PDA

View Full Version : Phụ nữ học cao



hoangthymaithao
12-08-2010, 05:36 PM
Việt Hà, phóng viên RFA

2010-12-07

Báo cáo mới nhất của Hội đồng Cao học Mỹ cho thấy tỷ lệ nữ giới lấy bằng tiến sĩ tại Mỹ trong niên khóa 2008 – 2009 cao hơn nam giới.


Đây là lần đầu tiên trong lịch sử nước Mỹ, số nữ đậu tiến sĩ đông hơn nam giới. Trong khi đó vai tṛ của phụ nữ bất kể tại Mỹ hay quốc gia nào trên thế giới cũng vẫn luôn được gắn liền với gia đ́nh nhiều hơn là việc học hành cao và công việc xă hội.

Vậy hiện tượng vừa xảy ra tại Mỹ đó nói lên điều ǵ? Những người phụ nữ theo đuổi việc học hành lên cao như vậy có mong muốn ǵ? Tạp chí Phụ nữ tuần này sẽ đề cập đến những vấn đề này.

Xu hướng mới

Báo cáo trong năm nay của Hội đồng Cao học Mỹ về tỷ lệ nữ giới nhận bằng tiến sĩ trong niên khóa 2008 – 2009 đă thu hút được sự chú ư của báo giới khắp nước Mỹ và dư luận. Lư do thật dễ hiểu bởi v́ lần đầu tiên trong lịch sử, số nữ nhận bằng tiến sĩ cao hơn nam giới, chiếm đến 50,4%. Trong khi đó, tỷ lệ nữ giới nhận bằng cử nhân và cao học cũng chiếm thế áp đảo.

Báo cáo tổng kết khảo sát của 800 trường đại học Mỹ. Các ngành mà phụ nữ nhận bằng tiến sĩ cao nhất là y tế, chiếm 70%, quản lư công chiếm 61%, khoa học về hành vi và xă hội là 60%.

Ông Nathan Bell, Giám đốc Ban Nghiên cứu và Phân tích chính sách của Hội đồng Cao học Mỹ cho biết:

"Chắc chắn đây là một xu hướng mà chúng tôi đă nh́n thấy từ trước, trong một vài năm trước đă có nhiều phụ nữ có được các bằng tiến sĩ và đến năm 2009, lần đầu tiên chúng ta thấy phần nhiều các bằng tiến sĩ tại các ngành là do phụ nữ nắm giữ.

Cho nên có thể nói là dựa vào các số liệu của chúng tôi và ở các nguồn khác, chúng ta có thể thấy được xu hướng này và kết quả là như vậy vào năm 2009, và sẽ tiếp tục vào năm 2010."

Trong một vài năm trước đă có nhiều phụ nữ có được các bằng tiến sĩ và đến năm 2009, lần đầu tiên chúng ta thấy phần nhiều các bằng tiến sĩ là do phụ nữ nắm giữ.

Ông Nathan Bell
Theo ông Nathan Bell, nguyên nhân một phần là do số phụ nữ có bằng thạc sĩ cao, trong khi đó nam giới bỏ học nhiều hơn nữ giới. Thậm chí suy thoái kinh tế cũng được coi là một trong các nguyên nhân khiến phụ nữ học cao hơn để có thể dễ dàng kiếm việc hơn và đóng góp thu nhập cho gia đ́nh. Ông Nathan Bell tiếp:

"Một trong những lư do là v́ số đông phụ nữ đă có bằng cử nhân và cao học. Để có được bằng tiến sĩ th́ bạn cần phải có các bằng đó trước đă. Phụ nữ thường dễ dàng lấy được bằng cử nhân.

Tôi không phải là nhà xă hội học để phân tích và c̣n cần rất nhiều nghiên cứu để t́m hiểu thêm vấn đề này, nhưng nếu nh́n vào con số đăng kư vào học cao học và hơn nữa th́ có thể thấy lư do cho xu hướng này.

Ví dụ như những người đàn ông th́ thường phục vụ cho quân đội, rồi c̣n vấn đề về suy thoái kinh tế, và có nhiều nhân tố khác dẫn đến xu hướng này mà trước kia không có."

Điểm đáng chú ư trong báo cáo lần này là tỷ lệ nữ giới tốt nghiệp đại học nếu tính theo chủng tộc cũng cao hơn hẳn so với nam giới. Ông Nathan Bell nói tiếp:


Một nhân viên của NXB Tri thức đọc sách tại văn pḥng của họ tại Hà Nội hôm 31/8/2010. AFP photo
"Số liệu mà chúng tôi có trong báo cáo là đối với công dân Mỹ và những thường trú nhân dài hạn. Ví dụ, nh́n chung vào khoảng 59% học sinh tốt nghiệp đại học là phụ nữ. Nhưng nếu nh́n vào chủng tộc th́ sẽ thấy có những điểm đáng chú ư, v́ có đến 55% trong số họ là phụ nữ, 45% là nam giới."
Với quan niệm từ lâu nay trên thế giới về vai tṛ quan trọng của người phụ nữ trong gia đ́nh, việc số lượng nữ giới có học vị ngày một cũng đặt một câu hỏi về sự thay đổi trong quan điểm của những người phụ nữ về vai tṛ của họ trong gia đ́nh và xă hội. Chị Lê Thị Ngọc Hương, 27 tuổi, một nghiên cứu sinh học vị tiến sĩ hóa tại đại học Minnesota, Hoa Kỳ cho biết:

"Em cũng nghĩ, đấy là quan điểm về gia đ́nh truyền thống ở Việt Nam, đó là người đàn ông mong mỏi rất nhiều ở người phụ nữ, gia đ́nh này nọ, nhưng ở đây quan niệm gia đ́nh rất thoải mái. Bạn bè của em học ở đây đă lập gia đ́nh rồi mà vẫn có nhiều thời gian cho pḥng thí nghiệm.
Đó là do quan điểm của họ hoặc là vợ chồng cùng chia sẻ công việc. Có thể không phải là 50 50 nhưng người chồng rất tự giác, chứ người ta không chỉ về nhà vắt chân xem tv, chờ vợ nấu ăn, nên em nghĩ quan niệm của người chồng rất quan trọng."

B́nh đẳng giới

Chị Hương cho rằng, nếu xét về quan điểm truyền thống gia đ́nh, việc chị học lên cao như vậy không phải là một lợi thế, nhưng nếu xét về tính tự lập, th́ rơ ràng việc học lên cao có thể đảm bảo cho người phụ nữ sự độc lập cao hơn trong cuộc sống.

"Cũng tùy chị xem xét lợi thế của phụ nữ ở lĩnh vực nào. Nếu là một gia đ́nh truyền thống th́ đó là một nhược điểm chứ không phải là lợi thế. C̣n nếu nói về tự lập th́ đó là một lợi thế rất lớn v́ một khi ḿnh đă ra một môi trường lớn thế này th́ tiếp cận nền khoa học này th́ ḿnh rất tự tin.

Sau này ḿnh làm ǵ, ở đâu th́ ḿnh có thể tự lập được và không phải lệ thuộc một ai hết. Đó là điều lớn nhất mà em có được khi đi học thế này."

Theo ông Nathan Bell, việc học lên tiến sĩ đối với nữ giới có một số những khó khăn nhất định. Đó là để có được bằng tiến sĩ, thường mất khoảng từ 5 đến 7 năm và quyết định theo đuổi sự nghiệp này lại thường rơi vào giai đoạn lập gia đ́nh và có con của người phụ nữ:

"Quyết định theo đuổi sự nghiệp này lại thường rơi vào giai đoạn người phụ nữ bắt đầu kết hôn, lo lập gia đ́nh, và có rất nhiều sức ép lên họ."
Đó là chưa kể có một giai đoạn khá dài, người phụ nữ phải chịu các sức ép khá lớn từ các trường để có thể được nhận vào biên chế giảng dạy tại đại đại học.

Mặt khác hiện vẫn c̣n tồn tại chênh lệch lương giữa các giáo sư nữ và nam giới tại các trường đại học Mỹ. Theo Hiệp hội Giáo sư các trường đại học Mỹ, niên học 2009 – 2010, các giảng viên nam giới có mức lương trung b́nh là khoảng 87,000 đô la một năm. Trong khi đó, mức lương này ở nữ giới là khoảng 70,000 đô la một năm.

Cũng bởi những hạn chế như vừa nói, mà số nữ giới lấy bằng tiến sĩ ở các ngành khoa học kỹ thuật vẫn thấp hơn rất nhiều so với nam giới, mặc dù đă có những gia gia tăng đáng kể trong hơn một thập kỷ qua. Ông Nathan Bell nói:

"Nếu nh́n vào bức tranh rộng hơn th́ mặc dù phụ nữ ngày nay đă nhận được bằng tiến sĩ ở khá nhiều ngành, nhưng nếu nh́n vào lĩnh vực công nghệ mới chỉ có 22% phụ nữ nhận bằng tiến sĩ. Ngược lại nếu nh́n vào lĩnh vực sức khỏe, họ chiếm đến 70%, cho nên rơ ràng là có sự khác biệt giữa các lĩnh vực.

Thực tế trong lĩnh vực công nghệ, mặc dù phụ nữ chỉ chiếm được 22% nhưng con số đó thực sự đă gấp đôi so với trước đây 20 năm. Con số đang tăng lên mặc dù phải mất một khoảng thời gian dài để thay đổi."
Chị Hương cho biết những học viên theo học lấy bằng tiến sĩ hóa như chị tại đại học Minnesota chủ yếu là nam giới mà thôi. Tuy nhiên, theo chị vấn đề khó khăn không nằm ở chuyện gia đ́nh, con cái hay sự kém năng lực của nữ giới mà nằm ở quan niệm xă hội. Chị giải thích:

"Em không nghĩ là nó khó, v́ tụi em cũng ngang hàng với bạn nam, vấn đề là do nh́n nhận của xă hội v́ phụ nữ trước đến giờ ít tự do hơn và cái đó cần phải thay đổi. C̣n một khi đă học đến mức này th́ không có ǵ khác biệt giữa nam và nữ hết."

Ông Nathan Bell cũng cho rằng hiện các rào cản ngăn trở người phụ nữ học lên tiến sĩ tại Mỹ cũng đang ngày một giảm bớt: "Các trường đại học ngày nay đang đưa ra các chính sách để khuyến khích phụ nữ tham gia làm việc giảng dạy nghiên cứu trong trường hơn. Ví dụ như chính sách đặt ra rằng bạn cần phải qua 10 năm liên tục th́ mới được vào ngạch biên chế, th́ bây giờ bạn có thể có con trong giai đoạn đó và sau đó tiếp tục cho nên điều này dễ phù hợp hơn.

Theo tôi th́ những thay đổi trong các chính sách là hoàn toàn tích cực, tôi không thấy có những thay đổi tiêu cực trong đó cản trở người phụ nữ trong việc học tập cũng như làm việc trong môi trường nghiên cứu cao, sân chơi đă được san bằng cho cả nam lẫn nữ và v́ vậy không có thách thức quá lớn nào trước mắt cho phụ nữ trong việc theo đuổi học hành lên cao hơn nữa."

Những tiến bộ về khoa học và kỹ thuật tại Mỹ cũng là một trong các nguyên nhân và lợi thế khuyến khích phụ nữ không chỉ riêng trong nước Mỹ mà c̣n từ nhiều nước khác đến đây theo đuổi sự nghiệp nghiên cứu và giảng dạy đại học.

Tiến sĩ giáo dục Đào Thị Hợi, một trong số ít những phụ nữ Việt Nam nhận bằng tiến sĩ giáo dục từ rất sớm tại Mỹ hồi thập niên 1960 cho rằng việc học lên tiến sĩ nghe th́ có vẻ lớn nhưng không phải là không thể đối với ngay chính những phụ nữ mới di cư đến Mỹ, nhất là trong điều kiện kinh tế khó khăn hiện nay, điều quan trọng là ư chí:

"Tôi thấy là không có chí th́ thôi chứ có chí th́ vẫn có thể làm được. Dù kinh tế khó khăn, v́ ḿnh sang đến đây là chủ chuyện khó khăn chứ không phải kinh tế khó khăn bây giờ. Mới sang th́ người mới cũng khó khăn hơn những người ở đây rồi. Tôi không nghĩ đó là cái cản trở mà cái cản trở là cái ư chí của ḿnh."

Một khi đă học đến mức này th́ không có ǵ khác biệt giữa nam và nữ hết.

Chị Hương, ĐH Minnesota
Nhưng theo bà, việc học lên tiến sĩ, hay thạc sĩ không phải là quan trọng nhất, mà quan trọng nhất là ngành nghề nào mà ḿnh thích và những ǵ có thể cống hiến được cho xă hội. Bà Hợi nói:

"Có nhiều chị đâu cần phải học lên tiến sĩ mà vẫn làm được những việc giỏi giang và đáng khen như bà Dương Nguyệt Ánh hay bà Lê Duy Loan. Đâu cần phải học tiến sĩ, tùy ngành chuyên môn của ḿnh."

Trước dự đoán xu hướng tiến sĩ nữ tại Mỹ sẽ tiếp tục tăng cao trong các năm sắp tới, Tiến sĩ Đào Thị Hợi cũng bày tỏ tin tưởng rằng số lượng những phụ nữ Việt tại Mỹ tiếp tục học lên cao để lấy bằng thạc sĩ, hay tiến sĩ sẽ ngày một nhiều v́ đó cũng là ư chí phấn đấu và tinh thần hiếu học từ lâu đời của người Việt bất kể dù ở đâu.