủ quyền quốc gia của bất cứ nước nào. Chưa nói là những “tư liệu văn vật” mà họ rêu rao, có ai chứng minh được là thật hay giả.
Sự thật rành rành là vậy mà họ luôn luôn trơ tráo lu loa rằng Tây Sa (Hoàng Sa), Nam Sa (Trường Sa) và Nam Hải (biển Đông) thuộc chủ quyền của TQ “không thể tranh căi”! Báo chí của Trung Quốc c̣n nói bừa rằng năm 1974 họ “phản kích” “giành lại” Tây Sa (Hoàng Sa), “đẩy lui” Việt Nam, Malaysia, Philippin “xâm chiếm”, “phá hoại” Nam Sa (Trường Sa) (?!). Rơ là giọng lưỡi kẻ mạnh “vừa ăn cướp vừa la làng”!!
Tham vọng bành trướng cứng của TQ c̣n lộ rơ trên tạp chí Hoàn cầu thời báo ngày 18/03/2009 và trên “Đài Phượng Hoàng” của Trung Quốc ngày 09/12/2009, qua các bài báo của các tác giả Đới Hy, Mă đinh Thịnh, Tống hiếu Quân. Trích một đoạn sau đây: “Quân đội của chúng ta cần thiết lập căn cứ quy mô lớn tại Nam Sa (Trường Sa) để bảo vệ việc phát triển nguồn tài nguyên tại Nam Hải (biển Đông), thiết lập căn cứ quân sự trên quần đảo Nam Sa với các cơ sở dành cho máy bay trực thăng và các loại h́nh tác chiến khác… Tây sa (Hoàng Sa) có sân bay, máy bay vận tải, chiến đấu, tiếp dầu, có thể hạ, cất cánh tại đây, hệ thống ra-đa tiên tiến, là một căn cứ quân sự lớn, cộng thêm khi Trung Quốc có hàng không mẫu hạm th́ toàn bộ khu vực Nam Hải (biển Đông) sẽ nằm trong sự khống chế của Hải quân và không Quân Trung Quốc. Như vậy có thể nh́n thấy tương lại Trung Quốc có thể thu hồi toàn bộ các đảo ở Nam hải rồi”.
Dă tâm đến thế mà những người nắm quyền ở Trung Quốc vẫn luôn mồm nói “hữu nghị” ngọt xớt, nhất là đối với Việt Nam để phỉnh phơ những người nhẹ dạ. Ai trong số 85 triệu dân chúng và quan chức nước ta có thể mắc vào “mồi nhử” này được nhỉ?

II. Song song với bành trướng cứng, dựa vào khối dự trữ ngoại tệ rất lớn, những người cầm quyền Trung Quốc hiện đương triển khai thủ đoạn “bành trướng mềm” (bằng đô la). Họ tung tiền ra mua (hoặc thuê dài hạn 50 năm) đất đai, hầm mỏ, núi rừng của các nước nghèo ở Châu Phi, châu Á. Họ đưa người của họ đến khai thác trồng trọt, khai phá, làm nhà, đem vợ con đến hoặc lấy vợ người bản địa, 50 năm sinh con đẻ cháu sẽ thành những làng Trung Hoa, thị trấn Trung Hoa là lănh địa của họ trong ḷng nước sở tại, vô h́nh trung quốc gia hữu quan mất đứt một phần lănh thổ. Khu kinh tế đặc biệt Ḅ Tèn thuộc tỉnh Luông Nậm Thà của Lào chỉ mấy năm lại đây có casino, khách sạn, nhà nghỉ, các cửa hàng… phần lớn là của người TQ, một số ít người Lào chỉ làm các việc như vệ sinh, dọn dẹp, khuân vác… Với 97% dân số là người TQ th́ tự nhiên huyện Ḅ Tèn trở thành một thành phố nhỏ của Trung Quốc, c̣n cựa vào đâu được nữa.
Họ viện trợ không hoàn lại cho nước nghèo để được hàm ơn, từ đó dễ xâm nhập và chi phối. Họ c̣n nham hiểm đến mức “mua” cả người, là những người có chức quyền nào đó, hoặc có vai vế để dễ đàng hoạt động, bằng cách tặng, biếu, đăi đằng, phỉnh nịnh tâng bốc, nếu mua được những người đứng đầu quốc gia – cái đích ngắm lớn nhất của họ – th́ họ tha hồ tự tung tự tác.
Ở Việt Nam họ đă vào được Tây Nguyên, vị trí chiến lược xung yếu số một của nước ta để khai thác bauxite. Gần đây họ lại cùng Hồng Kông, Đài Loan mua (hoặc thuê dài hạn 50 năm) 264 ngàn hecta rừng trong đó có cả một phần rừng đầu nguồn, của các tỉnh từ Quảng Ninh đến B́nh Dương, nói là để trồng nguyên liệu. Chưa biết họ trồng nguyên liệu ǵ, có trồng hay không, nhưng đă mua được th́ họ tự do chặt phá (trong khi ta phát động trồng rừng). Hàng mấy trăm ngàn hecta rừng nhất là rừng đầu nguồn mà bị chặt phá th́ đến mùa mưa, lũ lụt vô cùng lớn chắc chắn sẽ gây tai họa khủng khiếp cho dân, phá hoại đường sá, cầu cống, mùa màng. Mùa khô, nước các sông sẽ cạn kiệt, hoa màu thiếu nước tưới, các công tŕnh thủy điện thiếu nước khó hoạt động. Mặt khác cần phải nghĩ tới việc họ sẽ có thể khai thác tài nguyên khoáng sản quư dưới ḷng đất mang về nước họ. Nhưng c̣n quan trọng hơn nữa là trong các khu rừng rộng lớn ấy sẽ chứa đựng bao nhiêu người Trung Quốc sang khai thác rừng và làm ǵ nữa, có vũ trang không, ai mà biết được. Trách nhiệm thuộc về ai trong mối hiểm họa vô cùng đáng sợ này? Chưa thấy những người cầm cân nẩy mực có câu trả lời.
Đây không chỉ là hành động bành trướng mà là sự phá hoại kinh tế, phá hoại môi trường, phá hoại đời sống của nhân dân và phá hoại an ninh đất nước một cách gớm ghê, thâm hiểm.
Ở đồng bằng và ven biển nước ta, Trung Quốc sẵn sàng bỏ nhiều tiền ra cạnh tranh với các nước, đầu tư xây dựng công tŕnh, xí nghiệp và một khi trúng thầu xây dựng nhiều công tŕnh (trên thực tế họ đă trúng thầu khắp từ Bắc, Trung, Nam, nhưng h́nh như chưa một cơ quan có trách nhiệm nào thống kê xem con số là bao nhiêu), họ đưa ồ ạt lao động của họ vào, cộng với vô số người Trung Quốc vào theo đường du lịch. Thế là từ trên rừng đến đồng bằng, ven biển có hàng vạn người Trung Quốc tự do cư trú, đi lại không kiểm soát được, tạo thành đạo quân thứ 5 của những người cầm quyền Trung Quốc. Mối nguy tiềm ẩn ra sao tưởng không cần phân tích cũng đă rơ!
Trước những hành động của “Ông láng giềng hữu nghị” trên biển Đông cũng như trên đất liền Việt Nam, hàng triệu người Việt Nam yêu nước đang rất bức xúc và sôi gan. Chúng ta phải làm ǵ đây?

Ngày 25-2-2010
NTV
Số 23, ngơ 5, Hoàng Tích Trí, Kim Liên, Đống Đa, Hà Nội

http://www.boxitvn.net

T́nh Quê
03-04-2010, 12:31 PM
'Chúng tôi không phạm luật'
Sau BBC và một số trang mạng, báo chí chính thống Việt Nam những ngày gần đây đưa tin khá dồn dập về lời cảnh báo của hai vị lão thành cách mạng liên quan các dự án cho thuê đất trồng rừng ở trong nước.
http://www.bbc.co.uk/worldservice/assets/images/2010/03/04/100304071144_forest_226b.jpg
Trung tướng Đồng Sĩ Nguyên và Thiếu tướng Nguyễn Trọng Vĩnh hồi cuối tháng 01/2010 đã viết thư lên Bộ Chính trị và Thủ trưởng Chính phủ bày tỏ quan ngại về việc mà hai ông gọi là "bán và cho thuê đất rừng đầu nguồn" để doanh nghiệp nước ngoài trồng rừng.
Bức thư viết, "10 tỉnh trong nước đă cho 10 doanh nghiệp nước ngoài thuê đất rừng đầu nguồn dài hạn (50 năm) trồng rừng nguyên liệu với tổng diện tích 305.3534 ha, trong đó Hong Kong, Đài Loan, Trung Quốc chiếm trên 264.000 ha; 87% ở các tỉnh xung yếu biên giới".
"Các tỉnh bán rừng là tự sát và làm hại cho đất nước. C̣n các nước mua rừng của ta là cố t́nh phá hoại nước ta và gieo tai họa cho nhân dân ta một cách thâm độc và tàn bạo."
Các báo trong nước sau đó đã đăng tải một loạt bài về lời cảnh báo của hai vị tướng và các dự án của nhà đầu tư nước ngoài, trong đó có tập đoàn InnovGreen (Hong Kong).
Tuy nhiên, tiếng nói của chính nhà đầu tư chưa được báo nào phản ánh.
Để rộng đường dư luận, đài BBC đã nói chuyện với ông Dean Wu, Tổng giám đốc InnovGreen Việt Nam.
BBC: Trước tiên chúng tôi xin hỏi thẳng, công ty của ông có khai thác rừng đầu nguồn ở Việt Nam, thí dụ như Lạng Sơn hay bất cứ nơi nào khác hay không ạ?
Ông Dean Wu: Chúng tôi không bao giờ đụng tới rừng đầu nguồn hay bất kỳ cái gì khác mà không có sự chuẩn thuận của chính quyền. Báo chí viết về các dự án của chúng tôi nhưng không hề cho chúng tôi cơ hội giải thích.
Chúng tôi cũng không hề mua đất, mà chỉ được thuê đất trồng rừng thôi. Chúng tôi không lấy đất canh tác của nông dân và cũng không lợi dụng sức lao động của nông dân mà không trả tiền họ. Tuy nhiên, chúng tôi thuê nhân công qua một số nhà thầu, và có thể nhà thầu không trả tiền công đúng hạn.
Việc này chúng tôi sẽ chấn chỉnh.
BBC: Các bài báo gần đây cho thấy quan ngại xung quanh các dự án của InnovGreen, ông có biết quan ngại này không?
Ông Dean Wu: Tôi vừa được mời lên Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn để giải trình về các dự án của chúng tôi, không chỉ bây giờ mà về cả quá trình hoạt động các năm gần đây.
Tôi biết là có lo ngại, nhưng các bài báo mới rồi cũng làm tôi rất ngạc nhiên.
InnovGreen vào Việt Nam năm 2005, tới nay đã 5 năm mà chúng tôi mới được giao có tổng cộng 7.000 ha đất trồng rừng thôi trong khi tổng diện tích trồng rừng theo giấy chứng nhận đầu tư dự kiến là gần 350.000 ha.
Ở Lạng Sơn, InnovGreen mới thuê được 485 ha.
BBC: Thưa ông, công ty của ông trồng loại cây gì ở Lạng Sơn?
Ông Dean Wu: Chúng tôi trồng bạch đàn, là loại cây rất phổ biến tại tỉnh Quảng Tây (Trung Quốc).
BBC: Chúng tôi muốn hỏi ông về địa điểm của các dự án. InnovGreen có dự án ở nhiều nơi, như Lạng Sơn, Kon Tum, Quảng Ninh vv..., được cho là các tỉnh xung yếu. Tại sao InnovGreen lại chọn các nơi đó để lập dự án?
Ông Dean Wu: Thực ra chúng tôi có được chọn đâu. Chúng tôi chỉ được phép đầu tư vào một số vị trí nhất định. Thí dụ, chúng tôi không muốn lập dự án ở những nơi biên giới xa xôi mà muốn những địa điểm gần cảng biển, thuận tiện cho việc vận chuyển.
Thế nhưng Nhà nước chỉ cho phép chúng tôi đầu tư vào các địa điểm mà theo tôi nghĩ nhiều nhà đầu tư trong nước không muốn nhận.
BBC: Công ty của ông có trả tiền cho quan chức địa phương để họ giúp đỡ không?
Ông Dean Wu: Không, không có chuyện đó. Cáo buộc này là không có cơ sở.
BBC: Một trong các quan ngại là quá trình thực hiện dự án quá dài - 50 năm. Liệu phía Việt Nam có thể kiểm tra kiểm soát chặt chẽ được hoạt động của phía nước ngoài trong thời gian dài như thế hay không?
Ông Dean Wu: 50 năm quả là rất dài. Chúng tôi muốn tạo dựng một mô hình mà các bên đều có lợi. Chúng tôi không làm điều gì sai để có thể ảnh hưởng tới uy tín của ông Chủ tịch công ty Steve Chang.
BBC: Một câu hỏi ngoài lề đôi chút, ông là người ở đâu ạ?
Ông Dean Wu: Tôi là người Đài Loan.
BBC: InnovGreen có mang lao động nước ngoài vào các dự án ở Việt Nam hay không, thưa ông?
Ông Dean Wu: Công ty chúng tôi có 350 nhân viên, thì chỉ có 26 người là người nước ngoài làm công việc quản lý và chuyên gia. Chúng tôi không sử dụng nhân công nước ngoài, như nhân công Trung Quốc.
Trong đó 23 chuyên gia, nhân viên kỹ thuật Đài Loan và Trung Quốc đang làm việc tại các tỉnh.
Chúng tôi không có kế hoạch mang nhân công nước ngoài vào Việt Nam