PDA

View Full Version : Tranh Lê Phổ



Thiên Xứng
10-24-2007, 07:42 AM
Thiều quang Lê Phổ
Thụy Khuê



http://img60.exs.cx/img60/2872/File18.jpg

Tác phẩm của Lê Phổ và những họa sĩ Việt Nam xuất dương cùng thời với ông những năm 40: Mai Thứ, Vũ Cao Đàm, Lê Thị Lựu... không mô phỏng nghệ thuật Đông - Tây một cách ước lệ mà nối tiếp truyền thống giao hưởng trong Ấn Tượng, phối hợp hai phong cách, hai vũ trụ nhân sinh. Cái làm cho hội họa Pháp và sau đó Mỹ, công nhận giá trị của các họa sĩ Việt Nam, là họ đă không chối bỏ nguồn gốc của ḿnh như một vài họa sĩ Nhật Bản đương thời: Nishimoura, Okamoto... cùng xuất thân từ trường phái Paris. Sự thành công của những họa sĩ Việt Nam đầu tiên bên trời Âu, sau thế chiến, đă không dễ dàng, đă trải nhiều cay đắng. Họ xác định chỗ đứng của nghệ thuật tạo h́nh giao thoa Đông-Tây mà Lê Phổ là một giá trị đích thực.

*

Năm 1932, khi vào trường Mỹ Thuật Paris, tiếp xúc với những trường phái tân kỳ thời đó như Lập Thể, Siêu Thực, Trừu Tượng... Lê Phổ hoang mang và nghi ngờ tất cả những ǵ đă gặt hái được từ trước về hội họa. Di tích c̣n lại của sự hoang mang ấy là bức tranh phong cảnh Fiesole, sơn dầu, 1932, rất Tây phương, rất "trường phái Paris". Từ Pháp, năm ấy, ông đi một ṿng Âu châu qua Bỉ, Ḥa Lan, Ư, thăm các bảo tàng viện Bruges (Bỉ), Cologne (Đức) và Florence (Ư). Tiếp xúc với hội họa Phục Hưng, Lê Phổ t́m ra những nét trùng hợp giữa hội họa cổ điển Tây Phương và hội họa cổ truyền Trung Quốc. Về Việt Nam năm 1934, rồi từ Việt Nam Lê Phổ sang Bắc Kinh để t́m hiểu hội họa Tống, Minh... Cuộc hành hương này đă mở đường cho một tiến tŕnh hơn nửa thế kỷ hội họa, có thể phân chia làm hai giai đoạn:

1. Thời kỳ cổ điển (tranh lụa): Từ 1934 đến 1944, 45. Những bức Người Thiếu Phụ Ngồi (1934) và Chim Ngói (1937), ảnh hưởng hội họa đời Tống. Đường nét thanh thoát, uyển chuyển, mềm mại. Không gian phẳng, màu ĺ (aplat), từng mảng đồng màu đồng sắc, nét bút tinh vi. Tác phẩm vừa quyến rũ v́ những mong manh tế nhị trong nét bút, vừa lạnh lùng v́ dùng độc sắc (camaieu), tạo không khí thuần khiết, chay tịnh, ơ hờ; vừa mang dung sắc nghiêm phong của xă hội Việt Nam c̣n nhuần nhuyễn đạo lư Khổng Mạnh, đầu thế kỷ.

Vài năm sau, Lê Phổ đổi hướng: Những bức Mẹ Con (1938), Thiếu Nữ Và Hoa Lan (1938), Thiếu Nữ Và Hoa Hồng (1941), Tử V́ Đạo (1941), Chải Đầu (1942)... thuộc thời kỳ Thánh giáo, dung ḥa nghệ thuật Trung Hoa và hội họa Ư: nét bút tế nhị, thanh tao. Không gian hai chiều, người phụ nữ trong tranh trang nghiêm tôn giáo, dáng dấp thiên thần Botticelli, mặt trái xoan, tóc đen, cổ Modigliani, u buồn và huyền bí. Dù nấp dưới bóng Đức Mẹ đồng trinh hay hiện h́nh khỏa thân gợi cảm, những người đàn bà trong tranh Lê Phổ luôn luôn phảng phất vẻ trầm tư, tĩnh lự của một Quan Thế Âm Bồ Tát trong tư thế tham thiền nhập định.

Thời kỳ tranh lụa, tất cả nghiêng trong không gian cổ điển. Lê Phổ dùng sắc đạm, màu thiền, màu lạnh và phân chia rơ ràng biên giới: đen - trắng, thiên đàng và địa ngục. Đây có thể gọi là thời kỳ "thủy mạc" của họa sĩ: Hương thiền, hương đạo thấm vào bút lông, biến người phụ nữ trong tranh dù có khỏa thân, cũng khỏa thân "vô tội", "khỏa thân bên cạnh Ngọc Hoàng" -như lời hát Phạm Duy- một thứ thánh nữ đồng trinh. Bất khả xâm, bơ vơ trong vườn địa đàng, u buồn mà vẫn hướng thượng. Những đạm thanh, tinh khiết ấy làm tăng vẻ năo nùng tâm trạng "nghĩ ḿnh ḿnh lại thêm thương nỗi ḿnh" của một tần phi đă bị bỏ quên trong vách quế, ngập gió vàng với mảnh vũ y lạnh ngắt.

2. Thời kỳ lăng mạn (Tranh sơn dầu): Nếu có dịp hỏi các họa sĩ Lê Phổ, Vũ Cao Đàm: Tại sao đang vẽ tranh lụa lại đổi sang sơn dầu th́ cả hai đều trả lời: V́ tranh lụa có những giới hạn về khuôn khổ, màu sắc và thể lượng, khó diễn tả được hết những điều muốn vẽ. Vậy những điều muốn vẽ, muốn diễn tả của Lê Phổ, sau thời kỳ tranh lụa là ǵ? Họa sĩ muốn bước ra khỏi ṿng đạo lư: người phụ nữ trong thời kỳ này dần dần trút bỏ lớp áo "tiết hạnh khả phong" để đi vào thế giới lăng mạn của t́nh yêu, và tranh cũng từ vùng âm u bước ra ánh sáng.

Dù Lê Phổ đă gặp gỡ hội họa Ấn Tượng ngay từ lúc vào trường Mỹ Thuật, nhưng chỉ đến những năm 40, Lê Phổ mới thực sự rời bỏ nghiêm lệnh chính xác của trường phái cổ điển để bước vào thế giới phiếm định phôi pha của vũ trụ thiều quang màu nḥe. Trong kỷ nguyên Ấn Tượng, Cézanne đă mở thế giới mới về thể (volume), Monet kiến tạo chân trời ngũ sắc và ánh sáng. Lê Phổ đă bỏ rơi cả thể, lẫn màu và ánh sáng trong suốt đoạn đường mười năm tranh lụa cổ điển, mười năm t́m lại "lối xưa xe ngựa hồn thu thảo".

Phải đến những năm 50, bút vẽ của Lê Phổ mới sực tỉnh, sáng ra. Không c̣n ngần ngại trước những "quá độ" trong màu nguyên chất (không pha) của Matisse, Lê Phổ bước qua Dă Thú (Fauvisme) vào Ấn Tượng rồi ngừng lại ở Linh Cảm (Nabis). Tiếp xúc với hội họa Bonnard, Dufy, Matisse, từ những năm 37, nhưng ảnh hưởng Bonnard chỉ đến sau này, càng về sau, tranh Lê Phổ càng đa sắc, càng đằm thắm, đắm say, vũ trụ vàng của Bonnard lây sang Lê Phổ. Ba màu: lam, cẩm thạch, vàng được ghi lại như những thời kỳ son trong hội họa Lê Phổ. Cuối cùng vàng được giữ lại như nội tại của không gian, chiếu thêm quang độ và coi như chính sắc của Lê Phổ: vàng diệp, vàng anh, vàng sen, vàng lá, vàng hoa, vàng quả, vàng áo, vàng nước, vàng mây... Ở đây, vàng nhớ Bích Khê, "Vàng rơi! Vàng rơi! Thu mênh mông".

*

Giao thoa giữa Ấn Tượng và Linh Cảm, ch́m đắm trong không gian lăng mạn, mà h́nh hài chỉ là h́nh thức cụ thể hóa không gian và ánh sáng bằng màu sắc. Người phụ nữ trong tranh nhập nḥe, thấp thoáng "sương in mặt, tuyết pha thân" mang dáng dấp kiêu sa của người con gái Hà Thành thời Tự Lực Văn Đoàn, đoan trang và đài các, nhưng không c̣n thể hiện như những bức chân dung đẹp, giống, rơ và sắc nét như tranh cổ điển mà họ đă trở thành biểu tượng của cái đẹp: một bóng h́nh dễ vỡ, dễ phai, dễ tan loăng trong không gian và chính cái không gian ấy cũng lại phù du mộng ảo. Những bức Hai Mẹ Con (1960), Trầm Tư (1968), Thiếu Nữ Áo Xanh (1968), Trong Vườn (1970)... không gian hai chiều chia nhịp với những động rung màu sắc. Màu ở đây là màu ấm, sắc nồng, từ vàng chanh sang cẩm thạch đến thiên thanh... chính sắc, tạp sắc, chen lẫn trong thế giới mơ màng, gây lạc cảm cho thị giác dù chỉ trong khoảnh khắc mà mời gọi thiên thu.

Tranh Lê Phổ không nghiêng về "nội tâm" như một số họa sĩ Linh Cảm, nhưng ông vẫn gần họ ở chỗ: tranh là h́nh thức trang trí, tranh để treo tường (il n'y a pas de tableau, il n'y a que des décorations - Verkade). Treo tường th́ hà tất phải có bề sâu? Quan niệm không cần "viễn họa" này, thoát thai từ hội họa Trung Quốc, trùng hợp với Linh Cảm (Nabis), sống trong tác phẩm Lê Phổ từ 1950 và trải dài trong nhiều thập kỷ, không thay đổi. Hiện diện trong không gian hai chiều, dưới h́nh thức trang trí, dù tĩnh vật, thiên nhiên hay con người, trong bối cảnh nào, họa phẩm Lê Phổ cũng ngỏ cửa vào một thiên đường viễn mơ, phiếm định.


http://img60.exs.cx/img60/7357/File20.jpg

http://img60.exs.cx/img60/6161/File19.jpg

http://img60.exs.cx/img60/5156/File0029.jpg

http://img60.exs.cx/img60/6992/File0025.jpg

http://img60.exs.cx/img60/355/File21.jpg


Biography:

Lê Phổ sinh ngày 2-8-1907 tại Hà Đông. Cha ông là Lê Hoan, Kinh lược sứ (Vice Roi) Bắc kỳ. Nhập học khóa đầu tiên trường Cao Đẳng Mỹ Thuật Hà Nội năm 1930.
1928: Triển lăm chung với các họa sĩ Vũ Cao Đàm và Mai Thứ tại Hà Nội.
1931: Được cử làm phụ tá giáo sư Tardieu dự triển lăm đấu xảo thuộc địa tại Paris.
1932: Ông được học bổng vào trường Cao Đẳng Mỹ Thuật Paris. Từ Pháp đi khắp Âu Châu. Triển lăm tranh tại Roma.
1933: Lê Phổ trở về Hà Nội làm giáo sư tại trường Cao Đẳng Mỹ Thuật và triển lăm tranh tại Hà Nội.
1934: Sang Bắc Kinh t́m hiểu hội họa Trung Quốc.
1935: Vẽ chân dung Bảo Đại, hoàng hậu Nam Phương và trang trí nội cung.
1937: Tham dự triển lăm quốc tế ở Paris với tư cách giám đốc nghệ thuật khu Đông Dương và ở hẳn lại Pháp.
1938: Triển lăm lần đầu tại Paris, và từ đó tham dự nhiều cuộc triển lăm tranh ở khắp nơi trên thế giới.
6-1947: Thành hôn với Paulette Vaux, kư giả báo Time và Life. Có hai con trai: Lê Kim nhiếp ảnh và Lê Tân, họa h́nh.
1950-1954: Lê Phổ làm Cố vấn mỹ thuật cho Ṭa Đại Sứ Việt Nam Cộng Hoà tại Pháp.
1957 và 1958: Triển lăm chung với Foujita ở Lyon, Avignon, Nice và Bordeaux.

Họa phẩm của Lê Phổ được trưng bày ở Musée d'Art Moderne ở Paris, Musée d'Oklahoma (USA) và trong nhiều sưu tập nghệ thuật tư nhân, phần lớn ở Hoa Kỳ.

Họa sĩ Lê Phổ mất tại Paris, quận 15, tháng 12 năm 2001.