PDA

View Full Version : Hắn Và Cuốn Nhật Kư Đặng Thùy Trâm



NHDT
11-22-2007, 06:27 AM
Nguồn : tvtc



___________________________________




Hắn Và Cuốn Nhật Kư Đặng Thùy Trâm


XUÂN ĐỖ



Từ cả năm nay, sách báo trong nước Việt Nam không ngừng đề cao cuốn “Nhật Kư Đặng Thùy Trâm” của một nữ bác sĩ Hà Nội chết trong cuộc chiến tranh Nam Bắc. Đây là một tài liệu tịch thu trên đường hành quân, được một hạ sĩ quan thông dịch người Việt giao cho một sĩ quan Mỹ cất giữ. Cao điểm mới của đợt đề cao này là sách được dịch, in tại Mỹ và nhà nước CSVN bỏ tiền quay thành phim.

Đúng ngày 9-11 -ngày khủng bố tấn công nước Mỹ- nhà xuất bản Random House vừa cho ra mắt sách "Last Night I Dream of Peace: The diary of Đang Thuy Trâm" do Andrew. X. Pham dịch từ 'Nhật Kư Đặng Thùy Trâm' với lời đề tựa của Frances Fitzgerald. Cùng lúc, cuốn phim vừa được khởi quay tại Việt Nam. Thủ tướng CSVN, nhân dịp này, yêu cầu báo chí t́m cho ra người hạ sĩ quan “ngụy” đă góp phần giữ cuốn nhật kư để ghi công. Câu chuyện sau đây, kể về người hạ sĩ quan thông dịch từng là tù nhân 8 năm tại trại Gia Trung, hiện là một cư dân vùng Little Saigon.

Người viết lại chuyện này, Xuân Đỗ, 66 tuổi, định cư tại Hoa Kỳ theo diện HO, cư dân Riverside, là một tác giả đă góp nhiều bài viết về nước Mỹ đặc biệt. Ông hiện là Guest Teacher cho Colton Joint Unified School District (nam California).

*

Hắn với tôi là bạn đồng tù, cùng ở trại Gia Trung trên Gia lai Kôngtum. Đây là trại cải tạo hắc ám nhất của cụm trại giam phía Nam, kể từ Quảng trị đổ vào. Thành phần bị giam th́ đủ mọi diện, tuy không có cấp bậc rơ rệt như bên Cảnh sát hoặc Quân đội, nhưng về mặt nguy hiểm th́ được các giới chức Hà nội đánh giá là không cần phải chuyển ra Bắc, nhưng cần cho cải tạo lâu dài tại miền Nam.

Họ là ai? Đủ loại: Văn nghệ sĩ, giáo sư, các cấp chỉ huy chế độ cũ, đa phần là thành phần bị coi là có liên hệ với Mỹ, liên hệ v́ làm thông dịch, thám báo, biệt kích cho Mỹ, liên hệ v́ đă được đào tạo ngắn hạn, dài hạn ở Mỹ, có dính líu đến hoạt động của t́nh báo, văn hóa Mỹ, hoặc đă giúp việc cho các lực lượng đồng minh của Mỹ v.v...

Hắn với tôi không quen biết nhau từ ngoài, quê quán lại kẻ ở Saig̣n, người ngoài Đà nẵng, nhưng đến tuổi động viên th́ hắn và tôi cùng hoạt động ở miền cận sơn Quảng ngăi dọc từ Chu lai dến Đức phổ, Trà bồng. Hắn là thông dịch viên cho Ban Quân báo thuộc Sư đoàn Không kỵ Mỹ, bản doanh đóng tại Chu lai. C̣n tôi là một biệt kích của lực lượng thám báo Mỹ, đóng dọc biên giới bên sườn phía đông Trường sơn. Hắn có cấp bậc v́ do bên quân đội biệt phái ngang cấp Trung sĩ, c̣n tôi do Mỹ trả lương nên coi như tương đương cấp Trung đội trưởng. Nói cụ thể, sau chiến tranh, hai thằng tôi nếu kể là có "tội với nhân dân" th́ sau hai tuần cải tạo là được về, giống như đa phần các hạ sĩ quan trong quân đội miền Nam. Nhưng chỉ v́ dính líu đến Mỹ, nên hắn lănh "án" trên 8 năm, c̣n tôi cộng thêm 3 năm vượt biên nên hơn hắn hai năm có lẻ.

Ra tù hắn t́m đường vượt biên v́ cô vợ đă sang Mỹ trước. Tôi th́ mấy lần không thoát lại chẳng thuộc diện ǵ nên đành ở lại đắp đổi làm ăn. Cũng may lấy được cô vợ con nhà lành cùng bị bắt khi vượt biên nên khi ra tù hai vợ chồng chí thú làm ăn nên giờ này hai tụi tôi thuộc loại khá. Hai vợ chồng cũng có dịp đi đây đi đó do công chuyện làm ăn. Nhưng lần này trùng dịp Hà nội hội nhập với nền kinh tế thế giới nên tôi được cấp hộ chiếu du lịch Mỹ ba tháng. Phỏng vấn không mấy khó khăn v́ là cựu nhân viên sở Mỹ, chỉ tiếc là vợ không được đi v́ sợ hai vợ chồng dưới 60 cùng đi e sẽ ở lại (?).

Bạn bè bà con tôi ở Mỹ cũng nhiều, nhưng tôi muốn t́m và gặp hắn v́ những kỷ niệm gắn bó trong tù, vả lại hắn lại ở ngay quận Cam nên cũng dễ t́m. Nhưng t́m được hắn đă khó, gặp được hắn lại càng khó hơn nếu không có anh B. là bạn của cả hai thằng khi c̣n ở chung trại. Tôi đă muốn nản th́ hắn hẹn gặp tôi ở khu Phước Lộc Thọ vào một sáng chủ nhật.

Thằng cháu thảy tôi xuống khu Parking, hắn đă chực sẵn. Hai đứa nhận nhau không mấy khó khăn v́ tướng tá hắn vốn đô con. Hắn bốc tôi lên xe, rồi lái thẳng ra một xa lộ dọc bờ biển, hắn nói là Newport Beach.

Xe dừng ở một quán cà phê gần băi biển, hai đứa t́m một chỗ ở góc vắng. Hắn hỏi tôi vài câu xă giao, chuyện của hắn và gia cảnh thế nào hắn chưa kịp nói. Đi thẳng vào câu chuyện, hắn cho biết mấy tháng gần đây hắn như là kẻ bị săn đuổi, hắn đang là con "mồi" của cả hai phía, một ở trong nước, một ở hải ngoại. Tôi vốn không thích mấy chuyện chính trị, lại ở thế kẹt v́ hết hai tháng tôi c̣n quay về, vợ con tôi c̣n ở bên kia bờ đaị dương, nên tôi hỏi hắn có ǵ nguy hiểm cho hắn không và có thể liên lụy ǵ đến tôi không. (Tuy chưa biết đầu đuôi câu chuyện, nhưng trong óc tôi nghĩ biết thế khỏi đi gặp thằng cha này cho xong, bạn bè bà con ḿnh thiếu ǵ người ḿnh chưa gặp)

Như đoán được tâm tư tôi, hắn trấn an ngay, "chuyện th́ dài ḍng, nhưng cậu cứ yên tâm v́ tôi muốn giăi bày để cậu khỏi hiểu lầm tại sao tôi có vẻ khó khăn mới cho cậu gặp".

Hai đứa cùng châm điếu thuốc, hắn biết tôi hút nhiều hơn ăn, c̣n hắn mới hút lại v́ tâm tư bất ổn. Chợt hắn hỏi tôi, "cậu c̣n nhớ cái vụ cuốn nhật kư của con bé VC ở Quảng ngăi không? Tôi đă kể cho cậu nghe hồi ở Gia trung rồi đó."

Tôi không để ư lắm v́ ra tù là lo vượt biên, lại không thuộc mấy cái diện có thể sang Mỹ, nên nói cho ngay mấy chuyện trong tù có ai nhắc th́ nhớ, chứ c̣n th́ chỉ muốn quên cho đỡ nhức đầu. Rít xong một hơi thuốc dài, tôi nhớ mài mại là hắn có vẻ "si t́nh" con bé Bắckỳ này và có kể khá nhiều t́nh tiết liên quan đến một cuốn nhật kư của đơn vị Mỹ tịch thu được trong một cuộc hành quân tại vùng Đức phổ (Quảng ngăi) nơi gần Trại tôi đóng hồi cuối thập niên 60. Nhưng trước hết cần t́m hiểu thêm về hắn th́ mọi chuyện mới có sự nối kết...

*

Hắn là người Ságon, con của một gia đ́nh khá giả. Lúc nhỏ hắn học chương tŕnh Pháp (được các thầy ở Taberd gọi hắn là Henry), sau chuyển sang chương tŕnh Việt. Không ham học lắm nên hắn rớt tú tài, nhưng ngoại ngữ th́ giỏi cả Anh lẫn Pháp.

Đến tuổi động viên đ̣i bằng cấp hắn chỉ đi được hạ sĩ quan, nên hắn thi vào khóa thông dịch viên của quân đội và đồng hóa cấp bậc trung sĩ. Hồi đó có câu đồng dao, "Rớt tú tài anh đi trung sĩ / Em ở nhà lấy Mỹ nuôi con". Hắn cũng đi trung sĩ, nhưng nhà hắn khá giả lại chưa lấy vợ, nên hắn t́nh nguyện ra phục vụ tại miền Trung, được Quân đoàn I cho về làm thông dịch viên cho toán quân báo sư đoàn Cọp Bay của Mỹ đóng tại Chu lai.

Nhiệm vụ của hắn là làm công tác phiên dịch khi bắt được các tù binh cộng sản, bất kể chính qui xâm nhập hay cán bộ địa phương. Tuy không trực tiếp trận mạc nhưng cũng khá nguy hiểm khi bay trực thăng đến làm công tác phân loại tù binh ngay tại chiến trường. Hết hành quân, hắn làm việc tại hậu cứ cùng với các sĩ quan Mỹ, chủ yếu là dịch thuật các tài liệu tịch thu được tại chiến trường, kể cả các thư từ, nhật kư viết tay của các cán binh hi sinh tại trận địa.

Hắn tuy là một hạ sĩ quan, nhưng Mỹ họ coi hắn như một chuyên viên (specialist) được ra vào tự do các PX để mua đồ và ăn uống với các sĩ quan Mỹ tại câu lạc bộ sư đoàn. Hắn được sự nể trọng của phía đối tác v́ lối làm việc không kể giờ giấc lại rất hiệu quả trong công tác dịch thuật. Hắn đă được tưởng thưởng một huy chương Mỹ và phía Việt nam tặng hắn một bằng tưởng lục khi trực thăng của hắn bị bắn hạ gần quận Đức phổ trên đường đi công tác. May mà hắn nhảy ra được lúc trực thăng bốc cháy, chứ không th́ hắn khỏi cần đi cải tạo và lưu lạc sang tới đất Mỹ.

Ngoài giờ làm việc, để đỡ nhớ nhà, hắn hay đem từ văn pḥng về các lá thư hoặc nhật kư của cán binh Việt cộng xâm nhập. Trên nguyên tắc không được đem các loại tài liệu này về pḥng, nhưng hắn lấy cớ cần đọc trước để dịch cho sát nên Mỹ họ cũng lờ đi.

Bản thân hắn không thích chiến tranh, tất nhiên đi quân dịch cũng là miễn cưỡng, nên hắn có cái nh́n hơi khác với các người lính chiến thực sự. Lại ở tuổi thanh niên chính hắn cũng c̣n nhiều mơ ước chưa thực hiện được nên hắn có một sự đồng cảm nào đó với những người cán binh trẻ thuộc phía bên kia. Hắn thấy thương các thanh niên Hà nội phải vượt Trường sơn chịu cảnh xa nhà, xa người thân, người yêu, hi sinh những năm tháng tươi đẹp nhất của tuổi học tṛ để rồi trong một khoảnh khắc nào đó phải chịu kiếp "sinh Bắc tử Nam" bỏ thân nơi rừng già, nơi vực sâu, núi thẳm.

Hắn lại tự so sánh dù sao hắn cũng c̣n có những kỳ phép ngắn để về thăm cha mẹ, anh em, c̣n những số phận "xẻ dọc trường Sơn đi đánh Mỹ" th́ ôi thôi đi là tử biệt về là thiên thu! Hắn đọc nhiều lá thư, nhiều đoạn nhật kư có lần hắn đă khóc v́ thấy tâm tư họ trong sáng quá, t́nh cảm trung thực quá, nỗi nhớ ra riết quá, ngây thơ nghe theo tiếng gọi của đảng, của tổ quốc để rồi cứ gọi là đi, biết đi là chết. Tất nhiên cũng có những trăn trở, cay đắng, thậm chí bất măn v́ những yếu tố gian khổ, chết chóc trên đường hành quân, khi phải đi tới một vùng đất chưa hề đặt chân, một mục tiêu chưa hề biết đến, một kẻ thù chưa hề trực diện, một chân trời ấp ủ vẫn c̣n nằm bên kia bờ ảo vọng.

Càng đọc hắn càng tin vào cái suy nghĩ của hắn, chiến tranh là hủy diệt, chính nghĩa là một chiều, con người là công cụ, và đất nước Việt nam của hắn chẳng qua chỉ là băi chiến trường của hai ư thức hệ. Có điều hắn ngạc nhiên là các thanh niên được đào tạo trong ḷng chế độ cộng sản lẽ ra phải cứng cỏi, sắt đá, nhưng trong tâm tư t́nh cảm sao vẫn thấy giống như hắn và tuổi trẻ miền nam. Từ đó hắn nghiệm ra rằng lẽ ra các nhà lănh đạo nên để dành những thế hệ này cho sự phồn vinh của Tổ quốc, cho con Hồng cháu Lạc có dịp nở mày nở mặt với năm châu thay v́ đốt cháy tuổi trẻ của họ bằng những ngôn từ sặc mùi hận thù sắt máu, đẩy đưa họ vào chốn hủy diệt đọa đầy.

Trong tâm trạng ấy, một hôm t́nh cờ lục trong đám tài liệu mới tịch thu, hắn để ư có một cuốn nhật kư viết tay, ngoại h́nh c̣n nguyên vẹn, chữ nghĩa sạch sẽ dễ coi, khá dày, tŕnh bày trang trọng, lại có h́nh ảnh kèm theo. Tác giả là một cán bộ xâm nhập, một nữ bác sĩ người Hà nội tên TR.

Không giống những lần đọc các cuốn nhật kư khác, lần này cuốn sách làm hắn trằn trọc khó ngủ mất mấy đêm.Thật sự về nội dung chưa hẳn có ǵ đặc biệt hơn so với một số nhật kư của các cán binh trẻ, th́ cũng vẫn là tâm tư, nguyện vọng, mơ ước tuổi thanh xuân, mối t́nh học tṛ dang dở, niềm thương nỗi nhớ bà con chốn quê, cũng đề cập đến sứ mạng đảng giao, lư tưởng thanh niên, t́nh đồng đội, đoàn viên trong đơn vị, những gian khổ trên lộ tŕnh xâm nhập, những bất trắc khi vào đất địch...

H́nh như cán binh nào cũng có thể viết và đa phần họ thích viết v́ không c̣n phương tiện nào có thể giải tỏa được tâm tư, nỗi niềm của họ. Cảnh sống nay chết mai trước mắt khiến họ viết để ít ra cũng coi như kỷ vật gửi lại người thân nếu quả thật những kỷ vật này c̣n đến tay người thân. Có sự trùng hợp là những người lính của cả hai miền đều thích viết thư, loại "t́nh thư của lính" của các chiến sĩ miền nam với "ba lô làm bàn nên nét chữ không ngay/ thư của lính viết giữa rừng cây khi nhớ em thật đầy" đă thể hiện nỗi niềm thương nhớ lúc dừng quân ngay trên những con đường ṃn mà cả hai bên đang t́m và diệt nhau.

Trở lại cuốn nhật kư, hắn vẫn cảm thấy có ǵ đặc biệt v́ tác giả là người nữ trí thức trẻ, dân Hà nội, xuất thân cũng gia đ́nh trí thức, lại công tác ngay tại một trạm xá vừa là nơi chữa trị vừa là trạm giao liên cho cán bộ địa phương, một địa bàn ác liệt bất phân thắng bại trong suốt cuộc chiến. Hắn đọc xong, tuy thầm phục cô gái có ư chí và nhiệt t́nh tuổi trẻ, nhưng cũng có vài đoạn làm hắn "nóng mặt" v́ cô mang quan điểm của một đảng viên cuồng tín, nhưng dù sao hắn cũng muốn giữ nó làm kỷ niệm. Trong đầu hắn c̣n có ư định một khi chiến tranh chấm dứt, nếu hắn c̣n sống, hắn sẽ t́m cách liên lạc và trao lại cho gia đ́nh cô gái. Nhưng rồi hắn sợ, hắn không dám giữ, v́ tài liệu này thuộc loại "classified' (Kín), không được phổ biến, lưu giữ khi chưa có lệnh, vi phạm sẽ bị phạt theo quân kỷ, cấp hắn lại nhỏ hắn hiểu điều này. Nhưng nếu hắn không giữ th́ tài liệu loại này cũng sẽ bị đốt khi khai thác xong. Hắn trăn trở làm sao phải giữ lại nó.

Hắn biết lính Mỹ thích có một cái ǵ làm lưu niệm khi măn nhiệm kỳ (tour of duty) ở Việt nam. Người th́ lấy một mảnh cờ rách của đối phương ngoài trận địa, kẻ th́ giữ một cái ruột tượng đựng gạo của một anh cán binh vô tri vô giác, miễn nó là một vật thể có dính vết máu càng tốt, để khi về Mỹ c̣n "khoe" với bà con lối xóm đă từng trực tiếp tham gia trận đánh này, cuộc chạm địch kia. Cũng v́ vậy mà bọn con buôn Sài g̣n đă in lậu cờ Mặt trận hoặc sao vàng đem bày bán chui ở lề đường Tự do, Lê Lợi cho lính Mỹ sắp ra phi trường Tân sơn nhất lên đường về nước.

Hắn nghĩ ngay đến viên sĩ quan hắn làm việc dưới quyền, Trung úy Fred Smith. Biết anh này sắp măn nhiệm kỳ một năm tại Việt nam, hắn gợi ư cuốn nhật kư này không nên đốt, có nhiều cái hay hay hắn dịch lại cho Fred. Fred có vẻ thích thú, chưa kể bản thân tác giả và h́nh ảnh của nó làm cho anh ta có phần lưỡng lự không muốn thiêu hủy. Thế là ư đồ của hắn ít nhất thành công được nửa phần. Nửa phần c̣n lại chờ cận ngày Fred giă từ đơn vị. Là người bảo quản các loại tài liệu tịch thu, hắn tạm cất nó trong tủ sắt.

Anh chàng Fred này gần đến ngày về chỉ mong an toàn rút khỏi Việt nam. Mọi việc anh ta nghe nhiều hơn cho ư kiến, nên việc điều hành anh ta để cho hắn lo chờ viên sĩ quan mới thay chân. Trong ḷng hắn vẫn có cảm t́nh với anh Mỹ trẻ này, vừa hạp nhau trong công tác, vừa hay tâm sự chuyện bên kia nửa ṿng trái đất, một nơi mà hắn ước mong có dịp đặt chân đến tuy chỉ là viển vông. Vốn hiếu khách Fred có ngỏ lời mời hắn thăm gia đ́nh khi hết chiến tranh. Hắn ậm ờ ghi địa chỉ, cũng chẳng ngờ sẽ sử dụng nó vào một ngày nào đó.

Fred về nước, mang theo cuốn nhật kư như hắn mong đợi, không quên dặn với là có dịp Fred cố liên lạc với gia đ́nh người quá cố. Chờ hai bên Mỹ-Việt quan hệ b́nh thường quá lâu, Fred ghi lại địa chỉ Hà nôi, rồi đem tặng cuốn nhật kư cho thư viện của một đại học lớn ở Texas, nơi chuyên đề lưu giữ, trưng bày các tài liệu, hiện vật trong chiến tranh Việt nam. Sách đi nhưng Fred vẫn giữ được bản sao, kèm phần dịch thuật không chuyên của người chị dâu, cũng là một thiếu nữ Việt nam mà anh của Fred yêu và kết hôn trước khi về nước. Gia đ́nh này có vẻ có duyên với Việt nam. Chuyện cuốn nhật kư tạm ch́m trong kư ức của cả Fred lẫn hắn, tất nhiên ḍng đời đưa đẩy c̣n nhiều chuyện phải lo.

*

Cà phê đă cạn, thuốc hút đă tàn, tạm quay sang chuyện khác. Hai đứa thả bộ dọc băi biển.

Tôi nói chuyện của tôi, hắn kể chuyện của hắn, hai bên lại trở về âm vang của những ngày lao đao thuở trước. So với tôi bên Việt nam, chưa chắc hắn đă khá hơn. Sang tới Mỹ hắn cũng long đong lắm, vợ th́ đă có gia đ́nh khác, công việc th́ không có bằng cấp nên chỉ làm lương đủ sống, đôi khi dư dật chút đỉnh, bù lại có lúc bị lay off. Hắn ăn trợ cấp thất nghiệp mất hai năm.

Cho đến lúc gặp tôi, hắn mới đi làm lại được gần một năm. Cô vợ mới với hắn có một mặt con, hai người đến với nhau do cô vợ tỏ t́nh thương cảm khá mặn mà với hắn, nói chung là cuộc sống hạnh phúc, ổn định.

Tôi hỏi c̣n ông bạn Fred giờ ở bang nào, mặt hắn tỏ vẻ xúc động cho biết không ngờ "thằng ấy" tốt thật, anh ta tuy ở bên miền Đông nhưng đă lo cho hắn từ A tới Z khi hắn đến Mỹ, lại an ủi hắn chuyện t́nh cảm và giúp hắn xin lại việc mỗi lần lay off. Hai bên vẫn trao đổi diện thoại thường xuyên, nhưng cũng v́ Fred mà hắn đang lâm vào cảnh khó xử hiện nay.

*

Quan hệ Việt-Mỹ trở lại b́nh thường. Các cựu binh trong cuộc chiến có thể ghé thăm Việt nam, thậm chí muốn thăm lại chiến trường xưa cũng không ai cấm. Fred chờ đợi ngày này.

Sau khi nhờ ṭa đại sứ Mỹ ở Hà nội xác nhận địa chỉ, hai anh em Fred lên đường sang Việt nam, thăm ai th́ khỏi cần phải đoán. Để dành sự bất ngờ cho người được thăm, Fred và Mike thuê chiếc xích lô đến ngay địa chỉ của mẹ cô TR.

Sau khi tự giới thiệu, chào hỏi, bà mẹ vốn là một dược sĩ nên cũng hiểu đôi chút tiếng Anh và biết là họ trao một kỷ vật của con gái bà đă hi sinh cả ba chục năm. Bà cố trấn tĩnh gọi ngay cho con gái út, nói giỏi tiếng Anh về ngay để làm thông dịch. Cuộc họp mặt bất ngờ sưởi ấm tâm t́nh của cả đôi bên. Nội dung trao đổi khiến cả hai bên đều tỏ ra lưu luyến, hẹn nhau gặp lại.

Cuộc gặp gỡ được đăng trên báo Phụ nữ Hà thành, v́ cô út làm việc ở đây. Thành đoàn biết là vấn đề nhạy cảm xin chỉ đạo ở trên để làm thủ tục xin phép... cho in. Cuốn Nhật kư Đặng Thùy Trâm” do Vương Trí Nhàn biên tập -có nghĩa là sửa chữa, thêm bớt, sắp đặt lại- được Hội Nhà Văn xuất bản và kịp phát hành nhân kỷ niệm ba mươi năm chấm dứt cuộc chiến.

Cuốn nhật kư gây tiếng vang lớn trong giới thanh niên, nhiều người ṭ ṃ t́m đọc. Nhân vật Mỹ có công lớn là Fred th́ không nói làm ǵ, nhưng anh không muốn nhận "công" một ḿnh, mà lại kéo theo cái tên của ông bạn ḿnh là chàng Henry, người hạ sĩ quan thông dịch năm xưa. Anh gán cho hắn đă phát ngôn một câu khiến anh không thiêu hủy cuốn sách đại loại, "Đừng đốt, trong ấy tự nó đă có lửa!"

Khi nghe kể lại tôi hỏi hắn chữ nghĩa ở đâu mà cậu nói văn hoa quá vậy. Hắn thực thà nói không nhớ rơ, nhưng hắn có nói lửa nhiệt t́nh tuổi trẻ trong con người của cô gái khi dịch sơ cho Fred nghe.

Ấy vậy mà câu nói để đời ấy dẫn đến sự tồn tại của cuốn sách khiến ông Thủ tướng CSVN viết thư cho Ban biên tập với gợi ư là cần t́m ra viên trung sĩ "ngụy" này để biểu dương. Tờ báo Tuổi Trẻ đi tiên phong trong cuộc truy lùng. Chắc họ cũng tưởng hắn c̣n ở Việt nam, trung sĩ th́ chỉ đi cải tạo ít ngày, giờ 'đánh bóng" hắn th́ một công đôi việc quảng bá luôn cho cuốn sách. Có ngờ đâu hắn đă đi Mỹ, hắn đă trải qua tám mùa thu cao nguyên v́ hưởng ứng cái chính sách khoan hồng trước khi t́m đường xa xứ.

Câu chuyện đến đây, hắn thú thật đang lâm vào cái thế kẹt. V́ chẳng phải t́m đâu xa, cứ hỏi Fred là t́m ra tông tích của hắn, ít nhất là một đầu mối quan trọng. C̣n giả sử hắn c̣n ở trong nước th́ vô phương t́m ra hắn v́ hắn sẽ chẳng bao giờ đọc lại cuốn sách này. Xét cho cùng, nếu được nhà nước vinh danh hắn, tặng thưởng hắn th́ vinh dự nỗi ǵ. Hắn đă đánh mất tuổi trẻ, một thời cho chế độ cũ, một thời dài hơn cho chế độ mới. Hắn đă mất mẹ khi c̣n trong tù, hắn đă mất vợ khi đến Mỹ. Nay hắn chỉ muốn yên thân làm ăn. Đúng, hắn cũng chỉ mơ ước "ḥa b́nh" cho bản thân bên cạnh vợ con, có công ăn việc làm ổn định, có cuộc sống tự do, có đầy đủ nhân quyền nhân phẩm.

Có lúc hắn cũng tự nghĩ nếu hắn có công cứu sống được cô gái th́ có thể hắn sẽ "chường mặt" để nhận sự biết ơn, đằng này người chết chẳng lấy lại được, cuốn sách cũng chỉ là an ủi phần nào nỗi trăn trở của người c̣n sống, đặc biệt là Mẹ của TR, một người hắn chưa được một lần gặp mặt, nhưng có ḷng kính trọng sâu xa bà mẹ Việt nam này. Một bà mẹ hơn hai mươi năm chăm sóc cho người chồng bại liệt cùng nỗi nhớ thương quay quắt đứa con gái yêu quí của ḿnh suốt hơn 1/3 thế kỷ.

Chuyện càng ngày càng thêm phức tạp, ly kỳ. Nghe đâu cuốn nhật kư đă được dịch sang tiếng Anh, hiệu đính và bổ sung thêm vơi cái tựa đề "Đêm qua em mơ thấy ḥa b́nh", được nhà xuất bản Random House in ấn. Chưa hết, nhà nước c̣n cấp ngân phí cho dự án sản xuất một cuốn phim mang tựa đề trùng hợp với câu nói để đời về lửa trong cuốn nhật kư được Fred gán cho hắn. Một phần ngoại cảnh đang được quay bên kia miền Đông. Nghe đâu Fred được chọn đóng cho chính vai của anh. Tất nhiên thế nào chẳng có viên trung sĩ "ngụy". Vai TR th́ chưa chọn xong, bà mẹ ra điều kiện không chọn các cô gái "chân dài", con bà phải được thể hiện bằng một cô gái có học thức, đoan trang, có bản lănh tuổi trẻ. Cộng đồng quận Cam đang theo dơi sát diễn biến của công tác tuyên vận hải ngoại có một không hai này.

C̣n hắn, quả t́nh hắn không muốn liên lụy thêm, hắn không muốn trở thành một "Trần Trường II". Xin cám ơn những lời tán tụng, nếu kể là hắn có công th́ như vậy đă đủ cho hắn rồi. Cũng đừng hiểu lầm về con người hắn, trước sau hắn vẫn là người tị nạn và hắn muốn sống yên thân trên đất nước tạm dung này.

Sau phút hàn huyên, hai người bạn đồng tù đi ăn trưa ở một nhà hàng trên đường Beach. Họ chia tay nhau trước lúc lên đèn.

Trên đường về nơi tạm trú, tôi thở phào và thông cảm cho hoàn cảnh của hắn, chuyện chẳng có ǵ nguy hiểm. Ít ra hắn đă có người để tâm sự, một điều lẽ ra Fred phải hiểu và giúp hắn.



XUÂN ĐỖ