PDA

View Full Version : VIỆT NAM:VỠ NỢ KINH TẾ & LẠM PHÁT



T́nh Quê
12-09-2010, 11:08 AM
Tuần trước, chúng tôi viết bài với đầu đề TRUNG QUỐC: LẠM PHÁT VÀ HẬU QUẢ, nghĩa là Lạm phát là cái nguyên nhân đem đến những Hậu quả nguy hại cho Kinh tế Trung quốc. Tuần này viết về Lạm phát tại Việt Nam, chúng tôi lại chọn đầu đề VIỆT NAM: TỤT DỐC KINH TẾ VÀ LẠM PHÁT, nghĩa là chính việc tụt dốc Kinh tế là cái nguyên nhân đang đẩy Lạm phát đến chóng mặt.

Những ǵ xẫy ra tại Việt Nam thường đi ngược lại với những nước chung quanh. Đúng như lời Phạm Văn Đồng tuyên bố trước Quốc Hội một cách long trọng: “Những ǵ các nước khác không làm được, th́ ta làm được. Đầu năm tới, Nhà Nước sẽ cung cấp cho dân Hà Nội mỗi buổi sáng một cốc SỮA TRÂU !” (Trích lại lời Giáo sư Tiến sĩ Toán CHỬ VĂN ĐÔNG tại Varsovie). Ngườ ta thường cho dân uống sữa ḅ, th́ ta cho dân uống sữa trâu mới đặc biệt.

Bài này lần lượt bàn những điểm sau đây:

=> Một vài ư niệm giáo khoa về Lạm phát

=> T́nh trạng tụt dốc Kinh tế tại Việt Nam

=> Lạm phát và những nguyên nhân

=> Phải đánh thẳng vào Chủ trương Kinh tế quốc doanh

Một vài ư niệm giáo khoa về Lạm phát
Xin các bậc thức giả cho phép tôi nhắc lại một vài ư niệm giáo khoa về Lạm phát để làm cái sườn cho chúng tôi cắt nghĩa những lư do Lạm phát, Vật giá leo thang tại Việt Nam.

Lạm phát, Vật giá leo thang là một sự so sánh giữa Lănh vực đồng Tiền, phương tiện trao đỗi hàng hóa, và Lănh vực Kinh tế thực gồm những hàng hóa được sản xuất ra và trao đổi. Lượng Tiền lưu hành trong dân gian và Lượng hàng hóa nhằm thỏa măn nhu cầu của dân gian cùng song hành. Khi so sánh hai Lượng song hành ấy, người ta định một Chỉ số tổng quát cho tương đương giữa đơn vị Tiền tệ và đơn vị Hàng hóa tiêu thụ. Vật giá có nghĩa là sự so sánh tương đương này. Khi nói Tỷ giá Hối đoái là nói sự tương đương giữa hai đồng Tiền, c̣n nói Vật giá là nói sự tương đương giữa đơn vị một đồng Tiền với đơn vị Hàng hóa Tiêu thụ.

Để tóm tắt sự tương đương ấy, chúng tôi lấy lại Công thức của FISHER ở dạng đơn giản nhất:

M.V

---------- = P

T

“H” là Khối lượng Tiền. “V” là tốc độ lưu hành (tốc độ nhanh làm lượng Tiền nhiều lên trong khoăng thời gian nhất định). “T” bao gồm tất cả lượng hàng hóa thực trao đổi trong khoảng thời gian nhất định của lượng Tiền lưu hành. “P” là Chỉ giá tổng quát Tiêu thụ, kết quả của so sánh giữa Khối lượng Tiền lưu hành và Khối lượng hàng hóa trao đổi ở trong một khoảng thời gian nhất định.



Khi “P” tăng, người ta gọi là Lạm phát hay Vật giá leo thang, nghĩa là phải dùng nhiều đơn vị đồng Tiền mới có được cùng đơn vị hàng hóa trước đây. Nh́n một cách đơn giản theo Công thức, th́ khi “P” tăng, người ta thấy những trường hợp sau đây:

(i) Trường hợp thứ nhất: Lượng Tiền lưu hành tăng và Lượng hàng hóa đứng yên

Đây là trường hợp Lạm phát Tiền tệ, mà người ta thường gọi lá phá giá đồng bạc. Tỉ dụ một Nhà Nước độc tài độc đoán in thêm tiền mới cho vào lưu hành chung với tiền đang sử dụng của dân gian.

(ii) Trường hợp thứ hai: Lượng hàng hóa giảm và Lương Tiền lưu hành đúng yên
Đây là trường hợp tụt dốc Kinh tế thực, nghĩa là khả năng cung cấp hàng hóa cho trao đổi bị sút kém đi. Tỉ dụ hiệu năng sản xuất hàng hóa kém sánh với khối tiền lưu hành đang được sử dụng. Trong Đệ nhị Thế chiến, các đồng tiền Âu châu mất hẳn giá v́ không có hoạt động sản xuất hàng hóa Kinh tế: đồng Franc Pháp cũ, đồng Mark Đức cũ, đồng Lire Ư, đồng Yen Nhật.

(iii) Trướng hợp thứ ba: Lượng Tiền lưu hành tăng và Lượng hàng hóa giảm

Đây là trường hợp mà hai lực làm Lạm phát hợp lại để làm Lạm phát trở thành phi mă (Inflation galoppante) và Vật giá leo thang chóng mặt ! Tỉ dụ trước đây, thời mà Đệ Tam quốc tế Cộng sản mở những Mặt Trận Giải Phóng (Front de Libération) tại những nước Phi châu và Nam Mỹ. Hoạt động sản xuất hàng hóa đ́nh trệ hoặc bị phá hoại, trong khi ấy Nhà Nước đương quyền phải trả lương Lính và Công chức, nên in Tiền mới ra làm Khối lưu hành Tiền tệ được thổi phồng lên. Lạm phát ở Ba Tây có lúc lên tới 1’600%.

Chúng tôi cũng xin chú thích thêm rằng không phải mọi Lạm phát đều xấu. Người ta phân biệt Lạm phát vui sướng (Inflation heureuse) và Lạm phát buồn cực (Inflation malheureuse). Lạm phát vui sướng khi mà một nước có phát triển Kinh tế đều đặn, dân chúng có thu nhập tăng, nên chi tiêu nhiều hơn khiến giá hàng hóa tăng lên. Trong trường hợp này, Ngân Hàng Trung ương chỉ cần điều chỉnh khối Tiền lưu hành cho phù hợp với đà tăng trưởng hàng hóa. Lạm phát buồn cực là khi dân nghèo bị vật giá lại tăng vọt, khiến dạ dầy đói.

Lạm phát ở Việt Nam hiện nay là loại Lạm phát ǵ và ở trường hợp nào trong ba trường hợp trên đây ?

T́nh trạng tụt dốc Kinh tế tại Việt Nam

Chúng tôi không hiện diện ở Việt Nam để chứng kiến cảnh tụt dốc Kinh tế. Nhưng có những nhân vật quốc tế đáng tin cậy họp chính tại Hà Nội và nói với Nhà Nước CSVN về mô h́nh Kinh tế nguy hiểm và nguy cớ tụt dốc mau chóng của Kinh tế Việt Nam. Chúng tôi xin trích đăng lại những tuyên bó của các nhân vật ấy.



Nhân vật thứ nhất mà chúng tôi trích dẫn là Giáo sư Michael PORTER, người được chính Nguyễn Tấn Dũng nhờ cậy nghiên cứu và thẩm định về mô h́nh Kinh tế VN cũng như tương lai của nó. Giáo sư đưa ra nhận định rơ rệt:

“Khi xem xét kỹ mô h́nh phát triển được áp dụng từ trước tới nay để xem có tiếp tục phù hợp với Việt Nam nữa không, câu trả lời của tôi là không”.

“Mô h́nh tăng trưởng của Việt Nam hiện nay chủ yếu dựa vào việc khai thác các lợi thế có sẵn như tài nguyên và nhân công giá rẻ. “

“Nhiều chính sách vĩ mô có thể kích thích tăng trưởng trong ngắn hạn, nhưng lại không có tác dụng, hoặc thậm chí có thể gây ảnh hưởng tiêu cực tới tăng trưởng năng suất dài hạn của Việt Nam”.

“Các mất cân đối vĩ mô lớn như cán cân thương mại và tài khoản văng lai, tỷ lệ tiết kiệm – đầu tư, lạm phát và tỷ giá hối đoái có thể gây ra những hậu quả “không thể xem thường. Ít nhất, chúng tạo ra tâm lư với các nhà đầu tư rằng, rủi ro khi đầu tư vào Việt Nam là rất cao. Các mất cân đối vĩ mô này có thể làm phát sinh khủng hoảng, khi niềm tin bị xói ṃn và các ḍng vốn nước ngoài chảy khỏi Việt Nam”.

“Nếu Việt Nam không vượt qua được cách thức tăng trưởng hiện nay, quốc gia sẽ bị tắc ở mức thu nhập trung b́nh thấp và phải đối mặt với sự cạnh tranh từ các nước có thu nhập thấp hơn đang trỗi dậy”.

Giáo sư kết luận:

“Tôi sẽ rất buồn nếu báo cáo này chỉ được để trên giá sách. Tôi hy vọng phó Thủ tướng sẽ giao các cơ quan nhà nước sử dụng báo cáo này trong quá tŕnh hoạch định chính sách”.

Nhân vật thứ hai mà chúng tôi trích dẫn là Ông Adam SITKOFF, Giám đốc Pḥng Thương mại Hoa Kỳ tại Việt Nam. Theo Ông, việc Lạm phát hiện nay chỉ là sự phát hiện của một t́nh trạng tụt dốc Kinh tế có tính cách vĩ mô. Chính v́ vậy mà trong Diễn đàn Doanh nghiệp họp tại Hà Nội hôm 2/12, Ông Adam Sitkoff nhấn mạnh muốn chính phủ ổn định kinh tế vĩ mô th́ tốt hơn.

Trả lời Phỏng vấn cho BBC, Ông nói:

“Có hai chủ đề chúng tôi nêu ra trong cuộc họp diễn đàn doanh nghiệp ngày 2/12 tại Hà Nội. Đó là chính phủ cần để ư duy tŕ ổn định kinh tế vĩ mô tốt hơn. Đề ra chính sách hữu hiệu để kiềm chế tỷ lệ lạm phát – vốn đang khá cao. Hiện lạm phát đang ảnh hưởng đến đời sống và sức mua của người dân. Thứ hai là chúng tôi muốn thấy chính phủ nghiêm túc thúc đẩy cải cách khu vực doanh nghiệp nhà nước. Sau vụ khủng hoảng tại Vinashin, chúng tôi quan sát thấy các tập đoàn kinh tế nhà nước khác phải nhận bớt nợ và bị gán tài sản của Vinashin. Cách giải quyết các khoản nợ của Vinashin vẫn c̣n chưa minh bạch.

Cộng đồng doanh nghiệp Hoa Kỳ tin rằng chính phủ nên giảm bớt can thiệp vào quá tŕnh làm ăn và kinh doanh của doanh nghiệp. Cạnh đó trong lúc tỷ lệ tư hữa hóa được đẩy mạnh, doanh nghiệp nhà nước vẫn kiểm soát hầu hết các loại h́nh kinh doanh quan trọng ở Việt Nam. Chúng tôi muốn thấy điều này thay đổi. Chính phủ nên tập trung vào các tiêu chuẩn kế toán, hạch toán được quốc tế công nhận liên quan đến cách tính thuế và thu thuế, để góp phần loại trừ tham nhũng. Hành động thường xuyên bơm thêm vốn cho doanh nghiệp quốc doanh đang ngập trong nợ nần không phải là cách dùng tiền thuế của dân tốt nhất.”

Vụ Tập đoàn quốc doanh VINASHIN thua lỗ tới USD.4.4 tỉ đang lan tràn sang các Tập đoàn quốc doanh khác, khiến giới Ngân Hàng quốc tế nh́n thấy t́nh trạng đe dọa vỡ nợ của nền Kinh tế quốc doanh. Các Tổ chức thẩm định quốc tế như MOODY, STANDARD & POOR’S đều đồng loạt hạ giá những Tập đoàn Kinh tế nhà nước để khả năng vay vốn của Việt Nam đi đến cho bế tắc rất gần đây.

Việc VINASHIN xin khất nợ USD.60 triệu với những lời lẽ như hé lộ ư tưởng dựt nợ tạo ảnh hưởng rất xấu cho tương lai tài chánh Việt Nam.
Trong khi các Tập đoàn Kinh tế Nhà nước tụt dốc, bị đe dọa vỡ nợ, tạo một viễn tượng bí lối vay vốn tương lai, th́ khả năng Tài chánh của chính Nhà Nước đang đi vào kiệt quệ. Chúng tôi xin trích ngay Báo chí quốc nội:

“Lời báo động của Quỹ Tiền Tệ Quốc Tế được đưa ra hôm 07/12 tại Hội nghị thường niên các nhà tài trợ cho Việt Nam, diễn ra trong 2 ngày (7-8/12) tại Hà Nội. Theo Quỹ Tiền Tệ Quốc Tế, tính đến tháng 9 vừa qua, dự trữ ngoại hối của Việt Nam đă xuống đến mức chỉ c̣n bảo đảm được không đầy 2 tháng nhập khẩu.

Trong tham luận tại hội nghị, ông Masato Miyazaki, đại diện cho Quỹ Tiền Tệ Quốc Tế, không cho biết số liệu cụ thể về dự trữ ngoại tệ của Việt Nam, mà chỉ ghi nhận rằng: “Dự trữ quốc tế của Việt Nam đă ổn định trong năm nay nhưng vẫn c̣n ở mức thấp, khoảng 1,8 tháng nhập khẩu tính đến tháng Chín năm nay”.

Cũng theo Quỹ Tiền Tệ Quốc Tế, mức dự trữ vào tháng 12 năm ngoái chỉ bảo đảm được không đầy 2,5 tháng nhập khẩu mà thôi.”

Lạm phát và những nguyên nhân

Như trên chúng tôi đă nói, việc tụt dốc của nền Kinh tế vĩ mô tại Việt Nam mới là chính yếu. T́nh trạng Lạm phát, Vật giá nhẩy vọt hiện nay chỉ là sự phát hiện nổi lên tác hại đến đời sống dân chúng. Báo chí quốc nội không thể không đăng tăi t́nh trạng Lạm phát buồn cực này (Inflation malheureuse), hậu quả của tụt dốc cả một bộ máy Kinh tế nhà nước. Chúng tôi xin trích đăng Báo chí quốc nội.

“SÀI G̉N (TH) - Lạm phát gia tăng nhanh chóng trong mấy tháng qua, vượt qua mặt những chỉ tiêu mà Quốc Hội đề ra cũng như các biện pháp “b́nh ổn giá” mà nhà cầm quyền quảng cáo. Hậu quả, những người có đồng lương cố định và đại đa số quần chúng đều nghèo khó lại thêm phần khốn đốn.

Tờ Thời Báo Kinh Tế Việt Nam trong một bản tin ngày 29 tháng 11, 2010 về “lo âu đường đi của giá” nói rằng, ‘luôn có trên 50% bạn đọc cho biết họ đang thực sự gặp khó khăn.’

Theo các con số do Tổng Cục Thống Kê ở Hà Nội đưa ra, lạm phát tăng nhanh nhất ba tháng trở lại đây của năm nay và là mức gia tăng tệ hại nhất trong suốt 20 tháng qua. Đây là hệ quả của chính sách đánh sụt giá đồng nội tệ nhằm cứu ngành sản xuất xuất cảng gây ảnh hưởng dây chuyền lên cả nền kinh tế.

Theo Tổng Cục Thống Kê Việt Nam, giá cả gia tăng 11.09% trong tháng 11, 2010 so với một năm trước. Đây là tỉ lệ lạm phát gia tăng nhiều nhất từ tháng 3, 2009 mà vào thời điểm đó lạm phát nằm ở 11.25%. Tháng 10, 2010, lạm phát là 9.66%. Nếu chỉ tính từng tháng một th́ lạm phát của tháng 11 đă tăng hơn tháng mười 1.86%.

Cuối năm 2009, Quốc Hội của chế độ Hà Nội biểu quyết “chỉ tiêu lạm phát trong năm 2010 phải dưới 7%”. Nhưng đến tháng 5, 2010, thấy không kềm nổi, nhà cầm quyền trung ương “xin điều chỉnh chỉ tiêu lạm phát, chỉ số giá tiêu dùng (CPI)” lên “không quá 8%”.

“Giá của tất cả mọi loại thực phẩm mà chúng tôi mua ở các chợ địa phương đều gia tăng đáng kể so với tháng trước”. Craig Jackson, quản lư nhà hàng Al Fresco (cũng có chi nhánh ở Hà Nội) nói như vậy và phải tŕnh bày với thức khách lư do “những bất ổn trong tỉ giá” đă làm giá thực phẩm tăng vọt.

Theo báo Người Lao Động hôm 20 tháng 11, 2010 vừa qua, các siêu thị ở Sài G̣n đă tăng giá ít nhất 10%. Gạo, một thứ căn bản của bữa ăn người Việt Nam, lên giá ít nhất cũng 4%, trong khi nhà cầm quyền khoe năm nay sẽ xuất cảng 6.5 triệu tấn gạo.

Nói chung, giá thực phẩm đă gia tăng 14.78% so với một năm trước trong đó một số thứ c̣n tăng đến 20.45%, theo Tổng Cục Thống Kê nói trên.

Theo tờ Người Lao Động, một số mặt hàng khác gắn liền với đời sống hàng ngày là đường và gas cũng tăng đáng kể.

Báo Người Lao Động dẫn nguồn tin từ Cục Quản Lư Giá (Bộ Tài Chính Việt Nam), nói giá bán lẻ đường trắng trong nước 15 ngày đầu tháng 11 khoảng 19,000-21,000 đồng/kg, tăng 1,000 đồng/kg so với tháng 10.”

Chúng tôi trở lại Công thức của FISHER tŕnh bầy với tính cách tóm gọn giáo khoa ở đoạn đầu để nh́n những lư do căn bản tạo t́nh trạng Lạm phát, Vật giá leo thang hiện nay ở Việt Nam:

(i) Các Tập đoàn Kinh tế quốc doanh được Nhà Nước rót vào cho phồng lên số vốn, nghĩa là đă cho những Tập đoàn này lượng tiền lưu hành lớn (M.V tăng)

(ii) Nhà Nước đứng ra như bảo đảm cho những Tập đoàn này vay vốn nước ngoài, càng làm phồng lên khối Tiền lưu hành (M.V tăng)

(iii) Nhà Nước thiếu hụt Ngân sách, nhưng Nhà Nước độc tài đă phá giá đồng bạc Việt Nam, in Tiền mới rót vào lưu hành vá đặc biệt rót cho các Tập đoàn Kinh tế quốc doanh để dân chúng hứng chịu cảnh Lạm phát Tiền tệ này (M.V tăng)

(iv) Trong khi ấy, các Tập đoàn Kinh tế quốc doanh tham nhũng, lăng phí, không sản xuất hàng hóa cho tương xứng với số vốn nhận được. Không có hiệu năng Kinh tế, nghĩa là giảm sút hẳn sản xuất hàng hóa. Việc này làm giảm lượng hàng hóa trao đổi “T” trong Công thức của Fisher. Thổi phồng vốn lưu hành Tiền tệ và tụt dốc sản xuất hàng hóa, các Tập đoàn Kinh tế nhà nước đă hiệp hai lực (“M.V” tăng và “T” giảm) làm cho Lạm phát phi mă (Inflation galoppante) và Vật giá vọt lên chóng mặt.

Chính v́ hiểu cái nguồn gốc phát sinh Lạm phát và Vật giá tăng vọt như vậy mà các nhân vật quốc tế họp tại Hà Nội đă khuyên Nguyễn Tấn Dũng phăi thay đổi mô h́nh Kinh tế vĩ mô nền tảng, chứ không chỉ nguyên hô hào dùng dầu cù là thoa bóp Lạm phát và Vật giá nhất thời. Phải trị từ cội nguồn Lạm phát.

Chính v́ cái cội nguồn này mà chúng tôi thấy có sự khác biệt giữa Lạm phát Trung quốc và Lạm phát Việt Nam:

* Lạm phát Trung quốc một phần do độc chiêu QE2 $600 tỉ làm cho lượng vốn quốc tế đầu cơ dồn vào để kiếm lợi nhuận cao. Trong khi ấy, vốn đầu cơ quốc tế không vào Việt Nam v́ sợ vào không những không có lợi nhuận mà c̣n sợ mất vốn v́ Kinh tế sắp vỡ nợ.
* Tỷ giá Đo-la xuống tại Trung quốc để tự động đẩy Tỷ giá đồng Yuan lên. Nhưng tại Việt Nam, Tỷ giá tiền Đồng VN lại tăng lên VN$.2’000 đối với Đo-la, nghĩa là giá đồng Tiền VN xuống mà giá đồng Đo-la lại lên. Dân Việt Nam và giới Hối đoái không c̣n tin tưởng ở Đồng bạc Việt Nam đă phá giá 3 lần trong một năm.

Thật đúng như lời Phạm Văn Đồng là những ǵ nước khác làm không được th́ nước ta làm được, nhưng làm ngược chiều.

Phải đánh thẳng vào

Chủ trương Kinh tế quốc doanh

Đă từ nhiều năm nay, chúng tôi luôn luôn kêu gọi rằng phải đánh thẳng vào Chủ trương Kinh tế quốc doanh. Việc tụt dốc Kinh tế VN, việc xuất hiện Lạm phát buồn cực (Inflation malheureuse) lúc này chính là do Nhà Nước sử dụng những Tập đoàn Kinh tế quốc doanh để nắm độc quyền Kinh tế Quốc gia như chúng ta đă thấy hậu quả được tŕnh bầy trong những phần trên đây.

VINASHIN, VINACOMIN… chỉ là những Tập đoàn Kinh tế Nhà nước chường ra cái tên. Nhưng có một thứ Vi trùng không mang tên làm ruỗng những Tập đoàn ấy. Đó là Vi trùng THAM NHŨNG LĂNG PHÍ chui xuyền qua đăng và các Tập đoàn để đục khoét làm tụt hậu Kinh tế Quốc gia. Những con Vi trùng này cố thủ giữ Chủ trương Độc tài Chính trị nắm Độc quyền Kinh tế để chúng chui rúc ẩn danh giữa hai quyền lực này mà đi đêm, đánh đĩ với nhau đẻ ra cả ổ Vi trùng THAM NHŨNG LĂNG PHÍ thi nhau đục khoét Kinh tế Quốc gia.

Đó là lư do cốt lơi điếm đàng thâm cung bí sử mà những nhân vật quốc tế chỉ nói bóng gió, chứ không dám nói huỵch toẹt ra.

Tôi xin phép nói hụyt toẹt ra rằng phải DỨT BỎ CHÍNH CÁI CƠ CHẾ CSVN ĐỘC TÀI CHÍNH TRỊ NẮM ĐỘC QUYỀN KINH TẾ để THAM NHŨNG LĂNG PHÍ th́ mới có thể phát triển Kinh tế Việt Nam được.
Geneva, 09.12.2010
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế