PDA

View Full Version : Đọc "Chi Nhân Vấn" của Vương Vi Lư



việtdươngnhân
12-07-2007, 05:49 AM
http://www.gio-o.com/QueHuongChiNhanVan.jpg
Tranh Lê Thị Quế Hương

Ngô văn Tao

Đọc "Chi Nhân Vấn" của Vương Vi Lư

“Nhân chi vấn” là nhan đề triết luận bằng Trung văn, tác giả Vương Vi Lư (1).

“Nhân chi vấn”, tức là câu hỏi cuả S.Kierkegaard: Tôi là ǵ? Tôi là ai? Tôi từ đâu tới? Cái thế giới này, mà ta gọi là thế giới, nghĩa là sao? Ai đă đặt tôi vào đây?. Câu hỏi về người, về hiện hữu của con người vẫn là chủ đề của Triết Học tây phương, Bản thể học (ontology), từ thời thượng cổ Hy Lạp, tiền Socrates, cho đến bây giờ. Vương Vi Lư nhắc lại tiên đề của Parmenides (tiền Socrates): Có tư duy là tồn tại, tồn tại là có tư duy! .Rồi qua bao nhiêu thế kỷ, từ Socrates-Platon-Aristotes đến Husserl-Heidegger, Bản Thể Học tây phương triền miên khai mở trên ư đó, mà Descartes đặt ra lại thành mệnh đề: Ngă tư cố ngă tại (cogito ergo sum). Mệnh đề của Descartes là cơ sở để trả lời hay chỉ trả lời một phần nào thôi câu hỏi mà chúng ta có: Nhân chi vấn? Những triết gia như Kant, Hegel triết luận trên tiền đề :Ngă tư (cogito), xây dựng bản thể học con người, chủ thể tuyệt đối lư tính (geist). Kierkegaard ngược lại trọng thị tiền đề: Ngă taị, bản thể con người hiện hữu là sống và chết, cô đơn, đau khổ, yêu và ghét, trực giác thẩm mỹ hay tuyệt đối tín ngưỡng đặt phận ḿnh vào trong t́nh thương của thượng đế. Triết gia M.Heidegger suy luận ngôn từ và thư sách kim cổ (hermeneutics), vượt qua Ngă, chủ thể lư tính, hay chủ thể của hiện tượng luận (phenomenology của Husserl) để đi đến một bản thể học mà chủ thể Ngă không c̣n, chỉ c̣n Tư và Hiện Hữu, một bản thể học luận thức Tư trực giác bản nhiên (Ereignis) thực nghiệm Thử Tại (Dasein).

Nhân chi vấn, triết luận án của Vương Vi Lư cốt yếu tŕnh bày ngắn gọn cho chúng ta hay quá tŕnh tư tưởng của Heidegger. Một quá tŕnh đưa đến sự giao hoà tư tưởng Heidegger và Thiền. Tư, với sự vắng mặt của Ta (Ngă) làm chủ thể, và khái niệm trực giác thực nghiệm Bản nhiên và Thử tại, ẩn dụ thuyết Vô Ngă của Thiền, và ư niệm Đốn Ngộ Phật tính của con người, phàm phu hay siêu đẳng. Một vấn đề thật ra không xa lạ; theo Vương Vi Lư, Graham Parkes trước đă từng đặt câu hỏi về ảnh hưởng của Thiền Học Nhật Bản trong tư tưởng của Heidegger(2). Hơn nữa theo W.Barrett (3), Heidegger đă từng đọc Thiền Luận của Suzuki và nói : “H́nh như tôi đă t́m ra trong quyển thiền luận này những điều mà tôi hằng hằng vẫn nói”. Đối với người Việt nam chúng ta, câu hỏi có hay không sự gặp gỡ của Heidegger với Thiền lại càng là một câu hỏi chính đáng và sáng tỏ. Nhà thơ lớn Bùi Giáng của chúng ta, sống như một đạo sĩ, gần gũi các chùa chiền nhà Phật, tư tưởng là trực giác thi ca, quán triệt Thiền tâm đă tŕnh bày trên hàng trăm trang sách(4) sự đối thoại âm thầm riêng tư của chính ḿnh với những ư tưởng của Heidegger, triết gia ở một chân trời khác…Một cuộc đàm thoại tràn đầy tâm huyết, thông cảm hăng say cho đến nỗi Bùi Giáng cần thấy phải thoá mạ Giáo sư Triết học Jean Walls và triết gia J.P.Sartre, thoá mạ Jean Walls v́ đă dám đặt nghi vấn về giá trị của Hiện Hữu và Thời Gian ( tác phẩm Sein und Zeit, của Heidegger)(5), thoá mạ J.P. Sartre v́ với tác phẩm Hiện Hữu và Hư Vô (L’Être et le Néant), J.P. Sartre như đă phản bội cái ư Vô Ngă của Heidegger. Đề án của Vương Vi Lư cho chúng ta sáng tỏ một phần nào; Bùi Giáng có lẽ đă cảm nhận ra trước rồi thiền ư trong ngàn trang sách của Heidegger.

Vấn đề nhân sinh triết lư ở Thiền

Phật giáo phát sinh từ Ấn Độ truyền sang Trung Quốc, ḥa hợp với văn hoá trung hoa Khổng-Lăo nẩy nở ra một tông phái: Thiền Tông.Vương vi Lư c̣n nói rơ hơn, nguyên thủy của Thiền là Đại Thừa Phật Giáo (Trung đạo quán học phái của Long Thọ) dung hoà với thuyết vô vi của Trang-Lăo. Cũng như Phật giáo, căn bản của Thiền là vấn đề nhân sinh với cứu cánh là giải thoát cá nhân. Và cũng như Trang-Lăo, căn bản của Thiền cũng là trầm mặc vô vi: Bất lập văn tự, Giáo ngoại biệt truyền, Trực chỉ nhân tâm.

Theo Trung đạo quán, tất cả là do duyên khởi, không có ǵ là thường trụ bất biến, nên tự-Ngă ( cái Ta) chỉ là giả định. Trọng tâm của Thiền là tư tưởng Vô Ngă. V́ Ngă giả thân hoà hợp của Ngũ Uẩn (cái sắc, cái ái, cái tưởng, cái hành, cái thức), nghĩ là có Ngă, là ch́m đắm vào màn vô minh, trầm luân khổ đau, ái dục và thương tiếc. Nhưng con người sinh ra trong nghiệp nhân quả, nổi trôi vào biển thức, ba đào hiện tượng, kết cấu của những cơ duyên vô thường; con người như là bị hoa mắt, chân Tâm u mờ, cái thức khởi động mỗi ngày một lớn, u minh sa lầy vào nhị nguyên quán: chủ thể và khách thể đối lập, tự-Ngă có ta giữa muôn ngàn đối tượng. Nhị nguyên quán là khởi nguyên của tội lỗi, sam sân si, biển t́nh của khổ đau. Thiền giải thoát, thoát ly nhị nguyên quán, với cái thức tự-Ngă, tranh giành ghen ghét, tham lam ái dục. Thiền là cuộc ra đi giữa phong ba trần gian trở về với chân Tâm!

Thiền là Thiền Tông, một tông phái của đạo Phật? Các tổ sư sáng lập ra Thiền đều là những hoà thượng trụ tŕ ở chùa Phật. Nhưng không, Thiền không thể nào được coi là một tôn giáo. Đạt Ma Sư Tổ, tổ sư thứ nhất của Thiền, chín năm đôí diện với bức tường, không nói ra một lời, chỉ lặng lẽ giao pháp ấn cho một đệ tử, với ngụ ư rằng: ngươi thật là người đă hiểu ta! Tổ sư thứ sáu Huệ Năng, người thật đă sáng lập ra Thiền (Nam phái, nhưng côt yếu là Thiền trong tư duy Á Đông hiện tại), khi viên tịch không giao pháp ấn cho một ai, không cho Thiền phái của ḿnh trở nên một tông giáo, với tăng đoàn và nghi lễ. Vậy Thiền là triết lư nhân sinh khởi nguyên từ Phật Giáo? Nếu là triết lư, th́ Thiền không thể nào là triết lư theo cái nghĩa triết học Tây phương. Siêu nhiên (transcendantal), Thiền không phải là triết lư với những khái niệm của lư tính.Thiền không có văn bản chính thống. Thiền là định, là tĩnh, kiến tính từ bi thông cảm…Thiền là việc giải thoát của mỗi người , bỏ lại sau những tính toán một hai, phiền năo so le của sự đời. Một cuộc hành tŕnh có thể bắt đầu trong một sát na đốn ngộ, thức tỉnh hé mở màn vô minh, hay bằng một tiếng quát của thiền sư bậc đại ngộ vạch ra cho thấy cánh cửa mở ra để lên đường. Một hành tŕnh đi t́m lại Chân Tâm.”Thiên kinh vạn luận, mạc quá thủ chân tâm thị yếu dă”( tổ sư thứ năm Hoành Nhẫn). Một ngàn bài kinh, một vạn câu luận giải không bằng biết ngộ rằng cốt yếu là trở về t́m lại chân Tâm. Nếu muốn nghĩ Thiền là bản thể học, th́ bản thể là Tâm. Nhưng Thiền tâm cũng là siêu nhiên, bất khả tư nghi, không thể nghĩ bàn.Tâm không phải là khái niệm. Và nếu muốn nghĩ có nhân sinh quan ở Thiền, th́ Tâm là khung cửa nh́n ra và cũng là nơi quy tụ. Tâm bản nhiên thanh tịnh, giải độ phá tan cái Ngă chấp trước. “Tâm bản thị Phật, Phật bản thị Tâm. Tâm như hư vô…đán chỉ tự Tâm, vô Ngă vô Nhân, bản lai thị Phật” (Thiền sư Hoàng Từ Hy: “Tâm tức là Phật, Phật tức là Tâm. Tâm như hư vô, .. được chỉ tự Tâm, không Ta không Người, bản lai là Phật”). Phàm phu hay siêu đẳng đều là Tâm. Trong Tâm, có tức là không, không tức là có, con người ảo ảnh hư không, mà cũng không phải là hư không. Tâm là Niết Bàn, chốn trở về của nhân loại khi cái thế giới nhân sinh sa đoạ, trầm luân ảo vọng sụp đổ, thức tỉnh trong một sát na.

Heidegger, Bản nhiên và Thử tại (Ereignis und Dasein)

Triết học truyền thống Tây phương khởi từ Socrates-Platon, khi Platon phân tích vũ trụ nhân sinh thành hai thế giới, thế giới nội tâm lư niệm và thế giới vật chất ngoại thể. Một nhân sinh vũ trụ quan với nhị nguyên quán, sự đối lập chủ thể và khách thể, và trên nhân bản chủ nghĩa rằng người là chủ thể tuyệt đối lư tính chỉ đạo sự hiện hữu của thế giới vạn vật khách quan bên ngoài.

Thời đại Trung cổ, triết học Tây phương ẩn ch́m trước sự bành chướng của Cơ Đốc Giáo (Christianisme). Đến thời Phục hưng, triết học Tây phương mới thật triển khai triết lư của Platon, đặc biệt trên mệnh đề của Descartes: Ngă tư cố ngă tại. Mệnh đề Descartes mở ra chân trời phục hưng cho triết học Tây phương; Hegel với mệnh đề Descartes đă kêu lên: “Chúng ta như thuỷ thủ bao nhiêu lâu rồi phiêu bạt trên biển cả ba đào, bỗng thấy xa kia là lục địa!” và nữa: “Chúng ta đă t́m ra lại rồi ngôi nhà của tự thể!”. Kant và Hegel xây dựng lâu đài triết học nhân bản chủ nghĩa. Kant nêu ra mười hai Phạm trù lôgíc trong lư niệm của Ngă (cogito). Hegel đi xa hơn nữa, như Ngă đă là chủ thể tuyệt đối lư tính, toàn thể vũ trụ nhân sinh, nội tâm và ngoại thể, đều là lư tính và triển khai tuần tự lôgíc trong “phạm trù của những khái niệm và biện chứng pháp”. Hegel hệ thống hoá tư duy nhân loại, lịch sử, mỹ học, xă hội, tôn giáo…Hệ thống xă hội lư thuyết của K.Marx, tuy rằng mệnh danh duy vật biện chứng, nằm trong phạm vi lư thuyết hệ thống hoá của Hegel. Khoa học-Kỹ thuật là hiện thân đường rấy duy lư của Hegel.

Trong lịch sử triết học Tây phương hiện đại, Heidegger không phải là triết gia duy nhất bác bỏ thuyết duy lư và tuyệt đối hệ thống hoá của Hegel. S.Kierkegaard đă đi trước, trọng thị tiền đề: Ngă tại- chủ thể nhân sinh cô độc, đau khổ, t́nh cảm, thẩm mỹ, tín ngưỡng…”Ngă tại” không thể nào hệ thống hoá bằng lư trí; như muốn lôgíc giải thích con người tín ngưỡng, th́ không khác ǵ muốn lôgíc chứng minh sự hiện hữu của Thượng Đế; một đế án theo S.Kierkegaard tượng trưng của sự ngu muội. Husserl với hiện tượng luận (phenomenology) cũng nghĩ nhân sinh bản thể không thể nào hoàn toàn lư tính. Nhân sinh bản thể c̣n phải có cơ sở trên những hiện tượng, như chợt dừng lại ngắm một bức tranh hay cúi xuống hái một bông hồng…Những hiện tượng mà Ngă không bắt buộc phải chủ động, tuy rằng nó chỉ có ư nghĩa nếu “Ngă suy nghiệm”, mà suy nghiệm là suy nghiệm đến một đối tượng, bức tranh hay bông hồng…Nhân sinh bản thể học, theo Husserl, phải nhận ra Ngă nằm trong Thế giới của Hiện hữu (die Lebenswelt). Nghĩ sâu xa hơn nữa, khi ta ngắm một bức sơn mài của Nguyễn Gia Trí chẳng hạn, và ta suy nghiệm, th́ sự suy nghiệm của ta mang nặng quá tŕnh học hỏi trường đời, những tín ngưỡng, những thành kiến đă có qua những tập quán ngoại lai. Nên theo Husserl, trong bản thể học, ta c̣n phải biết khoa học phân trữ (bracketing) và thu nạp (reduction) những hiện tượng vào từng nguyên tố cơ bản của nhân sinh bản thể.

Heidegger không nghĩ ư đồ khoa học trên của Husserl là thiết thực và có giá trị cho nhân sinh bản thể học. Heidegger thật ra phủ nhận lịch tŕnh tư tưởng của Husserl cũng như của Kierkegaard là v́ cốt yếu vẫn ôm giữ quan điểm Ngă, chủ thể và sự đối lập chủ thể và khách thể trong Thế giới của Hiện Hữu. Heidegger nhận định tổng kết rằng quá tŕnh phát triển triết học Tây phương -từ Socrates đến Husserl- là lịch sử di vong của Hiện Hữu (Sein). Di vong trong nhị nguyên quán và trong hệ thống của lư trí. Trước hết, hệ thống hoá nhân sinh bản thể học là tạo dựng một hệ thống lôgíc trên cơ sở một số mệnh đề tiên thiên h́nh nhi thượng ( les principes a priori de la Métaphysique - theo ư của Kant). Nhưng bất cứ hệ thống lôgíc A nào, dù hoàn hảo đến đâu như hệ thống số học chẳng hạn ( théorie de l’Arithmétique), ta vẫn có câu hỏi :” Hệ thống A có mâu thuẫn hay không?”, câu hỏi mà ta không thể giải định nếu ta chỉ lư luận lôgíc trong hệ thống A, trừ phi ta lại phải lên cao nữa tự đặt vào trong một hệ thống B khác, siêu đẳng bao gồm hệ thống A (Định Đề của Godel ) (6). Mọi hệ thống lôgic đều có giới hạn và chỉ có những sự thật tương đối. Như khi K.Marx nói :”Tôn giáo là thuốc phiện của dân”, th́ lời nói đó chỉ có giá trị tương đối, giá trị trong hệ thống lư tính: “Duy vật khoa học biện chứng xă hội chủ nghĩa” của K.Marx. Cho nên trong mọi hệ thống tư tưởng lôgíc nào, con người chỉ mất đi bản chất nhân tính v́ những thành kiến thiển cận và những lư thức chuyên chế cố định.

Riêng ra, nguy cơ trực tiếp diệt vong của nhân bản là Khoa học và Kỹ thuật. KhKt là hệ thống lôgíc hoàn chỉnh của lư trí; và trong tư tưởng nhị nguyên quán, KhKt là hệ thống lôgíc để chinh phục thiên nhiên. Với những thành tựu vật chất và những “cái biết” tín hiệu, KhKt thống trị tư duy nhân loại. Trong cuộc chinh phục thiên nhiên, chính con người cũng trở nên vật liệu của KhKt, hay nữa “một con chip trong bộ máy điện tử tín hiệu khổng lồ của Khoa Học”. Toàn thể nhân loại chỉ là tài nguyên để KhKt tiếp tục cuộc hành chinh bất tận.(7)

Trước sự di vong của Hiện hữu, theo Vương Vi Lư, toàn bộ văn học trứ tác của Heidegger là để khắc phục “H́nh nhi thượng học” truyền thống Tây phương và phá giải sự thống trị của KhKt. Đi t́m nhân sinh bản thể, Heidegger khai trừ nhị nguyên quán, phủ nhận mọi hệ thống lôgíc cùng những mệnh đề tiên thiên h́nh nhi thượng (theo ư của Kant). Của mệnh đề Descartes :Ngă tư cố ngă tại, Heidegger giữ lại hai chữ Tư và Tại . Nhưng đây ,Tư có thể nói là sự thức tỉnh trực giác Bản nhiên hiện hữu và phản ảnh lại như kim cương phản ảnh ánh sáng bằng màu sắc của cầu vồng. Và Tại là Thử tại nơi đây phút này trong Thế giới của Hiện hữu.

Heidegger và Thiền

Theo Heidegger, để t́m lại nhân sinh bản thể, triết học phải trở về nguyên thuỷ, khi con người c̣n biết sống trong thiên đàng của “trí tuệ”, không lư giải một hai, không phân chia phải trái, trực giác sự hiện hữu, bản nhiên trải dài và hiển hiện (aléthéia), đôi mắt của con người không bị u mờ bởi màn the tập quán, ư đồ thị phi với thành kiến cố thủ thực thể của Ngă, chủ thể lư tính giữa thiên nhiên…

Heidegger muốn xây dựng một nhân sinh bản thể học mới, ngoài đường rầy duy lư, bỏ lại sau những khái niệm lôgíc phi nhân bản, những ngôn từ mà Ngă làm chủ thể. Chính Heidegger tự nói là muốn đưa triết học vào “Con đường rừng” ( der Waldweg) , con đường rừng của trí tuệ. Con đường dẫn về đâu? Có không ở cuối đường một chân trời sáng lạng ? Triết gia c̣n tự hỏi chính ḿnh có hay không khả năng để rẽ rừng, vẽ lối, có hay không đủ ngôn ngữ để ghi lại những vết chân. truyền đạt cho một ai khác để cùng chung cuộc mạn du (peripatetics).

Trả lời câu hỏi: “Triết học có hay không một sứ mạng xă hội?” , Heideggger nhắc lại câu của K.Marx: “Những triết gia lư giải thế giới, nhưng vấn đề lại là làm sao cải tổ thế giới!”. Đối với Heidegger, câu nói của K.Marx thiếu cơ sở, v́ muốn cải tổ th́ trước hết phải t́m hiểu (7). Vậy có lẽ triết học trước hết phải lư giải: “Xă hội là ǵ?”. Nhưng mà không, sâu xa hơn nữa, trước nguy nan di vong nhân bản, câu hỏi cấp bách vẫn là người: “Nhân chi vấn!”. Và theo Vương Vi Lư, hỏi về người, Heidegger dừng lại ở câu hỏi : “Nhân thị thùy?” (Người là ai?). Heidegger mạn du trên “con đường rừng” của trí tuệ, cốt yếu là đàm đạo (philosophieren), lư giải sách thánh hiền kim cổ (hermeneutics), t́m lại dấu chân của những ai, ai đi trước, và để lại vết ṃn cho những ai, ai đến về sau…Heidegger đàm luận bài thơ của Parmenides, nhận ra ngôn ngữ triết nhân Hy Lạp, tiền Socrates, là thi ca, cô đọng và ẩn dụ, triển khai Tư và thực giác Thử tại trong thế giới đơn nguyên của Hiện hữu. Bàn về Holderlin, Heidegger nhận rằng Holderlin là biểu tượng của thi ca, tâm hồn vọng về cố quận, về cái thời xa xưa thần linh ở lại trong ḷng người, ánh sáng linh thiêng của sự sống toả dịu trên mọi sinh vật. Ở Nietzsche, Heidegger giữ lại câu : “Chúng ta có nghệ thuật để không phải tử vong v́ sự thật”(8). Sự thật không bao giờ có! Sự thật chỉ là một khái niệm vô thường và sinh động. Nói có sự thật, chỉ có thể là sự thật tức thời, sự thật gỉa dối, sự thật của quyền uy và danh vọng…Chỉ có người nghệ sĩ mới có khả năng trực giác bản nhiên trong cái chân của hiện hữu, trong cái đẹp bất khả giải định của sự vật…

Phác hoạ sơ qua như trên lịch tŕnh tư tưởng của Heidegger, tôi mạn nghĩ đủ chứng thực đề án của Vương Vi Lư, sự giao hoà của Heidegger với Thiền. Tuy nhiên, tôi không đồng ư với Vương Vi Lư nỗ lực đối chiếu tư tưởng của Heidegger với một số Thiền tứ. Cốt yếu, theo tôi nghĩ, là dưới ánh sáng của Thiền t́m hiểu Heideggger, triết gia của thế kỷ thứ hai mươi. Dưới ánh sáng của Thiền! Chắc chắn phải có nhiều người đă biết nh́n như vậy, dưới ánh sáng của Thiền, để thâm hiểu chẳng hạn ư nghĩa ở những bức hoạ của P.Gauguin, viễn tượng một thiên đàng tĩnh lặng (một Niết bàn) ở trần gian, sự hài hoà của nghệ sĩ với thiên nhiên và nhân thế trong buổi sơ khai nguyên thuỷ.. Nên tôi không tŕnh bày Vương Vi Lư đối chiếu sao Heidegger với Thiền. Như “ngôn ngữ là ngôi nhà của tự thể”(Heidegger), tôi muốn nhắc nhở lại mấy từ ngữ của Triết học Trung hoa mà tôi đă dùng ở trên, mấy từ ngữ đủ chứng tỏ Vương Vi Lư đă thâm hậu luận tŕnh : Nhân chi vấn. Trước hết Vương Vi Lư đă biết ngắn gọn đúc kết rằng theo Heideggger, nhân sinh bản thể là “Tư”, và nhấn mạnh phiên dịch hai từ chủ chốt Ereignis và Dasein trong tư tưởng của Heidegger bằng hai Hán tự “Bản nhiên” và “Thử tại” Thật vậy, “Tư” gợi ta nghĩ tới chữ Tâm của Thiền, “Bản nhiên” tới câu kệ : nhiên nhiên nhi nhiên, và “Thử tại”, tới khung trời Thiền định : an nhiên tự tại. Ba từ đó đủ chiếu toả một ánh sáng kỳ diệu của Thiền trên “con đường rừng” trí tuệ của Heidegger.

Khắc phục Hư vô chủ nghĩa

Vương Vi Lư kết luận rằng ông không tự đặt câu hỏi : Heidegger có Thiền hay không? Ông chỉ muốn nhận định Heidegger rất gần với Thiền; mà gần đến đâu th́ để các thức giả tự t́m hiểu. Vương Vi Lư có nêu ra một chỗ sai biệt giữa Thiền và Heidegger. Thiền là hành tŕnh để mỗi người tự giải thoát phiền năo và khổ đau. “Con đường rừng” của Heidegger không đưa về đâu. Nhưng mạn du trên con đường đó là đàm đạo trí tuệ (philosophieren), cảm nhận bản nhiên sự vật, và trực giác thử tại; như vậy thật đă là tự thăng hoa, bảo tŕ bản chất nhân sinh trong khi nhân loại đang bị đại chúng hoá và tha hoá dưới ách thống trị của Khoa học và Kỹ thuật.

Cũng để kết luận, tôi muốn trở lại một vấn đề mà Vương Vi Lư cũng đă nêu lên: chữ “Không” trong tư tưởng của Heidegger. Thế giới Hiện hữu ( die Lebenswelt, mà chúng ta c̣n có thể dịch với ngôn ngữ của Bùi Giáng bằng “cơi Hiện hữu” hay bay bổng nữa “cơi nhà Phật”), cơi hiện hữu của Heidegger, bao gồm thế giới lư niệm và thế giới vật chất ngoai thể của Platon, phạm trù của Hegel, phạm trù của những khái niệm và biện chứng pháp…Trong cơi hiện hữu đó, nhất định phải có Sống và Chết, và thử tại chỉ có thể là thử tại ở một khoảng trời, mà ở ngoài chân trời của nó, mọi hiện hữu phải bị “già tế” ( hán từ của Vương Vi Lư, có nghĩa là ẩn ch́m) (9). Chết hay “ hiện hữu bị già tế”, tức là “Không”. Trong cái phi nhị nguyên quán, Heidegger bắt buộc phải gặp câu kinh của Thiền: Sắc bất dị không, không bất dị sắc. Có tức là không, không tức là có; chính con người nữa phải là một thâm uyên(Abgrund), cái huyệt với vực đáy hư vô. Hư vô chủ nghĩa: xác nhận hư vô và c̣n coi hư vô là cứu cánh của hiện hữu! Cái nguy cơ sa ch́m vào hố thẳm hư không theo vậy như nằm ở bên mỗi bước đi, ẩn ở mỗi ngả đường. Thiền khắc phục “Hư vô chủ nghĩa” với bản chất của Thiền, bằng chữ “Định” và chữ “Tĩnh”, sức mạnh trụ tŕ trong cơi tự tại siêu nhiên như vơ sĩ đạo, hoa đạo, trà đạo…Heidegger không phải là Thiền sư, th́ không ngừng đàm đạo và không ngừng sáng tác. Với ngàn ngàn trang sách, Heidegger đă viết biết bao nhiêu trang tuyệt kỳ sinh động nhân tính.

Dưới đây là một đoạn văn của Heidegger mà Bùi Giáng đă trích dẫn bản dịch ra tiếng Pháp trong “Tư tuởng hiện đại” :

“Đối với ai chỉ có đầu óc khoa học, nghĩ tới Hư Vô là một tội lỗi cùng cực phi lư. Nhưng không! Thi nhân, ở cùng một giai tầng với triết gia, sẽ biết b́nh luận tới Hư Vô. Và không phải như người ta thường nghĩ v́ thi ca là một nghệ thuật vu vơ bảng lảng, nhưng sự thật, trong thi ca (thi ca sâu xa chân chính), tâm trí của thi nhân đạt tới cơi siêu nhiên mà những khoa học học gia không sao đến được. Chỗ siêu nhiên là thi sĩ biết bàn đến “ bản nhiên Thử tại”, như là sự sống chưa bao giờ được diễn tả hay đă một lần nào cảm nhận” (10)

tháng 10 năm 2003Ngô văn Tao


Thư mục
1) Vương Vi Lư : “Nhân chi vấn” Thượng hải tam liên thư điếm, 2001 ISBN 7-5426-1597-1 http:// www.sanlianc.com , e-mail: sanlianc@online.sh.com
2) Graham Parkes: “Heidegger and Japanese thought” in C.Mann(ed.): “Heidegger, critical assessments” vol.IV,London, Routledge 1992
3) W.Barrett : “Introduction to D.T.Suzuki Zen Buddhism (NY.Doubleday 1956)
4) Bùi Giáng :” Tư Tưởng Hiện đại” Sài G̣n, 1960
5) Heidegger: Sein und Zeit, triết học Trung hoa dịch nhan đề là “Tồn tại dữ thời gian”, tôi dịch theo Bùi Giáng: “Hiện Hữu và thời Gian”
6) Tham khảo : Ngô Văn Quế “Godel và nhận thức luận” , trong tập san Triết số 3-4, tháng 9-1997, chủ biên Nguyễn Hữu Liêm
7) Nhân dịp năm 80 tuổi, Heidegger trả lời phỏng vấn của giáo sư Richard Wissen, trên đài truyền h́nh Đức, Z.D.F. ngày 24/9/1969
8) Câu của Nietzsche dịch theo Anh văn là : “ We have Art in order not to perish from the truth”
Và một câu khác của Nietzsche : “One who tells the truth ends by realizing that he always lies”
9) Tỉ dụ như người thuỷ thủ lênh đênh giữa biển cả, mọi lục đia bị già tế ở ngoài chân trời
10) Trích từ Heidegger :”Einfuhrung in die Metaphysik” (bản dịch việt ngữ của Mộc Giai, in trong tập : Bốn vở kịch Nhân sinh và Lịch sử)

ST