PDA

View Full Version : DORIS LESSING



Phonglinh
12-11-2007, 02:40 AM
http://www.malaspina.com/jpg/lessing.jpg

DORIS LESSING
NOBEL VĂN CHƯƠNG 2007

Nữ văn sĩ người Anh Doris Lessing vừa được trao giải Nobel văn chương năm 2007 với lời ca ngợi: “Hội tụ sự trải nghiệm tinh tế của nữ giới, người mà những hoài nghi, lửa nhiệt t́nh và tầm nh́n xa trông rộng đă mang đến những điều mới mẻ, đă tỉ mỉ khảo sát một nền văn minh bị chia cắt”. Bà là nhà văn nữ thứ 11 thắng giải Văn Chương Nobel trong lịch sử Nobel khởi đầu từ năm 1901 — cũng là một nhà văn nổi tiếng của Anh quốc từ hơn 50 năm qua.

Sinh năm 1919, Doris Lessing là nhà văn thứ nh́ của Anh Quốc thắng giải Văn Chương Nobel trong 3 năm, sau khi Harold Pinter được trao giải năm 2005. Doris không c̣n đủ thời gian để đợi chờ nữa (87 tuổi, người lớn tuổi nhất được giải Nobel văn chương) nếu năm nay, Nobel không thuộc về tay bà. Doris từng lọt vào danh sách đề cử giải Nobel năm 1996 nhưng không đoạt giải. Năm nay, Viện Hàn Lâm Khoa Học Thụy Điển (Swedish Academy) không công bố danh sách các đề cử của giải Nobel văn chương. Chính thế mà những lời đồn đoán cũng chẳng tập trung được vào một nhà văn nào nhất định. Và, điều thú vị nhất đă xảy ra khi tất cả những dự đoán đều không đúng.

Tên khai sinh của bà là Doris May Tayler, là sản phẩm trong thời đại hoàng hôn của Đế Quốc Anh. Sinh ra tại Kermansha, Persia (hiện nay là Iran) vào ngày 22 tháng 10/1919, cha mẹ đều là người Anh. Cha (Alfred Tayler) là một thư kư ngân hàng Imperial Bank of Persia, bị mất một chân khi chiến đấu trong Thế Chiến I. Mẹ (Emily Maude McVeagh) là y tá trong bệnh viện Royal Free Hospital. Doris không bộc lộ khiếu văn chương theo kiểu thần đồng mà tài năng văn chương của bà chính là kết quả của những nỗ lực bồi đắp theo thời gian và những trải nghiệm từ đời sống cũng như năng lực tự học mạnh mẽ. Năm 1925, cả nhà bà dời đến ở Southern Rhodesia, giờ gọi là Zimbabwe, bà lớn lên ở đây — nơi thân phụ bà làm chủ một nông trại.

Tuổi thơ ở Phi Châu, trong tầm khoáng đạt của những bụi rừng hoang và thời gian thấm nhuần kỷ luật trường nhà ḍng Thiên Chúa Giáo Dominican Convent High School ở Salisbury (nay là Harare), đă gợi cho bà rất nhiều đề tài phong phú. Doris miêu tả thời thơ ấu của bà là sự pha trộn giữa rất ít niềm vui ngắn ngủi và nỗi buồn rất dài với những kỷ niệm không vui. 13 tuổi, Doris Lessing bỏ học. Năm 1937, làm nhân viên trực tổng đài và thành một nhà văn. Bà có hai lần kết hôn nhưng cả hai cuộc hôn nhân đều không kéo dài. Vào năm 1949, sau hai cuộc hôn nhân đổ vỡ, lần thứ nhất với Frank Wisdom, có hai mặt con, họ ly dị năm 1943. Lần thứ nh́ với Gottfried Lessing, một nhà trí thức theo thuyết Cộng Sản triệt để, có một con với ông này nhưng cũng ly dị năm 1949. Doris Lessing, lúc đó 30 tuổi, rời Phi Châu và hầu hết những người thân thuộc, đến Luân Đôn để “tập sự” thành một nhà văn.

Như nhiều phụ nữ viết văn khác, Doris tự tích lũy kiến thức cho ḿnh bằng con đường tự học và bà đă học được nhiều điều từ trường đời. Doris đọc nhiều, bà đọc tác phẩm của các nhà văn Dickens, Scott, Stevenson, Kipling, D.H. Lawrence, Stendhal, Tolstoy, Dostoevsky... Chính tác phẩm của các nhà văn này đă giúp Doris có thêm dũng khí bước vào chốn “trường văn trận bút” và gặt hái được thành công. Tuổi thơ bất hạnh chi phối nhiều trong tác phẩm của Doris như lời bà tự nhận: “Tôi nghĩ nhiều về nó, những suy nghĩ về quá khứ, tuổi thơ luôn ẩn hiện trong tôi. Thực sự, tôi luôn t́m cách trốn thoát quá khứ đó”.

Các tác phẩm nổi tiếng của bà gồm: “The Golden Notebook”, “Love Again”, “Mara and Dann”, “Ben, in the World”, “The Sweetest Dream”, “The Grandmothers: Four Short Novels”... Tác phẩm mới nhất của Doris Lessing là quyển tiểu thuyết gây "sốc" mang tên “The Clefts” (2007) lấy bối cảnh thời tiền sử. Trong quyển sách này, thế giới được tạo ra bởi người nữ — tiền sinh của loài người — một chủng tộc giống cái bán thủy (semi-aquatic). Cho đến một ngày, những đứa bé trai đột ngột ra đời và bị cộng đồng những người nữ gọi là quái vật. Tiếp theo câu chuyện là quan hệ giữa những người nữ và “quái vật”.

Doris được xem là một tài năng đa dạng với việc có nhiều tác phẩm thuộc nhiều thể loại: tiểu thuyết, thơ, kịch. Bà cùng thời với các tên tuổi Muriel Spark, Iris Murdoch, Naomi Mitchison... Doris cũng được xem là biểu tượng của phong trào b́nh đẳng giới với các hoạt động bảo vệ nữ quyền thông qua tác phẩm của ḿnh mà “The Golden Notebook” là một ví dụ. Việc Doris Lessing đoạt giải đă mang lại niềm vinh dự lớn lao cho nữ giới nói chung cũng như những người đàn bà viết văn nói riêng. Người ta c̣n trông đợi bà nhiều hơn nữa với tác phẩm dành cho một nửa nhân loại vẫn c̣n đang ngụp lặn trong những bất công về giới tính trên khắp thế giới.

Hai tiểu thuyết chính của bà, “The Grass is Singing” (1950) và “The Golden Notebook” (1962), khéo léo đan dệt đề tài chính trị, màu da, và t́nh dục phụ nữ thành những bức thảm tinh vi, đa mầu — phản ảnh bức tranh phức tạp của xă hội Anh hiện đại. Những đề tài của bà là những đề tài bất hủ và xuyên văn hóa: chuyện kỳ thị chủng tộc, Cộng Sản, chính sách khủng bố và sự phá hoại của môi sinh. Những tác phẩm của bà, từ truyện t́nh đến truyện khoa học giả tưởng, đều bao gồm những mẩu đối thoại thâm thúy, hiện thực, gần gũi, lồng trong những bối cảnh lịch sử xă hội bao quát.

Sáng tác của bà có thể chia làm ba giai đoạn: ở giai đoạn đầu (1944-1956) tập trung viết về các vấn đề xă hội theo quan điểm cấp tiến; trong giai đoạn thứ hai (1956-1969) chủ đề chính của bà là tâm lư con người; và ở giai đoạn thứ ba, được gọi là giai đoạn sufi (một giáo phái huyền bí của đạo Hồi), bà viết một loạt tác phẩm khoa học viễn tưởng với chủ đề Canopus. Sau giai đoạn này, bà lại viết đều ở cả ba lĩnh vực.
Truyện đầu tiên của Doris Lessing, “The Grass is Singing”, xuất bản một năm sau khi Lessing rời Phi Châu, là một truyện đă gây nhiều chú ư ngay sau khi được xuất bản. Tiểu thuyết về người vợ của một chủ nông trại da trắng và chuyện ngoại t́nh của nàng với một người làm công Phi Châu, là một tác phẩm tiền phong v́ đề tài xuyên màu da, và cũng qua những nét tinh vi mà Lessing đă mô tả cuộc sống nội tâm của các nhân vật trong truyện. Nhưng tác phẩm sôi nổi nhất, và cũng là tác phẩm đă giúp bà đoạt giải Văn Chương Nobel 2007, là “The Golden Notebook”. Một tiểu thuyết đa diện về bản sắc phụ nữ — những yêu thích và chán ghét của nàng — có lẽ là một tác phẩm phức tạp nhất, và cũng dài nhất, trong sự nghiệp văn chương của Doris Lessing.

Ngoài “The Golden Notebook”, Doris Lessing cũng đă sáng tác những tác phẩm khác trong khung cảnh Phi Châu, về thân phận người đàn bà da trắng người Anh “nổi loạn” trong bối cảnh da màu, cũng làm dư luận không kém sửng sốt, như năm tiểu thuyết về nhân vật nữ Martha trong loạt truyện “Children of Violence”, sáng tác từ năm 1952 đến năm 1969. Vào thập niên 1970, Doris Lessing rời khung cảnh Phi Châu và bắt đầu khai phá địa hạt khoa học giả tưởng. Trong tiểu thuyết “Briefing For A Descent Into Hell” (1971) mà bà gọi là “truyện không gian nội tâm” (inner space fiction), nhà văn đặt chân đến bờ cơi vừa kinh dị vừa kỳ thú của bệnh tâm thần. Trong loạt truyện “Canopus in Argos” (mà bà xem là tác phẩm quan trọng nhất của ḿnh), ra mắt khoảng thời gian 1979-1983, bà viết về một tương lai đen tối của loài nguời, khi những thiên tai và chế độ chính trị độc đoán là tiêu chuẩn của đời sống.

Doris Lessing, cùng thời với Nadine Gordimer (nữ văn sĩ da trắng gốc Do Thái của Nam Phi Châu, mẹ người Anh, được trao tặng giải Nobel vào năm 1991), cũng đă được so sánh với hai nhà văn tiền bối khác của Anh quốc: D.H. Lawrence (1885-1930) trong cái nh́n sâu sắc về t́nh dục và tâm lư phụ nữ, và Virginia Woolf (1882-1941) trong cách nhà văn mổ xẻ “không thương tiếc” những xung đột trong đời sống sáng tạo của người đàn bà. Ngoài những tác phẩm tiểu thuyết với bối cảnh xă hội bao quát, bà cũng là tác giả nhiều truyện ngắn trong khuôn khổ một thế giới tĩnh mịch nhưng dồn nén. Truyện ngắn nổi tiếng nhất của Doris Lessing, “To Room Nineteen”, trong tuyển tập “A Man and Two Women” (1963), đă gây ấn tượng với nhiều nhà văn phụ nữ sau này. Truyện kể về Susan Rawlings, người đàn bà đă mướn một căn pḥng trống, pḥng số 19, trong một khách sạn xa lạ để dành cho ḿnh một giang sơn riêng rẽ, ra khỏi “sự khắc nghiệt” của ngôi nhà màu trắng, khuôn vườn hoang rộng, và cuộc hôn nhân “trí thức” của nàng.
Nhà phê b́nh Mary Ann Singleton trong cuốn “The City and the Veld, The Fiction of Doris Lessing” (1977) đă viết: “Bà [Lessing] không chỉ là một nghệ sĩ, mà c̣n là một nhà phê b́nh và nhà tiên tri, kẻ khảo sát chi li những lỗi lầm của một xă hội ‘bị thôi miên bởi ư tưởng về sự đấu tranh giữa Thiện và Ác’, đồng thời tiên báo những hậu quả tai hại của những lỗi lầm này. Đồng thời, bà muốn vạch ra những giải pháp khả dĩ giải quyết được các vấn nạn của thế giới”.

Tuy Doris Lessing thường được coi là nhà văn theo chủ nghĩa nữ quyền, song bản thân bà không thích bị dán cho cái nhăn là tác giả nữ quyền. Tuy “The Golden Notebook” được một số nhà phê b́nh ca ngợi là tác phẩm tiêu biểu của chủ nghĩa nữ quyền, song bản thân bà lại cho rằng, tác phẩm quan trọng nhất của bà là loạt tác phẩm khoa học viễn tưởng “Canopus in Argos”, xuất bản lần lượt từ năm 1979 đến năm 1983. Một số nhà phê b́nh cũng nhận định, loạt tác phẩm này, cùng với loạt tiểu thuyết mang tính nửa tự thuật “Children of Violence”, là những tác phẩm chủ chốt của bà, phản ánh ảnh hưởng của tư tưởng sufi và mối quan tâm đến sự hợp nhất của linh hồn với một Bản Thể Tối Thượng (theo The Encyclopedia of Science Fiction của John Clute và Peter Nichols, 1993). Trước giải thưởng Nobel, Doris Lessing từng được trao giải Somerset Maugham Awards (1954); Giải Médicis dành cho tác phẩm ngoại quốc (1976); giải Prince of Asturias của Tây Ban Nha (2001), cũng như nhiều giải văn chương khác… Hầu như bà đă “ẳm” tất cả các giải thưởng văn chương Châu Âu.

MAI NWS