PDA

View Full Version : 5. Đường Giây 1-C (Rừng Tràm Trà Tiên)



Phu Khuân Vác
03-21-2010, 03:19 PM
Tác giả: Tuệ Chương hoànglonghải


5. Đường Giây 1-C (Rừng Tràm Trà Tiên)

Thượng sĩ Huỳnh Phước Hưng, trưởng ban thẩm vấn, cầm tập b́a đựng bản cung của Hoàng Thị Vân, đưa cho tôi, nói:
- “Con nhỏ mới nứt mắt mà đă trốn nhà theo trai!”
Ngạc nhiên, tôi hỏi:
- “Nó hồi chánh mà?”
- “Hồi chánh mẹ ǵ đâu. Ông đọc bản cung th́ biết, mắc cười lắm! Ông nói phải, đúng là bọn Cộng phỉ?”

Bọn Cộng Sản vùng nầy, kể cả Nguyễn Tấn Dũng, trưởng ban Quân y huyện đội Hà Tiên, đúng là bọn Cộng phỉ. Cộng phỉ là chữ của cố tổng thống Ngô Đ́nh Diệm gọi bọn Cộng Sản miền Nam, khi ông c̣n là tổng thống.

Ṭ ṃ, tôi đọc một mạch hết bản cung dài khoảng bốn năm trang đánh máy. Tôi lại c̣n cho gọi con nhỏ đó lên văn pḥng tôi hỏi chuyện tiếp cho rơ ràng hơn.

Con nhỏ 17 tuổi, không đẹp lắm nhưng có duyên, nước da đen, má căng tṛn thời con gái, tóc đen, cằm hơi nhọn, môi tươi. Tôi hỏi:

- “Cháu và thằng Hùng yêu nhau như thế nào? Tại sao nó theo Việt Cộng?”

Con nhỏ trả lời:

- “Cháu và anh Hùng yêu nhau mấy năm nay. Cha Hiền cũng biết, không ngăn cản, biểu lo đám cưới. Không cưới được v́ anh ấy sắp bị gọi đi lính, tới tuổi rồi. V́ chi khu bắn chết mấy người trốn lính trong rừng tràm, anh Hùng cháu sợ, không dám trốn vào rừng tràm nữa. Ăn tết xong, anh dông tuốt vô trỏng ở với họ. Vào đó c̣n có ngày về, đi lính quốc gia là đi mất tiêu luôn. Với lại, vào trỏng theo anh hai Tiếu, c̣n đánh bắt cá giúp gia đ́nh, c̣n được cho đốn tràm đem về bán. Anh Hùng theo Việt Cộng cũng chỉ v́ chừng đó, không phải ưa chống Quốc Gia.”

- “Tụi bây có đạo tại sao theo Cộng Sản vô thần?” Tôi hỏi.

- “Tụi cháu không biết ǵ chuyện đó hết. Sống tới đâu, hay tới đó.”

- “Thằng Hùng vô trỏng, cháu vô làm chi?” Tôi hỏi, nhắc lại lời nó đă khai trong bản cung.

- “Trước khi Hùng đi, hai đứa cháu có gặp nhau. Hùng biểu ở lại nhà, lâu lâu Hùng sẽ hẹn gặp nhau trong rừng tràm. Nhưng nhớ Hùng quá, cháu liều đi theo!” Con nhỏ trả lời.

Tôi hỏi:
- “Vô trỏng, có thằng cán bộ yêu cháu. Nó là thằng nào?”

-Mới vô, cháu không rơ tên, nghe gọi là anh Ba, trưởng ban quân y huyện đội. Anh nầy quyền lắm. Anh ta yêu cháu nhưng cháu không yêu. Cháu chỉ yêu Hùng?”
- “Tại sao?” Tôi hỏi, “Hùng chỉ là du kích. Anh nầy quyền chức cao hơn, sao cháu không yêu?”
- “Hùng đẹp trai hơn. Hùng cao ráo, dáng dấp như thiếu úy Sơn. C̣n anh nầy lùn.” Cô ta cười. “Vă cháu chỉ yêu một người thôi chớ.”
- “Vậy rồi thằng Hùng ra chiêu hồi?” Tôi hỏi.
- “Dạ, Hùng buồn. Hùng nghĩ là cháu bỏ Hùng theo anh cán bộ trưởng ban kia, nên buồn t́nh bỏ ra, chiêu hồi. Cháu nghe Hùng chiêu hồi, cháu cũng ra luôn.” Vân giải thích.

- “Không ở lại với anh chàng lùn?” Tôi cười, hỏi.
- “Ai mà thèm!” Cô ta trả lời.
- “Hùng làm ǵ trỏng? Được họ phát súng ống ǵ chưa?”
- “Hùng chỉ là du kích, thường ngày gác phía ngoài mật khu. Khi cháu vô trỏng, anh ấy mới được phát súng M-16 của Mỹ.” Vân trả lời.

Tôi hỏi tiếp, ư nầy cũng đă được thượng sĩ Hưng hỏi rồi:
- “Vậy cháu có súng chưa?”
- “Có, cháu có súng AK.” Vân trả lời.
- “Tại sao hai đứa khác nhau?” Tôi hỏi. Ư nầy thượng sĩ Hưng chưa hỏi.
- “Mới vô, sau khi xác minh xong, họ phát M-16. Thử thách một thời gian, mới có AK.”
- “Cháu mới vô lại được phát AK ngay. V́ sao?” Tôi hỏi.
Vân giải thích:
- “Cháu vô được hai ngày th́ chuyển qua ban quân y huyện đội, được phát súng AK ngay, lại có anh trưởng ban theo sát cháu. Chừng đó cũng đủ làm cho Hùng khó chịu. Hùng hỏi cháu về quan hệ giữa cháu và anh trưởng ban. Cháu nói có ǵ đâu nhưng Hùng hiểu mọi chuyện, Hùng buồn, rồi bỏ ra ngoài nầy.”

Tôi chỉ cái mũ tai bèo màu xanh biển, c̣n rất mới, hỏi:
- “Họ mới phát?”
- “Dạ. Cháu cũng được phát quần áo nữa. Hùng th́ chưa có ǵ hết.” Vân nói.

Rất tiếc là tôi không nhớ hỏi con nhỏ trưởng ban quân y huyện đội tên là ǵ, chỉ nhớ nó gọi là anh Ba. Có phải là Ba Dũng, ngày nay là thủ tướng Việt Cộng?

Quan trọng khi hỏi cung là hỏi về các cán bộ lớn như bí thư, phó bí thư, kinh tài, hoặc huyện đội trưởng, xă đội trưởng để theo dơi hoạt động của nó hầu t́m phương cách giải hóa.
Giải hóa là danh từ “Phụng Hoàng”, bắt hoặc giết, chớ c̣n như trưởng ban quân y th́ có ǵ quan trọng đâu. Thứ nầy chỉ ở sau, đâu có ở tuyến đầu, đâu có chức chưởng ǵ quan trọng, không khác mấy với “Bà Già Trầu” mà tôi đă có nói tới trong bài “Bác Sĩ Việt Cộng”.

Cỡ như Ba Dũng th́ học hành ở đâu, sức học đâu có bao lăm. Theo Việt Cộng, khi c̣n nhỏ, th́ đủ để cho bọn lớn đầu sai vặt, nấu cơm, pha trà, càphê. Anh nào có thế lực th́ được cho về U-Minh học trong rừng, trong những cái lán tranh, cũng đặt tên là trường nầy trường kia, học lấy có, thầy tṛ tŕnh độ cũng như nhau. Về quân y th́ có hai trường, một trường ở U-Minh và một trường ở Cục R. Ban đầu ra y tá, ít lâu sau lên y sĩ, học thêm vài tháng ra bác sĩ. Phục vụ trong ngành quân y nên chỉ ở mặt sau, một “ân sũng” dành cho con em cán bộ có chức quyền.

Đấy. Tụi nó theo Việt Cộng là như vậy đấy, đâu phải là có lư tưởng ǵ đâu. Hai Tiếu, Lâm Hải, Bảy Mốc, Tư Ngọc, v.v… mỗi người một lư do khác nhau, nhưng tựu chung, toàn là lư do tầm bậy, hổ lốn, thổ phỉ, chẳng ai có lư tưởng cao siêu ǵ cả như Cộng Sản hô hào, tán dương. Tôi sẽ nói rơ từng trường hợp về sau.


Trước khi trở lại chuyện con nhỏ Hoàng Thị Vân và tên Hùng, nguyên quán ấp kinh 1, xă An Ḥa, tôi muốn nói qua về người dân xóm Núi Trầu là dân xă An Ḥa nầy.

Xă An Ḥa nằm chung quanh núi Trầu, phần đông tập trung ở chân núi phía bắc v́ gần kinh Rạch Giá - Hà Tiên để có nước ngọt. Ba phía kia, dân thưa hơn v́ nước phèn.
Hầu hết dân xă An Ḥa theo đạo Thiên Chúa, linh mục chánh xứ tên là Nguyễn Thượng Hiền, chưa già lắm c̣n nhanh nhẹn, chống Cộng một cách kín đáo v́ xă ông gần mật khu Trà Tiên.
Ổng sợ nửa đêm tụi nó ṃ ra “thịt” ông dễ như không! Dân ở đây gốc Bắc, không phải di cư năm 1954 mà trước đó khá lâu.
Khoảng năm 1939, 40, Tây đồn điền dụ dỗ họ vào Nam, không vào miền Đông Nam bộ làm phu cạo mũ cao su mà về vùng Rạch Giá làm ruộng.

Vùng Cờ Đỏ ở Long Xuyên, vùng Nam Thái Sơn ở Rạch Giá như tôi đă tŕnh bày trong bài Ḥn Đất - Chị Sứ, và vùng núi Trầu nầy là dân Bắc di dân vào hồi ấy.

Thế rồi Tây thất trận bên nước họ, nước Pháp bị Đức Hitler chiếm đóng, Tây thực dân bên nầy sa cơ lỡ vận, để cho các đám di dân nầy vất vưỡng. Vậy là các ông cha đạo t́m tới, truyền giảng, giúp đỡ. Dân vùng núi Trầu theo đạo gần hết. Dân Nam Thái Sơn và Cờ Đỏ th́ không.

Dù theo hay không, năm 1945, 46 hầu hết đều theo Việt Minh chống Pháp, ai ai cũng yêu nước, nhiệt t́nh, hăng hái. Hồi 9 năm (tiếng dân địa phương gọi cuộc chiến tranh Đông Dương lần thứ nhứt: 1945-54), núi Trầu là cơ xưởng công binh của Việt Minh, chế tạo ḿn, tạc đạn, lựu đạn nội hóa...

Năm 1953, vào dịp Tết, lính nhảy dù Tây nhảy xuống núi Trầu, gặp thanh niên, đàn ông, ông già đều bắn chết hết như tôi có kể trong bài nói về Tết Mậu Thân ở Huế 1968. Việt Cộng c̣n tàn ác hơn cả Tây Marốc hồi đó.

Ở Huế, chúng nó giết cả đàn bà, con gái, trẻ em… Cho nên, người dân An Ḥa, giống dân Huế một điểm, tới ngày Tết, nhà nào cũng có giỗ để cúng người bị giết, bị Tây giết như ở An Ḥa hay bị Việt Cộng giết như ở Huế.


Hồi tập kết năm 1954, dân Cờ Đỏ, Nam Thái Sơn nhiều người tập kết ra Bắc theo Cộng Sản như Nguyễn Quang Quưnh, dân Nam-Thái-Sơn làm bí thư tỉnh ủy Kiên Giang sau 30 tháng Tư- 1975, sau đó bị mất chức.

Dân An Ḥa, không ai tập kết. Hầu hết rời Việt Minh, theo Quốc Gia và chống Cộng. Ngoài trừ một ḿnh Ba Nhân, theo Việt Cộng làm kinh tài để kiếm tiền bỏ túi. Tên nầy bị phe ta phục kích giết ở Tà Keo. Tôi có đọc hết giấy tờ hồ sơ riêng của tên nầy trôi trên kinh, do dân chúng vớt được đem cho. Không biết lực lượng nào phe ta bắn chết y, h́nh như họ để cho xác y trôi ra biển sau khi lấy số tiền trong người y v́ y là cán bộ kinh tài nên có rất nhiều tiền.

Dân An Ḥa làm nhiều nghề để sinh sống, trước hết là nghề đốt ḷ vôi. Vôi trắng để sơn nhà. Độc giả thấy ở Bến Hàm Tử trên Chợ Lớn có mấy “dựa” (vựa) bán vôi, ấy là vôi của dân An Ḥa như ông Ba Để, ông Ba Nhân, ông Chín Vĩnh,... chở lên cho chủ vựa, hay chính họ cũng lên mở vựa bán vôi trên ấy như ông Đức Thắng, tự Thắng Cụt.

Hai là nghề làm ruộng, không nhiều, chỉ đủ gạo ăn.

Ba là nghề trồng rau xanh - thường gọi là làm rẩy - v́ thị trường tiêu thụ không có nên trồng cũng không nhiều. Gốc Bắc Kỳ, không ít nhà trồng rau muống. Ở đây người ta trồng rau muống khác với Huế (rau muống nước) hay Dốc Mơ, Gia Kiệm (rau muống khô).

Đất quanh núi Trầu rất tốt, là đất than bùn, đen như bùn. Tới mùa khô, người dân cuốc đất lên, phơi đất cho khô, cào đất cho tơi, rồi rải hột xuống như người ta gieo mạ. Hột rau muống chen nhau mà mọc, kín quá, thiếu nắng nên cọng rau trắng như cọng giá. Khi ăn, người ta nhổ như nhổ mạ, cắt ngang gộc, đem nấu với vịt, chao, gọi là vịt nấu chao là món thường dùng đăi khách quí.

Thứ tư là nghề làm cá. Có hai loại: Cá biển và cá đồng.
Xă An Ḥa có vài chủ ghe đánh cá biển bằng loại ghe xịp, đánh cá bằng cách xúc. Chiếc ghe có hai cái càng dài. Khi ra tới biển, chỗ nào có cá th́ gắn lưới vào hai cái càng, đẩy hai cái càng tới trước. Ghe vừa chạy vừa xúc cá. Thỉnh thoảng, kéo hai cái càng lên mà xúc cá, tôm mắc vào lưới.

Cá biển không nhiều, số đông là cá phân (cá để làm phân), bán cho hăng Somaco của ông Đặng Văn Lân ở Ḥn Heo.
Ông Lân là em bác sĩ Đặng Văn Sung chủ báo Chính Luận ở Saigon, có dịp tôi sẽ nói sau.

Một ít loại cá lớn hơn, ăn được th́ đem bán ở chợ quận hay phơi khô. Họ cũng đánh bắt được nhiều tôm, chỉ đủ bán cho dân địa phương. Cứ khoảng chiều, họ cho ghe nổ máy chạy ra đánh cá ở vịnh Thái Lan, gần biển, không đi xa quá. Đánh bắt suốt đêm, đến sáng th́ về. Dĩ nhiên, muốn có huê lợi chút ít, trong nhà cần có con trai. Người già không làm nỗi. Khổ nỗi con trai tới tuổi “quân dịt quân gà” th́ phải t́m cách trốn tránh như hoăn dịch v́ lư do tu sĩ (tôn giáo) mà có tu hành ǵ đâu, con trai độc nhứt v́ có cha mẹ già trên 60 tuổi (phần nhiều là giấy giả), làm giấy căn cước quá tuổi đi lính, hoặc làm lính kiểng.
Cách nào cũng phải tốn tiền trà nước mới xong. Nhờ có ghe đánh cá, có huê lợi nên cũng đỡ hơn các gia đ́nh nhà nghèo khác. Được cái, làm nghề cá biển không dính dáng ǵ tới Việt Cộng như làm cá đồng.

Làm cá đồng “quan hệ” với Việt Cộng như thế nào?

Mùa nước nổi, đồng hoang hay đồng lúa, nước lên ngập cả. Cá từ trên nguồn sông Bassac, tức sông Hậu theo nước tràn vô đồng, sinh sôi nẩy nở vô số kể. Khi nước rút, cá tụ lại trong những cái vũng sâu ở trong đồng, thường gọi là đ́a. Nước càng ngày càng khô, cá càng ngày càng rặc. Người dân chỉ cần lội xuống, lấy thùng mà múc, chẳng cần lưới, câu ǵ cả. Bắt cá phải đúng lúc, nước c̣n nhiều khó hốt, nước rặc quá, cá sẽ hôi bùn, khó ăn.

Một vũng nước như vậy, “thu hoạch” ba bốn chục thùng (loại 20 lít) là thường, kiếm cả trăm ngàn. Mối lợi thiên nhiên nầy có từ ngàn xưa.

Hai Tiếu, tên là Nguyễn Văn Thôn, tự Tiếu nguyên là dân ấp Ngă Ba, xă An B́nh. Tới tuổi quân dịch, anh ta trốn vô rừng tràm rồi nghe lời Việt Cộng, bỏ vô mật khu, làm du kích. V́ thiếu cán bộ hạ tầng cơ sở, theo Việt Cộng chưa được ba năm, Tiếu đă lên tới chức bí thư xă. Tới chức nầy th́ quyền hạn lắm, gia đ́nh y c̣n ở ngoài bờ kinh vùng quốc gia nhưng có nhiều quyền lợi ở trỏng.
Ví dụ như chỉ gia đ́nh y mới được đốn tràm đem ra bán cho chủ vựa (việc nầy tôi sẽ nói rơ hơn khi nói về mấy tay “trời thần đất lỡ” như Tư Trạng, và Năm Tu Hú) hoặc về mùa khô, chỉ gia đ́nh y mới được bắt cá trong các đ́a, hoặc giao cho người khác bắt đ́a, chia chác cho gia đ́nh y, v.v…

Bọn Việt Cộng th́ ở trong mật khu, giữ các nguồn lợi trong rừng, đặc biệt dành riêng cho gia đ́nh hoặc ban phát cho ai có lợi hoặc làm giao liên cho chúng.
Gia đ́nh Hai Tiếu, gồm mẹ, vợ và hai con của y cũng như người dân, nhà th́ ở ngoài bờ kinh Rạch Giá - Hà Tiên, vùng quốc gia. Khi đi làm đồng, đi bắt cá hoặc đốn tràm, họ mới vào rừng tràm; sáng đi chiều về. Chỉ có vợ Hai Tiếu nhiều khi mới ở lại trong mật khu với chồng, khi có bầu th́ vào bệnh viện Hà Tiên hay Rạch Giá để chính quyền quốc gia lo giúp việc sinh nở.


Quyền lợi ở trong rừng tràm, quốc gia không đủ sức giữ an ninh được, nên mặc sức chúng ban phát cho ai th́ ban. Người dân có tranh tụng nhau quyền lợi trong đó th́ Việt Cộng đứng ra phân xử. Dân th́ ở với ḿnh, có ǵ tranh chấp, Việt Cộng xử, thế mới tức nhưng ḿnh chẳng làm ǵ được.

Nhưng có làm được ǵ chúng, sẽ nói ở phần sau: Phần nói về Giặc Mùa.
Tuy nhiên, tiếp sau bài nầy tôi sẽ nói về mật khu Trà Tiên với Giang Thành Dạ Cổ, theo lời khai của “Hồi chánh viên Hoàng Thị Vân.”

(kỳ tới: 6. Đường Giây 1-C (Mật Khu Trà Tiên với Giang Thành Dạ Cổ (http://motgocpho.com/forums/showthread.php?15157-6.-Đường-Giây-1-C-(Mật-Khu-Trà-Tiên-với-Giang-Thành-Dạ-Cổ)))