PDA

View Full Version : 3. Theo Việt Cộng



Phu Khuân Vác
03-21-2010, 11:12 AM
Tác giả: hoànglonghải (tuệchương)


3. Theo Việt Cộng

Việc ông Nguyễn Tấn Dũng theo Việt Cộng, ngoài lư do chung của thanh niên ở vùng nầy, ông ta có nhiều lư do riêng. Nh́n chung th́ trước hết là v́ sợ bị bắt “quân dịt, quân gà”. “Quân dịt quân gà” là cách nói đùa của dân địa phương. Đúng ra là sợ đi lính Quốc gia.


Người dân ở đây chẳng “Cộng sản Cộng siếc, Quốc da, quốc xương” ǵ cả. Họ là dân “tu hiền” (theo đạo Ḥa Hảo, cờ Đà) tuy không tích cực và nhuộm nhiều màu sắc chính trị như dân Long Xuyên chính hiệu nhưng bên nào cũng được, miễn được ở yên, lo làm ăn.


Đi lính Quốc gia khổ lắm, nhất là khi bị bắt đi quân dịch. Lính quân dịch gốc miền Nam vùng 4 th́ đưa ra Trị Thiên, Nam, Ngăi Vùng 1 để khỏi trốn về.
Lên đường ra miền Trung th́ lâu lắm, vài ba năm sau, mới được về phép, nhiều khi có đi không về, có khi về trong… quan tài. Nhưng thật ra, thường th́ khi tử trận, bị chôn luôn ở “ngoải”, gia đ́nh chỉ nhân có cái giấy báo tử và “tiền tử”

Dù vậy, nếu có được cái bằng tú tài (gia đ́nh nào khá giả cho con ra học ở Rạch Giá hay Cần Thơ, Saigon) khi đi lính cũng đi sĩ quan Cộng Ḥa. Sau 1975, không ít người được “cách mạng” cho đi “học tập” mút mùa Lệ Thủy.


Có người tới tuổi cũng đăng vào nghĩa quân hay địa phương quân, phục vụ gần nhà. Nhưng việc nầy hơi rắc rối, một là phải có “trà nước” hoặc có bà con làm việc ở quận, tỉnh, v.v…
Vào Nghĩa Quân th́ chỉ quanh quẩn ở quận. Đêm tới đồn ngủ, canh gác. Ngày th́ chia vài người ở lại giữ đồn, phần đông về nhà làm ruộng, tới chiều tối lại vô đồn.

Làm lính kiểu nầy khoẻ lắm. Sáng về nhà, chiều vô, xách theo ít đồ nhậu, chai rượu, họp nhau nhậu cho tới khuya.

Đồn Vàm Rầy (xă Đức Phương, xă của “chị” Tư Nết - Xin xem lại bài trước để biết chị Tư Nết là ai!)), có nhiệm vụ giữ cầu Vàm Rầy. Chiều lại, nghĩa quân vô đồn, kéo concertina chận hai đầu cầu, không cho ai qua lại v́ đă tới giờ giới nghiêm. Xong, kéo nhau ra giữa cầu cho được trăng thanh gió mát, nhậu đă đời sương gió. Riết rồi thành thói quen.

Việt Cộng điều nghiên, chờ khi mấy chú nhậu đă, chúng lặn vô chân cầu, cột ḿn, cho nổ. Vậy là nghĩa quân lớp chết, lớp bị thương, lớp mất tích. Có người mất tích bị nghi là theo Việt Cộng. Mấy ngày sau, có mùi hôi thúi từ trong đám lau gần chân cầu phát ra. Người ta t́m tới xem, té ra có một chú “mất tích” chết nằm trong ấy. Sức mạnh của ḿn hất anh ta từ cầu văng vào bụi lau mà không ai hay. Việc nầy xảy ra hồi mùa hè 1974.


Ai không đăng được Nghĩa Quân hay Địa Phương Quân mà không muốn đi quân dịch để bị đưa ra tới “ngoải” th́ lủi vô bưng. Ban đầu chỉ mới lủi vô bưng, chưa theo Việt Cộng. Theo Việt Cộng cũng dễ chết không thua ǵ đi lính Quốc Gia.

Năm ba anh trốn quân dịch dựng một cái cḥi trong đám lơi rừng chồi, lơi rừng tràm trong rừng. Lơi là môt cái rừng nhỏ, chung quanh là lau sậy, đế, ô-rô, cóc-kèn, v.v… không quá gần ngoài kinh, ngoài lộ, vùng Quốc Gia, không quá sát rừng Tràm, gần Việt Cộng.

Họ sinh sống bằng nghề giăng câu, đạt lợp, bắt cá. Gia đ́nh tiếp tế gạo muối, thuốc rê, áo quần vào, lấy cá tươi hay cá khô đem về bán kiếm tiền. Hễ có Việt Cộng từ trong rừng ra tuyên truyền theo “Cách Mạng” th́ cũng ừ hử cho qua chuyện hay hẹn lần hẹn lửa. C̣n lính Quốc Gia có vô th́ chúng lội tuốt vô rừng tràm.

Trong rừng nhiều Việt Cộng, lính làng lính lệ cũng ít dám vô. Có lần lính thám báo chi khu đi ŕnh Việt Cộng, bắn lầm. Hai người chết, c̣n lại bị thương, cho ghe chở ra bệnh viện Rạch Giá, c̣n người chết đem xác về chôn, chẳng thưa kiện ai được.
Có ông hội đồng tỉnh tính làm lớn chuyện nầy để kiếm phiếu cho kỳ bầu cử tới nhưng gặp ông Quận Trưởng cao tay ấn, vừa đánh vừa thoa nên mọi việc êm xuôi.


Ngoài lư do chung như tôi vừa nói ở trên, Nguyễn Tấn Dũng (NTD) có những lư do riêng.
Trong bài “Chị Sứ - Ḥn Đất”, tôi có nói là dân địa phương đồn đăi (sau 1975 người ta đồn càng dữ, chẳng ai cải chính. NTD cũng không dại ǵ cải chính rằng ông ta là cháu ngoại ông Nguyễn Sinh Sắc, tức gọi Hồ Chí Minh bằng cậu).

Hồi đầu thế kỷ 20, ông Nguyễn Sinh Sắc, sau khi bị cách chức Tri Huyện B́nh Khê, ông lưu lạc vào Nam làm thầy thuốc Bắc, hết Saigon rồi tới miền Tây, và qua đời ở Cao Lănh.

Ngôi mộ hiện c̣n ở Cao Lănh, do một ông Quận Trưởng Quốc Gia thời Ngô Đ́nh Diệm xây cho, cũng khang trang đẹp đẽ (không biết Việt Cộng có làm được như vậy hay phá mộ người ta rồi san bằng?!).

Khi ở Cao Lănh, ông Sắt có léng phéng với một người đàn bà, sinh ra một đứa con rơi, con gái (ḍng họ Hồ nầy sao nhiều con rơi vậy, kể từ đời ông Hồ Sĩ Tạo là ông nội “thiệt” của ông Hồ Chí Minh).
Người con gái rơi đó là mẹ ông NTD. Cũng có người đồn NTD là con rơi của Nguyễn Chí Thanh.

Thân phụ NTD là ai?

Có thể là một ông cán bộ người Bắc vô Nam hoạt động hồi 9 năm (1945-54). Người ta cũng đồn sau khi hiệp định Gevève kư kết, ông nầy không tập kết ra Bắc mà nằm vùng trong Nam, cũng ở Rạch Giá, bí danh là Ba Kiếm.

Hồi tôi về Cái Sắn, lật hồ sơ trận liệt ra xem th́ thấy Ba Kiếm là bí thư huyện Châu Thành B.
Huyện Châu Thành B. của Việt Cộng là từ kinh Cái Sắn về hướng tây, giáp với huyện Hà Tiên. Chỗ ranh giới hai huyện nầy của Việt Cộng th́ tôi không biết, nhưng trên trục lộ LTL 8A từ Rạch Giá - Hà Tiên th́ xă Tín Đạo thuộc huyện Hà Tiên, c̣n gần Rạch Giá hơn như xă Sóc Soài, xă Mỹ Lâm của ông Dũng th́ thuộc huyện Châu Thành B của Việt Cộng.


Hồ sơ trận liệt cho biết Ba Kiếm là người gốc Bắc. Ban đầu tôi hơi ngợ ngợ, không lư Ba Kiếm là “dân di cư”. Hỏi ra th́ không phải, ông nầy vào Nam hồi 9 năm kia lận. Tuy nhiên, hồ sơ trận liệt cũng không nói con của Ba Kiếm là những ai.

Mẹ là con gái rơi của Nguyễn Sinh Sắc, không rơ chồng là ai mà đẻ ra NTD, hay con rơi của Nguyễn Chí Thanh hay con ông bí thư huyện Châu Thành B.

Không ai biết đâu mà ṃ cho ra tung tích, trong khi Cộng Sản cái ǵ cũng bí mật nên lư lịch mấy tay Cộng Sản tối thui, không đâu ra đầu mối.

Đúng là một đám hỗn độn, lộn xộn, toàn là con hoang, con nôm, con lạc ḍng, con lạc vất lạc vơ.
Nh́n chung, từ đám chóp bu cho tới đám hạ tầng xă ấp, như người ta thấy trong truyện “Ba Người Khác” của Tô Hoài th́ rơ rồi.


Ngay chóp bu thứ nhứt, cũng là con lạc ḍng của ông Hồ Sĩ Tạo.

Bố ông Nguyễn Sinh Sắc được người ta gọi tới mà gả con gái cho, một người đă có bầu, có lẽ bụng cũng chưa lớn lắm khiến thiên hạ dễ hồ nghi.
Tưởng vậy là che được mắt thiên hạ, nhưng rồi cả làng Kim Liên, làng ông Hồ Chí Minh, ai cũng biết ông bố ông Hồ Chí Minh là con lộn ṣng.

Cộng Sản chủ trương dấu kín, cái ǵ cũng dấu, dấu sự thực và công bố sự giả. Họ quên mất một điều, có cái sự thật nào ở đời nầy mà che dấu được thiên hạ. Một năm, hai năm, không biết; năm mười năm, người ta cũng biết, có dấu ai được đâu?


Đám đệ tử của Hồ, không ít người cũng là thứ lạc vất lạc vơ đâu đó:

-Trần Quốc Hoàn là thằng Cảnh du thủ du thực. Điều nầy ông Vũ Thư Hiên rơ lắm.

-Phùng Thế Tài cũng là một hạng như thế, điều nầy ông Việt Thường cũng rất rành.

Từ một thằng du thủ du thực, dựng nó thành ông nầy, ông kia, cho nó địa vị, cho nó quyền lợi, cho nó hưởng thụ, sung sướng… th́ có điều ǵ sai nó mà nó không làm được để bảo vệ quyền lợi của nó, phe đảng của nó.

Đó chính là cách dùng người của Hồ Chí Minh nói riêng hay Cộng Sản nói chung vậy. Cách dùng người như vậy đều có bài bản cả.


Đám nầy, từ Hồ Chí Minh trở xuống, người ta gọi bằng nhiều tên: Con lộn ṣng, con lạc ḍng, con hoang, con nôm.

Có lẽ tiếng con nôm hơi lạ, tôi xin giải thích: Nôm ở đây không phải là văn chương chữ Nôm, biến dạng của chữ Nam như tôi có giải thích trong hai bài nói về “Văn Chương Chữ Nôm” và “Những Bài Thơ Nôm Đầu tiên…” mà nôm, theo thông tục, là hành động của một người đàn ông trèo lên bụng của một người đàn bà. Việc nầy phải vụng lén, không hợp lệ, không hợp pháp… của hai người không phải là vợ chồng.

Vợ chồng ăn nằm với nhau như thế không thể gọi là nôm. Ở xứ tôi, tại miền quê, chữ nôm c̣n một nghĩa khác nữa.

Ví dụ: “Bác qua nôm cho mạ tui một mụi, mai cha tui qua nôm lại.”

Tiếng nôm như thế có nghĩa là qua cày giúp, bừa giúp cho một bữa (một mụi).

Theo nghĩa trước th́ ông Hồ Sĩ Tạo nhân lúc khuya khoắt, ai cũng ngủ say cả, giả bộ đi tiểu tiện rồi vô lộn giường, hoặc lợi dụng chỗ vắng người, ngoài bụi tre, bờ ruộng mà nôm bậy một chị nông dân nào đó.

Chị nầy có bầu, sợ mang tiếng, sợ làng bắt vạ (hồi xưa không chồng mà chữa th́ bị làng bắt vạ v́ tội làm thương luân bại lư) đem gả cho bố ông Nguyễn Sinh Sắc.

Do đó, cái gốc chính của ông Hồ Chí Minh, không dính dáng ǵ tới ḍng họ Nguyễn Sinh cả, nên sau khi lên ngôi hoàng đế, anh học tṛ lớp ba trường Pháp Nam ngày xưa ở Huế nay trở lại với cái họ gốc của ḿnh, là họ Hồ, bèn tự đặt tên cho ḿnh là Hồ Chí Minh. Họ Hồ là họ gốc, c̣n tên Chí Minh là tên mượn ông Vương Chí Minh, một cán bộ Cộng Sản Tàu.

Vậy Nguyễn Tấn Dũng con ai?

Con ai th́ không biết, nhưng rơ ràng là con nôm của Việt Cộng theo cái nghĩa ở trên.

Hồi nhỏ, NTD không được ngó ngàng tới, nên phải ở với “ngụy”, học trường “ngụy”.

Dưới con mắt Cộng Sản, cái “ngụy” nầy ảnh hưởng tới NTD nhiều lắm, nhưng mọi việc cho qua v́ có lẽ hiện giờ ông ta có gốc lớn nào đó.

Cứ “bảo lưu” cái chất “ngụy” đó trong con người NTD, mai mốt, cần th́ đem ra xài chơi, kiểu như Lê Đức Thọ, nắm trong tay cái đơn “hồi chánh” với Thực Dân của Vơ Nguyên Giáp, chờ khi Giáp rắp ranh ra làm tổng bí thư th́ ch́a cái đơn “hồi chánh” đó ra cho các “đại biểu” xem.
Kết quả là Bùi Tín kẹt cứng bên Pháp, “ra đi không có ngày về”… vinh quang.

Những khi tạm yên, huyện ủy Châu Thành B. đóng tại Tà Keo, thuộc xă Mỹ Lâm, xă của NTD.
Hễ t́nh h́nh căng thẳng, đánh nhau dữ th́ huyện ủy Châu Thành B chém vè, rút về kinh Kháng Chiến.

Nhân đây cũng xin nói thêm, Tà Keo thuộc ranh giới ba quận của Việt Nam Cộng Ḥa:
-Tận cùng phía nam quận Huệ Đức, thuộc Long Xuyên, chi khu nầy ít khi vói tới đây; phía cực tây quận Kiên Tân (tức phía cực nam xă Tân Hội - cũng thuộc quận Kiên Tân) và phía tây-bắc quận Kiên Thành.

Chi khu Kiên Tân có cho đóng một cái đồn nghĩa quân cuối xă Tân Hội, chỉ ngồi ngáp ruồi, chờ khi có lính làng lính lệ hay cảnh sát đi bắt quân "dịt", quân gà th́ bắn ba phát báo động để đào binh hay quân dịch quân gà biết mà dông tuốt vô đồng chó ngáp, chẳng ai nắm trúng gị chúng.

Chỉ có quận và chi khu Kiên Thành đóng ở quê hương của ca sĩ La Thạch Tuyền mới cho thám báo hoạt động ở đây.

Tôi có “hành quân vào phía nam xă Tân Hội một lần, đi lạc qua Kiên Thành, bị thám báo bên đó đánh cho một trận, may leo lên được xe cày mà chạy về kịp. Dịp đó, tôi tưởng là Việt Cộng, tụi nó dàn ra một trung đội, phía tôi chưa tới 5 ngoe, chạy trối chết. Hóa ra, về tới nơi, mở máy PRC 25 liên lạc mới biết là thám báo chi khu Kiên Thành.

Đám nầy giả cách ăn mặc và mang súng AK nên tôi tưởng lầm Việt Cộng. Trước khi chạy, chúng tôi bắn lại cũng gắt, cản đường chúng đuổi theo. May mắn chẳng ai chết, chẳng ai bị thương chớ không th́ tôi đă mang hia đội măo ra chầu ṭa án Quân Sự vùng 4 rồi.

“Ham” đi đánh nhau với Việt Cộng, nghĩ lại thiệt là dại. Cái ham làm cho ḿnh chết dễ như không.

Đó là kỷ niệm thứ nhứt về quê hương NTD. C̣n một kỷ niệm nữa, xin kể cho vui.


Khoảng đầu năm 1975, t́nh h́nh quân sự bấy giờ không yên như khi hiệp định Paris mới kư.

Một hôm tôi đi Rạch Giá với tài xế và một anh tà lọt ngồi phía sau. Tôi th́ lái xe, tài xế ngồi bên cạnh, lăm lăm khẩu AR 16, hễ thấy Việt Cộng là nổ súng ngay. Anh tà lọt th́ mang một cây M-79.
Mới tháng trước, tôi cũng đi Rạch Giá, về gần tới Đồn Giữa (ranh giới xă Tín Đạo và Đức Phương) th́ bị Việt Cộng từ bên kia kinh bắn B-40 qua.

Bên tôi chỉ có 4 người: Tôi, tài xế và hai anh tà lọt ngồi phía sau.
Biết B-40 bắn không tới, vă tụi nó cũng chỉ vài ba ngoe từ trong rừng ra khuấy rối chơi, nên tôi cho xe dừng lại, núp phía sau cabin xe, chỉa “Đại bác cầm tay 40 ly” gởi cho chúng nó ít quả làm quà.
Trên ruộng nước, tụi nó chân thấp chân cao chạy trối chết. Bọn tôi thấy vậy càng vui, gởi tặng thêm ít quả nữa. Cũng may, chúng tôi chẳng ai có bằng thiện xạ nên tụi nó thoát chết lần đó.


Trở lại hồi đầu, khi chạy xe ngang qua xă Mỹ Lâm tôi thấy một chiếc xe Jeep A-2 chạy ngược chiều.
Xe qua rồi, tôi thoáng thấy trưởng xa mang hai sao! Tôi nói thầm: “Trời! Ông tướng nào mà gan dàn trời vậy cà? Dám đi một ḿnh, một tài xế và một tà lọt như tôi vậy.”

Vùng nầy tôi đi quen nên tôi không sợ Việt Cộng, c̣n ông Tướng ở xa, biết xứ nầy như thế nào sao mà dám đi lang bang?

Tôi hỏi tài xế:
-“Ông tướng nào vậy mầy?”

Tài xế trả lời:
-“Chắc là ông Tướng Quân Khu”.

Tôi giật ḿnh. Tướng Quân Khu là ông Nguyễn Khoa Nam. Trời! Thấy ông Tướng Quân Khu mà chẳng chào kính ǵ cả, lái xe tỉnh bơ, coi như hai bên “ngang nhau.”

Ở vùng 4, trước kia là tướng Trưởng, bây giờ là tướng Nam, hai ông gan như nhau, chẳng ông nào sợ… Việt Cộng cả.

Cũng hôm đó, trên đường về ngang Mỹ Lâm, xe Jeep tôi lại hỏng máy: Dinamo không charge nên hết b́nh (điện).

Mặt trời đă gần ngọn cây, trời tối dần, đường về c̣n xa, bụng tôi hơi lo.
Hồi đó tôi chưa biết NTD, nhưng nếu biết, lỡ NTD có ṃ ra tới lộ, tôi cũng chỉa súng “nghinh đón” chớ không lư để Việt Cộng bắt sống sao?
May có chiếc xe Dodge Thiết Giáp chạy ngang thấy tôi là người quen, bạn đồng khóa, ḍng dây kéo về tới chỗ đóng quân c̣n sửa xe giùm cho.
Cám ơn Trời Phật!


(kỳ tới: Đường Giây 1-C (http://motgocpho.com/forums/showthread.php?15155-4.-Đường-Giây-1-C))