PDA

View Full Version : CHỢ TRỜI SÀI G̉N SAU 1975



vdt
05-17-2018, 09:18 PM
CHỢ TRỜI SÀI G̉N SAU 1975

Hai trụ đèn, không người lái, hai cửa sổ… Xem thử đi các đồng chí… Cái đồng hồ này đáng giá cả một gia tài, nhưng bây giờ chỉ bán với giá ủng hộ…
– Chụp ảnh lấy liền chỉ mất 30 giây bằng máy Polaroid tối tân của Mỹ… Chụp đầy đủ cả bộ Đạp-Đổng-Đài để làm kỷ niệm… Chỉ c̣n một ít giấy ảnh, chụp ngay kẻo hết… Giá chỉ một ngàn đồng Ngụy một tấm…
Vài chú bộ đội tần ngần dừng chân đứng lại, một chú thắc mắc:
– Chụp 30 giây “nà thế lào” ?
– Chỉ sau 30 giây là đồng chí có một tấm ảnh bên cạnh xe đạp, đồng hồ đeo trên tay và radio đeo bên nách… Chụp đi đồng chí rồi gửi về Bắc làm kỷ niệm, chỉ mất có 1 đồng tiền mới, không có tiền mới th́ trả tiền Ngụy cũng được !


Đạo cụ’ của anh thợ chụp h́nh gồm chiếc xe đạp, cái vỏ radio bằng da và nếu người chụp không có đồng hồ anh ta sẵn sàng cho mượn để thực hiện một bộ sưu tập Đạp-Đổng-Đài như quảng cáo.
Mặt hàng ăn khách nhất ở chợ trời là “3D” (Đạp, Đổng, Đài) được đánh giá là ‘đỉnh cao’ của sự sung túc theo tiêu chuẩn người miền Bắc. Đồng hồ họ thích loại có nhiều cửa sổ’, một cửa sổ th́ có ngày, hai cửa sổ th́ có cả ngày lẫn thứ nhưng không biết họ có hiểu những chữ Mon, Tue, Wed… hay không ?
Radio th́ ở miền Nam hầu như gia đ́nh nào cũng có, nào là Sony, National, Zenith… có đủ cả AM lẫn FM và máy phát băng nhạc hiệu Akai. T́nh thế đă thay đổi nên nhu cầu nghe radio không c̣n cần thiết, cách tốt nhất là đem ra chợ trời bán lấy tiền mua gạo.
Xe đạp th́ Sài G̣n cũng không hiếm và chạy đầy đường, kiểu cách th́ đa dạng không như xe Phượng Hoàng của Trung Quốc vốn lâu nay làm chúa đường phố Hà Nội.
Chợ trời là ‘nền kinh tế mới nổi’ trong thời kỳ Sài G̣n vừa đổi chủ. Chợ trời, ve chai, lạc soong nở rộ khắp hang cùng ngơ hẻm. Bụng đói nên mọi người phải ra đường kiếm kế mưu sinh. Trong hàng ngũ dân chợ trời, những người chân chính kiếm sống gồm đủ thành phần.

Người ta đồn ca sĩ Thái Thanh đi bán xôi ở khu vườn hoa Công lư, nhạc sĩ Hoài Bắc (Phạm Đ́nh Chương) ra chợ trời Sài G̣n. Thế là gần như ban Thăng Long xuống đường hợp ca bản… chợ trời !
Nhà văn Nguyễn Thụy Long với tác phẩm nổi tiếng Loan Mắt Nhung vốn hiền lành là thế nhưng cũng phải chạy chợ trời để nuôi con khi bị vợ bỏ. Nguyễn Thụy Long tâm sự : “Ra chợ trời có nhiều mánh kiếm ăn nhưng tôi chẳng được ‘quư phái’ như nhiều tay chợ trời khác. Như kư giả Hồng Dương buôn bán vàng ở chợ Lê Thánh Tôn, vải vóc, quần áo cũ hay sách báo lậu, môi giới ăn hoa hồng. Tôi cũng là dân chợ trời nhưng mua đi bán lại vài ba cái bù loong dỉ nên rất là đói rách…”
Nhà giáo v́ ‘mất dậy’, ‘vô lương’ nên phải đứng chợ trời. Công chức mất sở làm phải ra chợ trời c̣n sĩ quan ‘ngụy’ bận đi cải tạo… Từ xưa, trong mắt số đông người miền Nam, chợ trời đồng nghĩa với sự lừa đảo, dối trá, ma lanh, láu cá. ‘Dân chợ trời’ là một cụm từ miệt thị chỉ những tay mua bán theo cơ hội, thời cơ nhưng trong thời điêu linh, Sài G̣n biến thành một chợ trời khổng lồ, trong đó đủ các thành phần xă hội, thượng vàng hạ cám. Tất cả chỉ v́ miếng ăn, có cái tọng vào họng là được, bất kể sang hèn.

Chợ trời là một hiện tượng nở rộ tại Sài G̣n trong thời điêu linh, kể từ sau 30/4/1975. Về mặt kinh tế, những nơi nào có nhu cầu mua-bán th́ ở đó có chợ trời. Tuy nhiên, xét cho cùng, chợ trời thời điêu linh là một h́nh thức tự phát khi nhu cầu của người miền Nam cần bán những mặt hàng được coi là không c̣n cần thiết trong t́nh h́nh mới gặp nhu cầu của người mua là những người đến từ phương Bắc, họ săn nhặt những mặt hàng lạ c̣n sót lại từ thế giới tư bản niền Nam.
Bước vào khu vục chợ trời, bạn sẽ được chào đón bằng câu : ‘Có ǵ bán không anh ?’. Nhiều người tỏ vẻ bất b́nh trước câu hỏi sỗ sàng đó, có người lại trả đũa một cách khó chịu : ‘Tôi bán tôi, anh có mua không ?’. Sau này, không ngờ câu hỏi cay cú đó lại được sử dụng ở các chợ người, hay c̣n gọi là ‘chợ lao động’.
Ở gần khu vực tôi sinh sống có chợ trời Lăng Cha Cả. Chợ buôn bán đủ các loại mặt hàng, từ ‘thượng vàng’ đến ‘hạ cám’. Tại đây, tôi đă từng đem bán cái nhẫn tốt nghiệp United States Defense Language Institute và chiếc quần jeans có cái nhăn Levi’s gắn bên cạnh túi. Bán được 2 món đồ thấy nhẹ hẳn người v́ không c̣n ‘tàn dư Mỹ Ngụy’ trên người mà lại có tiền cho vợ con đong gạo ‘bông cỏ’, mua khoai lang sùng, khoai ḿ chạy chỉ và cả ‘cao lương’ tức hột bo bo cứng như đá để độn cơm. Thật đúng là thời ‘cao lương mỹ vị’ đến độ ‘cao lương’ trở thành món tầm thường mà ai cũng ngán. Phải nói là ngán ngẩm mới đúng.
Nhà văn Hoàng Hải Thủy vốn là người rất ít khi làm thơ nhưng chợ trời đă khiến ông ‘tức cảnh’ với những ḍng dưới đây :

Xem đồ ta, ngắm đồ người cho vui
T́m vui chỉ thấy ngậm ngùi

Vỉa hè này những khóc cười bầy ra
Lạc loài áo gấm, quần hoa

Này trong khuê các, sao mà đến đây ?
Chợ bầy những đọa cùng đầy
Vàng phơi nắng quái, ngọc vầy mưa sa

Bán đồ toàn những người ta
Mua đồ th́ rặt những Ma cùng Mường
Chợ Trời hay Chợ Đoạn Trường

Đầu âm phủ, cuối thiên đường là đây !

Ở chợ trời, người bán nhiều hơn người mua, dĩ nhiên đa số người mua là những ‘Ma’ cùng ‘Mường’, họ là những từ phương xa đổ vào thành phố. Họ là những chiến binh chất phác, chân quê, ‘xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước’ và khi được đặt chân lên Ḥn Ngọc Viễn Đông họ ngỡ ngàng như trong mơ, hàng hóa phong phú như ở các nước… Đông Âu!

Bên cạnh những chiến binh chân chất là những anh bộ đội có tính ‘sĩ diện hăo’. Hỏi anh ngoài Bắc có ‘ti vi’ không, anh trả lời như một cái máy ghi âm Akai: “Thứ đó chạy đầy đường”. H́nh như, theo sự hiểu biết của anh, TV là một loại xe Honda nên nói liều là… chạy đầy đường !

Đến khi thân nhân ở nước ngoài gửi quà về Việt Nam qua sân bay Tân Sơn Nhất và bưu điện đường Hai Bà Trưng lại phát sinh một nghề mới, nghề chợ trời mua thu gom đồ.


Họ bám lấy người đi lănh đồ như ruồi, không tiền đóng thuế cho hải quan, họ t́nh nguyện đóng thuế giùm, miễn là bán lại đồ cho họ.

Tôi đă chứng kiến nhiều cảnh cười ra nước mắt ở chỗ lănh đồ gửi từ Mỹ về. Trong thùng đồ gửi về có một cây thuốc lá Pall Mall. Cây thuốc thơm tho đă nằm trên bàn kiểm hàng, thủ tục thuế má cũng đă đóng đủ cả chỉ c̣n việc người lănh đồ chờ nhận. Tuy nhiên, nhân viên Hải quan (quan thuế) cho biết rằng thân nhân bên Mỹ đă gửi đồ một cách… phạm pháp. Người lănh đồ thắc mắc, hồi hộp hỏi :
– Thưa… trong những gói thuốc này có… héroin hay sao ?
– Không, nhưng nhà nước xử nhẹ thôi, sẽ mua lại với giá chính thức, và cho lại anh một gói hút lấy thảo gọi là t́nh nghĩa với bà con.
Người lănh đồ sống trong tâm trạng của kẻ đi xin và được cho những ǵ… nhà nước không cấm. Thuốc Pall Mall vẫn bầy bán trên lề đường Đồng Khởi, hồi xưa gọi là Tự Do.

Người ta mới hiểu ra, thuốc lá tịch thu ở chỗ lănh đồ có chân chạy ra đường Đồng Khởi.
Hàng từ ngoại quốc gửi về, nằm trong kho, người nhận quà được giấy báo, đôi khi hỡi ơi, chỉ c̣n thùng bị rút ruột hoặc bị đánh tráo. Vải từ bên Mỹ gửi về cho thân nhân ở quê nhà toàn dệt ở Việt Nam, nhà máy dệt Nam Định chẳng hạn. Gặp những chuyện đó chỉ có nước cắn răng chịu trận. Thân phận con kiến sao kiện được củ khoai.
Chuyện đó xảy ra hàng ngày nên không c̣n là chuyện la. Rồi giai cấp mới làm kinh doanh qua việc nuôi chó bẹc giê kiếm lời. Một giai cấp nhà giầu mới ra đời, người ta chăm sóc chó, cho chó ăn cả kư lô chả quế, ăn phở tái nạm gầu.
Lời đồn đại về lối sống của giai cấp mới này nhiều vô số kể, nhưng tôi không thể tin hết nếu chưa kiểm chứng. Trong hồi ức này những điều tôi viết ra đều đă được kiểm chứng và đúng là sự thật. Tôi không “bắt” ai phải tin hay nghĩ ǵ khác.

Cái cột đèn trong thành phố nó bị trồng cứng xuống lề đường nên đành đứng nguyên một chỗ, c̣n đồ Mỹ có chân, nó chạy ra chợ trời ! Nồi cơm điện, bàn ủi, hay đổng-đài nó có thể chạy ra đến chợ trời Huỳnh Thúc Kháng, Tôn Thất Đạm. Nơi đây người ta bán chúng với bất cứ giá nào, dân chợ trời mua tùy theo túi tiền có sẵn và người mua về bao giờ cũng vui v́ có được món hàng mà ḿnh ao ước !

Chợ trời thuốc tây lớn nhất Sài G̣n trải dài suốt một con đường bên hông chợ Tân Định. Người ta có thể t́m mua đủ các loại tân dược tại đây, từ những viên thuốc cảm, sổ mũi, nhức đầu cho đến thuốc ‘đặc trị’ huyết áp, tiểu đường, thấp khớp – cái th́ c̣n ‘đát’ nhưng có cái hết ‘đát’ từ mấy năm về trước. Nguồn hàng có xuất xứ đa dạng : thuốc từ các viện bào chế trước 1975, thuốc từ các nước ‘xă hội chủ nghĩa anh em’ và sau này c̣n có cả thuốc từ các nước tư bản do thân nhân từ nước ngoài gửi về.

Nguồn thuốc gửi về có đến 90% t́m đường ra chợ trời v́ người nhận thuốc không phải để uống mà để bán đi lấy tiền lo cơm áo hàng ngày
..


Người ta quan niệm, chống đói quan trọng hơn chống bệnh tật gấp ngh́n lần. Thân nhân ở nước ngoài được báo là cứ gửi thuốc về, mặt hàng này có giá rất cao nếu so với quần áo, vải vóc, mỹ phẩn, kẹo bánh. Hơn nữa, trọng lượng lại rất nhẹ cân nếu so với các ‘hàng viện trợ’ khác, đỡ tốn cước phí đối với người gửi.

Từ Mỹ, từ Pháp cũng xuất hiện những công ty của người Việt chuyên gửi thuốc tây về Việt Nam với danh sách các loại thuốc ‘hot’ nhất, có nghĩa là bán được nhiều tiền nhất trên thị trường chợ trời. Tại Sài G̣n có cả một hệ thống thu mua mặt hàng thuốc tây, họ là dân chợ trời nhưng đến tận nhà. Hệ thống chân rết này bắt đầu từ những tay ‘c̣’, có mặt tại khu lănh hàng trên phi trường Tân Sơn Nhất hay bưu điện, thấy ai lănh thuốc là xin địa chỉ đến tận nhà để mua, vừa kín đáo lại vừa an toàn, không sợ công an ‘vồ’.


Dân chợ trời thuốc tây cũng xuất thân đủ mọi ngành nghề: từ ông dược sĩ chính hiệu bị mất sở làm đến anh “sỹ quan ngụy” vừa tốt nghiệp cải tạo, từ tên chuyên nghiệp mánh mung đầu đường xó chợ đến kẻ trong túi không có tiền uống cà phê cũng ra chợ trời buôn nước bọt. Họ đứng ra làm trung gian, dẫn mối.

Bạn cải tạo của tôi ra chợ trời kiếm ăn cũng không ít. ‘Tổng hành dinh’ của đám chợ trời chúng tôi là nhà Nam ‘đầu bạc’ ở đường Hai Bà Trưng, ngay chân Cầu Kiệu, nên rất gần với chợ trời thuốc tây trên đường Nguyễn Hữu Cầu, bên hông chợ Tân Định.
Nam vốn là bác sĩ quân y, khi đi học tập về sống chung với ca sĩ Phương Hồng Quế và mở pḥng mạch trên đường Triệu Quang Phục trong quận 5, Chợ Lớn. Căn nhà mặt tiền đường Hai Bà Trưng vốn là của gia đ́nh Quế nên được đám bạn chọn là nơi ra vào từ chợ trời.

Thuốc tây thu gom ở chợ Nguyễn Hữu Cầu được gửi tạm tại đây trước khi sang tay, mua đi bán lại. Mỗi khi bác sĩ Nam cần thuốc cho pḥng mạch cũng đều nhờ anh em chợ trời săn lùng, anh em không ra chợ trời Nam cũng sẵn sàng mua ủng hộ mỗi khi có thuốc tây từ nước ngoài gửi về làm quà. Phần tôi thỉnh thoảng cũng có chút quà nên nhờ Nam mua giúp.


Tôi hiểu, những lọ vitamin nếu đem ra chợ trời bán sẽ bị chê ỏng chê eo nên hễ có là tôi nhờ Nam mua… ủng hộ!
Nhóm chợ trời thuốc tây chúng tôi gồm đủ thành phần đă tốt nghiệp ‘đại học cải tạo’: Huệ (sĩ quan Hải quân… mắc cạn), Cường ‘điếc’ (pháo binh Thủy quân Lục chiến nên tai bị nghễnh ngăng v́ tiếng súng), chú Định (dân Quốc gia Hành chính, đă từng là phó quận), Quyền (Giảng viên trường Sinh ngữ Quân đội bị… ‘mất dậy’)…
Riêng tôi được miễn ‘công tác ra chợ trời thuốc tây kiếm sống’, thay vào đó là chân ‘gia sư’ kèm Anh Văn cho Phương Hồng Quế, Phương Dung, Thu Hiền và một số bạn bè của Quế cũng như con cái của các bạn cải tạo. Ông thầy ngày một đông học tṛ nên cuộc sống cũng có phần dễ thở trong suốt thời điêu linh.

Tan chợ, anh em thường tụ họp tại Hai Bà Trưng, thỉnh thoảng vào cuối tuần lại chung tiền tổ chức ‘giải lao’ sau những ngày ‘hành sự’ tại chợ Nguyễn Hữu Cầu. Tết Trung Thu, Quế lại c̣n tổ chức cho con cái ‘cái bang’ về Hai Bà Trưng đốt lồng đèn, ăn bánh Trung thu…

Giờ th́ anh em cải tạo, người nào cũng ‘sáu, bẩy bó’, lưu lạc bốn phương, kẻ ở lại trong nước, người đă ra nước ngoài. Ngồi viết lại chuyện chợ trời để nhớ lại một thời điêu linh.

(Sưu tầm)

Tiếng Việt… Rắc Rối?
Nguyễn Thị Ngọc Dung

Tiếng Việt nhiều khi rắc rối, mà rắc rối trước tiên đó là chính tả. Một tác phẩm văn thơ thường hay bị soi mói cái rắc rối đó trước tiên, rồi từ suy luận, người ta nhanh chóng chuyển thành suy diễn để nhận xét cả một tác phẩm.
Chữ “ḍng” hay “gịng” chẳng hạn: ḍng sông hay gịng sông? Ḍng dơi hay gịng dơi?
V́ ngôn ngữ c̣n có khi biến hoá nên cũng khó để cho vào “khuôn phép”, mà người đời thụng có khuynh hưóng dễ dăi, chỉ căn cứ vào ngựi đi trước viết thế nào, rồi cứ thế viết theo. Ngôn ngữ có tính “linh động”, ước lệ, nên cứ dùng nhiều thành ra …đúng. Đúng- Sai có những trựng hợp thật quả là khó nói.
Trong khi đó, ngựi đọc lại hay có khuynh huớng phê phán – thậm chí phê phán một cách vội vă-, hoặc tỉ mỉ một cách không cần thiết, nhưng lại không quán triệt mọi khiá cạnh. Đă thế, c̣n có những trường hợp ư kiến của nhiều nguời chẳng qua chỉ là … lặp lại ư kiến của một ngựi, thay v́ có nhận xét riêng. Cái nh́n, do đó chưa đưọc thấu đáo.
Nhưng cũng có trường hợp Đúng-Sai về chính tả nhận ra rất rơ. Ví dụ, chữ “hiu hiu để chỉ gió thổi nhè nhẹ, thoang thoảng. Mà nếu viết là “hiêu hiêu” th́ quả là sai. (“hiêu hiêu” để chỉ thái độ tự đắc, ngạo mạn).
Ngủ “thiu thiu”…không thể viết là “thiêu thiêu” (thiêu đây là đốt, khác hẳn với “thiu thiu ngủ”, hay “buồn thiu”, “thịt thiu”…
Tiếng Bắc có thể coi là “chuẩn” cho cả nước, nhưng cũng không phải là đă thập phần hoàn hảo. V́ khi viết th́ thường là đúng, các dấu sắc, huyền, hỏi, ngă v...v. rất chính xác…Tuy nhiên, khi nói hay đọc, ngựi Bắc thường không phân biệt rơ những chữ như s-x, ch-tr, r-gi-d. Ở một số vùng, lại c̣n lẫn lộn chũ l-n. Có điều, nếu đọc không phân biệt đuợc, mà viết vẫn đúng th́ không thành vấn đề, v́ ư nghĩa vẫn bảo đảm. Th́ không thể bảo là sai được.
“Rượu” phát âm giọng Bắc nghe như “diệu”, sai chút không sao; ngựi ta vẫn có thể hiểu được . Nhưng nếu viết là uống …diệu” là không đúng. Hay, nếu là người Bắc như tôi, mà đọc “ruợu” là ”dượu” (chữ “r” thành chữ “d”), nói đă sai rồi, mà khi viết tôi cũng viết sai, Tôi thích uống…diệu vang th́ coi không được tí nào. Cái sai phổ biến nhất là chữ l-n. “Đi lối này” mà viết thành “đi nối này” trên bảng chỉ dẫn cho khách đi đuờng. Nói sai, th́ c̣n thông cảm đuợc, nhưng viết sai th́ khó chấp nhận. Những người trẻ lớn lên sẽ học ngay cách viết ấy, nếu không lưu ư, không khéo sẽ trở thành … truyền thống mất! Quả là không có lối thoát.
Tiếng Nam, tuy không có cái sai giống như thế, nhưng lại sai ở chỗ khác. Những chữ đọc sai, nhiều khi đưa đến viết sai thông thuờng là hỏi, ngă, v d, c-t; qu-gu. Đặc biêt, những chữ khó phân biệt đối với đa số người Nam, là những phụ âm cuối n hay ng. Chẳng hạn, hai chũ choán (không có g ở cuối) và chữ choáng (có g): Chữ “choán ngợp” đọc sai, rồi viết sai thành “choáng ngộp”, “choáng váng” thành “choán ván”. Uốn nắn viết thành uống nắng; “ngắt” viết ra “ngắc”: Ta ngắt đi một chùm hoa thạch thảo”, mà lại viết là “Ta ngắc đi …”, th́ kể cũng “tội” cho ngôn ngữ. Cho nên, lưu ư cách viết cho chính xác, rất quan trọng. Biết, để sẽ không bị sai, chứ không phải để phê phán... Lại càng không nên để cho cái chủ quan của ḿnh…tác động lên những ǵ ḿnh nhận xét.
Nhưng điều quan trọng tôi muốn nói ở đây là dù tiếng Nam hay tiếng Bắc, dù nói đúng hay nói không chính xác đi nữa, vẫn có thể chấp nhận được. Và hơn nữa, vẫn có thể cảm thông được với “tính cách điạ phương” của ngôn ngữ một vùng (phương ngữ), dù là cùng trên mảnh đất quê hương. Miễn là, khi viết, phải cần viết đúng. Nếu không, sẽ vô nghĩa; hoặc hoá ra nghĩa khác, làm sai ư của ngựi muốn viết, hay muốn nói. Đọc sai cũng c̣n có thể chấp nhận được, chứ viết sai: “Tôi ăn cơm… gồi”, th́ làm sao hiểu?
Thực ra, ngôn ngữ nào cũng có những cái rắc rối …lặt vặt như thế. Và những nhận xét trên đây chỉ là tổng quát.. Ngoài ra, vẫn có những ngoại lệ.. Đă có những trựng hợp, ngựi Trung hay người Nam viết chính tả rất chính xác, dấu hỏi dấu ngă đâu vào đấy, “n” hay “ng” đặt đúng chỗ… Cho nên cũng c̣n tuỳ. Noí chung, theo quan điểm cá nhân, ngựi viết cần viết cho đúng, chính xác về ngữ vựng (vocabulaire) trước tiên. C̣n văn phong lại là chuyện khác. Gọn gàng, nhưng không có nghĩa là phải đóng khung, cứng ngắc. Nhất là khi luận bàn văn chương thôi, chưa nói đến phê b́nh văn học, th́ cũng chẳng nên phê phán theo kiểu “tầm chương”, dễ trở thành máy móc, mà không khéo sẽ trở thành… hết cả văn chương.
Tôi quan niệm đơn giản, đọc một áng văn, tôi thích có một cái nh́n “thoáng” hơn, để c̣n chú ư đến cái hồn của bản văn. Tôi thựng chú ư nhiều về tư tưởng, t́nh cảm gói ghém trong đó. Và, lẽ dĩ nhiên là cách viết văn có hay, có khúc chiết, lôi cuốn hay không.
Nhưng nếu viết sai chính tả trầm trọng đến nỗi làm sai ư câu văn, hoặc cả đoạn văn. Hoặc bản văn ấy, chữ dùng tối nghĩa, khiến cho ngựi đọc hiểu mập mờ. th́ có thể coi là không chấp nhận được.
Mặc dù không chấp nhận những kiểu viết bừa băi, sai chính tả trầm trọng, tôi vẫn dành sự thông cảm cho những tiếng điạ phương, những chữ cổ, và không tính (count) những tiếng lóng (slang). Nói sai th́ c̣n thông cảm được, do giọng điạ phưong. Thành thử cũng không dám phê phán họ, Dù rằng, chính bản thân dùng từ ngữ, th́ vẫn phải cẩn thận … Nhưng viết sai là do cách đọc sai, do giọng nói điạ phương – như đă nói trên- khiến cho sai lạc cả ư nghĩa, th́ thật là khó chấp nhận được. “Bút sa, gà chết” là ở chỗ đó.
Tôi quan niệm đơn giản, đọc một áng văn, tôi chú ư nhiều về tư tưởng, t́nh cảm gói ghém trong đó. Và dĩ nhiên là cách viết văn có hay, có khúc chiết, lôi cuốn hay không.
Nhưng nếu viết sai chính tả trầm trọng đến nỗi làm sai ư câu văn, hoặc cả đoạn văn. Hoặc bản văn ấy, chữ dùng tối nghĩa, khiến cho ngựi đọc hiểu mập mờ th́ có thể coi là không chấp nhận được.(có g)
Mặc dù không chấp nhận những kiểu viết bừa băi, sai chính tả trầm trọng, tôi vẫn dành sự thông cảm cho những tiếng điạ phương, những chữ cổ, và không tính (“count”) những tiéng lóng (“slang”). Viết sai là do cách đọc sai, do giọng nói điạ phương là điều có thể chấp nhận được.
Nêu lên những vấn đề trên về ngôn ngữ Viêt Nam không phải để phê phán; mà là để lưu ư; và nếu cần, ngăn ngừa cho cái sai khỏi phổ biến ngày càng trầm trọng. Bởi lẽ điạ phưong nào cũng có cái sai, cái đúng, nên phải rất tinh tế, Chỉ cẩn một chút quan tâm với ngôn ngữ Việt cũng đủ ư thức đuọc trách nhiệm trong lời nói và chữ viết hàng ngày. Và mặc dù ngay chính bản thân có tự tin đi nữa, cũng vẫn phải cẩn thận… cho chính ḿnh. Nhưng quan tâm thế nào cho chính đáng?. Một áng thơ nổi tiếng như Truyện Kiều mà cũng đă từng bị người ta đem ra mổ xẻ bằng một cái nh́n méo mó, và đ̣i phải sửa thế này hay thế kia xem ra đă là quá đáng
Đứng về mặt ngữ học mà nói, th́ v́ ngôn ngữ bao giờ cũng có tính cách phổ biến và ưóc lệ, nên có những trường hợp một chữ dùng mới đầu có thể không đúng, nhưng v́ “đại chúng” dùng nhiều, dùng miết thành quen. Thế là “người đúng” không kịp …lên tiếng, th́ chữ dùng “sai” hay “thiếu chính xác” kia dă bay quá xa, thế là đành châp nhận luôn…Từ đó, chữ đó trở thành thứ ngôn ngữ được dùng trong đời sống và khi viết cũng viết (sai) như thế…...
Giá như Việt Nam có đưọc một quy luật cụ thể về ngôn ngữ th́ c̣n ǵ bằng; v́ như vậy chỉ việc căn cứ vào đó để t́m ra đáp số, đỡ mất công phải t́m kiếm. Nhưng điều này nếu có th́ lại …”phản ” với quan điểm ngữ học (là ngôn ngữ đôi khi không cố định, hay bất biến ; mà là ước lệ, và thay đổi để thích ứng vơi hoàn cảnh).
Xét cho cùng th́ ngôn ngữ chỉ có tính tương đối. Những chữ mới “sáng tạo” mà không có nghĩa lắm, th́ dù có phổ biến đưọc một tḥi gian, từ từ cũng sẽ bị ….đào thải.
Trở lại với chữ “ḍng” hay”gịng”, nếu suy ra từ chữ Nôm th́ dùng chữ “Dụng” thêm bộ “Thuỷ” vào th́ thành chữ Nôm “Ḍng” nghe có lư hơn là “gịng”.
Mặc dù tôi vẫn quen dùng với chữ “Ḍng” để chỉ “ḍng sông” hay “ḍng đời.”. Và chữ “gịng’ để chỉ gịng dơi”. Tuy nhiên, theo thiển ư, dù là “gịng đời” hay “ḍng dơi” cũng vẫn được. Điều quan ỉtrọng là không sai về ư nghĩa.
Văn chương có cái …phiền là không chính xác như Toán, để có thể kết luận là..ḍng dơi hay gịng dơi, ḍng sông hay gịng sông là sai hay đúng.
Dùng suy luận toán học Đúng-Sai về ḍng hay gịng để kết luận về một tác giả, hay giá trị của toàn tác phẩm th́ e rằng hơi vội vă, và không chính xác. Ư nghĩa là quan trọng trong trường hợp này.

Nguyễn Thị Ngọc Dung