PDA

View Full Version : Nữ Sĩ HỒ XUÂN HƯƠNG



Phonglinh
10-30-2007, 04:34 PM
Nữ sĩ HỒ XUÂN HƯƠNG
MỘT THIÊN TÀI NHƯNG BẤT HẠNH

http://www.viet.no/images/stories/div/hxhuong.jpg

Nguyễn Quư Đại

Ngồi buồn nhớ chị Xuân Hương
Hồn thơ c̣n hăy như nhường trêu ai...
Giấc mộng con của Tản Đà

Dân tộc Việt Nam luôn chiến đấu dành độc lập, tự do, mở đầu cuộc khởi nghiă của chị em Hai Bà Trưng (40-30 trước công Nguyên) và Bà Triệu (năm 248) để lại những chiến tích oai hùng. Những người không cầm gươm, đao xông pha nơi chiến trận, th́ cầm bút đóng góp cho nền văn hoá dân tộc như những nhà thơ nữ nổi tiếng: Đoàn Thị Điểm dịch giả Chinh Phụ Ngâm khúc của Đặng Trần Côn, Ngọc Hân công Chúa với Ai tư văn... Ngô Chi Lan Ỷ Lan Phu nhân, Huyện Thanh Quan, Sương Nguyệt Ánh.

Nữ sĩ nổi tiếng một thời được gọi là Bà Chúa Thơ Nôm (1) Hồ Xuân Hương xuất hiện vào thế kỷ thứ 18. Giai đoạn đất nước chia đôi hai miền Nam Bắc. Trịnh - Nguyễn phân tranh gọi là Đàng trong Đàng ngoài, lấy sông Linh Giang làm biên giới từ những năm 1627 đến 1772.

Hồ xuân Hương sinh năm (1772-1822) (2) con ông Hồ Phi Diễn, làng Quỳnh Đôi, huyện Quỳnh Lưu Nghệ An. Theo một số tài liệu dẫn chứng: Hồ Sĩ Anh đời nhà Lê sinh bốn người con trai : Hồ Thế Viêm, Hồ Phi Quyền, Hồ Phi Cơ, Hồ Phi Tích (1665-1734 đậu Hoàng giáp năm 1700). Hồ Thế Viên là ông Tổ bốn đời của anh em nhà Tây Sơn đă đổi từ họ Hồ sang Nguyễn, c̣n Hồ Phi Cơ là ông tổ bốn đời cuả Hồ phi Mai tức nữ sĩ Xuân Hương. Như vậy Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ và Hồ Xuân Hương là anh em cùng họ ông tổ năm đời (3)

Hồ Xuân Hương và thân phận

Ông Hồ Phi Diễn thi đỗ Tống Sinh làm quan cuối thời đại vua Lê. Ông đă lập gia đ́nh nhưng cưới thêm vợ thứ quê Hải Dương, sinh ra Xuân Hương. Lúc Xuân Hương 13 tuổi thân phụ mất, Xuân Hương rời làng Khán Xuân theo mẹ về làng Thọ Xương gần Hồ Hoàn Kiếm, đi học một thời gian phải ở nhà giúp mẹ lo sinh sống gia đ́nh. Xuân Hương tự học thêm, thông minh làm thơ hay, tiếng tăm lừng lẫy. Có Tổng Ḱnh tên tự Nguyễn Công Hoà tục gọi là Tổng Cóc ở làng Tứ Xă (nay thuộc huyện Phong châu - Vĩnh Phú). Cai Tổng mến tài của Xuân Hương, nhờ người mai mối cưới Xuân Hương làm thứ thiếp. Theo tục truyền chiều 30 tết, Tổng Cóc đem biếu quà tết cụ Đồ Xứ bị Hồ Xuân Hương ra câu đố.

"Tối ba mươi khép cánh càn khôn kẻo nữa ma vương đưa quỷ tới"

Sáng hôm sau, Tổng Cóc đến làm xong thủ tục xông nhà đọc lại câu đối

"Sáng mồng một mở then tạo hoá để cho thiếu nữ rước xuân vào"

Có thể Xuân Hương mến mộ chàng trai nầy có khiếu văn chương? nên nhận lời kết hôn với Tổng Cóc. Theo tài liệu của Giáo sư Lê trí Viễn (4), Tổng Cóc không phải là một anh trọc phú, mà là một nho sĩ từng có phen lều chơng như ai và trong sự gặp gỡ Xuân Hương có chuyện chữ nghiă chứ chẳng phải chỉ có đồng tiền... " Tổng Cóc yêu thương Xuân Hương và từng bảo nàng làm thơ viết vào gỗ để người ta sơn then giữ cho bền, hiện nay tại nhà thờ của ông Kiều Phú, thôn Đại Đ́nh, xă Sơn Dương huyện Phong Châu, Vĩnh Phú c̣n tấm ván mít ghi những nét thơ Nôm của Hồ Xuân Hương. Bút tích c̣n 4 câu thơ :

Thảo lai băng ngọc kính
Xuân tận hoá công hương
Độc bằng đan quế thượng
Hào phóng bích hoa hương

tạm dịch

Nói đến tấm gương bằng ngọc
Hóa công cũng chịu lúc tàn xuân
Chỉ bằng lúc vin cành quế đỏ
Tha hồ hoa biếc tỏa hương thơm (5)

T́nh yêu giữa hai người không được bao lâu trong hoàn cảnh gia đ́nh mà người chồng yếu đuối, Xuân Hương bản tính nghệ sĩ giao tiếp rộng... không tránh được va chạm hằng ngày trong xă hội phong kiến "Đau đớn thay phận đàn bà! Kiếp sinh ra thế, biết là tại đâu" Xuân Hương bị gia đ́nh bên chồng đè nén với thân phận làm lẽ. Nên đă phản kháng quyết bỏ nhà ra đi. Thân phận của Xuân Hương cũng như hoàn cảnh cua kiếp đàn bà làm lẽ mọn :

Kẻ đắp chăn bông, kẻ lạnh lùng
Chém cha cái kiếp lấy chồng chung !
Năm th́ mười hoạ chăng hay chớ
Một tháng đôi lần có cũng không
Cố đấm ăn xôi, xôi lại hẩm
Cầm bằng làm mướn, mướn không công
Thân nầy ví biết dường nầy nhỉ
Thà trước thôi đành ở vậy xong
Ca dao cũng có bài

Tối tối chị giữ mất buồng
Chị cho manh chiếu nằm suông chuồng ḅ
Mong chồng, chồng chẳng xuống cho
Đến khi chồng xuống gà o o gáy dồn...

Từ giă gia đ́nh Tổng Cóc đi t́m phương trời thơ mộng tự do hơn, vốn người yêu thơ văn lăng mạn muốn vượt qua bức tường nho giáo khắc nghiệt, nhưng không tránh được cái nghiệp t́nh duyên ngang trái. Xuân Hương lấy ông phủ Vĩnh Tường, t́nh yêu được trân quư hơn, nên Xuân Hương làm bài thơ giă từ "khóc Tổng Cóc".

Chàng Cóc ơi ! Chàng Cóc ơi !

Thiếp bén duyên chàng có thế thôi
Ṇng nọc đứt đuôi từ đây nhé
Ngh́n vàng khôn chuộc dấu bôi vôi.

Bài "khóc Tổng Cóc "gây nhiều dư luận trong văn học, những người ở Làng Mương, làng Giáp nói bài thơ đó là khóc cho mối t́nh của Xuân Hương, không phải khóc người chồng đă mất, bởi v́ Xuân Hương từng khổ đau với hoàn cảnh làm vợ lẽ trong gia đ́nh Tổng Cóc nên dùng những từ ngữ chỉ họ hàng nhà Tổng Cóc nào là ṇng nọc đứt đuôi... để giễu lúc Tổng Cóc c̣n sống, Xuân Hương lập gia đ́nh với ông phủ Vĩnh Tường cũng trong cảnh lẽ mọn không tránh được cảnh khổ ghen tương cay độc như Hoạn thư

Rằng tôi chút dạ đàn bà,
Ghen tuông, th́ cũng người ta thường t́nh
Ḷng riêng, riêng cũng kính yêu.
Chồng chung, chưa dễ ai chiều cho ai
Kiều cuả Nguyễn Du

Thời gian chung sống tri ngộ ông phủ Vĩnh Tường (ở Thổ Tang, Vĩnh Phú bây giờ) tuy làm vợ lẽ nhưng ông Phủ coi nàng là bạn văn chương t́nh duyên không đến nỗi bẽ bàng. Nhưng t́nh nghiă vợ chồng chỉ trong 27 tháng ông Phủ mất, Xuân Hương đă khóc chồng. Cuộc đời Xuân Hương về t́nh duyên bất hạnh.

Trăm năm ông phủ Vĩnh Tường ơi!
Thiếp bén duyên nàng có thế thôi
Chôn chặt văn chương ba thước đất
Ném tung hồ thỉ bốn phương trời
Cán cân tạo hoá rơi đâu mất;
Miệng túi càn khôn thắt lại rồi
Hăm bảy tháng trời là mấy chốc;
Trăm năm ông Phủ Vĩnh Tường ơi !

Cuộc đời Xuân Hương có thể "bảy nổi ba ch́m” qua hai đời chồng hy sinh cả đời chịu thân phận làm lẽ mọn, nỗi khổ đau cũng là niềm dang dở cái mối duyên thiên, duyên trời nào có phải là hậu qủa oan nghiệt của con nguời như "chữ tài liền với chữ tai một vần" !

Thơ và bạn đời

Tập thơ Lưu Hương Kư chú dẫn: Hoan Trung Cổ Nguyệt Đường Xuân Hương nữ sĩ sử tập Lưu Hương Kư viết xong năm Giáp Tuất (1814) măi đến năm 1964 được phát hiện (?). Tên di cảo có nghiă là ghi mùi hương thơm của ngọc lưu, chữ Lưu này nhắc nơi Xuân Hương sinh ở huyện Quỳnh Lưu. Trong tập thơ có 30 đầu đề ; 24 bài thơ chữ Hán và 28 bài thơ Nôm, phần xướng hoạ có lẫn thơ của văn nhân thời bấy giờ để lại số đề tài khúc chiết, nồng nàn yêu đương mong đợi. Ở Cổ Nguyệt Đường do Xuân Hương dựng lên ở phường Khán Xuân gần Hồ Tây khu vực vườn Bách Thảo, trường Bưởi đường Cổ Ngư làng Yên Phụ. T́nh yêu, t́nh bạn của Xuân Hương rất nhiều bài gợi cảm, lăng mạn với những văn nhân thi sĩ như (trích dẫn mỗi người một tựa đề) :

Thi hào Nguyễn Du (1765-1820) bài: Cảm cựu Kiêm Tŕnh Cần Chánh học sĩ Nguyễn Hầu

Dặm khách muôn ngh́n nỗi nhớ nhung
Mượn ai tới đấy gửi cho cùng
Chữ t́nh chốc đă ba năm vẹn
Giấc mộng rồi ra nửa khắc không ?
Xe ngựa trộm mừng duyên tấp nập
Phấn son càng tủi phận long đong
Biết c̣n mảy chút sưong đeo mái
Lầu Nguyệt năm canh chiếc bóng treo...

Xuân Hương với Tốn Phong hai bài : Ngụ ư đến Tốn Phong Thi" v v...

Đường hoa diù dặt bước đông phong
Nghĩ kẻ t́m thơm cũng có công
Lạ mặt dám quen, cùng gió nước
Nặng ḷng nên nhẹ đến non sông
Da trời nắng nhuộm tươi màu biếc
Pḥng gấm trăng in dải thức hồng
Ai nhớ lấy cho ḷng ấy nhỉ !
Trước trăm năm hẳn nợ chi không ?

Xuân Hương với Hiệp trấn Sơn Nam Thượng họ Trần Ngọc Quán....

Vác cắm đàn tao một ngọn cờ
Ấy người thân đấy, phải hay chưa ?
Lắc đầy phong nguyệt lưng bầu rượu
Giắt lỏng giang hồ nửa túi thơ
Đ́nh nguyệt góp người chung đỉnh lại
Trời Hoan mỏ mặt nước non xưa
Bấy nay tài tử bao nhiêu tá ?
Thèo đảnh khen ai khéo đạt cho!

Xuân Hương với Mai Sơn Phủ" Hoạ thơ Sơn Phủ" bài thơ bằng Hán văn gởi bạn tỏ ḷng quyến luyến nhớ thương. khoảng thời gian (1799- 1801)

Này đoạn chung t́nh biết với nhau
Tiễn đưa ba bước cũng nên câu
Trên tay khép mở tanh chiều nhạn,
Trước mặt đi về gấp bóng câu
Nước mắt trên hoa là lối cũ,
Mùi hương trong nệm cả đêm thâu
Vắng nhau mới biết t́nh nhau lắm
Này bạn chung t́nh biết với nhau...

Xướng họa với Chiêu Hổ tức Phạm đ́nh Hổ (1768-1839) đối thủ với Hồ Xuân Hương

Anh đồ tỉnh, anh đồ say
Sao anh ghẹo nguyệt giữa ban ngày
Này này chị bảo cho mà biết
Chốn ấy hang hùm chớ mó tay...

Xuân Hương trải qua nhiều kinh nghiệm nhân sinh, nhất là về ái t́nh để rồi "quang cảnh trong đời chiếc gối mơ!” đời sống phóng túng của Xuân Hương để nhận lấy lời phê b́nh "tự thán"

Muôn kiếp biết là duyên trọn vẹn
Một đời riêng mấy tiếng chua cay

Sau khi viết xong tập Lưu Hương Kư (1814), bảy năm sau (1822) Xuân Hương mất, nhưng mộ bà được táng ở đâu? ngày nay vẫn chưa t́m được tung tích, chắc chắn cũng ở quanh Hà Nội ? năm 1842 Tùng Thiện Vương ra thăm cảnh Hồ Tây có làm bài thơ viếng mộ Xuân Hương "Long Biên trúc chi từ" bản dịch ra Việt ngữ của học giả Hoàng Xuân Hăn

Đây hồ rực rỡ hoa sen
Sai người xuống hái để lên cúng đàn
Chớ trèo qua mộ Xuân Hương
Suối vàng c̣n giận tơ vương lỡ làng
Sen tàn, phấn rữa mồ hoang
Xuân Hương đă khuất bên làn cỏ xanh
U hồn say tít làm thinh
Gío xuân mấy độ thế t́nh không hay !!

Những nét tiêu biểu trong thơ Hồ Xuân Hương

Hồ Xuân Hương trưởng thành trong giai đoạn lịch sử chiến tranh, ảnh hưởng nặng nề phong kiến "nhất nam viết tử thập nữ viết vô”. Đàn bà ít được đi học ứng thí như đàn ông, may mắn học ít chữ, lấy chồng sanh con lo việc nội trợ. Xuân Hương đă tỏ ra là một thiên tài, làm thơ khẩu khí bị trợt té người ta cười, bà làm ngay hai câu thơ để chữa thẹn

Giơ tay với thử trời cao thấp
Xoạc cẳng đo xem đất vắn dài

Hồ Xuân Hương thông minh, có tài, khá tiếc thay sinh ra phận gái nên cái lỗi lạc của bà thành ra lăng mạn mà lắm người cho là "lẳng lơ"! Nhưng hăy đọc mấy câu thơ sau của bà, dũng khí như một đấng tu mi nam tử. Khi đi ngang qua miếu Sầm Nghi Đống, bị vua Quang Trung giết ở Đống Đa mùng 5 tháng giêng năm Kỷ dậu 1789. Người Hoa lập miếu thờ, tin đồn miếu linh thiêng nên Xuân Hương đă đề mấy câu thơ :

Ghé mắt trông nghiêng thấy bảng treo
Kià đền Thái thú đứng cheo leo
Ví đây đổi phận làm trai được
Th́ sự anh hùng há bấy nhiêu ?

Dưới xă hội thời phong kiến người ta quan niệm "trai năm thê bảy thiếp, gái chín chuyên chỉ một chồng" Xă hội bất công ! vấn đề đa thê ngày nay không được chấp nhận (ngoại trừ các nước theo Hồi Giáo). Ngày xưa chồng chết vợ phải thủ tiết thờ chồng... Nhưng Xuân Hương đă muốn phá cái phong tục thời đó. Nên lúc sống với ông Phủ Vĩnh Tường, có người goá phụ c̣n trẻ muốn được tái giá, làm đơn xin quan phủ xét, gặp lúc ông phủ đi vắng, Xuân Hương xem đơn và phê ngay :

Phó cho con Nguyễn thị Đào
Nước trong loe lẻo cắm sào chờ ai ?
Chữ rằng xuân bất tái lai
Cho về kiếm chút kẻo mai nữa già.

Những bài thơ tuyệt tác của Xuân Hương được lưu truyền hậu thế qua tập Lưu Hương Kư. Biệt tài thơ Xuân Hương dùng chữ Việt thuần tuư, không vay mượn điễn tích sáo ngữ, đọc thơ hiểu được nghiă đen và nghiă bóng. Đọc thơ Hồ Xuân Hương với tâm hồn nghệ sĩ thực sự phát hiện được những khía cạnh miêu tả rất thẩm mỹ.

Đọc bài "Ngủ quên" như xem bức tranh trưa hè người thiếu nữ đang ngủ, độc giả có thể liên tưởng đến bức tượng khỏa thân với những đường nét tuyệt vời sống động.... cảm thấy rung động nghệ thuật trước h́nh ảnh đẹp lành mạnh.

Mùa hè hây hẩy gió nồm đông
Thiếu nữ nằm chơi quá giấc nồng
Lược trúc chải cài trên mái tóc,
Yếm đào trễ xuống dưới nương long
Đôi g̣ Bồng Đảo sương c̣n ngậm
Một lạch Đào Nguyên suối chửa thông
Quân tử dùng dằng đi chẳng dứt
Đi th́ cũng dở ở không xong.

Cái đẹp bất cứ ở đâu đều được mọi người yêu chuộng, người trần tục ai thấy hoa đẹp không muốn nh́n? Từ xưa và nay nhiều phê b́nh bàn căi tranh luận, thơ Xuân Hương mang tính chất dâm và tục... Những người yêu thơ Xuân Hương thường hết lời ca tụng xem những sáng tác cuả Xuân Hương kỳ diệu từ cách dùng chữ chính xác âm điệu kỳ tài... Nhóm khác phê b́nh thơ mang chất tục sinh lư đè nén "Libido"... Bài thơ đầu đề không được thanh "Dương vật" Hồ Xuân Hương tả rất hay

Bác mẹ sinh ra vốn chẳng hèn
Ban đêm không mắt sáng như đèn
Đầu đội nón da loe chóp đỏ
Lưng đeo bị đạn rủ thao đen

Để có thể thẩm định thế đứng của nhà thơ nầy, nói về Văn học không thể đọc một số bài thơ rồi cho là dâm tục có quá đáng chăng?... Bởi v́ vấn đề T́nh Dục từ Á sang Âu thường được tŕnh bày qua các tác phẩm văn chương, những h́nh điêu khắc chạm trổ trong các Cung điện, Đền đài lưu tại từ ngàn năm về trước có những nét đẹp độc đáo như thân thể đàn bà qua những đường cong tuyệt vời, bộ ngực no tṛn lồ lộ dưới lớp xiêm y mỏng manh... những tác phẩm đó thể hiện linh động văn hóa, sắc thái mang tính chất diễn tả về nghệ thuật. Mỗi dân tộc văn minh có sinh hoạt văn hoá khác nhau, Nhiều sắc dân họ thờ các bộ phận sinh dục, dân tộc Chàm xây các Tháp theo h́nh tượng Lingam (dương vật) t́nh dục được nói đến trong sinh hoạt của con người. Xă hội b́nh dân xưa không thoát khỏi qui luật dục vọng cá nhân là lẽ sống con người, dục vọng tập thể là lẽ sống của xă hội. Bởi vậy ca dao được truyền tụng trong dân gian.

Có chồng từ thuở mười lăm.
Chồng chê tôi nhỏ không nằm cùng tôi.
Đến chừng mười chín đôi mươi.

Tôi ngủ dưới đất chàng lôi lên giường
Một rằng thương, hai rằng thương
Có bốn cẳng giường găy một c̣n ba!
(Ca dao)

Đời sống qua thi ca b́nh dân, diễn tả trào lộng, vui tươi vốn có trong thực tế không nói xa gần, cái điếu cày hút thuốc người b́nh dân.

Ḷng em cay đắng quanh năm
Khi ngồi, khi đứng, khi nằm nghênh ngang
Các anh các bác trong làng
Gặp em th́ lại vội vàng nâng niu
Vắng em đau khổ trăm chiều
Tuy rằng cay đắng nhưng nhiều người mê
(Ca dao)

Nổi tiếng như Truyện Kiều diễn tả lại chuyện t́nh dục trong khuê pḥng,

Đêm xuân một giấc mơ màng
Đuốchoa để đó, mặc nàng nằm trơ

hoặc

Này con thuộc lấy nằm ḷng
Vành ngoài bảy chữ, vành trong tám nghề
Chơi cho liễu chán hoa chê
Cho lăn lóc đá cho mê mẩn đời
Khi khóe hạnh khi nét ngài
Khi ngâm ngơi nguyệt khi cười cợt hoa
Điều là nghề nghiệp trong nhà

Đủ ngần ấy nếp mới là người soi

Hay Trạng Quỳnh với bài tạ ơn cô hàng bánh

Đương cơn nắng cực đói ḷng thay
Thết đăi ơn cô có bụng nầy
Giờ biết lấy ǵ mà tạ lại
Xin quỳ hai gối chống hai tay

Sinh hoạt xă hội bất kỳ ở tầng lớp nào, dục tính cá nhân vẫn len lỏi vào cuộc sống. Cái khác biệt toàn thể về bản chất không ai giống ai. Hồ Xuân Hương người trần tục nên ca tụng sinh họat trần tục và những niềm vui trần tục, đọc thơ Xuân Hương để tiếp nhận cái tinh thần hồn nhiên trong ca dao, tục ngữ. Tôi Không đào sâu cái "tục" trong thơ làm đề tài chính. Thơ Xuân Hương rất sống động tài t́nh mang tinh hoa khác, đó là một giá trị tồn tại măi măi trong lâu đài văn hoá dân tộc. Đọc hai bài thơ sau để so sánh bài đèo Ngang và đèo Ba Đội cuả hai nữ sĩ

Bước tới đèo ngang bóng xế tà
Cỏ cây chen đá, lá chen hoa
Lom khom dưới núi tiều vài chú
Lác đác bên sông chợ (rợ) mấy nhà

Nhớ nước đau ḷng con cuốc cuốc
Thương nhà mỏi miệng cái gia gia
Dừng chân đứng lại trời non nước
Một mảnh t́nh riêng ta với ta
Huyện Thanh Quan

Chúng ta cảm nhận bài thơ ấy hay nhẹ nhàng trang nhă, bài nầy có 8 câu nhưng vay mượn ư của hai câu chữ Hán

Dạ thính đỗ quyên minh quốc quốc
Nhật văn cô điểu khiếu gia gia

Nghiă là

Đêm nghe đỗ vũ kêu quốc quốc
Ngày lắng gà rừng gọi gia gia

Hồ Xuân Hương vịnh đèo Ba Đội là một bức tranh tả chân đơn sơ

Một đèo, một đèo lại một đèo
Khen ai khéo tạc cảnh cheo leo
Cửa son đỏ loét tùm hum nóc
Ḥn đá xanh ŕ lún phún rêu
Lắt lẻo cành thông cơn gió thốc

Đầm đià lá liễu giọt sương rơi
Hiền nhân quân tử ai là chẳng
Mỏi gối chồn chân cũng muốn trèo

Bài thơ nầy đọc qua độc giả có thể nhận ra ngay đó là đèo Ba Đội, "một đèo, một đèo lại một đèo" từ màu sắc "cửa son đỏ lóet; tùm hum, xanh ŕ; lún phún; lắt lẻo"... Xuân Hương đă tài t́nh tạo ra một bức tranh sống động thành hợp tấu kỳ thú, từ âm thanh, màu sắc, nếu đi qua đèo thi độc giả chia sẻ với thi nhân Xuân Hương là một nhạc sĩ tài t́nh, phối hợp cả âm thanh, màu sắc, không gian lẫn thời gian, tạo những nét đặc sắc, thông thường ít nghe diệp âm "hơm ḥm hom, toen hoẻn... " trong bài vịnh hang Cắc Cớ

Trời đất sinh ra đá một cḥm
Nứt làm đôi mảnh hơm ḥm hom
Kẽ hầm rêu mốc trơ toen hoẻn,
Luồng gió thông reo vỗ phập pḥm
Gịot nước hữu t́nh rơi lơm bơm
Con đường vô ngạn tối om om
Khen ai đẽo đá tài xuyên tạc
Khéo hớ hênh ra lắm kẻ ḍm

Giọt nước từ những thạch nhủ rơi từng giọt, xuống vũng nước bên dưới lơm bơm, con đường vào hang thiếu ánh sáng. Ngày nay nhờ phương tiện lưu thông thuận lợi, nếu ghé hang Thánh Hoá ở làng Thuỵ Khê, huyện Sài Sơn tỉnh Sơn Tây (Hà Tây) hang ở ḥn núi có Chùa Thầy. Hàng năm có hội chùa Thầy mà không vào hang Cắc Cớ th́ coi như chưa biết chùa Thầy. Đến đó sẽ nhớ ngay nữ sĩ Xuân Hương ! là một thiên tài cũng vịnh cảnh Chùa Hương Tích ở huyện Mỹ Đức Hà Đông rất linh động cảnh trời mây non nước... vào những ngày đầu xuân, hội Chùa Hương nhộn nhịp, người tu hành th́ ít, kẻ trần tục th́ nhiều, muốn lên phải gọi là trèo các bậc th́ đúng hơn là đi, chen chân trong động hương khói pha mờ mù sương.

Người quen cơi Phật chen chân xọc
Kẻ lạ bầu tiên mỏi mắt ḍm....

Bài "đánh đu" bức tranh quê sống động hơn, diễn tả cảnh vui xuân náo nhiệt

Bốn cột khen ai khéo khéo trồng
Người th́ lên đánh, kẻ ngồi trông
Trai đu gối hạc khom khom cật,
Gái uốn lưng ong ngửa ngửa ḷng
Bốn mảnh quần hồng bay phất phới
Hai hàng châu ngọc duỗi song song
Chơi xuân ai biết xuân chăng tá ?
Cột nhổ đi rồi, lỗ bỏ không !

Có thể Hồ Xuân Hương phỏng theo bài thơ trên bài cây đánh đu vốn có trong tập Hồng Đức Quốc Âm Thi Tập

Bốn cột lang nha ngắm để trồng
À th́ đánh cái ả c̣n ngong
Tế hậu thổ khom khom cật,
Vái hoàng thiên ngửa ngửa ḷng
Tám bức quần hồng bay phất phới,
Hai hàng châu ngọc đứng song song
Chơi xuân hết tấc xuân dường ấy
Nhổ cột đem về để lỗ không.

Ngày nay ở miền Bắc hội xuân vẫn c̣n giữ tṛ chơi đánh đu, thường những trai gái thích đánh đu như cuộc thi ḷng dũng cảm. Khi chàng trai nhấn đu, cô gái trong tư thế tay nắm chặt, chân duỗi thẳng, chờ đón độ cao bay bổng. Khi độ cao đă giảm đến lượt cô gái nhún, chàng trai lại chờ đón... tất cả phải nhịp nhàng, khoẻ mà mềm mại bay cao ung dung, vẻ đẹp càng hiện rơ h́nh thể bên ngoài... gối hạc, lưng ong, ngưả ngửa ḷng, phất phới, song song. Xuân Hương đă khéo tài t́nh dùng điệp khúc

Qua ca dao Việt nam cũng có nhiều bài truyền tụng rất là "tục" như cái vịnh cái quạt

Rành rành ba góc rành rành
Khi khép nhỏ lại, khi vành to ra
Khi vui th́ sướng thay là
Khi buồn th́ nước chảy ra ŕ ŕ...

Hồ Xuân Hương tả cái quạt duyên dáng hơn có tính cách tương tự như ca dao tục ngữ hài hước, tả cái quạt có nhiều nan được bồi bằng giấy với h́nh dáng x̣e ra để quạt cho mát, bất cứ ở đâu, khi mưa có thể che đầu, khi xếp lại những nếp giấy chồng lên vẫn c̣n thừa.

Một lỗ xâu xâu mấy cũng vừa
Duyên em dính dáng tự bao giờ
Chành ra ba góc da c̣n thiếu
Khép lại đôi bên thịt vẫn thừa
Mát mặt anh hùng khi nắng gió,
Che đầu quân tử lúc sa mưa
Nâng niu ướm hỏi người trong trướng
Ph́ phạch trong ḷng đă sướng chưa...

Ngành tiểu công nghệ dệt vải thời xưa mỗi gia đ́nh ở thôn quê, thường trồng cây bông, nuôi tằm ươm tơ làm luạ tự dệt may sắm áo quần. Ban ngày làm việc đồng áng, đêm về dệt vải với dụng cụ đơn giản cái khung cửi, hai ống trục, một bộ go, hai cái lược, một đôi guốc con suốt, con thoi (con c̣ bằng gơ). Xuân Hương tả đêm cô gái dệt vải; mà phẩm chất vải tốt không phai màu phải ngâm lâu

Thắp đèn lên thấy trắng phau
Con c̣ mấp máy suốt đêm thâu
Hai chân đạp xuống năng năng nhắc
Một suốt đâm ngang thích thích mau
Rộng hẹp nhỏ to vưà vặn cả
Ngắn dài khuôn khổ cũng như nhau
Cô nào muốn tốt ngâm cho kỹ
Chờ đến ba thu mới dăi màu

Chùa Quán Sứ được xây dựng từ thế kỷ thứ 17 nằm ở phố cũng mang tên Quán Sứ Hà Nội; Phật giáo vào thời Xuân Hương suy thoái, thời nào cũng có người núp dưới chiếc áo cà sa... Xuân Hương đă nghi ngờ về chùa Quán Sứ trong cảnh vắng teo

Quán sứ sao mà cảnh vắng teo
Hỏi thăm sư cụ đáo nơi nao
Chày ḱnh, tiểu để suông không đấm
Tràng hạt, văi lần đếm lại đeo
Sáng banh không kẻ khua tang mít
Trưa trật nào ai móc kẽ rêu
Cha kiếp đường tu sao lắt léo
Cảnh buồn thêm chán nợ t́nh đeo

Hay qua bài

Khi cảnh, khi tiu, khi chũm choẹ
Giọng hi, giọng hỉ, giọng hi ha
Tu lâu có lẽ lên sư cụ
Ngất nghểu toà sen nọ đó mà

Người đời nhớ Xuân Hương ở tiếng cười phá phách, nhưng trong ḷng Xuân Hương mang nặng những niềm đau... trong đó khối t́nh của Xuân Hương nặng như đá, với những tâm sự thế thái nhân t́nh làm rung động sâu thẳm cơi ḷng người

Gan nghiă giăi ra cùng nhật nguyệt

Khối t́nh cọ măi với non sông
Đá kia c̣n biết xuân già dặn
Chả trách người ta lúc trẻ trung
(Đá ông chồng, đá bà chồng)

hoặc qua bài t́nh tự

Canh khuya văng vẳng trống canh dồn
Trơ cái hồng nhan với nước non
Chén rượu hương đưa đưa say lại tỉnh
Vầng trăng bóng xế khuyết chưa tṛn !
Xiên ngang mặt đất rêu từng đám,
Đâm toạc chân mây đá mấy ḥn
Ngán nỗi xuân đi, xuân lại lại
Mảnh t́nh san sẻ tư con con.

Xuân Hương vịnh bánh trôi nước quen thuộc của người b́nh dân. Thân em ở đây (Xuân Hương) hay là thân phận đàn bà dưới thời phong kiến lắm lận đận? nhưng tấm ḷng được tôn trọng

Thân em trắng phận em tṛn
Bảy nổi ba ch́m với nước non
Lớn nhỏ mặc dầu tay kẻ nặn
Mà em vẫn giữ tấm ḷng son

Hồ Xuân Hương có phong cách riêng tiêu biểu cho thái độ tự nhiên tràn đầy t́nh cảm trong sáng, thơ Hồ Xuân Hương rất b́nh dân, duyên dáng giàu khả năng gợi cảm, gợi t́nh, chứa chan t́nh tự và cảm khoái, không dùng hán tự điển tích. Bà có biệt tài sử dụng điệp khúc, âm điệu và tiết tấu, thích hợp với từng ư, từng hoàn cảnh. Dù muốn chê hay khen, đọc thơ Xuân Hương cảm thấy cái vui vui xen lẫn vào hồn, cái hay trong thơ Xuân Hương rất tuyệt vời, nhưng bài viết giới hạn không thể tŕnh bày và trích giải hết được... Hồ Xuân Hương là nhà thơ độc đáo có một không hai trong văn học sử Việt Nam...

Nguyễn Quư Đại




1/ Chữ Nôm có vai tṛ nổi bật trong sáng tác văn chương. Mặc dù văn nhân, thi sĩ mọi thời đều đă dùng chữ Hán làm thơ, viết truyện, nhưng chỉ có với chữ Nôm, người Việt mới tạo nên những tác phẩm bất hủ. Tập thơ Nôm có niên đại sớm nhất c̣n lưu truyền là Quốc âm Thi tập của Nguyễn Trăi (1380 - 1420) sau đó là Bạch vân Am quốc ngữ thi của Nguyễn Bỉnh Khiêm (1491-1585).

Văn học Việt nam qua các thời đại, chữ Hán các tiền nhân viết những tập truyện ngắn và tiểu thuyết văn xuôi, c̣n với chữ Nôm gần như các cụ chỉ làm thơ Sở trường và thành công bằng hai thể thơ giàu dân tộc tính này, vào cuối thế kỷ XVII và đầu thế kỷ XIX Văn học cổ điển Việt Nam có những tác phẩm xuất sắc khiến thế giới phải biết đến là Chinh phụ Ngâm khúc của Đoàn Thị Điểm (1705 - 1748); Truyện Kiều (Đoạn trường tân thanh) của Nguyễn Du (1766 -1820). Chúng ta c̣n các tên tuổi sáng giá khác nữa từ thế kỷ XVII đến đầu thế kỷ XX như: Nguyễn Huy Tự, Nguyễn Gia Thiều, Phạm Thái, đặc biệt thơ cuả Hồ Xuân Hương, Nguyễn Đ́nh Chiểu, Nguyễn Công Trứ, Trần Tế Xương v.v... Chính nhờ ở những tác giả này, tiếng Việt hấp thụ hai nguồn văn tự là chữ Hán và văn tự văn hóa dân gian, chữ Nôm để trở thành một ngôn ngữ văn học sáng chói và giàu sức diễn đạt

2/ Được dẫn chứng trong Hồ Quỳnh Gia Phả gia phả họ Hồ ở Quỳnh Lưu. Nhưng tác giả Lê Xuân Sơn viết trong tập " Hồ Xuân Hương thơ và đời viết "HXH con ông Hồ sĩ Danh (1706-1783) em cùng cha khác mẹ với Hồ Sĩ Đống (1738-1786) là một vị quan đầu triều thời chuá Trịnh ?

3/ Những kỳ Án trong việt sử T.giả Trần Gia Phụng

4/( Hồ Xuân Hương thơ và cuộc đời trang 206) nhà xuất bản văn học.

5/ Theo phóng sự Hồ X Hương và Tổng Cóc (Nguyễn Hữu Thanh)
Tài liệu đọc thêm : Hồ Xuân Hương toàn tập của Gs Ngô lăng Vân; nghĩ về thơ HXH.cuả Gs Lê Trí Viẽn, Ng Đức Quỳnh....

Xem thêm thơ HXH ở đây
http://emavaban.com/forums/showthread.php?t=645