PDA

View Full Version : Phê b́nh Cuốn ‘Kinh Dịch, Đạo của người Quân Tử’



NHDT
01-14-2008, 04:52 AM
Phê b́nh Cuốn ‘Kinh Dịch, Đạo của người Quân Tử’


Minh Di



Khoảng năm 1987 hay 1986 ǵ đó, vào 1 tiệm sách ở vùng Marrickville, lật coi sơ 1 tạp chí mà bây giờ không c̣n nhớ tên là ǵ, cũng không nhớ là báo ở Mỹ, hay là Gia Nă Đại, và rồi bắt gặp 1 bài viết, cũng không c̣n nhớ tựa đề, chỉ nhớ tên người viết là Trần Văn Tích.

Trong bài viết này ông Trần Văn Tích đề cập 1 tập bản thảo của một người viết ở Việt Nam.

Và rồi, lần nữa, kư ức tôi lại lăng đăng, kết luận của ông Trần Văn Tích về tập bản thảo này th́ tôi lại chẳng c̣n nhớ nguyên văn, chỉ c̣n nhớ đại khái là ông Trần Văn Tích đă hạ bút phê rằng: Đọc tập bản thảo này ông có cảm tưởng đây là 1 tác phẩm được viết để đi dự giải Nobel về Tư Tưởng!

Sau đó th́ vào năm 1996 tại thư viện thành phố Marrickville kể trên (cách Sydney, thủ phủ của tiểu bang New South Wales, 06 cây số về phía Tây nam) tôi lại bắt gặp trong một tập san cũ là tập san Văn Lang (Số 2, tháng 12 / 1991), ở mục ‘Điểm Sách’, 1 Bài giới thiệu tập bản thảo đă nói trên. Người ‘điểm sách’ ở đây là ông Xuân Phúc. Và, ông Xuân Phúc cũng đă chẳng hà tiện chút nào, quá rộng răi nữa là khác, lời ca tụng tập bản thảo nói trên.

Tập bản thảo này gồm 2 phần: Phần I là Phần Giới Thiệu (tất cả 6 Chương), và Phần II là Phần ‘KINH TRUYỆN’. Phê b́nh 6 Chương ‘Giới Thiệu’ này, ông Xuân Phúc viết:

‘Những chương giới thiệu này rất có ích không những cho học sinh, mà cho tất cả các độc giả, dù người thâm hiểu nho học’.

Tập san Văn Lang kể trên tuy ấn hành vào tháng 12, năm 1991, nhưng bài ‘điểm sách’ trên đây của ông Xuân Phúc đă viết trước đó 5 năm, v́ cuối bài ông đă ghi rơ:

‘Ngày rằm tháng bảy năm Bính Dần’.

Năm Bính Dần đây tức năm 1986, tức đâu đó cùng thời điểm với bài viết của ông Trần Văn Tích.

Tháng 11 năm 1991, nhà xuất bản Văn Nghệ ở Mỹ đă xuất bản tập bản thảo nói trên.

Và sách có tựa đề: ‘Kinh Dịch, Đạo của Người Quân Tử’.

Người viết họ Nguyễn tên Hiến Lê.

Nhiều người trong chúng ta có lẽ không lạ ǵ ông Nguyễn Hiến Lê! Ông cũng tạm gọi là 1 người có chút tiếng tăm ở miền Nam Việt Nam trước 75, người ca tụng ông không phải hiếm.

2 ông Trần Văn Tích, Xuân Phúc không phải là 2 người đầu tiên ca tụng Nguyễn Hiến Lê, 2 ông chỉ đầu tiên ở mức độ ‘nức nở’ trong sự ca tụng ông Nguyễn Hiến Lê.

Tôi cũng tạm gọi là có biết đôi chút Hán văn, nhưng không dám nhận là ‘thâm hiểu nho học’ và cũng gọi là có đọc qua loa ‘Kinh Dịch’, nhân đọc được những gịng ca tụng ‘nức nở’ của 2 ông Trần Văn Tích và Xuân Phúc tôi đă t́m đọc cuốn sách kể trên của ông Nguyễn Hiến Lê.

Ngay câu mở đầu phần ‘Lời Nói Đầu’, ông Nguyễn Hiến Lê viết:

- ‘Tôi viết tập này chủ ư để hướng dẫn những bạn trẻ muốn t́m hiểu triết lư trong Kinh Dịch, tức vũ trụ quan, nhất là nhân sinh quan......’.

Tiếp đó, trong gần hết những gịng c̣n lại, ông 5 điều, 7 chuyện... chỉ dạy các bạn trẻ cách đọc cuốn sách của ông. Đây là Cung cách cố hữu của ông, cung cách của 1 người vô cùng thích làm thầy thiên hạ, cung cách này rất thường thấy trong nhiều cuốn sách của ông!

Câu cuối cùng của ‘Lời Nói Đầu’ nói trên là:

'Muốn hiểu thêm Kinh Dịch, bạn nên t́m đọc những sách tôi đă giới thiệu trong cuốn này’.

Trong số những sách mà ông Nguyễn Hiến Lê dẫn, không nhiều lắm - nếu không muốn nói là quá ít, gồm cả Hán, Anh và Pháp văn, tôi chỉ xin nêu ra đây 1 vài tác phẩm Hán văn đáng chú ư, như:

+ ‘Lục Thập Tứ Quái Kinh Giải’, ‘Chu Dịch Cổ Kinh Kim Chú’, ‘Dịch Học Tân Luận’.

Những sai lầm trong cuốn ‘Kinh Dịch’ của ông Nguyễn Hiến Lê phải nói là rất nhiều và rất nặng, nếu phân loại mà phê b́nh th́ có lẽ người đọc sẽ khó theo dơi, cho nên ở đây tôi sẽ duyệt theo thứ tự từng Chương một để khỏi mất công người đọc.

Phần I. Chương I. ‘Nguồn Gốc Kinh Dịch Và Nội Dung Phần Kinh’. (Từ tr. 33 đến tr. 56).

Trong đoạn viết về Lưỡng Nghi, Tứ Tượng, Bát Quái (từ cuối tr. 35 cho tới đầu tr. 38) Nguyễn Hiến Lê đă đưa ra 1 cách chồng 2 loại Nét Liền và Đứt (tức Lưỡng Nghi) như sau:

Trước hết ông xếp riêng rẽ, nét Liền 1 bên, nét Đứt 1 bên, kế đó ở bên nét Liền ông lần lượt theo thứ tự lấy nét Liền chồng lên nét Liền, rồi nét Đứt chồng lên nét Liền rồi ở bên nét Đứt th́ ông lại lấy nét Đứt chồng trước, nét Liền chồng sau. Kết quả được Tứ Tượng theo thứ tự:

1/. Thái Dương (2 nét Liền). 2/. Thiếu Dương (Liền dưới, Đứt trên).

3/. Thái Âm (2 nét Đứt). 4/. Thiếu Âm (Đứt dưới, Liền trên).

Tiếp đó ông lấy nét Liền chồng lên Tứ Tượng để được 4 Quẻ: Càn - Ly - Cấn - Tốn.

Sau cùng, lấy nét Đứt chồng lên Tứ Tượng, được 4 Quẻ c̣n lại: Khôn - Khảm - Đoài - Chấn.

Phải nói ngay rằng phương pháp chỉ dạy các bạn trẻ nhớ 8 Quẻ này của ông Nguyễn Hiến Lê tối ṃ ṃ. Tối ṃ ṃ, v́ ông vốn ù ù cạc cạc về do lai của 8 Quẻ gọi là Tiên Thiên Bát Quái.

Thứ tự gọi là Tiên Thiên Bát Quái: Càn - Đoài - Ly - Chấn - Tốn - Khảm - Cấn - Khôn rồi đă đi từ qui ước chồng nét Liền trước, nét Đứt sau, và khởi đi từ nét Liền trước, nhất quán:

Trước hết, khởi đi từ nét Liền: Lấy nét Liền chồng lên nét Liền, rồi nét Đứt chồng lên nét Liền th́ ta có Thái Dương và Thiếu dương.

Kế đó, là nét Đứt: Cũng vẫn thứ tự Liền trước, Đứt sau, lấy nét Liền chồng lên nét Đứt, tiếp đó nét Đứt chồng lên nét Đứt, ta có Thiếu âm và Thái Âm.

Sau cùng, vẫn theo quy ước ‘Liền trước/ Đứt sau’, lần lượt chồng nét Liền trước, nét Đứt sau lên Thái Dương, thiếu dương, thiếu âm, Thái Âm, ta sẽ có thứ tự gọi là Tiên Thiên Bát Quái đă kể.

Trên đồ h́nh tṛn, 8 Quẻ này được xếp như sau:

Trên cùng, ở chính giữa, là Quẻ Càn, nối theo, theo thứ tự nghịch chiều kim đồng hồ là các Quẻ Đoài - Ly - Chấn. 4 Quẻ này hợp thành chu ḱ Dương. Và, đối diện Chấn qua tâm ṿng tṛn, là Quẻ Tốn; và từ Tốn, theo thứ tự thuận kim đồng hồ là các quẻ Khảm. Cấn. Khôn. 4 Quẻ sau này hợp thành chu ḱ Âm. Trên ṿng tṛn:  các Quẻ có Âm / Dương đối nhau trong 2 Chu kỳ kể trên đối nhau từng cặp một qua tâm điểm: Càn / Khôn, Đoài / Cấn, Li / Khảm, Chấn / Tốn.

Ngoài ra, cũng cần chú ư nữa là: trong Chu ḱ Dương (Càn - Đoài - Li - Chấn) th́ ở 2 đầu ta có 2 Quẻ Dương (Càn - Chấn) bao 2 Quẻ Âm (Đoài - Li) bên trong  và ngược lại, bên Chu ḱ Âm (Tốn - Khảm - Cấn - Khôn) 2 Quẻ Âm (Tốn - Khôn) ở 2 đầu, 2 Quẻ Dương (Khảm - Cấn) nằm ở giữa; đây chính là quan niệm gọi là ‘Âm trung hữu Dương’, ‘Dương trung hữu Âm’, điều này th́ ông Nguyễn Hiến Lê đă chưa hiểu tới, và ông cũng chưa hiểu tới 1 điều nữa là, ‘Thái Cực Đồ’ sau này đă căn cứ ‘Tiên Thiên Bát Quái Đồ’ mà vẽ. Nếu muốn dạy người khác th́ ít nhất - ít nhất thôi, ông Nguyễn Hiến Lê phải biết những kiến thức căn bản vừa kể. V́ không rơ qui ước kể trên cho nên Nguyễn Hiến Lê đă giải thích thứ tự 64 Quẻ Tiên Thiên rất là hàm hồ trong phần luận về Trùng Quái.

Với 2 loại nét Liền và Đứt chúng ta có 4, và chỉ 4 mà thôi, Phương thức chồng Nét, nhưng bởi lẽ thứ tự Tiên Thiên là thứ tự có hệ thống hơn cả, do đó mà được sử dụng trong Dịch học.

64 Quẻ Tiên Thiên sở dĩ được gọi là Tiên Thiên v́ từ căn bản ‘64 Quẻ’ này đă được xây dựng từ thứ tự 8 Quẻ Tiên Thiên.

Thứ tự Tiên Thiên Bát Quái: Càn - Đoài - Ly - Chấn - Tốn - Khảm - Cấn - Khôn.

Trên 1 khung h́nh Vuông nếu ta dàn 8 Quẻ này theo hàng ngang, mỗi Quẻ là 1 Cột riêng, và ta lại xếp thứ tự 8 Quẻ Tiên Thiên theo hàng dọc dưới mỗi Cột trên th́ 8 Quẻ hàng ngang, mỗi Quẻ có thể được coi như là 1 Tử số, và cứ như vậy mỗi Tử số này rồi có tất cả 8 Mẫu số là 8 Quẻ xếp theo hàng dọc. Nói khác đi, nếu nh́n theo hàng ngang  trừ hàng đầu tiên ra, 8 hàng ở mặt dưới mỗi hàng đồng nhất có 1 Quẻ theo thứ tự: Càn - Đoài - Li - Chấn - Tốn - Khảm - Cấn - Khôn.

Nói gọn là có tất cả 8 dăy Phân số, mỗi dăy có 1 Mẫu số chung lần lượt theo thứ tự Tiên Thiên. Hàng Tử số là hàng các Ngoại quái, và hàng Mẫu số là hàng các Nội quái. Và, chúng ta có thể thấy ngay là trên khung h́nh này Dọc, Ngang, Chéo đều là thứ tự Tiên Thiên.

8 Quẻ hàng ngang thuộc hàng Tử số có thể được trải từ Trái qua Phải, hoặc là từ Phải qua Trái, có điều là để phù hợp với chiều vận hành của chu kỳ Âm Dương 8 Quẻ Tiên Thiên do đó sẽ được trải từ Phải qua Trái. Qui ước chồng Quẻ sẽ đi theo hàng ngang, từ Phải qua Trái  giáp 1 ṿng th́ trở lại từ đầu. Ở ṿng đầu ta có:

Càn / Càn, Đoài / Càn, Ly / Càn, Chấn / Càn, Tốn / Càn, Khảm / Càn, Cấn / Càn, Khôn / Càn.

Nói rơ hơn, ở đây ta có 8 Phân số có Mẫu số chung là Càn. Cứ vậy mà Chồng cho đến hết ṿng thứ 4, với dăy Phân số có Mẫu số chung là Chấn th́ ta được 32 Quẻ thuộc Chu ḱ Dương.

Các Phân số c̣n lại, có các Mẫu số chung Tốn, Khảm, Cấn, Khôn (cũng 32 Quẻ), rồi đều thuộc Chu ḱ Âm.

Thứ tự các quẻ Dương đi theo thứ tự từ Phải qua Trái: Càn, Quái, Đại Hữu, Đại Tráng.... cho tới Quẻ Phục (Khôn / Chấn), Quẻ thứ 32.

Từ Quẻ thứ 33, Quẻ Cấu (Càn / Tốn), là điểm khởi đầu của Chu ḱ Âm, th́ các Quẻ lại tuần tự đi từ Trái qua Phải:  Cấu, Đại Quá, Đỉnh, Hằng, Tốn,.... cho tới quẻ Khôn (Khôn / Khôn) th́ đầy Chu ḱ Âm, đồng thời tṛn 1 Chu ḱ Âm / Dương.

Trên Đồ H́nh, ở 4 góc là 4 Quẻ Càn - Khôn - Thái - Bỉ:

Càn ở góc phải trên, Khôn ở góc trái dưới, Thái ở góc trái trên, Bỉ ở góc phải dưới  nói rơ hơn là vị trí các Quẻ đối nhau từng cặp một theo đường chéo của h́nh vuông.

Cũng cần nói thêm là thứ tự các dăy Mẫu số có thể được đảo lại, nghĩa là, thay v́ đi theo Thứ tự Càn, Đoài, Li.... từ trên xuống, thứ tự 8 Quẻ này sẽ đi từ dưới lên, hay nói cách khác, Càn nằm ở dăy cuối, kế tới Đoài, rồi Li, rồi Chấn, Tốn..... Vị trí của 4 Quẻ góc Càn, Khôn, Thái, Bỉ cũng do đó mà biến đi, Càn hoán vị với Bỉ, Khôn hoán vị với Thái. Và vị trí của Chu ḱ Âm / Dương cũng đảo lại, 32 Quẻ Chu ḱ Dương ở nửa phần dưới, 32 Quẻ của Chu Âm ở nửa phần trên.

Đây là Đồ H́nh thường thấy trong các bản ‘Kinh Dịch’, đồng thời cũng là Đồ H́nh của các giới Địa Lư, Toán Thuật.

Cứ đó th́ có thể thấy có tất cả 4 phương thức sắp xếp 64 Quẻ Tiên Thiên, căn cứ Chiều phân bố của Tiên Thiên Bát Quái: Hoặc đi từ Phải qua Trái, hoặc đi từ Trái qua Phải và theo thứ tự từ trên xuống, hoặc từ dưới lên.

Trong Dịch học, ngoài Đồ h́nh Vuông 64 Quẻ Tiên Thiên c̣n được xếp trên 1 ṿng tṛn.

Đồ h́nh Vuông được gọi là ‘Phục Hi Lục Thập Tứ Quái Phương Đồ’, hoặc cũng được gọi qua 1 tên nữa là ‘Tiên Thiên Lục Thập Tứ Quái Phương Đồ’, và nếu ở trên 1 h́nh tṛn 64 Quẻ này được gọi là ‘Phục Hi Lục Thập Tứ Quái Viên Đồ’ - hoặc cũng được gọi dưới 1 danh xưng khác nữa là ‘Tiên Thiên Lục Thập Tứ Quái Viên Đồ’.

Trên Đồ h́nh Tṛn 32 Quẻ thuộc Chu ḱ Dương đi từ Phải qua Trái, tức ngược kim đồng hồ, và 32 Quẻ thuộc chu kỳ Âm đi từ Trái qua Phải, tức thuận kim đồng hồ, chẳng khác ǵ trường hợp của Tiên Thiên Bát Quái. Trên cùng Đồ H́nh, ở Chính giữa, là Quẻ Càn, và đối xứng với Càn ở mé dưới là Khôn. Chu kỳ Dương cực ở Phục, để từ đây đi qua Tâm, đến điểm đối xứng ở bên kia là Cấu để bắt đầu chu kỳ Âm, theo chiều vận hành nghịch với chiều của chu kỳ Dương.

Phương thức Chồng nét (Trùng hoạch), rồi Chồng quẻ (Trùng quái), tôi vừa tŕnh bày trên đây chính là phương thức người xưa đă sử dụng để có được Thứ tự mà sau đó rồi được mệnh danh là thứ tự ‘Tiên Thiên’. Đây chỉ là Số học sơ đẳng, chẳng có ǵ đáng nói!

Đáng nói là ông Nguyễn Hiến Lê bởi đă không hiểu phương thức người xưa sử dụng ra sao cho nên là ông đă tŕnh bày cách chồng Quẻ, theo sự hiểu biết của ông, rất rối, rất tối! Ông cố tŕnh bày vấn đề sao cho sáng sủa nhưng rốt cục nó vẫn cứ tối, và rối như thường! Người đọc rồi có thể thấy thực rơ điều này ở 2 trang 45 và 46.

Ngoài ra, ở trang 47, ông Nguyễn Hiến Lê có đoạn viết:

‘Ngoài ra các sách bói và lư số c̣n có môt cách sắp quẻ theo từng nhóm nữa, như:

Nhóm trùng càn gồm Thuần Càn, Thiên Phong Cấu, Thiên Sơn Độn, Thiên Địa Bĩ, Phong Địa Quán, Sơn Địa Bác, Hơa Địa Tấn, Hơa Thiên Đại Hữu.

Chúng tôi nhận xét sự biến đổi của các hào dương thành âm theo thứ tự: từ dưới lên, lên đến hào 5 (ở quẻ Sơn Địa Bác) th́ biến ngược trở xuống, âm thành dương.

Nhóm trùng Khảm gồm thuần Khảm, Thủy Trạch Tiết, Thủy Lôi Truân, Thủy Hơa Kí Tế, Trạch Hỏa Cách, Lôi Phong Hằng, Địa Hơa Minh Di, Địa Thủy Sư v.v...

Trong mỗi nhóm như vậy, quẻ thuần là quẻ cái, c̣n 7 quẻ kia là quẻ con. Cách này chắc xuất hiện trễ, từ đời Ngũ đại hay đời Tống và chỉ dùng vào việc bói hay đoán số, nên chúng ta biết qua vậy thôi, không cần nhớ’.

Ông Nguyễn Hiến Lê đă không biết th́ đừng có mà suy đoán bừa băi như vậy! Cách sắp xếp các Quẻ theo Hào biến của 8 Quẻ Thuần trên đây vốn căn cứ 1 quan niệm gọi là ‘Bát Cung Quái’, khởi đi từ Kinh Pḥng (77 - 37 tr. Cn.) triều Tây Hán (206 tr. Cn. - 08 Cn). Và rồi, cứ như quan niệm này 5 hào 1, 2, 3, 4, 5 của mỗi Quẻ Thuần được giả thiết tuần tự vận hành theo 1 chu tŕnh dịch biến qua 7 giai đoạn, mỗi giai đoạn là 1 Quẻ. Như thế 8 quẻ, mỗi quẻ được coi như đứng đầu 1 Nhóm mà Kinh Pḥng gọi là ‘Cung’, mỗi Cung gồm 8 Quẻ. Trong bộ chú giải Dịch Kinh của ông, tựa là ‘Kinh Thị Dịch Truyện’ (phân ra 2 quyển Thượng và Hạ), ‘8 Cung’ được sắp xếp theo thứ tự Càn, Chấn, Khảm, Cấn, Khôn, Tốn, Li, Đoài.

Trong chu tŕnh dịch biến vừa kể, mỗi lần biến th́ Hào Âm biến Dương , và Dương biến Âm.

1 thí dụ về chu tŕnh dịch biến của Cung KHÔN (Khôn / Khôn):

Hào 1 (Âm) biến Dương thành Quẻ Phục (Khôn / Chấn), gọi là Nhất Thế Quái.

Hào 2 (Âm) biến Dương thành Quẻ Lâm (Khôn / Đoài), gọi là Nhị Thế Quái.

Hào 3 (Âm) biến Dương thành Quẻ Thái (Khôn / Càn), gọi là Tam Thế Quái.

Hào 4 ( Âm ) biến Dương thành Quẻ Đại Tráng ( Chấn / Càn ), gọi là Tứ Thế Quái.

Hào 5 (Âm) biến Dương thành Quẻ Quái (Đoài / Càn), gọi là Ngũ Thế Quái.

Tới Hào 5 th́ không thể biến tiếp qua Hào 6, v́, nếu biến nữa Khôn rồi biến Càn  chuyển qua Cung khác mất. Do đó mà tới Ngũ Thế Quái chu tŕnh sẽ vận hành ngược trở lại, để biến tiếp ở Hào 4; và như vậy:

Quẻ Quái, Hào 4 (Dương) biến Âm, để thành Quẻ Tu (Khảm / Càn). Từ đây trở đi th́ không c̣n danh xưng Thế Quái nữa, Quẻ Tu do đó được gọi dưới 1 tên đặc biệt là Du Hồn Quái.

Quẻ Tu sẽ biến 1 lần nữa để kết thúc Cung Khôn. Có điều là, không như chúng ta nghĩ, lần này không phải chỉ 1 Hào 3 biến thôi, mà 1 lúc cả 3 Hào 3, 2, 1 của Quẻ Tu đồng thời biến để thành Quẻ Tỉ (Khảm / Khôn). Quẻ Tỉ này cũng có 1 danh xưng đặc biệt, là Qui Hồn Quái.

Hào biến của các Quẻ Thuần c̣n lại cũng theo qui tắc như trên.

Các Quẻ đứng đầu Cung (8 Quẻ Thuần) được gọi là Thượng Thế Quái hay Bản Vị Quái.

Hào biến, từ Nhất Thế Quái tới Ngũ Thế Quái thực ra chỉ là quan niệm gọi là Tiêu Tức Quái, có từ thời Xuân Thu (770 - 403 tr. Cn.) trở về trước, không phải là điều mới lạ, riêng có trường hợp Du Hồn Quái và Quy Hồn Quái mới là độc sáng của Kinh Pḥng.

Ông Nguyễn Hiến Lê chẳng biết quan niệm Bát Cung trên đây th́ cũng chẳng ai trách ông, có điều là, đă chẳng biết sự kiện xuất xứ từ đâu, vào thời nào, mà ông lại dám suy đoán lung tung, bậy bạ, đây thực đáng trách. Khi suy đoán cách sắp xếp các Quẻ theo cách thức trên đây ‘xuất hiện trễ’, vào đời Ngũ Đại hay đời Tống th́ ở đây chúng ta thấy rất rơ là Nguyễn Hiến Lê đă ‘sai trễ’ quá đi - v́ lẽ rằng thời Ngũ Đại (907 - 960) và thời Tống (960 - 1279) cách thời Tây Hán tới cả ngàn năm là ít.

Đúng là không biết th́ ưa suy đoán vân vi, điên đảo, ‘ăn ốc’ nói ṃ!  Đây là cái Bệnh của 1 số người cầm viết thỉnh thoảng tôi thấy đây đó.

Sau cùng, ở phần nói về vấn đề ai đă ‘trùng quái’, ông Nguyễn Hiến Lê có đoạn viết:

‘3. Tôn Thịnh (không rơ đời nào) cho là vua Vũ nhà Hạ’. (tr. 44).

Tôn Thịnh là người thời Đông Tấn (317 - 420), sinh năm 308 và mất năm 379. Ông là một trong những người lên án Vương Bật (226 - 249) về việc gạt bỏ phần Tượng Số khi thuyết Dịch.

Trong đoạn chú thích tiểu sử Chung Hội (225 - 264) chép trong Bộ ‘Tam Quốc Chí’ của sử gia Trần Thọ (233 - 297), sử học gia Bùi Tùng Chi (372 - 451) dưới đời Lưu Tống (420 - 479) đă có một đoạn trích dẫn lời Tôn Thịnh phê b́nh Vương Bật. (Coi Sđd. Qu. XXVIII. Ngụy Thư).

[Minh Di án: Cứ ‘Chu Dịch Đại Từ Điển’ (Ngũ Hoa chủ biên, Lư Thúc Độ thẩm đính), và Bộ ‘Chu Dịch Từ Điển’ (Trương Thiện Văn soạn) đều nói Tôn Thịnh sinh 306, tử 378, trong khi đó ‘Dịch Học Đại Từ Điển’ (Trương Ḱ Thành chủ biên) lại nói ông sinh năm 302, mất năm 373.

Nhưng, căn cứ Tiểu sử Tôn Thịnh trong ‘Tấn Thư’ (Qu. XXCII) có đoạn:  Thịnh niên thập tuế tị nạn độ giang... Niên thất thập nhị tốt’, nghĩa là ‘(Tôn) Thịnh 10 tuổi th́ qua sông tránh nạn.... Chết năm 72 tuổi’, th́ ông phải sinh năm 308 và qua đời vào năm 379, v́ rằng ‘độ giang’ ở đây tức chỉ năm 317, Tấn triều ‘qua bên kia Sông’ (Trường Giang) lập Kinh Đô tại đất Kiến Khang, nay là Thị xă Nam Kinh, tỉnh Giang Tô, kiến lập triều Đông Tấn (317 - 420) ].

Phần I. Chương II. Nội Dung Phần Truyện. (Từ tr. 57 đến tr. 76).

Ở Chương này kiến thức Nguyễn Hiến Lê chẳng có ǵ mới lạ, chỉ chép lại những điều người ta có thể kiếm thấy trong bất cứ cuốn sách nào viết về Kinh Dịch. Vậy mà ông vẫn cứ sai như thường!

+ Trong Mục II, nói về Tượng Truyện (từ tr. 63 tới tr. 66), ở trang 65, Nguyễn Hiến Lê viết:

‘Cả Đại tượng truyện lẫn Tiểu tượng truyện đều có tính cách gượng ép, v́ quá thiên về luân lư, về đạo trị nước, xử thế của người quân tử, nên nhiều khi bỏ ư nghĩa của Thoán từ, Hào từ’.

Ông Nguyễn Hiến Lê đ̣i hỏi phải có 1 sự nhất quán, nói khác đi là 1 trật tự luận lư trong Kinh Dịch. Nếu vậy, Nguyễn Hiến Lê đă tự mâu thuẫn khi viết về Kinh Dịch  v́ rằng trong hầu hết các Quẻ, các Hào từ rồi đă chẳng dính dáng ǵ với nhau, 1 Hào đang nói chuyện này, qua Hào tiếp đó bỗng dưng lại nhảy qua 1 chuyện nào đâu đó, thực chẳng ra đầu cua tai nheo ǵ cả!

Ở đây có lẽ không cần trưng thí dụ, v́ rằng sự việc quá là hiển nhiên trong Kinh văn Dịch.

Trật tự luận lư th́ Kinh Dịch có, có điều, để thấy được trật tự này th́ trong rất nhiều trường hợp người đọc phải lần ṃ t́m giữa những cái chẳng trật tự chút nào! - đây là một điểm độc đáo của Kinh Dịch, không hề thấy ở những Bộ Kinh khác! Có những điều tưởng chừng như chẳng có đến 1 mảy liên quan, nhưng thực sự là có. Và dă đọc Kinh Dịch th́ không thể không biết điều này.

+ Trong Mục IV. về Văn Ngôn Truyện (2 tr. 69, 70), ông Nguyễn Hiến Lê viết:

‘Truyện này chia làm hai thiên: Thiên thượng bàn thêm về quẻ Thuần Càn, thiên hạ bàn thêm về quẻ Thuần Khôn (nhưng nhiều sách chỉ kể là một thiên), nói về ư nghĩa của hai quẻ đó đối với bản tính và hành vi của con người. Sáu quẻ Thuần khác (Khảm, Ly, Cấn, Đoài, Chấn, Tốn) không được bàn thêm như vậy, có lẽ v́ không có ư nghĩa ǵ liên quan chặt chẽ với con người như hai quẻ Càn, Khôn’. (tr. 69).

Nguyễn Hiến Lê rồi đă chẳng có mảy may suy nghĩ nào, đầu óc rỗng tuếch, khi đặt cái hiểu biết của ḿnh xuống trang giấy. Tôi sẽ lần lượt chứng minh từng điểm một.

Trước hết, 2 Quẻ Càn và Khôn là cương lănh của Dịch Kinh, v́ vậy, không phải ngẫu nhiên mà cả 2 đă được đặt ở đầu Kinh. 2 Quẻ này nêu lên 2 qui luật của Vũ Trụ:

1/. Vũ Trụ thường hằng động và biến động này chẳng hề ngừng nghỉ, dù trong khoảnh khắc  và đây chính là ư nghĩa cốt tủy của Quẻ Càn. Đại Tượng từ Quẻ Càn đă nói rất rơ về điểm này:

 ‘Thiên hành kiện, quân tử dĩ tự cường bất tức’.

 ‘Đạo Trời vận hành mạnh mẽ, quân tử coi đó mà cố gắng không ngừng nghỉ’.

‘Đạo Trời’ đây tức chỉ ‘Biến Động’ trong Vũ Trụ.

Đây chính như điều Khổng Tử (551 - 479 tr. Cn.) đă từng cảm khái 1 lần đứng bên bờ sông:

 ‘Thệ giả như tư phù, bất xả trú dạ!’. (‘Chảy măi như vậy sao, ngày đêm không ngừng nghỉ!’).

/ Luận Ngữ. Tử Hăn. 16 /.

2/. Mọi biến động trong Vũ Trụ, dù lớn, dù nhỏ tới đâu nữa, cũng diễn tiến theo 1 qui luật gọi là luật ‘Tiệm biến’. Đây chính là í nghĩa chủ yếu của Quẻ Khôn.

Điểm thứ hai, ông Nguyễn Hiến Lê đă không suy nghĩ, đầu óc rỗng tuếch khi đặt viết viết rằng:

 ‘Sáu quẻ Thuần khác (Khảm, Li, Cấn, Đoài, Chấn, Tốn) không được bàn thêm như vậy, có lẽ v́ không có ư nghĩa ǵ liên quan chặt chẽ với con người như hai quẻ Càn, Khôn’.

Tôi xin nói thế này:  Đừng nói là 6 Quẻ Thuần trên đây mà trong tất cả 64 Quẻ, xin ông Nguyễn Hiến Lê cho tôi biết có Quẻ nào lại không liên quan chặt chẽ với con người? Xin ông chỉ cho!

Kinh Dịch luận Nhân Sự, rồi có quẻ nào lại không liên quan chặt chẽ với con người, có Quẻ nào mà không nói ‘quân tử dĩ...’, ‘quân tử dĩ...’ hoặc nếu không nữa th́ cũng ‘Tiên vương dĩ...’, hoặc ‘Hậu dĩ...’, hoặc ‘Thượng dĩ...’, hoặc Đại nhân dĩ...’, ông Nguyễn Hiến Lê làm tôi tức cười quá!

2 Quẻ Càn, Khôn luận Nhân sự, nhưng hơn 62 Quẻ kia là ở điểm nhấn mạnh rằng nhất thiết mọi hành vi của con người phải tuân theo 2 qui luật về Biến động là ‘Thường’ và ‘Tiệm’ đă nói.

Xét Quẻ Càn: Hào Sơ Cửu nói ‘Tiềm Long, vật dụng’, Hào Cửu nhị nói ‘Hiện Long tại điền’, lợi kiến đại nhân’, Hào Cửu tam nói ‘Quân tử chung nhật càn càn’.

Thời chưa đến, Thế chưa thành, điều kiện thuận lợi chưa hội đủ (cũng như con ‘Rồng đang ẩn’) th́ ‘chớ hành động’ (‘vật dụng’). Khi mà những điều kiện thuận lợi đă tới đủ chừng đó có đi gặp bậc ‘đại nhân’ th́ mới có kết quả. Và ngay cả khi Thời đă thuận, Thế đă lợi th́ ‘quân tử’ vẫn cứ phải ‘miệt mài suốt ngày’ (‘chung nhật càn càn’)  bởi Thời chẳng ngừng ở đó, Thế không đứng tại chỗ để quân tử có thể từ từ tiến hành công việc của ḿnh, Sự vật, sự việc chung quanh rồi cứ không ngừng biến, dịch, nếu không trau dồi đức hạnh, cải tiến nghề nghiệp của ḿnh th́ rốt cục lạc hậu. Đây chính là điều gọi là ‘tiến đức tu nghiệp dục cập thời’ nói trong phần Văn Ngôn.

Tóm lại, hành vi con người phải không ngừng thích ứng với Biến động chung quanh.

Quẻ Khôn, hào Sơ Lục nói ‘Lư sương kiên băng chí’.

Hào này nói về lẽ Tiệm của Biến động. Sương rơi, rơi tới 1 lúc nào đó rồi thành băng cứng.

Cũng vậy, trong phạm vi nhân sự nếu mù mờ cái lí Tiệm của sự việc th́ chẳng thể nào thấy được sự việc rồi tốt xấu ra sao  và xấu có khi đến đỗi diệt thân. Văn Ngôn Quẻ Khôn viết:

 ‘Tích thiện chi gia tất hữu dư khương, tich bất thiện chi gia tất hữu dư ương. Thần thí ḱ quân, tử thí ḱ phụ, phi nhất triêu nhất tịch chi cố, ḱ sở do lai giả tiệm hĩ, do biện chi bất tảo biện dă! Dịch viết ‘Lí sương kiên băng chí’, cái ngôn thuận dă!’.

 ‘Nhà mà tích lũy điều thiện rồi sẽ gặp nhiều sự tốt lành, nhà mà tích chứa điều bất thiện rồi sẽ chuốc nhiều tai ương. Bề tôi giết vua, con giết cha, những chuyện này không phải 1 sớm 1 chiều mà ra, do lai của sự việc vốn từ từ mà thành, đến đỗi để sự việc xảy ra là do không biết biện biệt ngay từ lúc đầu. Dịch nói ‘Sương rơi đến thành băng cứng’ là nói cái tuần tự (của sự việc)!’.

(Cũng cần nói hơn thêm ở đây là ngoài cái lư ‘Thường’, Quẻ Càn cũng đề cập cái lư ‘Tiệm’ của biến động. Hào Sơ ‘Tiềm Long’, Hào Nhị ‘Hiện Long’, Hào Ngũ ‘Phi Long’, để rồi cuối cùng là ‘Kháng Long’ ở Hào Thượng; từ ‘Tiềm’ đến ‘Kháng’ chính là 1 chuỗi tiệm biến ).

Nguyễn Hiến Lê v́ không đọc kỹ, hoặc là chẳng hiểu ǵ hết về 2 quẻ Càn, Khôn cho nên mới có nhận định thiển cận như đă dẫn! Khi cho là 6 Quẻ Thuần ngoài Càn, Khôn ‘không có ư nghĩa ǵ liên quan chặt chẽ với con người’, tôi không hiểu ông Nguyễn Hiến Lê định nghĩa thế nào mới là con người?

+ Mục V. Thuyết Quái Truyện. (Từ tr. 70 đến 72).

Mở đầu phần này ông Nguyễn Hiến Lê viết:

 ‘Truyện này.... bàn nhiều về bói, chủ ư để dùng vào việc bói, và nhiều chỗ nghĩa rất tối, không ai hiểu được, như ở các chương 5, 6, 10, 11.’. (tr. 70, 71).

Ở đoạn cuối, trang 72, ông viết:

‘Sau cùng từ Chương 8 đến Chương 11, tác giả cho biết mỗi quẻ tương trưng cho những vật ǵ: Càn là con ngựa, Khôn là con ḅ, Chấn là con rồng..., Đoài là con dê  Chương 8.....

Li là lửa, là áo giáp, mũ sắt....  Chương 11.

Trích bấy nhiêu, chúng tôi thấy đă đủ để độc giả nhận được giá trị truyện này ra sao rồi’.

Tôi lần lượt xét từng điểm một Nguyễn Hiến Lê nêu trong 2 đoạn trên đây.

Trước hết, Nguyễn Hiến Lê nói là thiên ‘Thuyết Quái’ có ‘nhiều chỗ nghĩa rất tối, không ai hiểu được’ - và tuy rằng có nói ra 4 Chương nhưng rồi Nguyễn Hiến Lê đă không cho người ta rơ những ‘đoạn nào’ trong các Chương đó ‘nghĩa rất tối’ cả! Những Chương Nguyễn Hiến Lê nêu ra ở đây tuy cũng có phần khó hiểu nhưng thực ra Chương nào cũng có luận điểm riêng, sắp xếp có tŕnh tự, đọc kỹ sẽ thấy, có điều người đọc có đồng quan điểm hay không là chuyện khác.

Riêng về Chương 10 nếu Nguyễn Hiến Lê mà nghĩ rằng ‘không ai hiểu được’ th́ tôi những sợ rằng Nguyễn Hiến Lê đă quá chủ quan đến độ coi thường cả thiên hạ khi cho rằng ông ta đă không hiểu th́ không c̣n 1 người nào có thể hiểu được! Và, nếu như Nguyễn Hiến Lê cho rằng Chương 10 này ‘nghĩa rất tối’ th́ tôi sợ rằng cái ‘rất tối’ ở đây chính là cái đầu của NHL th́ đúng hơn, v́ 1 đứa con nít mới học Dịch rồi cũng hiểu Chương 10 này nói cái ǵ.

Chương 10 này chẳng bao hàm 1 tư tưởng nào cao thâm cả, đây chỉ thuần là 1 đoạn văn luận về sự giao hoán Âm và Dương của 2 Quẻ Càn/Khôn. Từ sự giao hoán này mà sinh các Quẻ khác.

Càn và Khôn giao:

Giao Hào 1: Càn biến Tốn, Khôn biến Chấn.

Giao Hào 2: Càn biến Ly, Khôn biến Khảm.

Giao Hào 3: Càn biến Đoài, Khôn biến Cấn.

Bát Quái phân đều 4 Quẻ Âm, 4 Quẻ Dương. 4 Quẻ Âm là Khôn, Tốn, Li, Đoài; 4 Quẻ Dương là Càn, Chấn, Khảm, Cấn. Và chỉ nh́n qua người ta nh́n ra liền quẻ Âm là những quẻ có 1 hào âm và 2 hào dương, và ngược lại, quẻ Dương là quẻ có 2 hào âm và 1 hào dương.

Càn, Khôn tượng trưng Trời, Đất, do đó mà dược coi như Cha, Mẹ  và 6 Quẻ c̣n lại cũng như các quẻ con, quẻ Âm là con Gái, quẻ Dương là con Trai, căn cứ vị trí của hào Âm và hào Dương duy nhất trong các quẻ mà định trưởng, trung, thiếu. Trong các quẻ Âm nếu hào Âm là Hào đầu th́ đó là con gái trưởng, là Hào 2 th́ đó là con gái giữa, là Hào 3 th́ đó con gái út; và ở mặt kia cũng vậy, với các quẻ Dương chỉ cần coi vị trí của hào Dương của 1 quẻ là có thể xác định được quẻ nào trưởng, quẻ nào thiếu. Ai cũng có thể thấy ngay đây chỉ là căn cứ thứ tự Giao trước, sau của các Hào mà thôi.

Ở phần đầu Bài này tôi đă nói về sự thành lập Quẻ từ phương thức Chồng Nét. Phương thức này đă được đề cập và rất súc tích, ở thiên ‘Hệ Từ Thượng’ (Chương XI), trong câu: ‘Thị cố Dịch hữu Thái Cực, thị sinh Lưỡng Nghi, Lưỡng Nghi sinh Tứ Tượng, Tứ Tượng sinh Bát Quái’.

Nếu vậy, Phương thức Giao cũng là một Phương thức thành lập Quẻ? Không phải vậy, đoạn văn của Chương 10 Thiên ‘Thuyết Quái’ ở đây vốn chỉ nhằm nêu lên tŕnh tự diễn, biến của các Hào trong Quẻ, tŕnh tự này khởi đi từ Hào dưới cùng của Quẻ (tức hào 1), để kế là Hào giữa, tiếp đó là Hào trên cùng (Hào 2, Hào 3). Nói khác đi, biến dịch trong Hào luôn luôn khởi từ dưới lên.

Tiếp đến, ở phần cuối Nguyễn Hiến Lê trích dẫn 1 số biểu tượng của 8 Quẻ, đưa ra lời nhận định, và theo như giọng điệu của ông chúng ta có thể thấy ông đă cho rằng Thiên ‘Thuyết Quái’ vốn chẳng có giá trị bao nhiêu. Nhưng, điều đáng nói ở đây là, chỉ đơn thuần căn cứ 1 vài Chương nói về 1 số các Biểu tượng của Bát Quái mà Nguyễn Hiến Lê đă đưa ngay ra một nhận định về Giá trị của toàn Thiên th́ đây là 1 thái độ trước hết là thiếu đúng đắn, và sau nữa là nông cạn.

Có thể khẳng định là Nguyễn Hiến Lê đă không biết rằng những biểu tượng của Bát Quái ghi trong Thiên Thuyết Quái đều có căn cứ, hoặc đă lấy, hoặc suy lư, từ kinh văn của 64 Quẻ, hoặc đă dựa theo phương pháp lư luận của 1 lănh vực nào đó, như Tiểu Học (tức Văn Tự học) chẳng hạn.

Tôi xin nêu 1 vài thí dụ.

1/. Xuất từ Kinh Văn 64 Quẻ.

+ Đoài là con Dê (Thuyết Quái. VIII).

Quẻ Đại Tráng (Chấn / Càn). Hào Lục ngũ nói ‘Táng Dương vu dị’.

Hào Lục ngũ thuộc Ngoại Hỗ thể (tức Quẻ thành từ 3 Hào 3, 4, 5) Đoài. Thuyết Quái đă căn cứ theo đây mà nói Đoài là con Dê.

+ Li là con chim Trĩ (Thuyết Quái. VIII).

Qưẻ Lữ (Ly/Cấn), Hào Lục ngũ nói ‘Xạ Trĩ, nhất thỉ vong’.

Hào Lục ngũ thuộc Ngoại quái Li, do đó ‘Thuyết Quái’ nói Li là con chim Trĩ.

2/. Căn cứ phương pháp lí luận của Tiểu Học.

Bát Quái gồm những kí hiệu do 1 số Nét nhất định, 3 Nét, hợp lại mà thành! Văn tự Trung Quốc cũng gồm các nét hợp lại mà thành. Về phương pháp thành lập Chữ, Văn tự học Trung Quốc có 06 phương pháp gọi là ‘Lục Thư’:  Tượng h́nh, Chỉ sự (hoặc Tượng sự), Hội ư (hoặc Tượng ư) và H́nh thanh (hoặc Tượng thanh), Chuyển chú, Giả tá.

Có thể nói rằng tác giả Dịch Kinh đă sử dụng 1 vài phương pháp trong ‘Lục Thư’ để thành lập 1 số Tượng của Bát Quái, nói rơ hơn là 3 phương pháp Tượng h́nh, Chỉ sự và Hội í. Thí dụ:

+ Chương XI Thiên ‘Thuyết Quái’ nói ‘Khảm là Nước’.

Quẻ Khảm nếu lật đứng th́ có dạng 1 gịng nước chảy  Nét Liền ở giữa tượng trưng sự liên tục của gịng nước,4 nét Đứt ở 2 bên là các gợn sóng. Đây là phương pháp Tượng h́nh.

+ Cũng Chương XI nói trên nói ‘Li... là Giáp Trụ’ (Áo giáp, Nón trận).

Quẻ Li: 2 nét Liền ở mặt ngoài bao 1 nét Đứt ở bên trong, tượng trưng cho 1 cái ǵ Cứng, Mạnh và kín đáo che chở một cái ǵ mềm, yếu bên trong. ‘Áo giáp, Nón trận’ là để bảo vệ thân thể cho khỏi bị đao, kiếm, cung tên... gây tổn hại, do đó mà Li là Tượng của ‘Áo giáp, Nón trận’ (Hội í).

+ Chương IX nói ‘Càn là cái Đầu, Khôn là cái Bụng, Chấn là cái Chân,... Đoài là cái Miệng’.

Càn tượng trưng cái Đầu vi Quẻ này đứng đầu 8 Quẻ. (Chỉ sự).

Khôn là cái Bụng v́ khoảng không giữa các nét Đứt hàm ư chứa đựng. (Hội ư).

Chấn là cái Chân: Nét Liền dưới cùng tượng trưng cái Chân tiếp xúc với mặt đất. (Hội ư).

Đoài là cái Miệng: Nét Đứt trên cùng với khoảng Hở ở giữa coi giống như cái Miệng. (Hội ư).

Từ những tương đồng trên đây mà trước đây đă có thuyết cho rằng Quẻ là Văn tự.  Nhưng theo sự nghiên cứu của riêng tôi th́ không phải vậy. Vấn đề không phải chỉ đôi ba gịng mà luận cho hết được. Tôi sẽ luận vấn đề này trong 1 bài viết khác (đă viết cách đây 23 năm).

3/. Xuất từ lư luận thông thường.

+ Lư luận tương phản: Khảm là Tượng của Nước, và Quẻ có Nét tương phản với Khảm là Ly.

Tương phản với Nước là Lửa, do đó Ly là Tượng của Lửa.

+ Lư luận tương đồng: Ly là Lửa. Lửa sinh Nhiệt, những ǵ sinh Nhiệt, bởi vậy, đều thuộc Ly, như Mặt Trời, Sấm Sét.... chẳng hạn.

+ Lư luận loại suy: Khôn tượng trưng Đất; và Đất là không gian dung chứa vạn vật, từ đó suy ra Khôn c̣n có Tượng của cái Bụng, là nơi chứa đựng Tạng, Phủ của cơ thể.

Tóm lại là mỗi một Tượng của Bát Quái ghi trong ‘Thuyết Quái’ đều có lí do của nó, Nguyễn Hiến Lê đọc Kinh Dịch chưa tới nơi tới chốn mà đă vội dẫn các bạn trẻ của ông tới 1 kết luận sai lầm.

Những Tượng của Bát Quái thấy trong Kinh văn Dịch thiên ‘Thuyết Quái’ rồi đă chẳng chép lại bao nhiêu. Văn pháp của Dịch là loại ‘văn pháp tượng trưng’, văn từ phần lớn sử dụng h́nh ảnh cụ thể (Tượng) để diễn đạt tư tưởng, cho nên là nếu không biết được Tượng nào ứng với Quẻ nào th́ rồi Kinh văn Dịch chỉ là 1 mớ văn từ không đầu không đuôi.

Hán triều (206 tr. Cn. - 220) là thịnh thời của Tượng Số học, vấn đề ‘Dịch Tượng’, v́ lẽ đó đă là 1 trọng điểm của Dịch học trong thời kỳ này! Những học giả lừng danh trong lănh vực Dịch học như Tiêu Diên Thọ (? - ?), Trịnh Huyền (127 - 200), cũng như Ngu Phiên (164 - 233).......nhất là Ngu Phiên, đều có những nỗ lực đi truy tầm lại trong văn từ 64 Quẻ những Tượng của 8 Quẻ mà không thấy ghi chép trong Thiên ‘Thuyết Quái’. Những Tượng của Bát Quái nêu trong các Bản chú giải Dịch Kinh của các học giả nói trên thời sau được gọi chung là ‘Dật Tượng’  có nghĩa là ‘Tượng (đă) Mất’; Mất (‘Dật’) ở đây í nói không thấy ghi trong Thuyết Quái. Và khoảng hơn 1,500 năm sau, vào Thanh triều (1644 - 1911), là thời Phục hưng Hán học, học giả đă có những thành tựu khả quan trong lănh vực nghiên cứu Kinh học thời Hán. Riêng về Dịch học  và riêng về Phương diện ‘Dật Tượng’ th́ Huệ Đống (1697 - 1758) và Trương Huệ Ngôn (1761 - 1802) là 2 học giả tiên phong trong việc nghiên cứu Dật tượng của Ngu Phiên. Với bộ ‘Dịch Hán Học’ Huệ Đống dẫn ra được 331 Tượng. Tiếp theo đó, căn cứ công tŕnh vừa nói trên, trong tác phẩm ‘Chu Dịch Ngu Thị Nghĩa’, Trương Huệ Ngôn lại dẫn thêm được 125 Tượng nữa, tổng cộng lại là 456 Tượng. Trong ‘Ngu Thị Dật Tượng Khảo Chính’, Kỷ Lỗi (? - ?) lại thêm được 66 Tượng nữa vào danh sách của Trương Huệ Ngôn.

Sau hết, trong tác phẩm ‘Ngu Thị Dật Tượng Vị Biên’, Phương Thân (1787 - 1840) đă tổng kết danh sách với con số 1287 Tượng. Con số có thể không tới con Số của Phương Thân đưa ra.

Hợp lư mà nói th́ khoảng ngoài 500 tới 600 Tượng là con số có thể tin được.

‘Từ’ do ‘Tượng’ mà lập, không hiểu Tượng th́ trong rất nhiều trường hợp không sao hiểu được Từ nói ǵ, đây là căn bản khi đọc Dịch. Nghĩa lí mà không dựa trên Tượng rồi ch́ là ‘hư đàm’.

Điều căn bản c̣n chưa hiểu, Nguyễn Hiến Lê lại muốn luận Dịch th́ đúng là ‘ミch ngồi đáy giếng’.

Mục VI. Tự Quái Truyện.

Về Quẻ Truân, ông Nguyễn Hiến Lê viết:

‘Chúng tôi không biết chữ Truân có nghĩa là đầy, là lúc vạn vật mới sinh ra không, chứ các bộ Từ Hải, Từ Nguyên ngày nay không có nghĩa đó, chỉ có nghĩa là gian nan’. (tr. 73).

Đọc Cổ văn Trung Quốc  hơn nữa lại là Kinh Dịch, mà ông Nguyễn Hiến Lê rồi chỉ có mỗi 2 bộ Từ điển Từ Hải và Từ Nguyên để tra cứu về Chữ nghĩa th́ quả đúng là ‘học giả’. Không lẽ ông không có lấy 1 bộ ‘Thuyết Văn Giải Tự’ của Hứa Thận (30 - 124), hay 1 bộ ‘Khang Hi Tự Điển’ để thấy:

‘Truân. Nạn dă. Tượng thảo mộc chi sơ sinh, truân nhiên nhi nạn.

Ṭng Triệt quán Nhất. Nhất, địa dă; vĩ khúc’.

/ Thuyết Văn Giải Tự Nghĩa Chứng. Qu. I. Truân /.

‘Truân. (Tai) nạn. Chữ tượng (h́nh) cây cỏ lúc mới nhú, lao đao, khó khăn. Chữ gồm có (chữ) Triệt xuyên qua (chữ) Nhất. Nhất đây chỉ mặt đất; (có) cái đuôi cong’.

Chú giải câu ‘cái đuôi cong’, học giả Quế Phức (1736 - 1805) viết:

‘Vĩ khúc giả, tượng ḱ căn’. (‘Cái đuôi cong, tượng cái rễ của cây cỏ’).

Đứng liền trước chữ Truân là chữ Triệt trong câu trên, Hứa Thận giải chữ Triệt như sau:

‘Triệt. Thảo mộc sơ sinh dă. Tượng cổn xuất h́nh, hữu chi, hành dă’.

‘Triệt. Cây cỏ mới nhú. Tượng h́nh (cây, cỏ) từ dưới mọc lên, có cành, (và) thân’.

Tóm lại, luận ngữ nguyên (etymology) th́ rơ ràng chữ Truân có nghĩa ‘vạn vật lúc mới sinh’.

Nguyễn Hiến Lê muốn làm học giả mà rồi chỉ có mỗi 2 bộ Từ Hải, Từ Nguyên để tra cứu, hỡi ơi!


Phần I. Chương III. Các Phái Dịch Học Từ Hán Tới Nay. (Từ tr. 77 đến tr. 86).

+ Hán.

Về thời này, Nguyễn Hiến Lê viết:

 ‘Đại khái có thể chia làm hai phái:

Phái thứ nhất gồm Phí Trực, Trịnh Huyền, Tuân Sảng Tiêu Diên Thọ...

Phái thứ nh́ chỉ có Kinh Pḥng là trứ danh, lập ra môn học ‘Tượng số’.’. (tr. 78).

Nguyễn Hiến Lê lại bất thông lịch sử Dịch học. Ai nói với ông là Kinh Pḥng lập ra môn học Tượng Số?

Thuyết ‘Tượng Số’ trong Dịch học đă khởi đầu với Mạnh Hỉ (? - ?) và Tiêu Diên Thọ (? - ?) vào khoảng đầu triều Tây Hán (206 tr. Cn. - 08 Cn.), Kinh Pḥng chỉ là người kế thừa, rồi phát triển hoàn chỉnh Thuyết của 2 người nói trên mà thôi. Sự kiện này đă được luận thuật tường tận trong 2 bộ ‘Dịch Học Triết Học Sử’ của Chu Bá Côn (1923 - ), và ‘Chu Dịch Nghiên Cứu Sử’ của 3 tác giả Liêu Danh Xuân, Khang Học Vĩ, Lương Vi Huyền.

Rồi ở trang kế tiếp Nguyễn Hiến Lê viết:

 ‘Tiêu Diên Thọ có sáng kiến cho mỗi quẻ (trùng quái) biến thành 64 quẻ, như vậy 64 x 64 được 4096 quẻ. Tôi không hiểu cách ‘biến’ đó ra sao (lại lấy 64 quẻ chồng lên nhau?). Cách đó cũng không ai theo, v́ số quẻ nhiều quá, làm sao đặt tên giải thích cho hết được? Ông c̣n lấy mỗi hào làm chủ cho một ngày: 64 quẻ có 384 hào, mà mỗi năm chỉ có 365 ngày, c̣n lại non 20 hào nữa, ông dùng làm ǵ, cũng không biết’.

Cứ đọc đoạn trên đây th́ rơ ra là tŕnh độ hiểu biết về Dịch học của Nguyễn Hiến Lê quá kém cỏi cho nên ông lại suy đoán lung tung, lại ăn ốc, đúng như Khổng Tử đă nói là ‘Tư nhi bất học’!

Trước hết, số 4096 Quẻ ở đây không là những Quẻ mới có từ 64 Quẻ chồng lên nhau, lượng Quẻ ở đây vẫn là 64 Quẻ người ta thấy trong Dịch, NHLê chớ quá lo lắng ‘số quẻ nhiều quá, làm sao đặt tên giải thích cho hết được?’. Ông Nguyễn Hiến Lê muốn hiểu cách ‘biến’ đó ra sao? Th́ đây:

64 Quẻ diễn tiến theo thứ tự trong Dịch Kinh: Càn, Khôn, Truân, Mông, Tu, Tụng....... cho đến Vị Tế (Quẻ thứ 64, Quẻ cuối cùng) th́ hết 1 Ṿng, ở đây tạm gọi là Chu ḱ. Tiếp đó, ở Ṿng 2 th́ Quẻ thứ 2 trong 64 Quẻ, là Quẻ Khôn, chuyển lên đứng hàng đầu  và như vậy, thứ tự Chu ḱ sẽ là: Khôn, Càn, Truân, Mông, Tu, Tụng,... Kí Tế, Vị Tế. Chu ḱ thứ 3 với Quẻ thứ 3 trong 64 Quẻ là Quẻ Truân đứng đầu: Ố Truân, Càn, Khôn, Mông, Tu, Tụng.... Kí Tế,Vị Tế. Cứ thế, mỗi Quẻ trong 64 Quẻ rồi sẽ lần lượt đứng đầu 1 Chu kỳ, hay nói khác đi là, mỗi Quẻ sẽ lần lượt trải qua 64 Chu ḱ. Như vậy, 64 x 64 = 4096. Con số 4096 vốn từ đó mà ra, rồi chẳng có việc lấy 64 Quẻ chồng lên nhau, do đó, cũng chẳng có việc đặt tên cho Quẻ mới như Nguyễn Hiến Lê đă suy đoán ṃ!

Tiếp đó, Nguyễn Hiến Lê càng để ḷi cái tŕnh độ ‘Học chưa tới, Vấn chưa thông’ của ḿnh khi nghĩ rằng 64 Quẻ, 384 Hào làm sao có thể ứng hợp 365 ngày của 1 năm? NHLê đă không biết rằng đây là Thuyết gọi là ‘Lục nhật Thất phân’ trong thuyết ‘Quái Khí’ của Mạnh Hỉ (? - ?), Thầy học của Tiêu Diên Thọ. Gọi là ‘Quái Khí’ v́ Mạnh Hỉ đă lấy 24 Tiết Khí của 1 năm phối hợp 64 Quẻ.

Trước hết, về thứ tự Bát Quái, Mạnh Hỉ căn cứ thứ tự gọi là Hậu Thiên của Văn Vương, theo đó 4 Quẻ Chấn, Đoài, Ly, Khảm chiếm 4 hướng chính Đông, Tây, Nam, Bắc. Bởi vậy mà 4 Quẻ này được gọi là ‘Tứ Chính Quái’. Và mỗi Chính Quái chủ quản 1 Mùa: - Chấn mùa Xuân, tiếp theo Li mùa Hạ, Đoài mùa Thu, Khảm mùa Đông. 4 Quẻ 24 Hào, mỗi Hào là 1 Tiết khí  chẳng hạn Quẻ Chấn.- Hào Sơ là Xuân Phân, Hào 2 là Thanh Minh, Hào 3 Cốc Vũ, Hào 4 Lập Hạ, Hào 5 là Tiểu Măn, Hào Thượng là Mang Chủng. Hào Sơ của mỗi Chính Quái luôn luôn là một trong Nhị Phân (tức Xuân Phân, Thu Phân) và Nhị Chí (tức Hạ Chí, Đông Chí), như ở thí dụ nói trên Hào Sơ của Chấn là Xuân Phân. C̣n 3 Quẻ kia th́: Hào Sơ của Ly là Hạ Chí, Hào Sơ của Đoài là Thu Phân, Hào Sơ của Khảm là Đông Chí.

04 Chính Quái không tính, c̣n lại 60 Quẻ. 1 năm có 365 ngày và 1 / 4 ngày, và do đó b́nh quân mỗi Quẻ được 6 ngày: 6 x 60 = 360 ngày, dư ra 5 ngày 1 / 4. Và theo cách tính của Mạnh Hỉ th́ mỗi ngày được phân thành 80 Phân  như vậy, 5 ngày 1 / 4 ngày dư ra kia sẽ bằng 420 Phân, và 420 chia cho 60 Quẻ: 420  60, mỗi Quẻ được 7 phân chẵn.

Và như vậy, 1 Quẻ = 6 Ngày 7 phân.

1 Hào, do đó, bằng 1 Ngày 7 / 6 phân, do đó mà gọi là Thuyết ‘Lục nhật Thất phân’.

Tội th́ thôi, ông Nguyễn Hiến Lê cứ lo lắng ‘64 quẻ có 384 hào, mà mỗi năm chỉ có 365 ngày, c̣n lại non 20 hào nữa, ông dùng làm ǵ, cũng không biết’.

 ‘Non 20 hào’ đó để cho Nguyễn Hiến Lê dùng, ông muốn làm ǵ th́ làm! Ô hô!

(Chú thích. Không như một số người nghĩ, người Trung Hoa chỉ biết Âm Lịch, họ cũng biết đến Dương Lịch, có điều họ không dùng mà thôi! 1 năm Dương Lịch có 365 ngày và 1/4 ngày, vừa dẫn trên đây, vào buổi đầu triều Hán người ta đă biết. Thư tịch thời đó đă có những ghi chép rơ về điều này, như Sách ‘Hoài Nam Tử’ (thiên ‘Thiên Văn Huấn’) viết: ‘Phản phục tam bách lục thập ngũ độ, tứ phân độ chi nhất nhi thành nhất tuế’, nghĩa là: ‘Trở đi trở lại 365 độ, và 1 / 4 độ th́ tṛn 1 năm’. Sách ‘Hậu Hán Thư’ (Luật Lịch Chí, Hạ) cũng đưa ra 1 kết quả như vậy).

+ Từ Tam quốc tới Ngũ đại.

Nguyễn Hiến Lê viết:

‘Đời Đường.. đáng kể chỉ có Khổng Dĩnh Đạt theo chủ trương của Vương Bật; và Lư Đỉnh Tộ, học rộng, sưu tập được các sách viết về Dịch của hơn 30 nhà...’.

Nguyễn Hiến Lê đă không biết tên tác phẩm của Khổng Dĩnh Đạt và Lí Đỉnh Tộ là ǵ, và rồi viết như trên ông làm người đọc có í nghĩ 2 học giả này có cùng 1 khuynh hướng, trong khi sự thực khác hẳn.

Lư Đỉnh Tộ (? - ?) theo khuynh hướng ‘Tượng Số’ trong khi Khổng Dĩnh Đạt (574 - 648) lại theo chủ trương Nghĩa Lí  2 khuynh hướng hoàn toàn trái nghịch. Nhằm phục hồi Thuyết Tượng Số trong Dịch học, Lí Đỉnh Tộ viết ‘Chu Dịch Tập Giải’. Trong bài đề tựa, ông có đoạn xác định:

 ‘Thái quần hiền chi di ngôn, nghị Tam Thánh chi u trách, tập Ngu Phiên, Tuân Sảng tam thập dư gia, san Phụ Tự chi dă văn, bổ Khang Thành chi dật Tượng’.

 ‘Lượm lặt những lời hay của các bậc Hiền để lại, luận những Tư tưởng sâu xa của Tam Thánh, sưu tập lại những giải thuyết (về Dịch học) của Ngu Phiên, Tuân Sảng hơn 30 nhà, gạt đi những luận giải thiển lậu của Phụ Tự, bổ túc phần dật Tượng của Khang Thành’.

Tam Thánh đây tức Phục Hi, Văn Vương, Chu Công (có thuyết nói Khổng Tử).

Phụ Tự là tên Tự của Vương Bật (226 - 249), Khang Thành là tên Tự của Trịnh Huyền.

+ Từ Tống đến Minh.

Ở đầu trang 84, Nguyễn Hiến Lê viết:

 ‘Các nhà Dịch học trong hai thời Nguyên và Minh không lưu lại công tŕnh ǵ đáng kể’.

Ô hô, Nguyễn Hiến Lê rồi đặt Lai Tri Đức (1525 - 1604) đời Minh (1368 - 1644) vào chỗ nào đây?

Bản ‘Chu Dịch Tập Chú’ (c̣n gọi ‘Dịch Kinh Lai Chú’) của học giả Lai Tri Đức chẳng những được người đương thời suy tôn là ‘tuyệt học’ mà c̣n có ảnh hưởng rất lớn đối với học giả những thời sau đó! Luận về Lai Tri Đức học giả ngày nay đều đồng quan điểm là ông là 1 nhân vật cực trọng yếu trong Dịch học. Về luận Dịch ông dung hợp Tượng Số và Nghĩa Lí  ông khẳng định rằng ‘Bỏ Tượng th́ chẳng thể nào nói Dịch!’ (‘Xả Tượng bất khả dĩ ngôn Dịch!’).

Độc sáng của Lai Tri Đức là lư luận về Thác Quái, Tổng Quái, Trung Hào. Thác Quái là 2 Quẻ có Âm Dương tương phản, Tổng Quái là Quẻ này đảo thành Quẻ kia  và ngược lại. Trung Hào tức các Hào giữa 2, 3, 4, 5. (Về học giả Lai Tri Đức, tham khảo:  ‘Dịch Học Triết Học Sử’, và ‘Chu Dịch Nghiên Cứu Sử’ của các tác giả đă dẫn ở 1 đoạn trước đây).

Tôi thực không rơ ‘học giả’ Nguyễn Hiến Lê rồi đặt học giả Lai Tri Đức vào chỗ nào đây?

Về các phái Dịch học từ Hán tới Thanh, ở phần cước chú trang 85, Ông Nguyễn Hiến Lê cho biết tài liệu ông ta tham khảo ‘hầu hết rút trong cuốn Dịch Học Tân Giải (chương Dịch học nguyên lưu) của Tào Thăng nhà xuất bản Trung Hoa Văn Hóa  Đài Bắc 1956’.

1 phần cũng gọi là khá quan trọng mà NHLê lười đến độ không thu thập tài liệu cho khá hơn để tŕnh bày vấn đề tương đối cho rơ ràng, đầy đủ hơn, súc tích hơn! Chương III này đến có vẻ như viết cho có viết, tôi thấy như vậy, cho nên, những điều quan yếu người đọc cần biết Nguyễn Hiến Lê rồi đă không sao nêu ra được.

Luận về các Phái Dịch học Trung Hoa th́ không thể không đề cập 2 Phái: Phái ‘Tượng Số’, và Phái ‘Nghĩa Lư’! Học giả Hán triều khi thuyết giải Dịch hầu hết đều đă viện dẫn các yếu tố như Hỗ Thể, Quái Biến, Ngũ Hành cũng như Biểu Tượng quẻ......., nói tóm lại là những yếu tố này và việc chú giải Dịch rồi không thể tách rời nhau. Đây là nét đặc trưng của Dịch học thời Hán.

Hán suy tàn, chuyển qua thời Tam Quốc (265 - 280), Vương Bật khi chú giải ‘Dịch Kinh’ rồi đă gạt bỏ hết, nào là Hỗ Thể, nào là Quái Biến, nào là Ngũ Hành......., Tượng rồi cũng Quên đi, và nếu có c̣n lại ǵ chăng th́ đó chỉ là cái ‘Lí’. Quan điểm của Vương Bật về nguyên tắc giải Dịch được tŕnh bày trong 1 Tác phẩm chỉ có 7 Chương ngắn, tựa đề ‘Chu Dịch Lược Lệ’, đặc biệt là Chương ‘Minh Tượng’. Mở đầu Chương này, Vương Bật viết:

 ‘Phù Tượng giả xuất ư giả dă, ngôn giả minh Tượng giả dă, tận ư mạc nhược Tượng, tận Tượng mạc nhược ngôn. Ngôn sinh ư Tượng, cố khả tầm ngôn dĩ quan Tượng; Tượng sinh ư í, cố khả tầm Tượng dĩ quan ư. Ư dĩ Tượng tận, Tượng dĩ ngôn trứ. Cố ngôn giả sở dĩ minh Tượng, đắc Tượng nhi vong ngôn; Tượng giả sở dĩ tồn ư, đắc ư nhi vong Tượng.’.

 ‘Tượng bắt nguồn từ ư, lời là để làm rơ ư của Tượng, tận được ư th́ chẳng ǵ hơn được Tượng, làm sáng tỏ được Tượng th́ không ǵ hơn lời. Lời sinh từ Tượng, cho nên, có thể truy lời để thấu được Tượng’, Tượng sinh từ ư cho nên có thể t́m Tượng để thấy được ư! Ư nhờ vào Tượng mà tận, Tượng do lời mà rơ. Cho nên, lời là để làm rơ cái ư của Tượng, được Tượng rồi th́ nên quên lời và Tượng là để dung chứa cái ư, được ư rồi th́ nên quên Tượng’.

Quan điểm trên đây của Vương Bật thường được nói gọn lại là ‘Đắc Ư vong Tượng’.

Cuối Chương, Vương Bật chỉ trích việc sử dụng Hỗ Thể, Quái Biến, Ngũ Hành để thuyết Dịch. Vương Bật viết:

 ‘Hỗ thể bất túc toại cập Quái biến, Biến hựu bất túc suy trí Ngũ hành, nhất thất ḱ nguyên xảo dũ di thậm! Túng phục hoặc trị nhi nghĩa vô sở thủ cái tồn Tượng vong ư chi do dă’.

 ‘Hỗ thể không đủ để giải thích th́ vận dụng Quái biến, Quái biến rồi vẫn chưa đủ th́ suy diễn cho tới Ngũ hành, cứ thế mà ngày càng xa rời bản chỉ của Kinh! Giả như, suy đi suy lại mà vẫn không hiểu được nghĩa (Kinh) th́ đây là do cứ khư khư giữ lấy Tượng mà quên đi cái ư’.

Từ sau Bộ chú giải Dịch Kinh của Vương Bật ra đời th́ Dịch Hán học suy dần! Và sau đó th́ từ Hoàng hà ngược lên mạn Bắc học giả truyền thụ tư tưởng Dịch học đời Hán, và từ Trường giang trở xuống phương Nam th́ tư tưởng của Vương Bật độc tôn.

Từ sau khi Thuyết của Vương Bật xuất thế, Dịch học bắt đầu phân 2 Phái! Phái theo quan niệm đời Hán v́ vận dụng Tượng và Số để giảng Dịch do đó được gọi là Phái Tượng Số, trong khi đó những người theo Vương Bật do chỉ chú trọng Nghĩa và Lí của Kinh v́ vậy mà nhóm sau này đă được gọi là Phái Nghĩa Lí. Như bất cứ 2 Học Thuyết trái nghịch nhau nào, 2 Phái Tượng Số và Nghĩa Lí đă không ngớt công kích nhau từ thời này qua thời kia.

Đến Đường triều (618 - 907), khi Bộ ‘Ngũ Kinh Chính Nghĩa’, do Khổng Dĩnh Đạt (574 - 648) chủ biên, hoàn tất, và được ban bố toàn quốc, trong đó, về Dịch Kinh, Bản ‘Chu Dịch Chú’ của Vương Bật được coi là tiêu chuẩn th́ Dịch Hán học chính thức chấm dứt (về mặt cử nghiệp).

Dịch Hán học trầm trệ qua hơn 1000 năm để tới Thanh triều (1644 - 1911) th́ lại hưng khởi với phong trào Phục hưng Hán học.

Trong quá tŕnh phát triển, 2 Phái Tượng Số và Nghĩa Lí đă phát sinh thêm 1 số chi lưu nữa, và được gọi là ‘Tông’. Và 2 Phái có tất cả 06 Tông, phân đều ra 03 Tông thuộc Phái Tượng Số, và 03 Tông thuộc Phái Nghĩa Lư, kể như sau:

[I].Tượng Số.

(1). Tượng Số Tông.

Đại biểu cho Tông này là các Dịch học gia khoảng đầu đời Tây Hán. Tông này kế thừa tư tưởng thời Tiên Tần, i cứ thể lệ của chính Dịch Kinh (tức Thoán Truyện, Tượng Truyện và Hệ Từ...) để luận Dịch, nói khác đi là lấy Kinh chứng Kinh.

(2). Cơ Tường Tông.

Phát sinh vào khoảng trung ḱ triều Tây Hán. Các Dịch học gia Tông này từ căn bản Tượng Số mà đoán định cát, hung, họa, phúc của nhân sinh qua h́nh thức bốc, thệ. Đại diện cho Tông này Tiêu Diên Thọ và Kinh Pḥng.

(3). Tạo Hóa Tông.

Xuất hiện vào đầu triều Triệu Tống (960 - 1279), vốn bắt nguồn từ Đạo gia! Tông này vận dụng Tiên Thiên Tượng Số học để t́m hiểu lí biến dịch của Vũ Trụ.

Khởi xướng với Trần Đoàn (? - 989), Tông này chủ yếu lấy Hà Đồ, Lạc Thư giảng Dịch cho nên sau này đă được gọi là ‘Đồ Thư Phái’! Sau Trần Đoàn, Thiệu Ung (1011 - 1077) là nhân vật có thanh vọng rất lớn. Như có thể thấy, tiếng ‘Đồ Thư’ xuất từ 2 từ Hà Đồ và Lạc Thư nói gọn lại.

[II]. Nghĩa Lư.

(1). Huyền Lư Tông.

Người khai sáng chính là Vương Bật. Gọi là Huyền Lư v́ Tông này lấy tư tưởng Lăo, Trang mà luận giải Dịch. Đây cũng là điều tất nhiên, Vương Bật sinh ra giữa 1 đời nhiễu loạn xă hội đang đi xuống, Chiến tranh bao giờ chấm dứt c̣n mơ hồ, nhân tâm từ đó mà ưu uất, đạo đức từ đó mà suy đồi ‘Nhân tâm duy nguy, Đạo tâm duy vi’. ‘Lăo Tử’, ‘Trang Tử’, tự cổ vẫn được mệnh danh là ‘Loạn thế chi Thư’, trong một thời thế như vậy, rồi nghiễm nhiên trở thành những Cuốn Sách không rời tay của trí thức đương thời và cái phong thượng lưu hành khởi đi trong khoảng triều Ngụy (220 - 265), Tam Quốc và trải suốt hết 1 triều Tấn (265 - 420), mà sau này Sử gia gọi là ‘Huyền Đàm’ hay ‘Thanh Đàm’, đă phát sinh từ 1 xă hội như vậy. Vào thời Vương Bật trí thức thường tụ lại để luận đàm về triết học, đề tài chủ yếu là tư tưởng Lăo, Trang. Vào thuở chưa đầy 20 Vương Bật đă nổi tiếng trong những buổi tranh luận nói trên, và những sự việc như vừa kể đă được ghi lại rất nhiều trong Tập ‘Thế Thuyết Tân Ngữ’ của Lưu Nghĩa Khánh (403 - 444). Qua tác phẩm này người ta có thể thấy ảnh hưởng của Lăo Tử đối với trí thức thời đó ra sao:

 ‘Ân Trọng Kham vân: - Tam nhật bất độc Đạo Đức Kinh tiện giác thiệt bản gian cưỡng’.

/ Thế Thuyết Tân Ngữ. IV. Văn Học, 63 /.

‘Ân Trọng Kham nói: - 3 ngày không đọc Đạo Đức Kinh th́ cảm thấy lưỡi cứng đơ’.

Giữa 1 thời như vậy Vương Bật có lấy Lăo giảng Dịch cũng là chuyện dễ hiểu! Cũng bởi vậy mà sau đó Phạm Ninh (339 - 401) lên án là Tội của Vương Bật c̣n ‘sâu nặng hơn cả Kiệt, Trụ’. Về việc này, tham khảo: ‘Tấn Thư’, Qu. LXXV. Phạm Ninh truyện, phụ sau Phạm Uông truyện.

(2). Nho Lư Tông.

Vận dụng tư tưởng Nho gia thuyết Dịch, khởi vào đầu triều Bắc Tống (960 - 1127). Đại diện cho Tông này là Hồ Viên (993 - 1059), Tŕnh Di (1033 - 1107).

(3). Sử Sự Tông.

Lấy Sử để chứng Dịch Kinh, khởi vào đầu triều Nam Tống (1127 - 1279), đại diện cho Tông này là Lí Quang (1078 - 1159), Dương Vạn Lí (1124 - 1206), và cũng cần nói thêm ở đây là trước đó vào đời Đông Tấn (317 - 420) Can Bảo (286 - 336?) cũng từng dẫn Sử để chứng Dịch có điều là bấy giờ chưa có nhiều học giả theo để có thể thành 1 Tông phái rơ rệt.

2 Phái 6 Tông tự thuật trên đây trong Dịch học được gọi chung là ‘Lưỡng Phái Lục Tông’.

Việc phân môn biệt phái này được đề cập lần đầu tiên dưới Thanh triều  vào khoảng năm 1780 và 1781, trong bộ ‘Tứ Khố Toàn Thư Tổng Mục Đề Yếu’ (Kinh Bộ. Dịch loại. Tiểu tự).

Ngoài ra, trong bài ‘Tiểu tự’ cho mục ‘Dịch loại’ nói trên, sách đă dẫn trên có đoạn viết:

 ‘Hựu Dịch đạo quảng đại, vô sở bất Bao, bàng cập Thiên Văn, Địa Lí, Nhạc Luật, Binh Pháp, Vận học, Toán thuật dĩ đăi Phương ngoại chi lư hỏa giai khả viện Dịch dĩ vi Thuyết, nhi hiếu dị giả hựu viện dĩ nhập Dịch, cố Dịch thuyết dũ phiền’.

 ‘Và rồi Dịch đạo lớn rộng, không ǵ là không Bao quát, các môn bên lề như Thiên văn, Địa lí, Nhạc luật, Binh pháp, Vận học, Toán thuật, cho đến phương pháp Luyện đơn của giới Phương sĩ tất cả đều có thể viện dẫn Dịch để lập Thuyết, để rồi những kẻ thích điều lạ cũng vin vào đó mà đưa (những môn kể trên) vào Dịch, do đó mà những thuyết về Dịch càng trở nên phức tạp’.

Dĩ nhiên, những thí dụ loại kể trên không chỉ chừng đó, ‘Tứ Khố Toàn Thư’ đă nêu tượng trưng 1 số trường hợp để cho thấy tính cách ‘quảng đại’ của Dịch. Và theo như ‘Tứ Khố Toàn Thư’ th́ tóm lại chỉ có ‘Lưỡng Phái Lục Tông’ là chính, c̣n các thuyết khác chỉ là phụ.

Nho, Đạo, Thích là 3 gịng tư tưởng lớn của Trung Hoa. Và như đă thấy, Nho gia và Đạo gia đă có người vận dụng Kinh Dịch để lập thuyết, c̣n Thích gia th́ sao? Đă có Nho lư và Huyền lư th́ cũng có Thích lư.

Trong phần ‘Đề yếu’ cho Cuốn ‘Đồng Khê Dịch Thuyết’ của Vương Tông Truyền (? - ?) ở triều Nam Tống (1127 - 1279) Bộ ‘Tứ Khố Toàn Thư’ dẫn trên có đoạn viết:  ‘Dĩ Thiền ngôn Dịch khởi ư Nam Tống chi sơ’ (‘Dùng Thiền giảng Dịch khởi từ đầu triều Nam Tống’). Và, từ khoảng giữa triều Minh (1368 - 1644) trở về sau khuynh hướng này ngày càng hưng thịnh! Đại diện cho xu hướng là Tử Bách (tức Chân Khả, 1543 - 1604) và Ngẫu Ích (tức Trí Húc, 1599 - 1655).

Tư tưởng Thiền Dịch của Tử Bách được tŕnh bày trong thiên ‘Giải Dịch’, và lác đác trong 1 Số thiên khác trong ‘Tử Bách Lăo Nhân Tập’ (Qu. XXII, II, VI, VII, IX, XXII) và Ngẫu Ích th́ có Bộ chú giải Dịch tựa đề ‘Chu Dịch Thiền Giải’.

+ Tử Bách và Ngẫu Ích là 2 trong 4 đại cao tăng triều Minh: - Liên Tŕ (1535 - 1615)  Tử Bách  Hám Sơn (1546 - 1623)  Ngẫu Ích. Liên Tŕ và Ngẫu Ích là 2 vị Tổ của Tịnh độ Tông.

Và sở dĩ khuynh hướng Thiền đă không được coi như một Tông trong gịng Dịch học có lẽ là do lí luận của nhóm theo khuynh hướng này phần lớn có tính cách gượng ép, không viên thông.

Tới đầu thế kỷ 20, Dịch học Trung Hoa lần nữa chuyển qua 1 khúc quanh mới với khuynh hướng lấy khoa học hiện đại thuyết giải Dịch. Trước hết, Thẩm Trọng Đào soạn cuốn ‘The Symbols of YiKing’ (c̣n gọi ‘The Symbols of The Chinese Logic of Changes’) xuất bản lần đầu năm 1934 ở Thượng Hải. Tựa Sách trên đây đă được dịch qua Hán ngữ dưới tên ‘Dịch Kinh Chi Phù Hiệu’ (hay ‘Dịch Quái Dữ Khoa Học’). Đây là tác phẩm đầu tiên đối chiếu Dịch và Khoa học.

Tác giả nhận định rằng mỗi Quẻ Dịch là 1 Công thức Số học hay H́nh học, và ngoài ra lại c̣n tŕnh bày những ứng dụng của Quẻ Dịch trong một số lănh vực như Vật Lư Học, Thiên Văn Học và Luận Lư Học, đồng thời t́m hiểu, thảo luận về tương quan giữa Quẻ và khí hậu, thủy triều, nói rơ biến hóa của Vũ Trụ tàng ẩn trong Quẻ..., qua đó tác giả dẫn người đọc đi vào các lănh vực như Quang học, Nhiệt học, Động Lực học và Trọng Lực học.

Sau đó vài năm là Tiết Học Tiềm với 2 tác phẩm ‘Dịch Dữ Vật Chất Ba Lượng Tử Lực Học’ và ‘Siêu Tương Đối Luận’, xuất bản năm 1937.

Sau Thẩm Trọng Đào, Tiết Học Tiềm th́ phong trào dùng Dịch lư giải thích khoa học ngày càng trở nên rầm rộ! Và cho tới bây giờ đây th́ những soạn thuật trong phạm vi này phải nói là nhiều không sao kể hết! Người ta ứng dụng Quẻ vào đủ mọi lănh vực, như Toán học, Hóa học, cho đến Di Truyền học, Sinh lí Cơ thể học, rồi Vật lí Hạch tâm, v.v....... không lănh vực nào mà không có người nghiên cứu t́m hiểu.

Những người theo khuynh hướng dùng Dịch Lư để giải thích Khoa học trên đây được các tác giả Liêu Danh Xuân, Khang Học Vĩ, và Lương Vi Huyền  trong Bộ ‘Chu Dịch Nghiên Cứu Sử’ đă đề cập trước đây, liệt vào 1 Phái gọi là ‘Tân Tượng Số’, c̣n Phái Tượng Số trước đây th́ được đổi gọi là ‘Truyền Thống Tượng Số’.

(Sđd. Chương VII. Hiện Đại Dịch Học. Tiết 3: Hiện đại Tượng Số Dịch học).

Minh Di án:

Cái tệ của nhóm gọi là ‘Tân Tượng Số’ nói trên có thể tóm lại trong 2 tiếng ‘cực đoan’! Lí luận của họ, trong rất... nhiều trường hợp có tính cách ‘cưỡng từ đoạt lư’, họ cố gán ghép sự việc như ta nhồi bông những con gấu, con khỉ... làm đồ chơi cho con nít. Có bao nhiêu ‘Khoa’ học rồi họ nhồi hết vào Kinh Dịch, chỉ nhằm để chứng minh rằng Kinh Dịch ‘quảng đại tất bị’.

‘Nhân giả kiến chi vị chi nhân, Trí giả kiến chi vị chi trí.’ (Hệ Từ Thượng. Chương V.) - nhưng ta ‘kiến’ như thế nào, và nhất là có thực sự là ta ‘kiến’ hay không? Vấn đề rồi ở chỗ đó!

Trong khi chờ coi Phái ‘Tân Tượng Số’ rồi thực sự sẽ mang lại những ǵ cho Dịch học, chúng ta trở về với Phái Tượng Số cổ điển từ sau sự phục hưng dưới Thanh triều cho tới hiện nay.

Từ Thanh triều cho đến hiện giờ th́ việc vận dụng Tượng và Số để thuyết giải Dịch đă trở thành 1 quan điểm chính xác không ai có thể chối căi! Trong Số học giả dựa vào Tượng Số nghiên cứu Dịch Kinh không hiếm người có những tác phẩm giá trị, và trong số những học giả này có thể kể 2 học giả tiêu biểu: Thượng Bỉnh Ḥa (1870 - 1950) và Vu Tỉnh Ngô (1896 - 1984).

Thượng Bỉnh Ḥa biên soạn hơn chục cuốn sách trong lănh vực Dịch học, và tác phẩm tiêu biểu của ông là Bộ ‘Chu Dịch Thượng Thị Học’. Ngoài ra th́ Bộ ‘Tiêu Thị Dịch Lâm Chú’ cũng là 1 thành tựu đáng kể của ông về phương diện nghiên cứu ‘Dật Tượng’.

Vu Tỉnh Ngô trứ thuật không nhiều nhưng lại nhiều kiến giải độc đáo về Dịch học trong tác phẩm trứ danh ‘Dịch Kinh Tân Chứng’ (c̣n gọi ‘Song Kiếm Tŕ Dịch Kinh Tân Chứng’).

Tới đây tôi xin mượn lời Sử gia Lữ Tư Miễn (1884 - 1957) để kết lại phần này.

 ‘Độc Dịch chi pháp, khả phân ‘Tinh, Thô’ nhị giả ngôn chi. Nhược cầu lược thông ‘dị nghĩa’, khả đản quan Vương chú, Tŕnh truyện, dĩ Dịch bản văn dữ Chu, Tần chư Tử hỗ tương câu khảo. Nhược cầu thâm tháo, tắc Tượng Số chi Thuyết dịch bất khả bất thông’.

/ Kinh Tử Giải Đề. Dịch /.

 ‘Về cách đọc Dịch th́ có thể phân ‘Tinh, Thô’ 2 đường. Nếu chỉ để thông hiểu đại khái ‘nghĩa b́nh thường’ th́ có thể chỉ cần coi các Bản chú giải của Vương Bật, Tŕnh Di rồi đối chiếu Phần Kinh văn Dịch với bản của chư Tử các đời Chu, Tần để kê khảo. C̣n như muốn khảo cứu sâu xa hơn nữa th́ Thuyết về Tượng Số rồi không thể không thông’.

Nguyễn Hiến Lê không thông Lịch sử Dịch học, các Tông, các Phái ông th́ ấm ớ, ấm a...... tôi không hiểu rồi làm cách nào ông có thể hướng dẫn các bạn trẻ học Dịch cho đúng đây?

Muốn dạy người 1 th́ phải biết tới 100, ông Nguyễn Hiến Lê chỉ biết có 1, mà rồi, biết cũng chẳng cho ra biết nữa, vậy mà ông không tự biết, cứ thích dạy đời. Trong ‘Lời Nói Đầu’, Nguyễn Hiến Lê viết:

 ‘Chương III không quan trọng, muốn đọc tiếp th́ đọc, không th́ để lại sau cùng sẽ đọc’.

Trong mục ‘Phàm Lệ’ bộ ‘Chu Dịch Chiết Trung’, Lư Quang Địa (1642 - 1718) đưa ra 1 ‘Lệ’:

 ‘Chư nho sở luận Dịch thư tác thuật, truyền thụ, dĩ cập Dịch lư chi áo, Dịch nghĩa chi cương, học giả độc Dịch chi phương, thuyết giả đồng dị chi khái, giai hậu học sở nghi tiên tri dă’.

 ‘Những điều học giả luận về biên soạn truyền thụ Sách về Dịch cho tới cái sâu xa của Dịch lư, cương yếu của Dịch nghĩa, phương pháp đọc Dịch của kẻ đi học, những nét đại lược về dị, đồng giữa các thuyết, tất cả những điều này đều là những điều kẻ hậu học phải biết trước hết’.

Nguyễn Hiến Lê chưa đọc tới điều trên đây do đó mà nói lếu láo về tầm quan trọng của Tông Phái Dịch.


Phần I. Chương IV. Thuật Ngữ Và Quy Tắc Cần Nhớ. (Từ tr. 99 tới tr. 124).

Như tiêu đề cho thấy, Chương này gồm 2 phần:  Phần ‘Thuật Ngữ’ và phần ‘Qui Tắc’.

Trong Phần ‘Thuật Ngữ’ của Kinh Dịch (từ trang 99 đến 105), Nguyễn Hiến Lê dạy độc giả phải nhớ 1 số danh xưng như:  Lưỡng Nghi, Tứ Tượng, Bát Quái, Hà Đồ, Lạc Thư......

Phần tŕnh bày về những ‘Quy Tắc’ (từ tr. 105 tới tr. 124) chủ yếu luận về ư, nghĩa các Hào, như Trung chính, Thời, và tương quan giữa các Hào, như Hào ứng, Hào liền nhau, Hào làm chủ....

Về ‘Hào làm chủ’, Nguyễn Hiến Lê viết:

 ‘Có một qui tắc nữa nên nhớ:

‘Chúng dĩ quả vi chủ, đa dĩ thiểu vi tôn’ nghĩa là cái ǵ nhiều th́ bỏ đi mà lấy cái ít.

Theo qui tắc đó, quẻ nào nhiều dương th́ lấy âm làm chủ; ngược lại th́ lấy dương làm chủ.

Như trong tám quẻ đơn, không kể hai quẻ Càn, Khôn, ba hào đều dương hoặc đều âm, c̣n lại sáu quẻ kia th́ ba quẻ: Chấn, Khảm, Cấn mỗi quẻ đều có hai âm một dương, cho nên lấy dương làm chủ, mà coi những quẻ đó là quẻ dương; ba quẻ: Tốn, Li, Đoài, mỗi quẻ đều có hai dương một âm, cho nên lấy âm làm chủ, mà coi những quẻ đó là quẻ âm.....

Trong những quẻ trùng cũng vậy.’. (tr. 113, 114).

Tôi phải nói ngay rằng ông Nguyễn Hiến Lê rất lơ mơ, lờ mờ về quan niệm ‘Chủ Hào’, hay ‘Quái Chủ’.

Trước hết, ông Nguyễn Hiến Lê đă lẫn lộn giữa bản thể của Quẻ và quan niệm gọi là ‘Quái Chủ’. Cứ như đoạn trên đây th́ ông Nguyễn Hiến Lê nói về Bản thể của Quẻ chứ không phải về ‘Chủ Hào’ của Quẻ.

Chủ Hào của 6 quẻ Chấn, Tốn, Khảm, Ly, Cấn, Đoài Nguyễn Hiến Lê đă nói đúng rồi đó, có điều, tôi cần nói thêm là đây chẳng qua là ‘Chó ngáp phải ruồi’ mà thôi!

Theo quan niệm Quái Chủ, Quẻ nào cũng có 1 Chủ Hào, và thưa ông Nguyễn Hiến Lê ông mới chỉ nói có 6 Quẻ, c̣n Chủ Hào của 2 Quẻ Càn, Khôn sao ông không nói? ông giấu đi đằng nào rồi?

Khi nói ‘không kể hai quẻ Càn, Khôn, ba hào đều dương hoặc đều âm’ th́ rơ ràng Nguyễn Hiến Lê có ư là 2 Quẻ Càn, Khôn là 2 Quẻ thuần dương, thuần âm cho nên là Bản thể Âm Dương của 2 Quẻ này không đặt thành vấn đề. Thưa ông Nguyễn Hiến Lê ở đây chúng ta đang nói về Chủ Hào, chẳng phải luận Âm Dương của Quẻ, do đó, tại sao tôi nói ông đă lẫn lộn giữa Bản thể Quẻ và Chủ Hào, tại sao ông ‘Chó ngáp phải ruồi’.

Về Chủ Hào của 8 Quẻ đơn th́ như sau:

+ Càn, Khôn, Khảm, Ly: Chủ Hào của 4 Quẻ này là Hào giữa (tức Hào 2).

+ Chấn, Tốn: Chủ Hào của 2 Quẻ này là Hào dưới cùng (tức Hào 1).

+ Cấn, Đoài: Chủ Hào của 2 Quẻ này là Hào trên cùng (tức Hào 3).

Tóm lại,

Ông ‘ngơ ngẳn’ đi đâu ‘vớ được’ câu ‘Chúng quả, đa thiểu’ vừa kể, để rồi cứ nghĩ là quan niệm Chủ Hào rồi chỉ áp dụng cho những Quẻ gồm cả 2 loại Hào có cả Hào âm lẫn Hào dương, c̣n các Quẻ Thuần th́ không! Đă nói Chủ Hào th́ Quẻ nào cũng có ‘Chủ Hào’, không phân biệt là Quẻ Thuần hay không Thuần. Ngoài ra, chữ ‘tôn’ trong câu ‘đa dĩ thiểu vi tôn’ ông dẫn phải là chữ ‘tông’ th́ mới đúng.

Câu ‘Chúng dĩ quả vi chủ, đa dĩ thiểu vi tôn’ Nguyễn Hiến Lê dẫn ở đoạn trên là câu khái quát quan điểm của Vương Bật (226 - 249) về quan niệm gọi là Quái Chủ, hay Chủ Hào, trong Dịch học.

Đây là 1 câu Vương Bật nói trong thiên ‘Minh Thoán’, trong Tập ‘Chu Dịch Lược Lệ’, một Tập mà như danh xưng cho thấy, luận về các ‘Lệ’ trong Dịch Kinh:

 ‘Phù thiểu giả đa chi sở quư dă, quả giả chúng chi sở tông dă’.

 ‘Thiểu số là cái đa số coi trọng, số ít là cái số đông tôn quư’.

Câu nói trên đây luận về Chủ Hào, là Hào trọng yếu nhất trong 1 Quẻ, trọng yếu v́ ư nghĩa của 1 Quẻ rồi căn cứ Hào này mà định, và trong thiên ‘Minh Thoán’ nói trên Vương Bật rồi chỉ luận Chủ Hào của Trùng Quái (tức Quẻ có 6 Hào), không luận Chủ Hào của Quẻ đơn (Quẻ 3 Hào).

Quan niệm gọi là ‘Quái Chủ’ (hoặc ‘Chủ Hào’) nói trên đây đă thấy xuất hiện vào khoảng giữa thời Tây Hán (206 tr. Cn. - 08), có điều là chưa phát triển thành một Hệ thống lí luận như ở các thời sau đó. Luận giải Quẻ Cấu (Càn / Tốn), Kinh Pḥng (77 - 37 tr. Cn.) viết:

 ‘Định cát hung chỉ thủ nhất Hào chi Tượng’.

/ Kinh Thị Dịch Truyện. Càn Cung. Cấu /.

 ‘Việc xác định tốt, xấu rồi chỉ căn cứ 1 Hào’.

‘1 Hào’ đây tức chỉ Hào Sơ Lục, Hào Âm độc nhất trong Quẻ Cấu nói trên.

Đến triều Ngụy (220 - 265), Tam Quốc (220 - 280), Vương Bật mới căn cứ Quái từ, Thoán từ mà đưa ra các ‘Lệ’ về ‘Quái Chủ’, trong thiên ‘Minh Thoán’ của tập ‘Chu Dịch Lược Lệ’.

Theo như thiên ‘Minh Thoán’ th́ đại khái có 3 trường hợp về Chủ Hào:

(1). Chủ Hào là Trung Hào, tức các Hào 2 và Hào 5, tức các Hào giữa của Nội và Ngoại Quái.

(2). Chủ Hào là Hào âm, hoặc Hào dương, độc nhất trong Quẻ, chẳng hạn như trường hợp các Quẻ Bác (Cấn / Khôn), Phục (Khôn / Chấn), Quái (Đoài / Càn), Cấu (Càn / Tốn).....

Đây chính là trường hợp Vương Bật gọi là ‘Thiểu giả đa chi sở quí, quả giả chúng chi sở tông’.

(3). Quái Chủ không phải là 1 Hào mà là Quẻ đơn (3 Hào), hoặc Nội Quái, hoặc Ngoại Quái.

Từ Hán tới Đường (618 - 907) nói chung là 1 Quẻ rồi chỉ có 1 Chủ Hào mà thôi.

Tới triều Triệu Tống (960 - 1279), học giả lại phân rơ 2 loại Chủ Hào:  ‘Định Vị chi Chủ’, và ‘Đắc Quyền chi Chủ’.

+ Định Vị chi Chủ. Chỉ Hào 5. Hào 5 là ‘Quân vị’ (‘Vị của Vua’), do đó mà Hào này vẫn được coi là Chủ Hào của Quẻ, do đó mà được gọi là ‘Định Vị chi Chủ’.

+ Đắc Quyền chi Chủ. Chẳng hạn, như Quẻ Truân (Khảm / Chấn). Quẻ này gồm 2 Chủ Hào là Hào Sơ Cửu và Hào Cửu ngũ. Hào Cửu ngũ, như đă biết, là ‘Định Vị chi Chủ’, nhưng bởi ở vào thời vô quyền, cho nên không bằng Hào Sơ Cửu, là Hào nhất thời đắc quyền, Hào Sơ Cửu ở đây do đó dược gọi là ‘Đắc Quyền chi Chủ’.

[ Tham khảo: ‘Độc Dịch Cử Yếu’, Qu. II. ‘Quái chi Chủ Hào’ của Du Diệm (1258 - 1314) ] .

Và cuối cùng, đến Thanh triều th́ Lư Quang Địa (1642 - 1718) phân ‘Quái Chủ’ ra 2 loại chính là ‘Thành Quái chi Chủ’ và ‘Chủ Quái chi Chủ’.

+ Thành Quái chi Chủ. Nếu ư nghĩa của 1 Quẻ từ 1 Hào nào đó trong Quẻ mà thành th́ hào đó được coi là ‘Chủ Hào’ của Quẻ, và do í nghĩa của Quẻ vốn thành lập từ ‘Chủ Hào’ này cho nên Hào được gọi là ‘Thành Quái chi Chủ’. Bất cứ Hào nào, vô luận Vị cao, thấp, Đức tốt, xấu nếu ư nghĩa của Quẻ mà khởi đi từ đó th́ Hào nào cũng đều có thể là ‘Chủ Hào’ của Quẻ.

+ Chủ Quái chi Chủ. Hào nào mà Đức tốt, lại đắc Thời, đắc Vị, th́ Hào đó là Chủ Hào, có thể nói trường hợp này đa số là Hào 5, nhưng đôi lúc cũng rơi vào Hào khác.

Ngoài ra, ‘Thành Quái chi Chủ’ đồng thời là ‘Quái Chủ chi Chủ’  Đây là trường hợp 1 Hào có Đức tốt lại kiêm đắc Thời, đắc Vị. C̣n nếu như Đức, Thời, Vị của ‘Thành Quái chi Chủ’ tốt xấu không đồng đều th́ ‘Thành Quái chi Chủ’ không kiêm ‘Quái Chủ chi Chủ’.

Trong 1 Quẻ nếu như ‘Thành Quái Chi Chủ’ đồng thời cũng là ‘Chủ Quái Chi Chủ’ th́ Quẻ này chỉ có 1 Chủ Hào. Trường hợp ‘Thành Quái chi Chủ’ không kiêm ‘Quái Chủ chi Chủ’ th́, ở đây chúng ta có trường hợp 2 Chủ Hào như lệ thường.

[ Tham khảo: ‘Chu Dịch Chiết Trung’ (Qu. Thủ. Nghĩa Lệ  Quái Chủ), Lí Quang Địa soạn ].

Trên đây là những nét chủ yếu về Quái Chủ (hay: Chủ Hào) mà một người học Kinh Dịch ở độ sơ học thôi cũng đă biết, chỉ có ông thầy dạy Kinh Dịch cho thiên hạ Ố người soạn cuốn sách có cái tựa rất là ‘ng. ng.’ là ‘Kinh Dịch, Đạo Của Người Quân Tử’, là không biết thôi!

Tới đây th́ tŕnh độ về Dịch học của Nguyễn Hiến Lê ra làm sao có lẽ người đọc đều đă thấy rất rơ, do đó 2 Chữ ‘ng. ng.’ trên đây độc giả muốn đọc ra sao th́ đọc, có điều là cũng xin thưa rất thực rằng tôi không nói nặng ông Nguyễn Hiến Lê đâu! Nguyễn Hiến Lê ra làm sao, tôi nói làm vậy, không thêm, không bớt.

Ở một đoạn trước đây tôi có nói muốn dạy người 1 th́ phải biết 100! Biết 1 dạy lại một, rồi lỡ ra người hỏi tới điều thứ 2, rồi thứ 3... th́ làm sao mà trả lời đây? Đây chính là trường hợp Nguyễn Hiến Lê.

Về quan niệm Chủ Hào, Nguyễn Hiến Lê chỉ biết có mỗi trường hợp Chủ Hào là hào âm, hoặc hào dương độc nhất trong một Quẻ (tức ‘Lệ’ thứ (2) của Vương Bật về Quái Chủ đă dẫn trước đây)  và đă chỉ nêu được có 2 thí dụ về trường hợp dẫn trên là Quẻ Dự (Chấn / Khôn) và Quái (Đoài / Càn) ở trang 114, có hỏi tới nữa, ông cũng chịu chết thôi!

Sau cùng, tôi xin trở ngược lên mục nói về ‘Ư Nghĩa Các Hào’, phần ‘Trung chính’.

Trung nghĩa là Giữa, và Giữa ở đây chỉ vị trí giữa của Hào trong Nội Quái hoặc Ngoại Quái và ở Nội Quái th́ đó là Hào 2, và ở Ngoại Quái th́ đó là Hào 5.

Về Chính, ông Nguyễn Hiến Lê viết:

 ‘Thế nào là chính?

Trong sáu hào, những hào số lẻ 1, 3, 5 có vị trí dương; những hào số chẵn 2, 4, 6 có vị trí âm.

Một hào bản thể là dương ( nghĩa là một vạch liền ) ở vào một vị trí dương th́ là chính, ở vào một vị trí âm th́ là bất chính.

Một hào bản thể là âm phải ở vào môt vị trí âm th́ mới gọi là chính, nếu ở vào vị trí dương th́ là bất chính’. (tr. 108, 109).

Ở đây vấn đề không phải tại chỗ Nguyễn Hiến Lê giảng sai, vấn đề ở đây là Nguyễn Hiến Lê đă không hiểu rơ được 1 số danh từ chuyên môn Dịch học, hay nói cho chuyên môn hơn, ‘Thuật ngữ Dịch Học’.

+ 1 Hào âm mà ở vị trí Âm (Âm vị), hay 1 Hào dương mà lại ở vị trí Dương (Dương vị) th́ trong Dịch học được gọi là ‘Đáng Vị’, hoặc ‘Đắc Vị’, hoặc ‘Đắc Chính’.

Và ngược lại, 1 Hào âm mà ở Dương vị, cũng như 1 Hào dương mà ở Âm vị, th́ trong Dịch học người ta gọi là ‘Bất Đáng Vị’, ‘Bất Đắc Vị’, hoặc ‘Thất Chính’.

Nguyễn Hiến Lê không biết những Thuật ngữ trên đây th́ cũng chẳng có sao, có sao là Sự sau đây:

Như đă rơ, ông Nguyễn Hiến Lê chia Chương IV này làm 2 phần: phần ‘Thuật Ngữ’ và phần ‘Qui Tắc’.

Trong phần ‘Thuật Ngữ’ Nguyễn Hiến Lê đă liệt những danh xưng như ‘Lưỡng nghi’, Tứ Tượng’ cũng như 8 Quẻ Càn, Khảm, Cấn, Chấn... vào loại ‘Thuật Ngữ’.

Có thể nói ngay rằng Nguyễn Hiến Lê vốn đă không hiểu rơ thế nào là ‘Thuật Ngữ’ (Technical Terms), và thế nào là danh xưng thường! Những tiếng mà Nguyễn Hiến Lê gọi là ‘Thuật Ngữ’ trên đây thực ra chỉ là những danh xưng  nói 1 cách nôm na là tên gọi mà thôi. Danh xưng là để phân biệt người này với người kia, vật này với vật kia, và những tiếng này không có 1 nội dung đặc biệt nào cả. Chẳng hạn, không ai nói những tiếng như Truân, Mông, Tùy, Khốn, Bác, Phục, Di, Thăng... là những Thuật ngữ hết, v́ rằng đây chỉ thuần túy là những tên gọi của Quẻ để phân biệt Quẻ này với Quẻ kia mà thôi!

Và rồi trong phần ‘Qui Tắc’ th́ chúng ta, người đọc, tuyệt nhiên không thấy Nguyễn Hiến Lê đưa ra được 1 Thuật ngữ nào cả  trong khi trên thực tế đă gọi là qui tắc th́ luôn luôn phải có một hay nhiều Thuật ngữ kèm theo, để giải nghĩa Qui tắc. Thuật ngữ cũng là 1 loại danh xưng, 1 danh xưng với một nội dung đặc biệt trong 1 phạm vi chuyên môn nào đó, trong khi danh xưng th́ không thể là 1 Thuật ngữ được! Ông Nguyễn Hiến Lê đă không phân biệt được điều này.

Và do đó, sự phân chia ‘Chương IV’ này thành 2 Phần ‘Thuật Ngữ’ và ‘Qui Tắc’ của Nguyễn Hiến Lê đến là 1 chuyện hết sức buồn cười!

Điều tôi muốn nói ở đoạn cuối này là vậy.

Trong ‘Lời Nói Đầu’, ông Nguyễn Hiến Lê viết:

‘Chương IV rất quan trọng, nên đọc rất kỹ....’. (tr. 18).

‘Nên đọc rất kỹ’, để gom góp một mớ kiến thức kém cỏi, cũng như Sai lầm của Nguyễn Hiến Lê, để sau đó truyền bá lại cho người khác? (như ông Trần Văn Tích và ông Xuân Phúc chẳng hạn).

Phần I. Chương V. (Từ tr. 125 đến tr. 157).

Chương này gồm 4 Đề mục:

(1). ‘Đạo trời’. (2). ‘Dịch là giao dịch’. (3). ‘Dịch là biến dịch’. (4). ‘Dịch là bất dịch’.

Nh́n chung, kiến thức của Nguyễn Hiến Lê trong Chương này rất là nghèo nàn, như toàn bộ kiến thức của ông ta về Dịch học. Tất cả các Chương trong cuốn ‘Kinh Dịch, Đạo Của Người Quân Tử’ rồi có 1 Mẫu Số chung, đó là Mẫu Số ‘Sai Lầm’.

Trong Đề mục ‘Dịch và Giao Dịch’, Nguyễn Hiến Lê có đoạn viết:

 ‘Cuối chương V Hệ từ thượng truyện có một câu tối nghĩa:

‘Âm dương bất trắc chi vị thần’ ( Âm dương không lường được như vậy gọi là thần ). Tối nghĩa v́ thế nào là âm dương không lường được?’. (tr. 137).

Tôi không hiểu Nguyễn Hiến Lê rồi đọc Kinh Dịch theo kiểu nào đây?

Dịch là sách luận về Âm Dương. Theo thuyết lí Âm Dương, Vạn hữu được trừu tượng hóa thành 2 mặt tương phản. Tất cả những thứ ta gọi là H́nh, là Tướng, là Khí, là Lực... đều có thể qui về 1 trong 2 phạm trù tương phản đă kể. Mọi Biến, Dịch trong khoảng Trời Đất rồi đă phát sinh từ sự xô đẩy, giao hội, cũng như nối tiếp của Âm và Dương. Âm và Dương, do đó, tượng trưng cho Biến, Hóa, v́ vậy mà sách ‘Trang Tử’ (thiên ‘Thiên Hạ’) nói rằng ‘Dịch dĩ đạo Âm Dương’.

Âm Dương tượng trưng Biến Hóa, điều này đă được đề cập trong nhiều đoạn của ‘Hệ Từ’:

 ‘Cương, Nhu tương thôi nhi sinh biến hóa... Cương, Nhu giả, Trú, Dạ chi tượng dă’.

/ Hệ Từ Thượng. Chương II /.

 ‘Cương, Nhu xô đẩy nhau mà phát sinh biến hóa... Cương, Nhu là tượng của Ngày, Đêm’.

Cương đây tức chỉ Dương và Nhu đây tức chỉ Âm  1 Âm 1 Dương thúc đẩy nhau, nối tiếp nhau mà thành biến hóa, mà có Ngày / Đêm.

Và như vậy, câu ‘Âm Dương bất trắc chi vị Thần’ trên đây có ǵ gọi là ‘tối nghĩa’ như Nguyễn Hiến Lê đă nghĩ rồi ghi ra giấy. V́ chưa đủ tŕnh độ Hán văn để đọc Kinh Dịch, có đọc th́ cũng đọc cho có v́ vậy đầu óc Nguyễn Hiến Lê mới lù mà lù mù, hết ngẫm lại nghĩ, ngẫm nghĩ măi mà vẫn không chớp lên được điểm sáng nào! Câu nói trên rất ‘sáng nghĩa’, chỉ riêng Nguyễn Hiến Lê v́ tŕnh độ hiểu Dịch c̣n ở tận ‘mé ngoài cổng’ cho nên mới thấy ‘tối’. Để hiểu câu vừa dẫn trên của ‘Hệ Từ’ th́ chẳng cần tới độ ‘đăng đường nhập thất’, 1 người ‘trong sân’ thôi cũng có thể hiểu và dịch câu trên là:

 ‘Biến hóa không suy trắc được th́ đó gọi là Thần’.

Ngay trong thiên ‘Hệ Từ’ vốn có 1 số câu làm sáng ư, sáng nghĩa Câu trên đây, cũng bởi Nguyễn Hiến Lê đọc Kinh Dịch cho có đọc nên mới không thấy đó thôi! Tôi dẫn ra đây 1 câu:

 ‘Tri Biến Hóa chi Đạo giả, ḱ tri Thần chi sở vi hồ?!’.

/ Hệ Từ Thượng. Chương IX /.

 ‘Biết được cái Lư của Biến Hóa, là biết được hành vi của Thần đó chăng?!’.

Biến hóa trong phạm vi Thiên đạo vốn có qui luật tương đối nhất định, con người ít nhiều có thể tiên liệu, nhưng để suy trắc chính xác Biến Hóa trong phạm vi ‘Nhân sự’ th́ việc này phải nói là khá khó khăn.

Tóm lại, những điều tối căn bản tới vậy mà Nguyễn Hiến Lê c̣n thấy ‘tối’ th́ quả t́nh tôi không rơ ông ta rồi ‘sáng’ ở cái chỗ nào đây?

Chúng ta sống trong thế giới của những ‘tương quan’, đủ mọi h́nh thức ‘tương quan’, và rồi từ những ‘tương quan’ đó mà phát sinh Biến Hóa. Và, thuyết lư Âm Dương, ở 1 góc, 1 độ nào đó, là 1 thuyết lư về ‘tuơng quan’, lấy 1 thí dụ:  Gia đ́nh là tập hợp những cá nhân liên hệ qua một số tương quan nhất định, như vợ chồng, cha con, mẹ con, anh, chị em...

Áp dụng thuyết lư: Với chồng, người đàn bà thuộc Âm, nhưng lại là Dương trong Tương quan với các con. Cũng vậy, người chồng kể trên là Dương đối với vợ con, nhưng với cha mẹ ḿnh th́ điều ngược lại đúng.

Và như vậy th́ thuyết lư Âm Dương không thuần là sự phân loại sự vật, sự việc ra 2 mặt đối nhau như 1 số trong chúng ta có thể nghĩ! Khi nhận: Vật này Âm, vật kia Dương th́ điều này không có nghĩa những vật đó tất yếu là điều đă được phân loại, nghĩa là, đă được xác định là Âm hay Dương. Tương quan thay đổi, Âm Dương của vật, của việc, cũng theo đó mà khác đi, bởi đó mà nói ở 1 góc độ nào đó thuyết lư Âm Dương là 1 thuyết lư về ‘Tương quan’.

Đây là điều Nguyễn Hiến Lê chưa vói tới, ông ta ba hoa năm điều bảy chuyện về Âm Dương nhưng rồi vẫn không nói ra được điểm cốt lơi trên đây của thuyết lư Âm Dương.

Tiếp liền sau đó trong đoạn có tiêu đề ‘Thành rồi hủy  12 quẻ 12 tháng’ Nguyễn Hiến Lê đề cập 12 Quẻ Cấu, Độn, Bỉ, Quan, Bác, Khôn, Phục, Lâm, Thái, Đại Tráng, Quái, Càn.

Đây là 12 Quẻ có Âm Dương tiệm tiến:

+ Cấu, Độn, Bỉ, Quan, Bác, Khôn là 6 Quẻ Âm tiệm tiến từ 01 Âm (Cấu) tới 6 Âm (Khôn).

+ Phục, Lâm, Thái, Đại Tráng, Quái, Càn là 6 Quẻ Dương tiệm tiến khởi đi từ 1 Dương (Phục) tới 6 Dương (Càn).

12 Quẻ trên đây được gọi dưới 1 số danh xưng, chính xác hơn là ‘thuật ngữ’ như sau:

Tiêu Tức Quái. Tiêu Trưởng Quái. Hậu Quái. Nguyệt Quái. Tịch Quái.

Nguyễn Hiến Lê đă không biết tới những ‘thuật ngữ’ trên đây.

Tiêu nghĩa là Diệt, là Mất Đi, là Suy Thoái, c̣n Tức nghĩa là Sinh, là Phát Triển, là Nảy Nở.

Tiêu Tức ư nói Âm sinh th́ Dương diệt, Dương tiến th́ Âm thoái.

6 Quẻ trong Chu kỳ Âm từ Cấu đến Khôn cũng được gọi là Tiêu Quái. Tiêu (Diệt) đây hàm ư là Dương tiệm thoái (để Âm từ từ phát triển) và 6 Quẻ trong Chu ḱ Dương, từ Phục tới Càn, cũng được gọi là Tức Quái. Tức (Sinh) ở đây ư nói Dương từ từ thịnh tiến, (Âm từ từ suy thoái).

Các tiếng ‘Tiêu Trưởng’ trong ‘Tiêu Trưởng Quái’ cũng cùng 1 ư như trên.

+ Nguyệt Quái. Hậu Quái. Tịch Quái.

NHDT
01-14-2008, 04:55 AM
Nguyệt là Tháng trong Năm. Hậu là Khí hậu, Thời tiết. Tịch có nghĩa là Vua, là Chủ.

Khoảng đầu thời Tây Hán (206 tr. CN. - 08) học giả Mạnh Hỉ đă lấy 12 Tiêu Tức Quái phối hợp 12 Tháng, mỗi Quẻ là 1 tháng: Thái là tháng Giêng, Đại Tráng tháng 2, Quái tháng 3.... cứ thế mà tính lần đi, tới Lâm là tháng Chạp th́ giáp 1 Năm.

V́ mỗi Quẻ ứng 1 Tháng cho nên 12 Tiêu Tức Quái c̣n được gọi là Nguyệt Quái  hoặc rơ hơn th́ gọi ‘Thập Nhị Nguyệt Quái’, và bởi 12 Tháng gồm 4 Mùa, với Khí hậu khác nhau v́ vậy mà 12 Quẻ này cũng được gọi là ‘Hậu Quái’, và do mỗi Quẻ chủ quản 1 Tháng cho nên cũng gọi là ‘Tịch Quái’, hay ‘Thập Nhị Tịch Quái’.

12 Tiêu Tức Quái phối hợp 12 Tháng cùng với 4 Chính Quái là Chấn, Ly, Đoài, Khảm cũng như thuyết ‘Lục nhật Thất phân’ pháp đă nói, là 1 phần trong thuyết ‘Quái Khí’ của Mạnh Hỉ.

Thuyết Quái Khí sau đó được Kinh Pḥng bổ túc mà thành 1 trong những luận cứ sử dụng trong việc chế định Lịch pháp Trung Hoa thời cổ  và ảnh hưởng của Thuyết này đối với sự phát triển của Lịch pháp học ở Trung Hoa không phải là nhỏ.

Sau cùng, mở đầu đoạn có tiêu đề ‘Định Mệnh’, Nguyễn Hiến Lê viết:

 ‘Chúng tôi sẽ không xét thuyết Tượng Số trong Dịch truyện ( Hệ từ truyện ) v́ không hiểu nổi thuyết đó, không thấy nó có ích lợi ǵ cho nhân sinh’. (tr. 155).

Thiệt tức cười hết sức, Nguyễn Hiến Lê nói ông ta ‘không hiểu nổi’ thuyết Tượng Số, nếu vậy làm thế nào ông ta biết là thuyết đó ‘ích lợi hay không ích lợi cho nhân sinh’? Nguyễn Hiến Lê rồi dựa vào đâu để mà khẳng định một vấn đề mà ông ta không hiểu?

Ngay vào lúc vừa khẳng định xong là ‘không hiểu nổi’ thuyết Tượng Số th́ Nguyễn Hiến Lê không c̣n đủ tư cách, và thẩm quyền, để khẳng định, hay phủ định, bất cứ điều ǵ liên quan tới vấn đề mà ông không hiểu. 1 đứa con nít rồi cũng không để lọt tai cho nổi câu nói của Nguyễn Hiến Lê!

Như đă rơ, Dịch học phân Tượng Số và Nghĩa Lư 2 Phái, đă đọc Dịch th́ không thể không rơ điều này. Và dầu đứng ở quan điểm nào đi nữa th́ cũng phải biết cả 2, tối thiểu là ở những điểm căn bản nhất. Nguyễn Hiến Lê chỉ đọc một Chiều, và một Chiều rồi cũng chẳng xong, cho nên về các Học thuyết trong Tượng Số học như Quái Khí của Mạnh Hỷ, Bát Cung của Kinh Pḥng, v.v.... ông ta đă suy đoán lếu láo, hướng dẫn ‘các bạn trẻ’ của ông lao xuống hố!

27 năm trước (1976), lúc mới đọc Dịch th́ ‘Chu Dịch Vương, Hàn Chú’ là Bộ sách tôi ưa thích hơn hết! Sau đó trong khoảng gần 2 tháng (từ 03. 6 đến 23. 7. 1977) tôi dịch xong phần chú giải 64 Quẻ của Vương Bật, c̣n phần chú giải ‘Truyện’ của Hàn Khang Bá (332 - 380) mất 11 ngày (15 ( 26. 01. 78). Năm 1985, Bản thảo (viết tay) từ Quê nhà gởi qua th́ đă mất đi phần ngữ dịch 12 Quẻ: Mông, Tu, Tụng, Sư, Tỉ, Tiểu Súc, Thệ Hạp, Bí, Bác, Phục, Vô Vong, Đại Súc.

Cho tới bây giờ 12 Quẻ c̣n khuyết đó vẫn để khuyết, tôi vẫn không buồn dịch lại, v́ lẽ đúng như Lư Đỉnh Tộ đă nhận định, kiến giải của Vương Bật chỉ là ‘dă văn’, không dẫn người ta tiến nhập cảnh giới thâm viễn của Dịch đạo.

Ở 1 đoạn trước đây tôi đă dẫn sử học gia Lữ Tư Miễn (1884 - 1957) nói rằng, đọc Dịch th́ phân 2 đường ‘Tinh/Thô’, theo đường ‘Thô’ th́ đọc các Bản chú giải của Vương Bật (226 - 249), của Tŕnh Di (1033 - 1107), th́ đại khái cũng có thể thông hiểu ư nghĩa b́nh thường của Dịch.

C̣n đường ‘Tinh’ là con đường sâu xa của Tượng Số, con đường đích thực của Dịch đạo.

Nguyễn Hiến Lê lần theo đường ‘Thô’ mà theo cũng không xong. Cho nên, kiến, thức Dịch học của ông ta chẳng những đă ‘Thô’ mà c̣n ‘Nhám’ nữa!

Phần I. Chương VI. (Từ tr. 159 tới tr. 202).

Chương này gồm các đề mục:

‘Việc Người’, ‘Việc Hằng Ngày’, ‘Việc Trị Dân’, ‘Tu Thân, Đạo Làm Người’  đề mục sau cùng là ‘Dịch Là Đạo Của Người Quân Tử’.

Toàn Chương không có kiến giải ǵ đặc biệt, chỉ chép lại ở những sách khác  có đặc biệt chăng th́ đó là những ư kiến xen vào của Nguyễn Hiến Lê, trong đó có một Số rất lạt lẽo, nếu không muốn nói là rẻ tiền! Người đọc có thể thấy điều này rất rơ, tôi cũng không cần nêu ra đây cho dài ḍng.

&

Phần II. Kinh và Truyện.

Trong đoạn cuối ‘Lời Nói Đầu’ cho Phần II này, ông Nguyễn Hiến Lê có đoạn viết:

‘Bản tôi tham khảo nhiều nhất là bản của cụ Phan Bội Châu (Khai Trí, 1969 )’. (tr. 207).

Trước đó 01 trang, trang 206, Nguyễn Hiến Lê viết:

‘Riêng về hai Quẻ Càn và Khôn tôi trích dẫn thêm Văn Ngôn Truyện, và trong một số quẻ khác tôi cũng lác đác dùng lời b́nh luận trong Hệ Từ Truyện mà tôi sẽ dịch trọn và đặt sau phần kinh.

(Xem tiếp đoạn (a) ở cuối trang)’.

Cuối trang 206 nói trên, ở phần cước chú, Nguyễn Hiến Lê viết:

 ‘(a) Tôi lại tham khảo thêm những chú giải của Chu Hy, lời giảng của Phan Bội Châu, đôi khi của James Legge, của Richard Wilhelm, của Cao Hanh, Nghiêm Linh Phong và vài nhà khác nữa’.

+ Quẻ Càn (Càn / Càn).

Những cái sai của Nguyễn Hiến Lê trong Quẻ này:

[1]. Sai về Âm đọc.

Hào Cửu tam, Nguyễn Hiến Lê phiên âm:

 ‘Quân tử chung nhật càn càn, tích dịch nhược. Lệ, vô cữu’.

Chữ ‘Dịch’ trong ‘tích dịch’ phải đọc Âm ‘Thích’.

Lục Đức Minh (~ 550 - 630) chú Âm chữ ‘này’ như sau:

 ‘Thích. Tha Lịch phiên’.

/ Kinh Điển Thích Văn. Qu. II. Chu Dịch Âm Nghĩa /.

Th(a) + L(ịch) = Thích.

Câu tiếp sau Hào Thượng Cửu, Nguyễn Hiến Lê phiên âm:

 ‘Dụng cửu: Kiến quần long vô thủ , cát’.

Chữ ‘Kiến’ ở đây phải đọc Âm ‘Hiện’.

Lục Đức Minh chú Âm chữ ‘Hiện’ trong ‘Hiện Long tại điền’ Hào Cửu nhị như sau:

 ‘Hiện Long. Hiền Biến phiên, thị dă. Chú cập hạ hiện long giai đồng’.

/ Sđd. như trên /.

 ‘Hiện Long. Phiên là Hiền Biến, nghĩa là ‘đưa ra cho thấy’. Chú âm (của chữ Hiện này) cùng với chữ hiện (quần) long ở phía dưới như nhau’.

‘Kinh Điển Thích Văn’ là 1 tác phẩm ‘Chú Âm’ và ‘Thích Nghĩa’ Kinh Điển cổ đại.

Tác phẩm gồm 30 Quyển.

Quyển I là Phần ‘Tự Lục’, là Phần tự thuật và khảo chứng sự hưng, suy của Kinh Điển, trưng ra những sự kiện quan trọng trong Lịch sử Kinh học, và những nhân vật cũng như những tác phẩm chủ yếu của từng thời kỳ một. Và ở một khía cạnh nào đó, phần ‘Tự Lục’ này có thể được coi như 1 bộ lược sử về sự phát triển của Kinh học từ thời Đường (618 - 907) trở về trước.

Từ Quyển II đến Quyển XXX phân ra Chú Âm, Thích Nghĩa 14 Bộ Kinh Điển sau đây:

+ Chu Dịch, Thượng Thư (tức Thư Kinh), Mao Thi (tức Thi Kinh), Chu Lễ, Nghi Lễ, Lễ Kí, kế đó là Tả Truyện, Công Dương, Cốc Lương, Hiếu Kinh, Luận Ngữ, Lăo Tử, Trang Tử, Nhĩ Nhă.

Kinh Điển Thích Văn thu lục ‘Thiết Âm’, cũng như ‘Chú giải’ Kinh văn của hơn 230 học giả từ thời Tam Quốc (220 - 280) đến Nam Bắc triều (420 - 589).

Đây là 1 tác phẩm trọng yếu nghiên cứu về Văn tự học, Âm vận học, cũng như Huấn cổ học, cho đến các Bản in khác nhau của từng Bộ Kinh. Bởi vậy, nghiên cứu âm đọc của Kinh, Điển thời cổ th́ không thể không tham khảo tác phẩm này.

Tác phẩm thường được học giả gọi tắt là ‘Thích Văn’. Ở đây, phần ‘Âm đọc’ (‘Tự âm’) các Chữ trong Dịch Kinh chủ yếu tôi i cứ Bộ ‘Thích Văn’ này.

[2]. Sai về trích dẫn.

Chú thích câu ‘Dụng Cửu’ nói trên, Nguyễn Hiến Lê có đoạn viết:

 ‘Cao Hanh hiểu khác, bảo: ‘Bầy rồng không đầu, nghĩa là bầy rồng đă bay lên trời, đầu bị mây che, nên chỉ thấy ḿnh và đuôi. Đó là cái tượng rồng cỡi mây lên trời, tốt’. (tr. 219).

Nguyễn Hiến Lê đă dẫn chú thích này của Cao Hanh (1900 - 1986) từ một cuốn sách nào đó nhưng rồi đă lập lờ, thiếu tự trọng, không nói ra, để người đọc nghĩ rằng ông đă dẫn từ nguyên văn.

Chú thích trên đây của Cao Hanh là ở cuốn ‘Chu Dịch Cổ Kinh Kim Chú’ của ông. Bây giờ tôi dẫn nguyên văn để độc giả thấy sự lập lờ đó của ‘học giả’ Nguyễn Hiến Lê. Nguyên văn câu này là:

 ‘Hiện quần Long vô thủ giả, quần long tại thiên, thủ vị vân tế, nhi cận kiến kỳ thân, vĩ, túc dă. Thử quần Long đằng thăng chi tượng, cố viết ‘Hiện quần Long vô thủ, cát’.’.

 ‘Hiện bầy Rồng không đầu là bầy rồng giữa trời, đầu bị mây che rồi chỉ thấy thân, đuôi, chân của chúng. Đây là h́nh ảnh (tượng) bầy Rồng bay vút lên cao, bởi vậy mà nói ‘Hiện ra bầy rồng không đầu, tốt’.’.

Người đọc thấy rất rơ là Nguyễn Hiến Lê đă ‘thiếu đi’ mất cái ‘chân’ (‘túc’) Rồng. Có lẽ ông đă ‘chặt’ nó đi rồi chăng? Có lẽ, v́ nếu Nguyễn Hiến Lê thực sự có đọc Cao Hanh th́ tôi nghĩ lẽ nào ông ‘học giả’ lại không thấy cái ‘chân’ Rồng nó ở đâu? Và như vậy th́, chỉ có thể là Nguyễn Hiến Lê đă trích dẫn Câu này từ người khác, người ta thiếu mất cái ‘chân’ Rồng ông chẳng biết, cứ thế mà dẫn, loè thiên hạ!

Đối chiếu nguyên văn Hán văn tôi trích dẫn trên đây và phần Việt văn của Nguyễn Hiến Lê th́ người đọc có thể thấy ngay đoạn cuối không khớp, sai lạc với ư nguyên văn.

Tóm lại, có 2 trường hợp:

+ Hoặc ông Nguyễn Hiến Lê lập lờ, dẫn lại câu chú thích của Cao Hanh từ 1 cuốn Sách nào đó, nhưng đă không nêu xuất xứ, cứ làm như đă dẫn từ nguyên văn. Đây gọi là thiếu tự trọng, thiếu tư cách!

+ Hoặc giả ông Nguyễn Hiến Lê đọc chính nguyên văn (như đă ghi ở phần cước chú (a) ở cuối trang 206) và nếu vậy, qua sự đối chiếu trên đây th́ rơ ra tŕnh độ Hán văn của Nguyễn Hiến Lê rồi quá tệ!

Và, dầu là ở trường hợp nào th́ cung cách làm việc của Nguyễn Hiến Lê trước sau... vẫn là cung cách của một ‘học giả’ (xin đừng quên cái ngoặc kép ‘’).

Sau cùng, ở phần ‘Phụ Lục’ ở cuối Quẻ Càn, Nguyễn Hiến Lê trích dẫn chú giải Hào Sơ Cửu quẻ này của 3 tác giả Chu Tuấn Thanh, Tào Thăng và Cao Hanh.

Dẫn Chu Tuấn Thanh, ông Nguyễn Hiến Lê viết:

 ‘...... Hào dương ở vị trí 1, tức là tháng giêng theo lịch nhà Chu, tháng tí. Khí dương lúc đó mới động ở suối vàng (hoàng tuyền).....’. (tr. 220).

Nguyên văn Chu Tuấn Thanh (1788 - 1858) viết như sau:

 ‘... Dương tại Sơ Cửu, Chu Chính nguyệt chi thời. Giáp Tí, Thiên chi chính vị, Dương khí động vu hoàng tuyền.....’.

/ Lục Thập Tứ Quái Kinh Giải. Càn Sơ Cửu giải /.

 ‘... Dương tại Hào Sơ Cửu, ứng tháng Giêng lịch Chu triều. Giáp tí là chính vị của Trời, là lúc khí Dương (bắt đầu) động dưới ḷng đất sâu.....’.

Về phương diện trích dẫn, Nguyễn Hiến Lê có thái độ rất lập lờ, là không dẫn nguyên văn, ông chỉ đưa ra phần dịch văn. Không trưng ra nguyên văn th́ ‘ai biết đó vào đâu’, th́ có ai mà biết được ông ta dịch đúng hay sai?Thường th́ ông ta chỉ trích dẫn nguyên văn những câu đă có người dịch rồi!

Như Câu kể trên của Chu Tuấn Thanh, có dẫn nguyên văn mới ḷi ra cái ‘năm gian nhà cỏ’ của 1 con người vẫn được ca tụng là 1 học giả.

Nguyễn Hiến Lê đă dịch sai Câu đă dẫn trên, Sai v́ tŕnh độ Hán văn của ông ta chưa đủ, c̣n kém lắm để hiểu học giả (học giả chứ không phải ‘học giả’ như Nguyễn Hiến Lê đâu!) Chu Tuấn Thanh nói cái ǵ?

Vấn đề ở đây liên quan Lịch Pháp cổ Trung Quốc, và từ căn bản ông Nguyễn Hiến Lê chẳng biết điều này cho nên đă dịch sai. Tôi sẽ chứng minh điều này sau đây.

Trước hết, Nguyễn Hiến Lê đă lặng lờ, không dịch câu ‘Giáp tí, Thiên chi chính vị’  lí do thực dễ hiểu, là ông ta không hiểu câu này nói ǵ, ông ta lấy đại chữ ‘Tí’ này ghép nó vào câu trước, và rồi, dịch là ‘tháng tí’ cho qua truông! Ông ta không biết rằng, 2 chữ ’Giáp Tí’ thuộc về câu sau đó.

Theo Nông lịch cổ, tháng 11 là tháng ‘Tí’, Chu triều coi tháng này là tháng đầu mùa Xuân, v́ lẽ tháng 11 Dương khí bắt đầu động, c̣n chữ ‘Thiên’ ở đây chỉ Quẻ Càn. Hào Sơ Cửu Quẻ Càn là Hào Dương đầu tiên, Tí là tháng đầu Xuân, 2 bên tương ứng! Giải ra như vậy chúng ta mới thấy mạch văn rất liền lạc: ‘Giáp Tí, Thiên chi chính vị, Dương khí động vu hoàng tuyền’.

Và sau cùng, Nguyễn Hiến Lê dịch ‘hoàng tuyền’ là ‘suối vàng’ th́ dĩ nhiên là không sai! Có điều, đây là dịch từng chữ một, lối dịch đôi lúc cứng ngắc, lại hàm hồ! Chừng như cũng biết vậy cho nên liền sau 2 chữ ‘suối vàng’ NHLê đă mở cái ngoặc đơn để nguyên văn 2 chữ ‘hoàng tuyền’. Nguyễn Hiến Lê đă không biết ‘hoàng tuyền’ suy ra có nghĩa là ‘dưới ḷng đất’  và ở đây, trong Câu này, ư nói sau 1 thời gian tiềm phục, Dương khí bắt đầu động, nếu y theo lư Dịch mà luận th́ Sơ Cửu Quẻ Càn ở đây tức Sơ Cửu Quẻ Phục.

+ Quẻ Khôn (Khôn / Khôn).

[1]. Sai về Âm đọc.

Trong đoạn nói về Thoán từ Quẻ Khôn, trang 223, Nguyễn Hiến Lê dẫn Đại Tượng từ Quẻ Khôn, viết:

 ‘Quân tử dĩ hậu đức tải vật’.

Chữ ‘Tải’ ở đây phải đọc Âm ‘Tái’ (dấu Sắc). Tự điển Khang Hi chú Âm như sau:

 ‘Tái. Tác Đại thiết, Âm Tái.’, nghĩa là: ‘Tái. Thiết Âm (là) Tác Đại, (đọc) Âm Tái’.

Rồi trong đoạn về Hào Sơ Lục, ông dẫn ‘Văn Ngôn’ Quẻ Khôn và viết:

 ‘(Tích thiện chi gia tất hữu dư khánh, tích bất thiện chi gia tất hữu dư ương....)’. (tr. 224).

Chữ ‘Khánh’ ở đây phải đọc Âm ‘Khương’, vần với chữ ‘Ương’ ở câu dưới.

Có điều lạ là trước đó, ở trang 146, cũng câu trên đây, Nguyễn Hiến Lê đă đọc đúng âm là ‘Khương’  và như vậy th́ chỉ có thể kết luận là Nguyễn Hiến Lê học trước mà quên sau cho nên mới ra nông nỗi.

[2]. Luận giải tầm bậy.

Cuối đoạn đă dẫn trên (cũng trang 224), Nguyễn Hiến Lê viết:

 ‘Chúng ta để ư: hào 1 quẻ Càn, Dịch chỉ khuyên cứ ở ẩn, tu đức luyện tài chờ thời; c̣n hào 1 quẻ Khôn này, Dịch răn phải đề pḥng từ lúc đầu, nếu không sẽ gặp tai họ; như vậy Dịch tin ở đạo Dương hơn đạo Âm, trọng dương hơn âm’.

‘Người mà đến thế thời thôi!’. Không ngờ ông Nguyễn Hiến Lê lại giảng bậy đến thế thời thôi!

Nói chung, tuy Dịch có trọng Dương, ức Âm đó, nhưng, ở 1 chỗ nào khác chứ dứt khoát không ở hào Sơ Lục Quẻ Khôn này.

Như tôi đă luận, Quẻ Càn khẳng định biến động trong Vũ trụ th́ ‘bất xả’  và Khôn khẳng định liền theo đó là biến động luôn luôn tuân theo luật ‘Tiệm biến’. Đây là 2 Quy luật tôi đă đề cập ở phần đầu bài này, đó là 2 Quy luật gọi là ‘Thường ‘ và ‘Tiệm’ của Biến động. Vấn đề này tôi đă luận rơ trước đây, ở đây không nhắc lại nữa mà thêm rườm.

Nếu Nguyễn Hiến Lê dừng ở câu ‘nếu không sẽ gặp họa’ th́ cũng được đi, dẫu rằng không nêu rơ ra được cái ư về luật ‘Tiệm’, về ư nghĩa ‘Tái’ (Chở, Dung chứa) trong Quẻ Khôn.

Cũng v́ không vượt tới những ǵ ở ‘tại ngôn ngoại’, cứ lẩn quẩn ‘trong ṿng’ chữ nghĩa cho nên Nguyễn Hiến Lê đă không hiểu ‘Văn ngôn’ Quẻ Khôn đích thực nói cái ǵ?

[3]. Không hiểu trọn Văn ư.

Hào Sơ Lục Quẻ Khôn nói: ‘Lí sương kiên băng chí’.

Nguyễn Hiến Lê dịch là ‘Đạp lên sương th́ biết băng dày sắp đến’.

Không sai! Có điều, chữ ‘Lí’ ở đây cần hiểu xa hơn chút nữa. Lí có nghĩa là ‘dẵm, đạp’  nhưng cũng c̣n hàm nghĩa là ‘đi’, là ‘trải qua’. ‘Dẵm, đạp th́ í tĩnh  Sương tuyết có ‘trải qua’, có rơi 1 khoảng thời gian nào đó th́ mới đóng thành băng được.

+ Quẻ Mông (Cấn / Khảm).

Phiên Âm phần Thoán Từ Quẻ Mông, ông Nguyễn Hiến Lê có đoạn viết:

 ‘Sơ phệ, cáo, tái tam độc, độc tắc bất cáo....’. (tr. 234).

2 chữ ‘Cáo’ ở đây phải đọc Âm ‘Cốc’. Và đoạn trên sẽ như sau:

 ‘Sơ thệ cốc, tái tam độc, độc tắc bất cốc’.

Sách ‘Thích Văn’ chú Âm chữ ‘Cốc’ như sau:

 ‘Cốc. Cổ Độc phiên. Thị dă. Ngự dă’.

/ Qu. II. Chu Dịch Âm Nghĩa /.

 ‘Cốc. Thiết Âm là Cổ Độc. (Nghĩa là Đưa ra cho thấy. Nói cho biết’.

Ông Nguyễn Hiến Lê không biết rằng Kinh văn Dịch đôi lúc có chen Vận văn vào, chẳng hạn Quẻ Càn:

Cửu nhị. ‘Hiện Long tại điền, lợi kiến đại nhân’.

Cửu tam. ‘Chung nhật kiền kiền (càn càn)’.

Cửu tứ. ‘Hoặc dược tại uyên’.

Cửu ngũ. ‘Phi Long tại thiên’.

Quẻ Mông ở đây cũng vậy, và Vận ở đây là vận ‘Ôc’: ‘Cốc’ vận với ‘Độc’.

Nhưng có lẽ chuyện đáng nói hơn hết, không thể không nói, ở đây là:

Ở cuối ‘Lời Nói Đầu’ của Phần II. ông Nguyễn Hiến Lê đă viết:

 ‘Bản tôi tham khảo nhiều nhất là bản của cụ Phan Bội Châu’. (tr. 207).

Khi dùng 1 tài liệu như là 1 y cứ chính th́ trường hợp có dị biệt giữa tài liệu và ư kiến riêng của người sử dụng tài liệu người này phải giải thích rơ là tại sao có dị biệt đó. Đây là nguyên tắc mà bất cứ 1 người nghiên cứu tự trọng nào cũng phải biết và giữ.

Tôi coi lại Bản chú của cụ Phan th́ rơ ràng là cả 2 chữ Cáo trên đây trong Thoán từ Quẻ Mông cụ đều đọc là ‘Cốc’.

Nguyễn Hiến Lê đọc là ‘Cáo’ nhưng ông ta đă không giải thích tại sao ông ta lại đọc khác cụ Phan! Có lẽ ông ta nghĩ rằng cụ Phan đă ‘đọc sai’, nhưng rồi lại làm như vẻ.... khiêm tốn, để tránh nêu ra sự lầm lẫn của bậc tiền bối. Có thể là như vậy chăng? Nếu quả đúng là như vậy th́ có lẽ không c̣n chữ nào ngoài các chữ ‘dốt’ mà không tự biết lại c̣n vênh váo ngầm, để chỉ Nguyễn Hiến Lê.

Bây giờ hăy coi ‘học giả’ Nguyễn Hiến Lê dịch câu trên ra làm sao. Ông ta dịch như sau:

 ‘Hỏi (bói) một lần th́ bảo cho, hỏi hai ba lần th́ là nhàm, nhàm th́ không bảo...’.

Nguyễn Hiến Lê dịch chữ ‘Độc’ là ‘Nhàm’ th́ đúng là ‘Nhảm’ quá đi!

‘Độc’ có nghĩa là ‘khinh lờn’, ‘coi thường’.  Hỏi, người ta đă nói cho biết mà vẫn không tin, cứ hỏi tới hỏi lui, như vậy là khinh lờn, coi thường người ḿnh hỏi. 1 đứa con nít cũng biết nữa là!

+ Quẻ Tu (Khảm / Càn).

Nguyễn Hiến Lê ghi là Quẻ Nhu.

Sách ‘Thích Văn’ nói là đọc Âm ‘Tu’.

Hào Thượng Lục Quẻ Tu nói: ‘Nhập vu huyệt, hữu bất tốc chi khách tam nhân lai...’.

Nguyễn Hiến Lê dịch như sau:

‘Vào chỗ cực hiểm rồi, nhưng có ba người khách thùng thẳng sẽ tới...’.

Tới dây th́ càng thấy rơ hơn về kiến thức cũng như sở học của ‘học giả’ Nguyễn Hiến Lê.

Kiến thức.

Kiến thức về Dịch học của ông Nguyễn Hiến Lê quá tồi tệ cho nên mới dịch ‘bất tốc’ là ‘thủng thẳng’.

Cái ǵ chứ dịch từng chữ một (word for word) th́ ‘học giả’ Nguyễn Hiến Lê nhà ta giỏi hơn ai hết!

Bất = Không, Tốc = Nhanh. ‘Không nhanh’ th́, là ‘thủng thẳng’ chứ c̣n ǵ nữa!  Chắc hẳn là ‘học giả’ Nguyễn Hiến Lê rất đắc ư với tài dịch thuật của ḿnh.

Đáng tiếc cho Nguyễn Hiến Lê là những bộ chú giải Dịch của học giả cổ, kim c̣n chưa biến đi đàng nào cho nên mới ḷi ra cái dốt Hán văn cũng như cái sở học nông cạn về Dịch của Nguyễn Hiến Lê!

Và bây giờ chúng ta hăy coi học giả Trung Hoa cổ, kim giảng 2 chữ ‘bất tốc’ như thế nào.

2 chữ ‘bất tốc’ trong Hào Thượng Lục Quẻ Tu, học giả cổ, kim đều giải nghĩa là ‘không mời’.

Chữ ‘Tốc’ ở đây có nghĩa là ‘Triệu’, nghĩa là gọi tới, kêu tới, là ‘Mời’.

Và ‘Bất tốc chi khách tam nhân lai’ có nghĩa: ‘3 người khách không mời mà tới’.

Và để cho những kẻ bận áo thụng như Trần Văn Tích, Xuân Phúc khỏi dị nghị tôi xin dẫn ra đây một số học giả Trung Hoa, cũng như tác phẩm chú giải Dịch Kinh của họ, với phần giải nghĩa 2 chữ ‘bất tốc’ là ‘không mời’.

(1). Khổng Dĩnh Đạt (574 - 648). ‘Chu Dịch Chính Nghĩa’. Đường (618 - 907).

(2). Du Diệm (1258 - 1314). ‘Độc Dịch Cử Yếu’. Triệu Tống (960 - 1279).

(3). Ngô Trừng (1249 - 1333). ‘Dịch Toản Ngôn’. Nguyên ( 1279 - 1368).

(4). Lai Tri Đức (1525 - 1604). ‘Chu Dịch Tập Chú’. Minh (1368 - 1644).

(5). Huệ Đống (1697 - 1758). ‘Chu Dịch Thuật’. Thanh (1644 - 1911).

(6). Tôn Tinh Diễn ( 1753 - 1818 ). ‘Chu Dịch Tập Giải’. Thanh triều.

(7). Chu Tuấn Thanh (1788 - 1858). ‘Lục Thập Tứ Quái Kinh Giải’. Thanh triều.

(8). Thượng Bỉnh Ḥa (1870 - 1950). ‘Chu Dịch Thượng Thị Học’. Dân Quốc (1911 - 1949).

(9). Cao Hanh (1900 - 1986). ‘Chu Dịch Cổ Kinh Kim Chú’. Hiện đại.

Danh sách dĩ nhiên c̣n dài, tôi chỉ dẫn ra 1 số thôi để chứng minh rằng kiến, thức của NHLê về Dịch học rồi chẳng tới đâu, c̣n dốt nữa là khác! Tôi cũng xin nói luôn những tác phẩm trưng ra trên đây hiện nằm trên kệ sách của tôi, tất cả tôi đều thực sự đọc chứ không phải trưng ra để hù thiên hạ (như lối ‘học giả’ NHLê). Sở dĩ tôi phải nói như vậy là v́ NHLê đâu đó cũng đôi ba lần nêu ra 2 cuốn ‘Lục Thập Tứ Quái Kinh Giải’ và ‘Chu Dịch Cổ Kinh Kim Chú’ tôi đă nêu, vậy mà không hiểu tại sao ông ta lại dịch 2 Chữ ‘bất tốc’ là ‘thủng thẳng’! Lẽ nào NHLê chỉ đưa ra để loè thiên hạ, chứ thực sự không đọc nổi 2 bộ này, giả sử ông ta có 2 Bộ này trong tay đi! Vậy những ‘người thâm hiểu nho học’ rồi phải làm sao đây, thưa ông Xuân Phúc?

V́ lẽ NHLê nói phần dịch Kinh văn 64 Quẻ của ông ta ‘có thể nói là chỉ diễn lại phần giảng’ của cụ Phan Bội Châu (1867 - 1940), cho nên là tôi đă phải duyệt lại Bản Chú giải của cụ Phan, để coi cụ giảng 2 Chữ ‘bất tốc’ này của hào Thượng Lục của Quẻ Tu ra sao?

Và, cụ Phan đă viết rành rành thế này: ‘Bất tốc, nghĩa là chẳng mời’.

Ô hô! Cuối cùng rồi ‘học giả’ Nguyễn Hiến Lê rượt học giả cổ, kim chạy đến vắt gị lên cổ  để một ḿnh ‘học giả’ nhà ta cứ ‘thủng thẳng’ mà đi! Ô hô! Thực là đại bất hạnh cho học giới!

+ Quẻ Thái (Khôn / Càn).

Trong đoạn giảng về Thoán Từ Quẻ này, NHLê có đoạn viết:

 ‘Trong quẻ Thái này, Càn không nên hiểu là trời, v́ nếu hiểu như vậy th́ trời ở dưới đất, không c̣n trên dưới phân minh nữa, xấu....’. (tr. 266).

Ở đây, hiểu Càn là Trời th́ có ǵ không ổn, thưa ông Nguyễn Hiến Lê? Trời ở trên Đất ở dưới, điều này có ai mà không biết? Nếu cứ ‘phân minh’ như kiểu Nguyễn Hiến Lê th́ tôi xin hỏi ông  Quẻ Bỉ (Càn / Khôn) Trời trên, Đất dưới, phân minh như vậy tại sao lại xấu? Nguyễn Hiến Lê đă không hiểu 1 điều cực căn bản là ở Quẻ Thái, vị trí của Càn và Khôn thuần tính cách tượng trưng, hoặc nói khác đi, đây chỉ là h́nh ảnh tượng trưng để diễn đạt í tưởng mà thôi! Càn ở dưới ngụ ư đi xuống, Khôn ở trên ngụ ư đi lên, 2 bên gặp nhau; c̣n ở Bỉ Càn ở trên không đi xuống, Khôn ở dưới không đi lên, h́nh ảnh 2 bên không gặp nhau! Gặp nhau là ‘giao’, không gặp nhau là ‘bất giao’ - h́nh ảnh của 02 Quẻ Càn, Khôn ở đây chỉ nhằm diễn tả cái ư ‘giao’ và ‘bất giao’, chẳng liên quan ǵ tới vị trí thực tế của Trời và Đất mà cần phải có 1 sự ‘trên dưới phân minh’ như suy nghĩ nông cạn của Nguyễn Hiến Lê.

Đây là nguyên tắc, hoặc dùng Thuật ngữ Dịch, gọi là ‘Lệ’, biểu thị ư tưởng của Dịch Kinh.

1 ‘Lệ’ căn bản như vậy mà Nguyễn Hiến Lê cũng bất thông th́ làm sao luận Dịch đây? Kinh văn Dịch đầy h́nh ảnh tượng trưng, Nguyễn Hiến Lê rồi làm sao nắm được những ǵ ở ‘tại ngôn ngoại’ đây?

+ Quẻ Đại Tráng (Chấn / Càn).

Hào Cửu Tam: ‘... Đê dương xúc phiên, luy kỳ giốc’.

Nguyễn Hiến Lê dịch:

 ‘... con cừu đực húc vào cái dậu, bị thương cái sừng’.

1/. ‘Đê dương’ là con ‘Dê đực’, không phải con ‘Cừu đực’.

Có điều đáng ngạc nhiên là ở Hào Thượng Lục sau đó 3 Hào, cũng chữ 2 ‘đê dương’ này, Nguyễn Hiến Lê rồi dịch đúng là con ‘dê đực’. Sao lại buồn cười đến thế nhỉ?

2/. ‘Luy’ ở đây có nghĩa là ‘vướng mắc, mắc kẹt’, không phải ‘bị thương’ như Nguyễn Hiến Lê đă dịch.

Và như vậy, dịch đúng, câu trên sẽ là:

 ‘... Con dê đực húc vào hàng rào, sừng nó rồi kẹt giữa hàng rào’.

+ Quẻ Khuê (Ly / Đoài).

 ‘Thượng Cửu:  Khuê cô, kiến thỉ phụ đồ, tái quỉ nhất xa, tiên trương chi hồ, hậu thoát chi hồ. Phỉ khấu, hôn cấu. Văng ngộ vũ tắc cát’.

Nguyễn Hiến Lê dịch:

 ‘Ở thời chia ĺa mà cô độc (sinh nghi kị), thấy con heo đội đầy bùn, thấy chở quỉ đầy một xe. Mới đầu giương cung để bắn, sau buông cung xuống, xin lỗi rằng ḿnh không muốn làm hại hào 3 mà muốn cầu hôn. (Hai bên ḥa hợp, vui vẻ) như sau khi nắng lên, gặp cơn mưa, tốt lành ǵ hơn’.

Nguyễn Hiến Lê vốn không hiểu hết hào Thượng Cửu Quẻ Khuê, cho nên là trong phần chuyển dịch rồi có những chỗ thêm thắt ba láp, chưa kể là có vài ba chỗ không đúng tinh thần Việt ngữ - chẳng hạn như ‘heo đội đầy bùn’ là ‘đội’ ra làm sao? Tiếng Việt không ai nói 1 con heo ḿnh bê bết những bùn śnh là ‘đội đầy bùn’ hết, họa chăng chỉ có Nguyễn Hiến Lê! Có thể thấy là Nguyễn Hiến Lê đă sợ rằng người ta nghĩ ông ta bất thông Hán văn, 1 tŕnh độ Hán văn vốn đă không mấy khá, v́ thế ông ta đă chọn lối dịch từng chữ một. Cũng bởi vậy mà câu văn của Nguyễn Hiến Lê đôi lúc rồi hóa ngây ngô và hơn nữa c̣n làm sai lệch ư của Nguyên văn, và thí dụ ở đây là Câu ‘tái quỉ nhất xa’ mà Nguyễn Hiến Lê đă dịch là ‘chở quỉ đầy một xe’. Nói ‘chở quỉ’, vậy xin hỏi Nguyễn Hiến Lê là ai chở ai ở đây? Thực ra th́, chẳng có ai chở ai hết, là cái xe chở đầy quỉ, là cái xe có đầy quỉ đó thôi!

Từ câu ‘xin lỗi rằng ḿnh....’ cho tới hết th́ vừa dịch bậy, vừa thêm thắt ba láp.

(Có thể kể thêm 1 vài cái ngây ngô, ngớ ngẩn của Nguyễn Hiến Lê qua lối dịch từng chữ một, như:

Quẻ Tiểu Súc ông ta dịch là ‘ngăn cản nhỏ (hoặc chứa nhỏ)’, 2 quẻ Đại Hữu và Đại Súc, dịch là ‘Có lớn’ và ‘Chứa lớn’. Việt ngữ, nói ‘Có’ th́ người ta nói ‘Có nhiều’, ‘Có ít’. Cũng vậy, nếu nói ‘Chứa’ th́ nói ‘Chứa nhiều’ hay ‘Chứa ít’, không ai nói cách ngây ngô như Nguyễn Hiến Lê hết!)

Tôi dịch lại Hào Thượng Cửu Quẻ Khuê như sau:

 ‘Cách biệt (với chung quanh), ở trơ trọi một ḿnh (v́ vậy mà) thấy (bầy) heo bê bết những bùn thấy 1 xe đầy nhóc những quỉ, lúc đầu th́ dương cung lên, sau đó lại bỏ cung xuống  v́ (rồi ra) chẳng phải là giặc cướp, là xuôi gia đó thôi. Đi tới trước, (hễ) gặp mưa th́ tốt’.

Bút pháp Hào này hư hư, thực thực, là hư nhưng cũng là thực, càng nghiền càng thấy í vị....

Tâm ăm ắp những nghi kị th́ nh́n đâu cũng thấy dơ bẩn (heo bê bết bùn śnh), Tư lan man... th́ tưởng quỉ thấy quỉ, tưởng thần thấy thần (1 xe đầy nhóc những quỉ).

Câu cuối, ‘Gặp mưa th́ tốt’, ‘mưa xuống’ th́ bao nhiêu ‘bùn śnh’ trên ḿnh heo rồi trôi hết, và bao nhiêu bóng quỉ trên xe rồi cũng tan biến (bao nhiêu nghi kị, ảo tưởng rồi rũ sạch) - ư vị là ở chỗ đó, Nguyễn Hiến Lê chưa hiểu tới độ này, chưa tiến nhập cảnh giới giữa hư và thực của Hào này.

Khi nói về Thoán từ Quẻ Khuê, Nguyễn Hiến Lê viết: ‘Quẻ này xấu nhất trong Kinh Dịch’. Nhưng, đến lúc kết luận về Quẻ này, Nguyễn Hiến Lê lại nói ‘Quẻ Khuê là quẻ xấu nhất trong Kinh Dịch nhưng kết quả lại không có ǵ xấu...’. Xấu nhất nhưng kết quả lại không xấu, thiệt là khó hiểu?

Những sai lầm của Nguyễn Hiến Lê th́ cứ trải dài dài trong suốt cuốn sách của ông, và rồi những Sai lầm loại tôi đă trưng dẫn tới đây không phải là ít, kể ra nữa cũng mệt, tôi tạm đặt 1 dấu chấm ở đây v́ chừng đó cũng đă đủ để rơ tŕnh độ của Nguyễn Hiến Lê về Hán học, về sự hiểu biết về Kinh Dịch.

Giang Phiên (1761 - 1830), Kinh học gia nổi tiếng Thanh triều (1644 - 1911), có 1 tác phẩm tựa đề ‘Kinh Giải Nhập Môn’, trong đó ông dẫn tất cả 51 điều mà 1 người phải biết khi giảng, luận Kinh Điển. Nói phải biết v́ đây là những điều ‘Nhập Môn’, như tựa sách đă nói rơ.

Mỗi điều là 1 tiêu đề của 1 Chương, và ở đây tôi dẫn 3 Chương.

Chương 22. ‘Thuyết Kinh tất tiên thức Văn tự’.

Chương 23. ‘Thuyết Kinh tất tiên thông Huấn Cổ’.

Chương 25. ‘Thuyết Kinh tất tiên tri Âm Vận’.

Tác phẩm gồm VIII Quyển, 3 Chương trên đây thuộc Quyển IV.

Ở Chương 22, ‘Giảng Kinh trước hết phải hiểu biết về Văn tự’, Giang Phiên có đoạn viết:

 ‘Tự hữu H́nh, h́nh bất nhất:  Nhất Cổ Văn, nhị Trứu Văn, tam Tiểu Triện, tứ Bát Phân, ngũ Lệ Thư, lục Khải Thư, tương nhân đệ biến.

Tự hữu Thanh, thanh bất nhất: - Hữu Tam đại chi âm, hữu Hán, Ngụy chi âm, hữu Lục triều chí Đường âm.

Tự hữu Nghĩa, nghĩa bất nhất: - Hữu Bản nghĩa, hữu Dẫn thân nghĩa, hữu Thông tá nghĩa.

H́nh, Thanh bất thẩm, huấn cổ bất minh khởi tri Kinh Truyện sở ngôn giả hà vật, sở thuyết giả hà sự gia?!’.

 ‘Chữ th́ có H́nh, và h́nh th́ bất nhất: - Một là Cổ văn, hai là Trứu văn, ba là Tiểu triện, bốn là Bát Phân, năm là Lệ thư  sáu là Khải thư.

Chữ th́ có Thanh, và thanh th́ bất nhất: - Có âm đọc của thời Tam đại, có âm đọc của các thời Hán, Ngụy, có âm đọc của thời Lục triều cho tới thời Đường.

Chữ th́ có Nghĩa, và nghĩa th́ bất nhất: - Có nghĩa gốc, có nghĩa suy rộng (từ nghĩa gốc) và có nghĩa vay mượn.

(Tự) H́nh, (Tự) Thanh không hiểu, huấn cổ lại không rơ th́ lẽ nào mà hiểu được Kinh, Truyện nói cái ǵ, giảng việc ǵ đây?!’.

Ở Chương 23, ‘Giảng Kinh trước hết phải thông Huấn Cổ’, Giang Phiên có đoạn viết:

 ‘Cứ Nhĩ Nhă phân Thiên chi nghĩa, Cổ thông cổ kim dị ngôn  Huấn tắc giai ngôn h́nh mạo, nhi thuyết Kinh chi đạo bất ngoại thử nhị Tự. Thông cổ ngôn, thông cổ âm, nhi cổ nghĩa vô bất thông hĩ! Tri h́nh Huấn, tri thanh Huấn nhi cổ huấn vô bất minh hĩ!’.

 ‘Cứ như ư nghĩa việc phân Thiên của Sách Nhĩ Nhă th́, Cổ giải thích sự dị biệt giữa ngữ ngôn xưa và nay  Huấn th́ nói về h́nh tướng (của Sự vật) - và nguyên lí giảng Kinh rồi không ngoài 2 Chữ này! Thông hiểu ngữ ngôn cổ, thông hiểu âm đọc cổ th́ nghĩa cổ có nghĩa nào mà không thông suốt! Biết h́nh tướng, biết thanh âm (của Sự vật) th́, Điển tịch cổ không Điển tịch nào mà không hiểu!’.

Và ở Chương 25, ‘Giảng Kinh trước hết phải hiểu Âm Vận’, Giang Phiên có đoạn viết:

 ‘Tự hữu cổ âm tức hữu cổ vận, dĩ kim âm kim vận thằng chi tắc hạn cách bất hợp, do hữu ngữ Bắc âm dĩ Nam âm thằng chi, hạn cách do cố dă! Nhân tri Nam Bắc chi âm hệ ư Địa, bất tri cổ kim chi Âm hệ hồ Thời’.

 ‘Chữ có âm cổ tất nhiên có vận cổ, nếu lấy nguyên tắc của âm ngày nay, vận ngày nay mà đọc th́ không hợp cách, cũng như về ngữ ngôn, theo cách phát âm ở miền Nam mà đọc âm miền Bắc th́ không hợp cách là điều cố nhiên. Người ta (vẫn) biết là âm Nam, âm Bắc tùy thuộc địa lí, mà không biết là âm cổ, âm kim th́ tùy Thời mà khác’.

Trên đây là những điều ‘Nhập Môn’, Nguyễn Hiến Lê c̣n chưa thông th́ làm sao mà giải Kinh đây?!

C̣n ‘chưa qua khỏi cổng’ th́ Nguyễn Hiến Lê làm cách nào mà dẫn người khác ‘vào trong sân đây’?!

Trên đây là nói về chuyên môn, và chuyên môn th́ mọi người đă thấy hết sức là rơ Nguyễn Hiến Lê rồi vốn đứng lấp ló ngoài ngơ, chơ miệng nói vào những điều mà ḿnh thấy không rơ, nghe không rơ! Chẳng những vậy mà cho tới những chuyện thông thường ông vẫn để lộ sơ hở, kể như sau:

(1). Về 1 số thư tịch Nguyễn Hiến Lê trưng dẫn.

+ Trước hết là cuốn ‘Dịch Học Tân Luận’ của Nghiêm Linh Phong.

Ở trang 34, Nguyễn Hiến Lê ghi: ‘Dịch Học Tân Luận (Chính trung thư cục ấn hành  Đài bắc 1971)’.

Rồi ở trang 62, ông lại đề: ‘Dịch Học Tân Luận (Chính trung Thư cục  Hương cảng, 1971)’.

Và ở trang 85 th́ ghi: ‘Dịch Học Tân Luận... (do nhà Chính Trung Thư Cục ấn hành, 1973)’.

Rồi ở các trang 63 và 66 ông lại ghi: ‘Dịch Kinh Tân Luận’.

Minh Di án:

Về nhà xuất bản, nơi xuất bản người ta thấy Nguyễn Hiến Lê ghi bất nhất. Về nhà xuất bản th́ đúng nhưng nơi xuất bản đúng phải là Đài Bắc v́ nhà Xuất Bản ‘Chính Trung Thư Cục’ từ hồi nào chưa hề đặt tại Hương Cảng. Hương Cảng chỉ là 1 trong số những ‘Tổng Đại Lư Nước ngoài’ (Hải ngoại Tổng kinh tiêu’) của Đài Bắc, và địa điểm là ‘Tập Thành Đồ Thư Công Ti’.

Về năm xuất bản th́ tôi không rơ nhà xuất bản Chính Trung có tái bản tác phẩm kể trên vào các năm 1971 và 1973 như Nguyễn Hiến Lê đă ghi hay không, v́ lẽ, cung cách làm việc của Nguyễn Hiến Lê ở đây rất là đáng ngờ. Bản ‘Dịch Học Tân Luận’ tôi hiện có là bản in năm Dân Quốc 58 (tức 1969) và đây là Bản in lần đầu tiên (Sơ bản) của nhà xuất bản Chính Trung.

+ Kế đến là cuốn ‘Dịch Học Khải Mông’ của Chu Hi (1130 - 1200).

Nguyễn Hiến Lê đă ghi sai là ‘Dịch Số Khải Mông’ (tr. 83).

Sau cùng ở trang 90, Nguyễn Hiến Lê viết:

 ‘Đặc biệt nhất là cuốn The Symbols of Yi King của Z. D. Sung  Paragon ( Paragon có phải là tên nhà xuất bản không? Ở đâu? In năm nào, không biết, chỉ biết bài đề tựa của tác giả viết năm 1934 )’.

Nguyễn Hiến Lê thắc mắc như trên đây cũng phải thôi! Có điều là đă thắc mắc th́ thắc mắc cho trót  c̣n chuyện nữa sao ông không thắc mắc? Đó là cái ông Z. D. Sung trên đây là ông nào?

Nghiên cứu về Trung Hoa, gặp tên 1 người ghi theo lối phiên âm La tinh th́ đây là chuyện rất là ‘khó chịu’, chỉ những người nghiên cứu Trung Hoa bất thông Hán văn mới bằng ḷng với những cái tên ‘không giống ai’ đó, c̣n đă biết đôi chút Hán văn th́ người nào cũng cố truy tầm cho ra mới thôi, nhất là những nhân vật có tiếng  v́ rằng, bất cứ tên 1 Trung Hoa nào cũng đều có thể đọc ra âm Hán Việt qua lối Thiết âm. Có điều, cũng phải nhận rằng muốn đọc 1 tên Trung Hoa phiên âm La Tinh ra Hán tự, để từ đó chuyển qua âm Hán Việt, là chuyện hết sức nhức đầu, đến cả người Hoa cũng đành chịu! Lí do là ngôn ngữ Trung Hoa có rất nhiều tiếng đồng âm! Nếu là 1 nhân vật tiếng tăm trong 1 lănh vực nào đó th́ c̣n có thể đoán ra, ngoài ra th́ đành.

Việc dùng mẫu tự La Tinh phiên âm Hoa ngữ của các giáo sĩ Truyền giáo Tây phương trước đây đă thất bại cũng bởi lẽ đó! Trong khi đó, may mắn hơn, chúng ta có được chữ Quốc ngữ, v́ rằng ngôn ngữ Việt rất ít tiếng đồng âm.

Trở lại với cái Tên Z. D. Sung. Nhân vật này không ai khác hơn là Thẩm Trọng Đào đă đề cập ở đoạn nói về ‘Lưỡng Phái Lục Tông’ trước đây.

+ Gần cuối Chương III. là Chương lược thuật về ‘Các Phái Dịch Học Từ Hán Tới Nay’, trong đề mục ‘Hiện nay’, đề cập t́nh h́nh thư tịch về Dịch, Nguyễn Hiến Lê viết:

 ‘Trong mấy chục năm gần đây, các nhà xuất bản ở Hương cảng và Đài bắc vẫn thường in sách viết về Dịch, nhưng chúng tôi không thể theo dơi được, mới thấy được ba cuốn đáng chú ư...’.

3 cuốn Nguyễn Hiến Lê ở đây là ‘Chu Dịch Tân Giải’ của Tào Thăng, ‘Chu Dịch Cổ Kinh Kim Chú’ của Cao Hanh, và ‘Dịch Học Tân Luận’ của Nghiêm Linh Phong. (Coi trang 85).

Nguyễn Hiến Lê lại ḷe bịp nữa rồi! Tại sao tôi lại nói Nguyễn Hiến Lê ḷe bịp?

‘Học giả’ Nguyễn Hiến Lê đă nghĩ rằng thiên hạ không ai đọc được Hán văn chắc? Để theo dơi t́nh h́nh thư tịch về Dịch ông ta phải ‘theo dơi’ ở tận Hương Cảng và Đài Bắc. Người không biết cứ nghe ông ta nói mà phát rét! Nguyễn Hiến Lê muốn nói chuyện sách vở? Tôi xin nói chơi với Nguyễn Hiến Lê về sách vở!

Đi từ trung tâm Sàig̣n, theo đường Trần Hưng Đạo đi vô miệt Chợ Lớn, vừa đi qua khỏi ngă ba Đồng Khánh/Tản Đà vài chục thước, ở dăy Phố bên trái là 2 tiệm sách Quảng Ích và Chin Hoa cách nhau chỉ 5, hoặc 6 căn phố. Từ Quảng Ích đi lui lại, quẹo phải vào đường Tản Đà, chưa tới trăm thước, ở dăy phố bên mặt là nhà sách có cùng tên, tiệm ‘Tản Đà’; rồi từ Tản Đà đi tới mấy chục thước, đến ngă tư đầu tiên th́ quẹo phải, đi vài chục thước, cũng ở dăy phố bên mặt, là đến tiệm sách Liên Hưng. Con đường này tôi không c̣n nhớ tên, chỉ nhớ là ở phía bên kia ngă tư có 1 tiệm bán hủ tiếu Sa tế rất ngon, và chỉ bán buổi chiều mà thôi, đây là chưa kể tiệm Hậu Thái ở đối diện xeo xéo 2 tiệm Quảng Ích và Chin Hoa, có điều là tiệm này chỉ bán sách giáo khoa cho học sinh trường Tàu mà thôi! (Đường Đồng Khánh là đường Trần Hưng Đạo nối dài).

Kinh điển Trung Hoa, nói chung là văn học cổ điển, xuất bản tại Đài Loan và Hương Cảng, đều có thể t́m thấy dễ dàng ở 4 tiệm sách trên đây, kể cả những sách mới ra.

Chưa hết, ở mặt sau Đại học Y khoa, trên đường Nguyễn Trăi, hướng vào Chợ Lớn gần ngă tư Nguyễn Trăi / Triệu Quang Phục, ở dăy phố bên phải là tiệm sách Tập Văn; và từ tiệm Tập Văn đi tới mười mấy thước, tại góc ngă tư, ngay trên vỉa hè đường Triệu Quang Phục, là 1 Tiệm Sách không bảng hiệu! Nói là tiệm sách chứ thực ra người bán sách 1 người Hoa què 1 tay, rồi căng 1 tấm bạt làm mái, kê 3 cái kệ - 2 cái cao, 1 cái thấp, bày bán 1 vài quyển sách. Tuy vậy, đôi lúc cũng có thể t́m thấy tại đây 1 vài bộ sách giá trị! Tôi nhắc đến tiệm sách nhỏ này v́ bộ từ điển Hán văn đầu tiên trong đời, Bộ ‘Vương Vân Ngũ Đại Từ Điển’ tôi đă mua tại đây; và sau đó là các Bộ ‘Thủy Kinh Chú’ của Lịch Đạo Nguyên (469 - 527) triều Bắc Ngụy (386 - 534) và kể cả bộ ‘Trung Quốc Thông Sử’ trứ danh của sử học gia Lữ Tư Miễn (1884 - 1957) và như 1 bộ nữa là ‘Sáp Đồ Bản Trung Quốc Văn Học Sử’ của Trịnh Chấn Đạc (1898 - 1958) đều mua tại đây.

Và, xeo xéo đối diện tiệm sách vỉa hè này, ước 100 thước về mé phải là tiệm sách Thế Giới.

[Ông chủ tiệm sách ‘Tập Văn’ hiện định cư tại Úc. Nghe một người Hoa tôi quen nói có dạo ông mở nhà hàng ở Sydney, sau rồi chẳng rơ ra sao? Cuộc đời ông cũng gọi là khá bềnh bồng! Năm 1970, ông từ Cam Bốt, tránh nạn cáp duồn, về Việt Nam ở Cà Mau làm ăn cũng khá, nhưng sau th́ lỗ lă. Năm 1972, ông lên Chợ Lớn, mở tiệm sách Tập Văn. Năm 1974 th́ ‘sanh ư’ phải nói là rất ‘hưng long’. Rồi đùng 1 cái 1 năm sau đó! Và chuyện rủi là trước đó vào đầu năm 1975 ông đă nhập từ Đài Loan cả 1 kho sách để sau tiệm. Rồi sau vài năm nghe nói ông đă phải đem bán kí lô cả kho sách đó để vượt biên!  Tôi và bạn Huyền Thanh Lữ là ‘cố khách’ thường xuyên của tiệm Tập Văn, chúng tôi và ông Tập Văn cũng gọi là khá thân, có những cuốn b́a sách hoặc găy hoặc xếp nếp, hoặc dơ bẩn, ông dẫn chúng tôi ra sau kho để tha hồ mà chọn cuốn nào ưng ư ].

Người Hoa đi đến đâu là mở hàng quán tới đó, nhưng rồi cũng ‘không quên’ mang theo Sách vở của họ! Muốn theo dơi t́nh h́nh sách vở Hán văn, ông Nguyễn Hiến Lê cần chi phải ‘nhóng cổ’ ḍm tận ở Đài Loan, Hương Cảng, người thực sự đọc sách rồi chẳng chết khiếp v́ tiếng hù của ông đâu!

Sau 30. 4. 75, các tiệm sách ở Chợ Lớn rất eo sèo, 1 số tiệm đă phải đóng cửa, sách phải qua sự kiểm duyệt rất gắt gao trước khi được bày bán. Khoảng năm 1977 có một chuyện rất thú vị là về đêm trên vỉa hè 2 đường Nguyễn Trăi và Kỳ Ḥa (song song với đường Nguyễn Trăi), sách vở đă được đem ra bày bán bên cạnh những ánh đèn dầu, hoặc sang hơn, th́ măng-xông. Có thể nói là những sách bày bán về đêm này phần lớn bắt nguồn, hoặc từ các tủ sách tư nhân hoặc 1 gia tộc nào đó. Người ta có thể kiếm được tại 2 nơi này những Sách quí, hiếm  và cũng cần nói thêm là các loại sách gọi là ‘Loạn Thế Chi Thư’, như Dịch, Lăo Tử, Trang Tử, Y Dược... th́ khá nhiều!

Tôi phải hơi dài gịng 1 chút để cho thấy Nguyễn Hiến Lê ‘nổ’ mà chẳng sợ banh xác,ngay tại Việt Nam sách Hán văn rồi đâu có hiếm, Nguyễn Hiến Lê hoặc là bịp, hoặc là chẳng biết ǵ hết!

Đừng nói chi những sách giá trị, đă in đẹp, lại vừa túi tiền  chẳng hạn bộ Dược học trứ danh là ‘Bản Thảo Cương Mục’ của Lư Thời Trân (1518 - 1593), xuất bản tại Hương Cảng, và giá năm 1970 là 400 đồng, th́ với lương của 1 giáo sư trung học đệ nhị cấp mới ra trường (chỉ số 470) vào thời đó, (trên 20 ngàn / tháng), đại khái c̣n có thể vói tới được mà ngay đến những bộ mà túi tiền giáo giới thời ấy rồi quá nhỏ để có thể rớ tới, rờ th́ được, cũng được nhập Việt Nam.

Năm 1970, tiệm Tản Đà có bày bán Bộ ‘Cổ Kim Đồ Thư Tập Thành’, tất cả 101 Cuốn, Khổ lớn in tại Đài Loan, giá trên 100,000 đồng. Bộ này bày trong tủ kiếng, ở bên trái, ngay cửa ra vào.

Lúc bấy giờ dĩ nhiên tôi cũng chỉ có rờ thôi. Đây là chưa kể một Bộ khác tuy rẻ hơn, nhưng cũng vài chục ngàn, đó là bộ ‘Trung Văn Đại Từ Điển’, cũng xuất bản tại Đài Loan.

(2). Nguyễn Hiến Lê lên mặt dạy các bạn trẻ.

Đă dẫn ở phần mở đầu Bài viết này, bây giờ tôi xin dẫn lại 1 lần nữa.

Trong ‘Lời Nói Đầu’ cho cuốn ‘Kinh Dịch, Đạo Của Người Quân Tử’, ông Nguyễn Hiến Lê có câu:

 ‘Muốn hiểu thêm Kinh Dịch, bạn nên t́m đọc những sách tôi đă giới thiệu trong cuốn này’.

Những sách Nguyễn Hiến Lê giới thiệu ở đây là những sách đă được nêu rải rác trong Cuốn sách nêu trên của ông, kể 1 vài cuốn quan trọng như:

-‘Lục Thập Tứ Quái Kinh Giải’ của Chu Tuấn Thanh (1788 - 1858), ‘Dịch học Tân Luận’ của Nghiêm Linh Phong và ‘Chu Dịch Cổ Kinh Kim Chú’ của Cao Hanh (1900 - 1986)  cũng như 1 số Bản chuyển ngữ tiếng Anh nổi tiếng như ‘I CHING or Book of Changes’ (nguyên Bản dịch Đức ngữ của Richard Wilhelm (1873 - 1930), Cary F. Baynes dịch từ Đức ngữ qua Anh ngữ), và cuốn ‘The I Ching’ của James Legge (1815 - 1897).

Nguyễn Hiến Lê nói mà không ḍm trước ḍm sau cho kĩ! Nếu các bạn trẻ mà đọc được 3 cuốn Kinh Dịch Hán văn nói trên th́ tôi bảo đảm họ dạy lại được cả ông, có đâu tới ông mở miệng khoác lác mà không biết mắc cở như vậy! Đây là 3 sách viết cho người có tŕnh độ khá cao  tôi không nghĩ là tŕnh độ Hán văn cỡ ‘năm gian nhà cỏ’ như Nguyễn Hiến Lê lại có thể đọc nổi  và chứng cứ là Nguyễn Hiến Lê đă dịch sai một đoạn Chu Tuấn Thanh giải về Hào Sơ Cửu quẻ Càn mà tôi đă dẫn chứng trước đây. Và nếu đă có thể đọc được những tác phẩm loại trên th́ cũng không cần đọc 2 bản dịch Anh ngữ trên đây, v́ Sách Kinh Dịch Hán văn đă xuất bản rồi có tới số ngàn, kiếm ra sách đă đủ mệt. Và cũng cần nói thêm ở đây là khi chuyển ngữ Dịch Kinh qua Anh ngữ và Đức ngữ, James Legge và Richard Wilhelm chủ yếu đă căn cứ bộ ‘Chu Dịch Chiết Trung’ của Lí Quang Địa.

Nghiên cứu Hán học mà phải viện dẫn tài liệu Anh, Pháp như Nguyễn Hiến Lê, chẳng cần nói cũng đủ rơ tŕnh độ Hán văn của ‘học giả’ Nguyễn Hiến Lê tới đâu rồi!

&

Cuối sách, Nguyễn Hiến Lê có mấy gịng gọi là ‘Nh́n Lại Quăng Đường Đă Qua’.

Trong mấy gịng này Nguyễn Hiến Lê có đoạn cho biết là lúc ông ta c̣n nhỏ, cứ ‘mỗi vụ hè’ bà mẹ ông ta cho ông học thêm chữ Hán với Bác Hai ông ta để ‘đọc được gia phả bên nội, bên ngoại’.

Bấy giờ ông cũng như Bác ông rồi ‘chỉ coi sự học đó là môt việc để tiêu khiển’. Nhưng rồi  vẫn theo ông, th́ ‘không thể ngờ được hoàn cảnh và thời cuộc khiến cho tôi, vài chục năm sau, thành một người nghiên cứu về cổ học Trung hoa’. (tr. 584).

Nguyễn Hiến Lê ba hoa chích choè, tự khoe là ‘một người nghiên cứu về cổ học Trung hoa’.

Là ‘một người nghiên cứu về cổ học Trung hoa’ mà âm đọc cổ trong Kinh Dịch có nhiều chữ rồi nhà ‘nghiên cứu cổ học’ đọc chẳng thông; ngay 2 chữ ‘Bất tốc’ trong Hào Thượng Cửu Quẻ Tu cũng ù ù cạc cạc để rồi dịch lếu dịch láo là ‘thủng thẳng’. Một đoạn văn ngắn chỉ mấy chục chữ mà c̣n lem nhem, lập là lập lờ dịch cho qua truông. Dẫn sách tham khảo, cùng 1 Cuốn sách mà lúc ghi thế này, lúc ghi thế kia...

Tŕnh độ Hán văn th́ như vậy, cung cách làm việc th́ như vậy, mà dám vỗ ngực, ba hoa xưng là người ‘nghiên cứu cổ học’ sao? Tôi thấy Nguyễn Hiến Lê quả là khoác lác, thiếu tự trọng!

Rồi ở 1 đoạn dưới Nguyễn Hiến Lê viết:

 ‘Từ 1971, tôi muốn nghiên cứu riêng về thời Tiên Tần, thời rực rỡ nhất trong lịch sử triết học Trung hoa....

Đă có sẵn một số tài liệu bằng tiếng Anh, tiếng Pháp, tôi nhờ một cô bạn trẻ, cô Thiên Mai, sinh viên du học ở Đài Bắc kiếm thêm cho tôi tất cả những sách bằng tiếng Trung Hoa xuất bản ở Đài loan, Hương Cảng....’. (tr. 587).

Lại khoe, lại loè thiên hạ rằng ta đây giỏi Hán văn lắm đấy, ta chỉ ‘theo dơi’ t́nh h́nh sách vở ở Đài Loan, Hương Cảng, lúc nào ta cũng chỉ mua sách ở Đài Loan, Hương Cảng, số sách tại các tiệm ở Chợ Lớn đâu đáng để 1 ‘học giả’ như ta đọc, mua sách ở Chợ Lớn th́ xoàng lắm, như thế c̣n ǵ là danh giá!

Cuối cùng rồi, cùng 1 bộ Kinh Dịch bộ ở Đài Loan, Hương Cảng có giá trị hơn ở Chợ Lớn!

Và ở gần đoạn cuối, nhà ‘nghiên cứu cổ học Trung hoa’ của chúng ta viết:

 ‘Nh́n lại đoạn đường đă qua trong hai mươi bảy năm nay, từ năm 1953, tôi thấy mới đầu tôi chỉ tính viết hai cuốn rồi ngưng v́ tự biết Hán học không phải là sở trường của ḿnh; nhưng nhờ gặp bạn, nhờ được độc giả khuyến khích, tôi đă mỗi năm tiến thêm ít bước, rốt cục đă viết được 19 nhan đề về Cổ Học (không kể một cuốn dịch của Lâm Ngữ Đường), trong đó có sáu nhan đề về Văn học đều đă xuất bản, c̣n tám nhan đề chỉ là bản thảo. Có những nhan đề chỉ gồm trên trăm trang, nhưng cũng có nhan đề gồm nhiều tập, dày bảy tám trăm trang, trên ngàn rưỡi trang; trung b́nh là ba bốn trăm trang.

Như vậy chỉ nhờ mỗi một câu của Mẹ tôi: ‘Con nhà nho không lẽ không đọc được gia phả bên nội bên ngoại’.’. (tr. 588).

Nguyễn Hiến Lê nói ‘nhờ gặp bạn, nhờ được độc giả khuyến khích’.

Tôi không rơ những người bạn Nguyễn Hiến Lê gặp là những người nào, nhưng qua tŕnh độ Hán học của ông thể hiện (một cách kinh hoàng) qua cuốn ‘Kinh Dịch, Đạo Của Người Quân Tử’ th́ tôi suy đoán rằng những người bạn đó phải là những người như 2 ông Xuân Phúc và Trần Văn Tích.

Với Trần Văn Tích, ông là 1 ‘tư tưởng gia siêu việt’, không ‘siêu việt’ sao được khi sách của ông đáng được đưa đi dự giải Nobel về tư tưởng, theo như cảm thán của Trần Văn Tích!

C̣n đối với Xuân Phúc th́ ông là 1 người ‘siêu thâm hiểu nho học’  v́ rằng cuốn sách của ông ‘rất có ích... cho tất cả các độc giả, dù người thâm hiểu nho học’, và rồi như vậy Nguyễn Hiến Lê không là người ‘siêu thâm hiểu nho học’ th́ là cái ǵ đây?

Và, 2 ông bạn, và bạn quư nữa, Xuân Phúc và Trần Văn Tích cứ thế mà nhồi... Nguyễn Hiến Lê, tung bổng nhà ‘nghiên cứu Cổ Học Trung Hoa’ lên khoảng ‘trời thu xanh ngắt’. Có điều, chừng ông Nguyễn Hiến Lê rớt xuống th́...... chẳng ai hứng, hỡi ơi! Nguyễn Hiến Lê rồi chết v́ cú nhồi v́ sự tung bổng này của những người bạn quư! Những tưởng ‘trời thu xanh ngắt’, hóa ra chỉ là ‘năm gian nhà cỏ’!

C̣n về ‘độc giả’ th́ tôi không dám ‘vơ hết nắm đũa’, nhưng với tŕnh độ ‘năm gian nhà cỏ’ của Nguyễn Hiến Lê th́ tôi lại suy đoán rằng hạng ‘độc giả khuyến khích’ nhà ‘nghiên cứu cổ học’ ở đây cũng không ai khác hơn 2 ông Xuân Phúc và Trần Văn Tích.

Và, cứ như vậy, cứ như cái học, vấn của Nguyễn Hiến Lê th́ ‘19 nhan đề về Cổ Học Trung Hoa’ của ông ta rồi có 1 mẫu số chung, là sai lầm và ở những điều sơ đẳng, tôi có thể khẳng định như vậy mà không sợ sai lầm, v́ rằng nền móng đă không chắc, phập phà phập phều, nhà nào lại đứng vững cho được? Lư tất nhiên là vậy! Cuốn sách này của Nguyễn Hiến Lê là 1 chứng cớ hiển nhiên!

Sau cùng, câu ‘Con nhà nho không lẽ không đọc được gia phả bên nội, bên ngoại’ thoáng qua tưởng như khiêm tốn lắm, nhưng thực ra th́ nó biểu lộ 1 sự kiêu ngạo ngầm của Nguyễn Hiến Lê, một sự kiêu ngạo của 1 kẻ dối ḿnh, dối người. Tŕnh độ đă không tới đâu lại không tự biết c̣n tưởng là ḿnh giỏi lắm  đây là dối ḿnh; truyền bá những hiểu biết sai lầm của ḿnh ra, lại lên mặt dạy người th́ đây là dối người. Nguyễn Hiến Lê tưởng ḿnh giỏi Hán học lắm? Thực không biết mắc cở!

Văn Tự th́ ‘bất thức’, Huấn Cổ th́ ‘bất thông’, Âm Vận lại ‘bất tri’......... mà Nguyễn Hiến Lê cứ tưởng là ḿnh đă giỏi lắm rồi, vênh váo tự nhận là ‘người nghiên cứu Cổ Học Trung hoa’. Hỡi ơi!!

Kinh điển Trung Hoa, nói chung là Cổ Học Trung Hoa, rất khó đọc, và trong các Kinh, khó hơn bất cứ Kinh nào hết là Dịch Kinh. Cũng v́ vậy mà Thư mục học Trung Quốc cổ, và kim, vẫn xếp Kinh Dịch đứng đầu các Kinh. Thư mục học Trung Hoa đă phân thư tịch thành 4 Bộ (Tứ Bộ) là Kinh - Sử - Tử - Tập, hay cũng gọi là Giáp Bộ, Ất Bộ, Bính Bộ, Đinh Bộ và thư tịch Kinh Bộ luôn luôn bắt đầu với Dịch Kinh.

Kinh Dịch là 1 Bộ Kinh cực khó đọc. Với cái ‘học, vấn’ quá kém cỏi về Hán học nói chung  và về Dịch học nói riêng, như Nguyễn Hiến Lê mà dám múa bút viết về Kinh Dịch th́ đến không có nhận định nào đúng hơn là không biết tự lượng, ham trèo cao, té nặng, là chuyện đương nhiên!

Lí Quang Địa (1642 - 1718) viết:

 ‘Kinh thư nan độc, nhi thử Kinh vi vưu nan. Vị khai quyển thời dĩ hữu nhất trùng Tượng Số đại khái công phu; khai quyển chi hậu, Kinh văn bản í hựu đa bị tiên nho ngạnh thuyết sát liễu, lệnh nhân khán đắc ư tứ cục xúc, bất kiến bản lai ‘khai vật thành vụ’ hoạt pháp’.

/ Chu Dịch Chiết Trung. Cương Lănh 3 /.

 ‘Kinh thư khó đọc, và bộ Kinh này là khó đọc hơn cả! Chưa giở sách ra đă có một số kiến thức đại lược về Tượng Số phải biết, sách đă giở ra, bản í của Kinh văn đa số học giả đi trước rồi đă nói hết sạch, làm cho người ta cảm thấy chật vật trong việc suy tưởng, (bởi thế) không thấy được thêm một ư tưởng nào khác nữa về tư tưởng vốn linh động, uyển chuyển (của Kinh Dịch)  đó là ‘quán triệt cái lư của vạn vật, (từ đó mà có thể) thành toàn trách vụ trong thiên hạ’.’

Chú thích.

Đoạn mở đầu Chương XI của thiên ‘Hệ Từ Thượng’ có câu: ‘Phù Dịch, khai vật thành vụ’.

Ở đây, với câu trên Lư Quang Địa có ư chỉ Kinh Dịch.

Thi Tử (390 - 330 tr. Cn.) nói:

 ‘Nhân tỉnh trung thị tinh, sở thị bất quá sổ tinh’.

/ Thi Tử. Qu. Thượng. Quảng Trạch /.

 ‘Ở trong giếng ḍm sao trời, bất quá rồi chỉ thấy mấy v́ sao’.

Hàn Dũ (768 - 824) viết:

 ‘Tọa tỉnh nhi quan thiên viết thiên tiểu giả, phi thiên tiểu dă!’.

/ Hàn Xương Lê Văn Tập. Qu. I. Phú. Tạp trứ. Nguyên Đạo /.

 ‘Ngồi dưới giếng mà ḍm trời (mà) nói rằng trời nhỏ, (rồi ra) trời đâu có nhỏ!’.

Cái ông Hàn Dũ này thân danh đứng đầu ‘Đường, Tống Bát Đại Gia’ mà rồi nói năng đến ấm ớ hàm hồ, chỉ nói khơi khơi ‘ngồi dưới giếng’! Ông ta muốn nói dưới giếng là con người  hay là con ếch, hay là con chi chi đó th́ cho tới bây giờ tôi vẫn c̣n mù mờ!

Kiến thức, học vấn th́ hạn hẹp như vậy mà Nguyễn Hiến Lê lại cứ thích làm thầy thiên hạ. Người ta có thể thấy rất rơ cái thích này của ông ta trong rất nhiều cuốn sách của ông ta, tâm lư con người ngàn đời vẫn không đổi! Hơn 2000 năm trước đây Mạnh Tử (390 - 305 tr. Cn.) đă từng nói:

 ‘Nhân chi hoạn tại hiếu vi nhân sư’.

/ Mạnh Tử. Ly Lâu Thượng. 23 /.

 ‘Bệnh của con người là thích làm thầy người ta’.

Và khổ một nỗi là hạng thích làm thầy người ta này rồi đều là hạng chỉ mới biết quẹt qua vấn đề ǵ đó th́ những tưởng ḿnh đă giỏi lắm rồi, cho nên, lật đật đem khoe mớ kiến, thức èo uột đó ra dạy người khác. Và dĩ nhiên Nguyễn Hiến Lê cũng thuộc hạng này.

Từ trước năm 1975, tôi biết Nguyễn Hiến Lê có viết về Trung Hoa, nhưng chưa bao giờ tôi đọc qua những sách loại này của ông - và thực sự tôi vẫn nghĩ rằng tuy đây không phải là lănh vực chuyên môn của ông, nhưng tối thiểu ông cũng không tới nỗi vướng mắc những Sai, lầm loại tôi đă nêu trong bài này. Cứ thử nghĩ, tới 1979, năm viết xong Cuốn ‘Đạo Của Người Quân Tử’ này mà tŕnh độ Nguyễn Hiến Lê c̣n kém cỏi đến vậy th́ trước đó tŕnh độ của ông ta ra sao, không nói cũng đủ rơ!

Và như vậy, ’19 nhan đề về Cổ học Trung Hoa’ của Nguyễn Hiến Lê đều phải xét lại hết.

Đâu đó tôi cũng có nghe 1 vài sự nghi ngờ về khả năng Hán văn của Nguyễn Hiến Lê, có điều là nói th́ phải có chứng cớ, không thể nào nói khơi khơi, cho thỏa ḷng yêu, ghét, đây chính là điều Đại Tượng từ Quẻ Gia Nhân (Tốn / Ly) gọi là ‘Ngôn hữu vật’.

Bài viết này nhằm phân biệt đâu là thực học, đâu là giả học để từ đó chính cái Danh.

Danh đă chính th́ mọi lạm dụng từ ngữ rồi không c̣n, học giả và ‘học giả’ từ đó mới không c̣n lẫn và lộn.




Minh Di.

Viết tại Bất Túc Trưng Thư Trai.

Trừ nguyệt tiểu. Nhị thập tứ nhật, Đại Hàn hậu lục nhật.

Thư Mục.


[1]. Kinh Thị Dịch Truyện.

Tây Hán. Kinh Pḥng.

Hán Ngụy Tùng Thư Bản (Minh. Tŕnh Vinh toản tập).

Cát Lâm Đại Học Xuất Bản Xă 1992 / Sơ.

[2]. Chu Dịch Chú Sớ.

Tam Quốc  Ngụy. Vương Bật chú (Kinh: 64 Quái).

Tấn. Hàn Khang Bá chú (Hệ từ Truyện...).

Đường. Khổng Dĩnh Đạt sớ (chính nghĩa).

Thượng Hải Cổ Tịch Xuất Bản Xă 1989 / Sơ.

[3]. Chu Dịch Lược Lệ.

Tam Quốc Ố Ngụy. Vương Bật.

Thập Tam Kinh Bản.

Thượng Hải Cổ Tịch Xuất Bản Xă 1997 / Sơ.

[4]. Chu Dịch Tập Giải.

Đường. Lư Đỉnh Tộ.

Bắc Kinh Thị Trung Quốc Thư Điếm 1987 / 2.

[5]. Đồng Khê Dịch Truyện.

Triệu Tống. Vương Tông Truyền.

Thượng Hải Cổ Tịch Xuất Bản Xă 1990 / Sơ.

[6]. Chu Dịch Tập Thuyết.

[7]. Độc Dịch Cử Yếu.

Triệu Tống. Du Diệm.

Thượng Hải Cổ Tịch Xuất Bản Xă 1990 / Sơ.

[8]. Dịch Toản Ngôn.

Nguyên. Ngô Trừng.

Thượng Hải Cổ Tịch Xuất Bản Xă 1990 / Sơ.

[9]. Dịch Kinh Lai Chú Đồ Giải.

Minh. Lai Tri Đức.

Ba Thục Thư Xă (TQ) 1989 / Sơ.

[10]. Ngự Toản Chu Dịch Chiết Trung.

Thanh. Lí Quang Địa.

Thượng Hải Cổ Tịch Xuất Bản Xă 1990 / Sơ.

[11]. Chu Dịch Thuật.

Thanh. Huệ Đống.

Thiên Tân Thị Cổ Tịch Thư Điếm 1989 / Sơ.

[12]. Dịch Hán Học.

Thanh. Huệ Đống.

Thượng Hải Cổ Tịch Xuất Bản Xă 190 / Sơ.

[13]. Chu Dịch Tập Giải.

Thanh. Tôn Tinh Diễn.

Thành Đô Cổ Tịch Thư Điếm (TQ) 1988 / Sơ.

[14]. Lục Thập Tứ Quái Kinh Giải.

Thanh. Chu Tuấn Thanh.

Trung Hoa Thư Cục (TQ) 1998 / 6.

[15]. Chu Dịch Thượng Thị Học.

Dân Quốc. Thượng Bỉnh Ḥa.

Trung Hoa Thư Cục (TQ) 1990 / 5.

[16]. Tiêu Thị Dịch Lâm Chú.

Tây Hán. Tiêu Diên Thọ.

Dân Quốc. Thượng Bỉnh Ḥa.

Trung Quốc Thư Điếm (TQ) 1990 / Sơ.

[17]. Chu Dịch Cổ Kinh Kim Chú.

Cao Hanh.

Trung Hoa Thư Cục (HC phân Cục) 1985 / Trùng ấn.

[18]. Dịch Học Tân Luận.

Nghiêm Linh Phong.

Chính Trung Thư Cục (ĐL) 1969 / Sơ.

[19]. Lưỡng Hán Tượng Số Dịch Học Nghiên Cứu.

Lưu Ngọc Kiến.

Quảng Tây Giáo Dục Xuất Bản Xă 1997 / 2.

[20]. Dịch Học Triết Học Sử.

Chu Bá Côn.

Hoa Hạ Xuất Bản Xă (TQ) 1995 / Sơ.

[21]. Chu Dịch Nghiên Cứu Sử.

Liêu Danh Xuân. Khang Học Vĩ. Lương Vi Huyền.

Hồ Nam Xuất Bản Xă 1991 / Sơ.

[22]. Chu Dịch Đại Từ Điển.

Ngũ Hoa chủ biên.

Trung Sơn Đại Học Xuất Bản Xă (TQ) 1993 / Sơ.

[23]. Dịch Học Đại Từ Điển.

Trương Kỳ Thành chủ biên.

Hoa Hạ Xuất Bản Xă 1995 / 3.

[24]. Chu Dịch Từ Điển.

Trương Thiện Văn,

Thượng Hải Cổ Tịch Xuất Bản Xă 1995 / 3.

[25]. Kinh Điển Thích Văn.

Đường. Lục Đức Minh.

Thượng Hải Cổ Tịch Xuất Bản Xă 1985 / Sơ.

[26]. Kinh Truyện Thích Từ.

Thanh. Vương Dẫn Chi.

Dân Quốc. Hoàng Khản & Dương Thụ Đạt phê ngữ.

Nhạc Lộc Thư Xă 1984 / Sơ.

[27]. Kinh Giải Nhập Môn.

Thanh. Giang Phiên.

Thiên Tân Thị Cổ Tịch Thư Điếm 1990 / Sơ.

[28]. Kinh Tử Giải Đề.

Lữ Tư Miễn.

Thái B́nh Thư Cục (HC) 1982 / Trùng ấn.

[29]. Tứ Thư Tập Chú.

Triệu Tống. Chu Hy.

Thái B́nh Thư Cục 1986 / 7.

[30]. Trang Tử Bổ Chính.

Chiến Quốc. Trang Chu.

Dân Quốc. Lưu Thúc Nhă chú.

Tân Văn Phong Xuất Bản Công Ty (ĐL) 1975 / Sơ.

[31]. Thi Tử.

Chiến Quốc. Thi Giảo.

Thanh. Uông Kế Bồi tập.

[32]. Hoài Nam Tử.

Tây Hán. Lưu An.

Đông Hán. Cao Dụ chú

Thanh. Trang Qú Cát hiệu san.

2 Tác phẩm ghi số hạng [31] và [32] tập trong:

Nhị Thập Nhị Tử Bản.

Thượng Hải Cổ Tịch Xuất Bản Xă 1996 / 8.

[33]. Tam Quốc Chí.

Tây Tấn. Trần Thọ.

Lưu Tống. Bùi Tùng Chi chú.

[34]. Tấn Thư.

Đường. Thái tông ngự soạn.

2 Bộ Sử Thư ghi số hạng [33] và [34] tập trong:

Nhị Thập Ngũ Sử Bản.

Thượng Hải Cổ Tịch Xuất Bản Xă 1991 / 8.

[35]. Thế Thuyết Tân Ngữ Hiệu Tiên.

Lưu Tống. Lưu Nghĩa Khánh.

Từ Chấn Ngạc chú.

Trung Hoa Thư Cục (HC phân Cục) 1987 / Sơ.

[36]. Tiên Tần Chư Tử Hệ Niên (tăng định bản).

Tiền Mục.

Trung Hoa Thư Cục (TQ) 1985 / Sơ.

[37]. Hàn Xương Lê Văn Tập Hiệu Chú.

Đường. Hàn Dũ.

Thanh. Mă Thông Bá hiệu chú.

Trung Hoa Thư Cục (HC phân Cục) 1975 / Trùng ấn.

[38]. Thuyết Văn Giải Tự Nghĩa Chứng.

Đông Hán. Hứa Thận.

Thanh. Quế Phức nghĩa chứng.

Tề Lỗ Thư Xă (TQ) 1987 / Sơ.

[39]. Khang Hy Tự Điển (tân tu bản).

Thanh. Thánh tổ Khang Hy sắc soạn.

Lăng Thiệu Văn toản tu.

Cao Thụ Phiên trùng tu.

Linh Kư Xuất Bản Hữu Hạn Công Ty (HC) 1981 / Sơ.

[40]. Từ Nguyên (Súc Ấn Hợp đính bản).

Quảng Đông, Quảng Tây, Hồ Nam, Hà Nam Từ Nguyên Tu đính tổ.

Thương Vụ Ấn Thư Quán (HC phân Cục) 1987 / Sơ .

NHDT
01-14-2008, 04:55 AM
Nguyệt là Tháng trong Năm. Hậu là Khí hậu, Thời tiết. Tịch có nghĩa là Vua, là Chủ.

Khoảng đầu thời Tây Hán (206 tr. CN. - 08) học giả Mạnh Hỉ đă lấy 12 Tiêu Tức Quái phối hợp 12 Tháng, mỗi Quẻ là 1 tháng: Thái là tháng Giêng, Đại Tráng tháng 2, Quái tháng 3.... cứ thế mà tính lần đi, tới Lâm là tháng Chạp th́ giáp 1 Năm.

V́ mỗi Quẻ ứng 1 Tháng cho nên 12 Tiêu Tức Quái c̣n được gọi là Nguyệt Quái  hoặc rơ hơn th́ gọi ‘Thập Nhị Nguyệt Quái’, và bởi 12 Tháng gồm 4 Mùa, với Khí hậu khác nhau v́ vậy mà 12 Quẻ này cũng được gọi là ‘Hậu Quái’, và do mỗi Quẻ chủ quản 1 Tháng cho nên cũng gọi là ‘Tịch Quái’, hay ‘Thập Nhị Tịch Quái’.

12 Tiêu Tức Quái phối hợp 12 Tháng cùng với 4 Chính Quái là Chấn, Ly, Đoài, Khảm cũng như thuyết ‘Lục nhật Thất phân’ pháp đă nói, là 1 phần trong thuyết ‘Quái Khí’ của Mạnh Hỉ.

Thuyết Quái Khí sau đó được Kinh Pḥng bổ túc mà thành 1 trong những luận cứ sử dụng trong việc chế định Lịch pháp Trung Hoa thời cổ  và ảnh hưởng của Thuyết này đối với sự phát triển của Lịch pháp học ở Trung Hoa không phải là nhỏ.

Sau cùng, mở đầu đoạn có tiêu đề ‘Định Mệnh’, Nguyễn Hiến Lê viết:

 ‘Chúng tôi sẽ không xét thuyết Tượng Số trong Dịch truyện ( Hệ từ truyện ) v́ không hiểu nổi thuyết đó, không thấy nó có ích lợi ǵ cho nhân sinh’. (tr. 155).

Thiệt tức cười hết sức, Nguyễn Hiến Lê nói ông ta ‘không hiểu nổi’ thuyết Tượng Số, nếu vậy làm thế nào ông ta biết là thuyết đó ‘ích lợi hay không ích lợi cho nhân sinh’? Nguyễn Hiến Lê rồi dựa vào đâu để mà khẳng định một vấn đề mà ông ta không hiểu?

Ngay vào lúc vừa khẳng định xong là ‘không hiểu nổi’ thuyết Tượng Số th́ Nguyễn Hiến Lê không c̣n đủ tư cách, và thẩm quyền, để khẳng định, hay phủ định, bất cứ điều ǵ liên quan tới vấn đề mà ông không hiểu. 1 đứa con nít rồi cũng không để lọt tai cho nổi câu nói của Nguyễn Hiến Lê!

Như đă rơ, Dịch học phân Tượng Số và Nghĩa Lư 2 Phái, đă đọc Dịch th́ không thể không rơ điều này. Và dầu đứng ở quan điểm nào đi nữa th́ cũng phải biết cả 2, tối thiểu là ở những điểm căn bản nhất. Nguyễn Hiến Lê chỉ đọc một Chiều, và một Chiều rồi cũng chẳng xong, cho nên về các Học thuyết trong Tượng Số học như Quái Khí của Mạnh Hỷ, Bát Cung của Kinh Pḥng, v.v.... ông ta đă suy đoán lếu láo, hướng dẫn ‘các bạn trẻ’ của ông lao xuống hố!

27 năm trước (1976), lúc mới đọc Dịch th́ ‘Chu Dịch Vương, Hàn Chú’ là Bộ sách tôi ưa thích hơn hết! Sau đó trong khoảng gần 2 tháng (từ 03. 6 đến 23. 7. 1977) tôi dịch xong phần chú giải 64 Quẻ của Vương Bật, c̣n phần chú giải ‘Truyện’ của Hàn Khang Bá (332 - 380) mất 11 ngày (15 ( 26. 01. 78). Năm 1985, Bản thảo (viết tay) từ Quê nhà gởi qua th́ đă mất đi phần ngữ dịch 12 Quẻ: Mông, Tu, Tụng, Sư, Tỉ, Tiểu Súc, Thệ Hạp, Bí, Bác, Phục, Vô Vong, Đại Súc.

Cho tới bây giờ 12 Quẻ c̣n khuyết đó vẫn để khuyết, tôi vẫn không buồn dịch lại, v́ lẽ đúng như Lư Đỉnh Tộ đă nhận định, kiến giải của Vương Bật chỉ là ‘dă văn’, không dẫn người ta tiến nhập cảnh giới thâm viễn của Dịch đạo.

Ở 1 đoạn trước đây tôi đă dẫn sử học gia Lữ Tư Miễn (1884 - 1957) nói rằng, đọc Dịch th́ phân 2 đường ‘Tinh/Thô’, theo đường ‘Thô’ th́ đọc các Bản chú giải của Vương Bật (226 - 249), của Tŕnh Di (1033 - 1107), th́ đại khái cũng có thể thông hiểu ư nghĩa b́nh thường của Dịch.

C̣n đường ‘Tinh’ là con đường sâu xa của Tượng Số, con đường đích thực của Dịch đạo.

Nguyễn Hiến Lê lần theo đường ‘Thô’ mà theo cũng không xong. Cho nên, kiến, thức Dịch học của ông ta chẳng những đă ‘Thô’ mà c̣n ‘Nhám’ nữa!

Phần I. Chương VI. (Từ tr. 159 tới tr. 202).

Chương này gồm các đề mục:

‘Việc Người’, ‘Việc Hằng Ngày’, ‘Việc Trị Dân’, ‘Tu Thân, Đạo Làm Người’  đề mục sau cùng là ‘Dịch Là Đạo Của Người Quân Tử’.

Toàn Chương không có kiến giải ǵ đặc biệt, chỉ chép lại ở những sách khác  có đặc biệt chăng th́ đó là những ư kiến xen vào của Nguyễn Hiến Lê, trong đó có một Số rất lạt lẽo, nếu không muốn nói là rẻ tiền! Người đọc có thể thấy điều này rất rơ, tôi cũng không cần nêu ra đây cho dài ḍng.

&

Phần II. Kinh và Truyện.

Trong đoạn cuối ‘Lời Nói Đầu’ cho Phần II này, ông Nguyễn Hiến Lê có đoạn viết:

‘Bản tôi tham khảo nhiều nhất là bản của cụ Phan Bội Châu (Khai Trí, 1969 )’. (tr. 207).

Trước đó 01 trang, trang 206, Nguyễn Hiến Lê viết:

‘Riêng về hai Quẻ Càn và Khôn tôi trích dẫn thêm Văn Ngôn Truyện, và trong một số quẻ khác tôi cũng lác đác dùng lời b́nh luận trong Hệ Từ Truyện mà tôi sẽ dịch trọn và đặt sau phần kinh.

(Xem tiếp đoạn (a) ở cuối trang)’.

Cuối trang 206 nói trên, ở phần cước chú, Nguyễn Hiến Lê viết:

 ‘(a) Tôi lại tham khảo thêm những chú giải của Chu Hy, lời giảng của Phan Bội Châu, đôi khi của James Legge, của Richard Wilhelm, của Cao Hanh, Nghiêm Linh Phong và vài nhà khác nữa’.

+ Quẻ Càn (Càn / Càn).

Những cái sai của Nguyễn Hiến Lê trong Quẻ này:

[1]. Sai về Âm đọc.

Hào Cửu tam, Nguyễn Hiến Lê phiên âm:

 ‘Quân tử chung nhật càn càn, tích dịch nhược. Lệ, vô cữu’.

Chữ ‘Dịch’ trong ‘tích dịch’ phải đọc Âm ‘Thích’.

Lục Đức Minh (~ 550 - 630) chú Âm chữ ‘này’ như sau:

 ‘Thích. Tha Lịch phiên’.

/ Kinh Điển Thích Văn. Qu. II. Chu Dịch Âm Nghĩa /.

Th(a) + L(ịch) = Thích.

Câu tiếp sau Hào Thượng Cửu, Nguyễn Hiến Lê phiên âm:

 ‘Dụng cửu: Kiến quần long vô thủ , cát’.

Chữ ‘Kiến’ ở đây phải đọc Âm ‘Hiện’.

Lục Đức Minh chú Âm chữ ‘Hiện’ trong ‘Hiện Long tại điền’ Hào Cửu nhị như sau:

 ‘Hiện Long. Hiền Biến phiên, thị dă. Chú cập hạ hiện long giai đồng’.

/ Sđd. như trên /.

 ‘Hiện Long. Phiên là Hiền Biến, nghĩa là ‘đưa ra cho thấy’. Chú âm (của chữ Hiện này) cùng với chữ hiện (quần) long ở phía dưới như nhau’.

‘Kinh Điển Thích Văn’ là 1 tác phẩm ‘Chú Âm’ và ‘Thích Nghĩa’ Kinh Điển cổ đại.

Tác phẩm gồm 30 Quyển.

Quyển I là Phần ‘Tự Lục’, là Phần tự thuật và khảo chứng sự hưng, suy của Kinh Điển, trưng ra những sự kiện quan trọng trong Lịch sử Kinh học, và những nhân vật cũng như những tác phẩm chủ yếu của từng thời kỳ một. Và ở một khía cạnh nào đó, phần ‘Tự Lục’ này có thể được coi như 1 bộ lược sử về sự phát triển của Kinh học từ thời Đường (618 - 907) trở về trước.

Từ Quyển II đến Quyển XXX phân ra Chú Âm, Thích Nghĩa 14 Bộ Kinh Điển sau đây:

+ Chu Dịch, Thượng Thư (tức Thư Kinh), Mao Thi (tức Thi Kinh), Chu Lễ, Nghi Lễ, Lễ Kí, kế đó là Tả Truyện, Công Dương, Cốc Lương, Hiếu Kinh, Luận Ngữ, Lăo Tử, Trang Tử, Nhĩ Nhă.

Kinh Điển Thích Văn thu lục ‘Thiết Âm’, cũng như ‘Chú giải’ Kinh văn của hơn 230 học giả từ thời Tam Quốc (220 - 280) đến Nam Bắc triều (420 - 589).

Đây là 1 tác phẩm trọng yếu nghiên cứu về Văn tự học, Âm vận học, cũng như Huấn cổ học, cho đến các Bản in khác nhau của từng Bộ Kinh. Bởi vậy, nghiên cứu âm đọc của Kinh, Điển thời cổ th́ không thể không tham khảo tác phẩm này.

Tác phẩm thường được học giả gọi tắt là ‘Thích Văn’. Ở đây, phần ‘Âm đọc’ (‘Tự âm’) các Chữ trong Dịch Kinh chủ yếu tôi i cứ Bộ ‘Thích Văn’ này.

[2]. Sai về trích dẫn.

Chú thích câu ‘Dụng Cửu’ nói trên, Nguyễn Hiến Lê có đoạn viết:

 ‘Cao Hanh hiểu khác, bảo: ‘Bầy rồng không đầu, nghĩa là bầy rồng đă bay lên trời, đầu bị mây che, nên chỉ thấy ḿnh và đuôi. Đó là cái tượng rồng cỡi mây lên trời, tốt’. (tr. 219).

Nguyễn Hiến Lê đă dẫn chú thích này của Cao Hanh (1900 - 1986) từ một cuốn sách nào đó nhưng rồi đă lập lờ, thiếu tự trọng, không nói ra, để người đọc nghĩ rằng ông đă dẫn từ nguyên văn.

Chú thích trên đây của Cao Hanh là ở cuốn ‘Chu Dịch Cổ Kinh Kim Chú’ của ông. Bây giờ tôi dẫn nguyên văn để độc giả thấy sự lập lờ đó của ‘học giả’ Nguyễn Hiến Lê. Nguyên văn câu này là:

 ‘Hiện quần Long vô thủ giả, quần long tại thiên, thủ vị vân tế, nhi cận kiến kỳ thân, vĩ, túc dă. Thử quần Long đằng thăng chi tượng, cố viết ‘Hiện quần Long vô thủ, cát’.’.

 ‘Hiện bầy Rồng không đầu là bầy rồng giữa trời, đầu bị mây che rồi chỉ thấy thân, đuôi, chân của chúng. Đây là h́nh ảnh (tượng) bầy Rồng bay vút lên cao, bởi vậy mà nói ‘Hiện ra bầy rồng không đầu, tốt’.’.

Người đọc thấy rất rơ là Nguyễn Hiến Lê đă ‘thiếu đi’ mất cái ‘chân’ (‘túc’) Rồng. Có lẽ ông đă ‘chặt’ nó đi rồi chăng? Có lẽ, v́ nếu Nguyễn Hiến Lê thực sự có đọc Cao Hanh th́ tôi nghĩ lẽ nào ông ‘học giả’ lại không thấy cái ‘chân’ Rồng nó ở đâu? Và như vậy th́, chỉ có thể là Nguyễn Hiến Lê đă trích dẫn Câu này từ người khác, người ta thiếu mất cái ‘chân’ Rồng ông chẳng biết, cứ thế mà dẫn, loè thiên hạ!

Đối chiếu nguyên văn Hán văn tôi trích dẫn trên đây và phần Việt văn của Nguyễn Hiến Lê th́ người đọc có thể thấy ngay đoạn cuối không khớp, sai lạc với ư nguyên văn.

Tóm lại, có 2 trường hợp:

+ Hoặc ông Nguyễn Hiến Lê lập lờ, dẫn lại câu chú thích của Cao Hanh từ 1 cuốn Sách nào đó, nhưng đă không nêu xuất xứ, cứ làm như đă dẫn từ nguyên văn. Đây gọi là thiếu tự trọng, thiếu tư cách!

+ Hoặc giả ông Nguyễn Hiến Lê đọc chính nguyên văn (như đă ghi ở phần cước chú (a) ở cuối trang 206) và nếu vậy, qua sự đối chiếu trên đây th́ rơ ra tŕnh độ Hán văn của Nguyễn Hiến Lê rồi quá tệ!

Và, dầu là ở trường hợp nào th́ cung cách làm việc của Nguyễn Hiến Lê trước sau... vẫn là cung cách của một ‘học giả’ (xin đừng quên cái ngoặc kép ‘’).

Sau cùng, ở phần ‘Phụ Lục’ ở cuối Quẻ Càn, Nguyễn Hiến Lê trích dẫn chú giải Hào Sơ Cửu quẻ này của 3 tác giả Chu Tuấn Thanh, Tào Thăng và Cao Hanh.

Dẫn Chu Tuấn Thanh, ông Nguyễn Hiến Lê viết:

 ‘...... Hào dương ở vị trí 1, tức là tháng giêng theo lịch nhà Chu, tháng tí. Khí dương lúc đó mới động ở suối vàng (hoàng tuyền).....’. (tr. 220).

Nguyên văn Chu Tuấn Thanh (1788 - 1858) viết như sau:

 ‘... Dương tại Sơ Cửu, Chu Chính nguyệt chi thời. Giáp Tí, Thiên chi chính vị, Dương khí động vu hoàng tuyền.....’.

/ Lục Thập Tứ Quái Kinh Giải. Càn Sơ Cửu giải /.

 ‘... Dương tại Hào Sơ Cửu, ứng tháng Giêng lịch Chu triều. Giáp tí là chính vị của Trời, là lúc khí Dương (bắt đầu) động dưới ḷng đất sâu.....’.

Về phương diện trích dẫn, Nguyễn Hiến Lê có thái độ rất lập lờ, là không dẫn nguyên văn, ông chỉ đưa ra phần dịch văn. Không trưng ra nguyên văn th́ ‘ai biết đó vào đâu’, th́ có ai mà biết được ông ta dịch đúng hay sai?Thường th́ ông ta chỉ trích dẫn nguyên văn những câu đă có người dịch rồi!

Như Câu kể trên của Chu Tuấn Thanh, có dẫn nguyên văn mới ḷi ra cái ‘năm gian nhà cỏ’ của 1 con người vẫn được ca tụng là 1 học giả.

Nguyễn Hiến Lê đă dịch sai Câu đă dẫn trên, Sai v́ tŕnh độ Hán văn của ông ta chưa đủ, c̣n kém lắm để hiểu học giả (học giả chứ không phải ‘học giả’ như Nguyễn Hiến Lê đâu!) Chu Tuấn Thanh nói cái ǵ?

Vấn đề ở đây liên quan Lịch Pháp cổ Trung Quốc, và từ căn bản ông Nguyễn Hiến Lê chẳng biết điều này cho nên đă dịch sai. Tôi sẽ chứng minh điều này sau đây.

Trước hết, Nguyễn Hiến Lê đă lặng lờ, không dịch câu ‘Giáp tí, Thiên chi chính vị’  lí do thực dễ hiểu, là ông ta không hiểu câu này nói ǵ, ông ta lấy đại chữ ‘Tí’ này ghép nó vào câu trước, và rồi, dịch là ‘tháng tí’ cho qua truông! Ông ta không biết rằng, 2 chữ ’Giáp Tí’ thuộc về câu sau đó.

Theo Nông lịch cổ, tháng 11 là tháng ‘Tí’, Chu triều coi tháng này là tháng đầu mùa Xuân, v́ lẽ tháng 11 Dương khí bắt đầu động, c̣n chữ ‘Thiên’ ở đây chỉ Quẻ Càn. Hào Sơ Cửu Quẻ Càn là Hào Dương đầu tiên, Tí là tháng đầu Xuân, 2 bên tương ứng! Giải ra như vậy chúng ta mới thấy mạch văn rất liền lạc: ‘Giáp Tí, Thiên chi chính vị, Dương khí động vu hoàng tuyền’.

Và sau cùng, Nguyễn Hiến Lê dịch ‘hoàng tuyền’ là ‘suối vàng’ th́ dĩ nhiên là không sai! Có điều, đây là dịch từng chữ một, lối dịch đôi lúc cứng ngắc, lại hàm hồ! Chừng như cũng biết vậy cho nên liền sau 2 chữ ‘suối vàng’ NHLê đă mở cái ngoặc đơn để nguyên văn 2 chữ ‘hoàng tuyền’. Nguyễn Hiến Lê đă không biết ‘hoàng tuyền’ suy ra có nghĩa là ‘dưới ḷng đất’  và ở đây, trong Câu này, ư nói sau 1 thời gian tiềm phục, Dương khí bắt đầu động, nếu y theo lư Dịch mà luận th́ Sơ Cửu Quẻ Càn ở đây tức Sơ Cửu Quẻ Phục.

+ Quẻ Khôn (Khôn / Khôn).

[1]. Sai về Âm đọc.

Trong đoạn nói về Thoán từ Quẻ Khôn, trang 223, Nguyễn Hiến Lê dẫn Đại Tượng từ Quẻ Khôn, viết:

 ‘Quân tử dĩ hậu đức tải vật’.

Chữ ‘Tải’ ở đây phải đọc Âm ‘Tái’ (dấu Sắc). Tự điển Khang Hi chú Âm như sau:

 ‘Tái. Tác Đại thiết, Âm Tái.’, nghĩa là: ‘Tái. Thiết Âm (là) Tác Đại, (đọc) Âm Tái’.

Rồi trong đoạn về Hào Sơ Lục, ông dẫn ‘Văn Ngôn’ Quẻ Khôn và viết:

 ‘(Tích thiện chi gia tất hữu dư khánh, tích bất thiện chi gia tất hữu dư ương....)’. (tr. 224).

Chữ ‘Khánh’ ở đây phải đọc Âm ‘Khương’, vần với chữ ‘Ương’ ở câu dưới.

Có điều lạ là trước đó, ở trang 146, cũng câu trên đây, Nguyễn Hiến Lê đă đọc đúng âm là ‘Khương’  và như vậy th́ chỉ có thể kết luận là Nguyễn Hiến Lê học trước mà quên sau cho nên mới ra nông nỗi.

[2]. Luận giải tầm bậy.

Cuối đoạn đă dẫn trên (cũng trang 224), Nguyễn Hiến Lê viết:

 ‘Chúng ta để ư: hào 1 quẻ Càn, Dịch chỉ khuyên cứ ở ẩn, tu đức luyện tài chờ thời; c̣n hào 1 quẻ Khôn này, Dịch răn phải đề pḥng từ lúc đầu, nếu không sẽ gặp tai họ; như vậy Dịch tin ở đạo Dương hơn đạo Âm, trọng dương hơn âm’.

‘Người mà đến thế thời thôi!’. Không ngờ ông Nguyễn Hiến Lê lại giảng bậy đến thế thời thôi!

Nói chung, tuy Dịch có trọng Dương, ức Âm đó, nhưng, ở 1 chỗ nào khác chứ dứt khoát không ở hào Sơ Lục Quẻ Khôn này.

Như tôi đă luận, Quẻ Càn khẳng định biến động trong Vũ trụ th́ ‘bất xả’  và Khôn khẳng định liền theo đó là biến động luôn luôn tuân theo luật ‘Tiệm biến’. Đây là 2 Quy luật tôi đă đề cập ở phần đầu bài này, đó là 2 Quy luật gọi là ‘Thường ‘ và ‘Tiệm’ của Biến động. Vấn đề này tôi đă luận rơ trước đây, ở đây không nhắc lại nữa mà thêm rườm.

Nếu Nguyễn Hiến Lê dừng ở câu ‘nếu không sẽ gặp họa’ th́ cũng được đi, dẫu rằng không nêu rơ ra được cái ư về luật ‘Tiệm’, về ư nghĩa ‘Tái’ (Chở, Dung chứa) trong Quẻ Khôn.

Cũng v́ không vượt tới những ǵ ở ‘tại ngôn ngoại’, cứ lẩn quẩn ‘trong ṿng’ chữ nghĩa cho nên Nguyễn Hiến Lê đă không hiểu ‘Văn ngôn’ Quẻ Khôn đích thực nói cái ǵ?

[3]. Không hiểu trọn Văn ư.

Hào Sơ Lục Quẻ Khôn nói: ‘Lí sương kiên băng chí’.

Nguyễn Hiến Lê dịch là ‘Đạp lên sương th́ biết băng dày sắp đến’.

Không sai! Có điều, chữ ‘Lí’ ở đây cần hiểu xa hơn chút nữa. Lí có nghĩa là ‘dẵm, đạp’  nhưng cũng c̣n hàm nghĩa là ‘đi’, là ‘trải qua’. ‘Dẵm, đạp th́ í tĩnh  Sương tuyết có ‘trải qua’, có rơi 1 khoảng thời gian nào đó th́ mới đóng thành băng được.

+ Quẻ Mông (Cấn / Khảm).

Phiên Âm phần Thoán Từ Quẻ Mông, ông Nguyễn Hiến Lê có đoạn viết:

 ‘Sơ phệ, cáo, tái tam độc, độc tắc bất cáo....’. (tr. 234).

2 chữ ‘Cáo’ ở đây phải đọc Âm ‘Cốc’. Và đoạn trên sẽ như sau:

 ‘Sơ thệ cốc, tái tam độc, độc tắc bất cốc’.

Sách ‘Thích Văn’ chú Âm chữ ‘Cốc’ như sau:

 ‘Cốc. Cổ Độc phiên. Thị dă. Ngự dă’.

/ Qu. II. Chu Dịch Âm Nghĩa /.

 ‘Cốc. Thiết Âm là Cổ Độc. (Nghĩa là Đưa ra cho thấy. Nói cho biết’.

Ông Nguyễn Hiến Lê không biết rằng Kinh văn Dịch đôi lúc có chen Vận văn vào, chẳng hạn Quẻ Càn:

Cửu nhị. ‘Hiện Long tại điền, lợi kiến đại nhân’.

Cửu tam. ‘Chung nhật kiền kiền (càn càn)’.

Cửu tứ. ‘Hoặc dược tại uyên’.

Cửu ngũ. ‘Phi Long tại thiên’.

Quẻ Mông ở đây cũng vậy, và Vận ở đây là vận ‘Ôc’: ‘Cốc’ vận với ‘Độc’.

Nhưng có lẽ chuyện đáng nói hơn hết, không thể không nói, ở đây là:

Ở cuối ‘Lời Nói Đầu’ của Phần II. ông Nguyễn Hiến Lê đă viết:

 ‘Bản tôi tham khảo nhiều nhất là bản của cụ Phan Bội Châu’. (tr. 207).

Khi dùng 1 tài liệu như là 1 y cứ chính th́ trường hợp có dị biệt giữa tài liệu và ư kiến riêng của người sử dụng tài liệu người này phải giải thích rơ là tại sao có dị biệt đó. Đây là nguyên tắc mà bất cứ 1 người nghiên cứu tự trọng nào cũng phải biết và giữ.

Tôi coi lại Bản chú của cụ Phan th́ rơ ràng là cả 2 chữ Cáo trên đây trong Thoán từ Quẻ Mông cụ đều đọc là ‘Cốc’.

Nguyễn Hiến Lê đọc là ‘Cáo’ nhưng ông ta đă không giải thích tại sao ông ta lại đọc khác cụ Phan! Có lẽ ông ta nghĩ rằng cụ Phan đă ‘đọc sai’, nhưng rồi lại làm như vẻ.... khiêm tốn, để tránh nêu ra sự lầm lẫn của bậc tiền bối. Có thể là như vậy chăng? Nếu quả đúng là như vậy th́ có lẽ không c̣n chữ nào ngoài các chữ ‘dốt’ mà không tự biết lại c̣n vênh váo ngầm, để chỉ Nguyễn Hiến Lê.

Bây giờ hăy coi ‘học giả’ Nguyễn Hiến Lê dịch câu trên ra làm sao. Ông ta dịch như sau:

 ‘Hỏi (bói) một lần th́ bảo cho, hỏi hai ba lần th́ là nhàm, nhàm th́ không bảo...’.

Nguyễn Hiến Lê dịch chữ ‘Độc’ là ‘Nhàm’ th́ đúng là ‘Nhảm’ quá đi!

‘Độc’ có nghĩa là ‘khinh lờn’, ‘coi thường’.  Hỏi, người ta đă nói cho biết mà vẫn không tin, cứ hỏi tới hỏi lui, như vậy là khinh lờn, coi thường người ḿnh hỏi. 1 đứa con nít cũng biết nữa là!

+ Quẻ Tu (Khảm / Càn).

Nguyễn Hiến Lê ghi là Quẻ Nhu.

Sách ‘Thích Văn’ nói là đọc Âm ‘Tu’.

Hào Thượng Lục Quẻ Tu nói: ‘Nhập vu huyệt, hữu bất tốc chi khách tam nhân lai...’.

Nguyễn Hiến Lê dịch như sau:

‘Vào chỗ cực hiểm rồi, nhưng có ba người khách thùng thẳng sẽ tới...’.

Tới dây th́ càng thấy rơ hơn về kiến thức cũng như sở học của ‘học giả’ Nguyễn Hiến Lê.

Kiến thức.

Kiến thức về Dịch học của ông Nguyễn Hiến Lê quá tồi tệ cho nên mới dịch ‘bất tốc’ là ‘thủng thẳng’.

Cái ǵ chứ dịch từng chữ một (word for word) th́ ‘học giả’ Nguyễn Hiến Lê nhà ta giỏi hơn ai hết!

Bất = Không, Tốc = Nhanh. ‘Không nhanh’ th́, là ‘thủng thẳng’ chứ c̣n ǵ nữa!  Chắc hẳn là ‘học giả’ Nguyễn Hiến Lê rất đắc ư với tài dịch thuật của ḿnh.

Đáng tiếc cho Nguyễn Hiến Lê là những bộ chú giải Dịch của học giả cổ, kim c̣n chưa biến đi đàng nào cho nên mới ḷi ra cái dốt Hán văn cũng như cái sở học nông cạn về Dịch của Nguyễn Hiến Lê!

Và bây giờ chúng ta hăy coi học giả Trung Hoa cổ, kim giảng 2 chữ ‘bất tốc’ như thế nào.

2 chữ ‘bất tốc’ trong Hào Thượng Lục Quẻ Tu, học giả cổ, kim đều giải nghĩa là ‘không mời’.

Chữ ‘Tốc’ ở đây có nghĩa là ‘Triệu’, nghĩa là gọi tới, kêu tới, là ‘Mời’.

Và ‘Bất tốc chi khách tam nhân lai’ có nghĩa: ‘3 người khách không mời mà tới’.

Và để cho những kẻ bận áo thụng như Trần Văn Tích, Xuân Phúc khỏi dị nghị tôi xin dẫn ra đây một số học giả Trung Hoa, cũng như tác phẩm chú giải Dịch Kinh của họ, với phần giải nghĩa 2 chữ ‘bất tốc’ là ‘không mời’.

(1). Khổng Dĩnh Đạt (574 - 648). ‘Chu Dịch Chính Nghĩa’. Đường (618 - 907).

(2). Du Diệm (1258 - 1314). ‘Độc Dịch Cử Yếu’. Triệu Tống (960 - 1279).

(3). Ngô Trừng (1249 - 1333). ‘Dịch Toản Ngôn’. Nguyên ( 1279 - 1368).

(4). Lai Tri Đức (1525 - 1604). ‘Chu Dịch Tập Chú’. Minh (1368 - 1644).

(5). Huệ Đống (1697 - 1758). ‘Chu Dịch Thuật’. Thanh (1644 - 1911).

(6). Tôn Tinh Diễn ( 1753 - 1818 ). ‘Chu Dịch Tập Giải’. Thanh triều.

(7). Chu Tuấn Thanh (1788 - 1858). ‘Lục Thập Tứ Quái Kinh Giải’. Thanh triều.

(8). Thượng Bỉnh Ḥa (1870 - 1950). ‘Chu Dịch Thượng Thị Học’. Dân Quốc (1911 - 1949).

(9). Cao Hanh (1900 - 1986). ‘Chu Dịch Cổ Kinh Kim Chú’. Hiện đại.

Danh sách dĩ nhiên c̣n dài, tôi chỉ dẫn ra 1 số thôi để chứng minh rằng kiến, thức của NHLê về Dịch học rồi chẳng tới đâu, c̣n dốt nữa là khác! Tôi cũng xin nói luôn những tác phẩm trưng ra trên đây hiện nằm trên kệ sách của tôi, tất cả tôi đều thực sự đọc chứ không phải trưng ra để hù thiên hạ (như lối ‘học giả’ NHLê). Sở dĩ tôi phải nói như vậy là v́ NHLê đâu đó cũng đôi ba lần nêu ra 2 cuốn ‘Lục Thập Tứ Quái Kinh Giải’ và ‘Chu Dịch Cổ Kinh Kim Chú’ tôi đă nêu, vậy mà không hiểu tại sao ông ta lại dịch 2 Chữ ‘bất tốc’ là ‘thủng thẳng’! Lẽ nào NHLê chỉ đưa ra để loè thiên hạ, chứ thực sự không đọc nổi 2 bộ này, giả sử ông ta có 2 Bộ này trong tay đi! Vậy những ‘người thâm hiểu nho học’ rồi phải làm sao đây, thưa ông Xuân Phúc?

V́ lẽ NHLê nói phần dịch Kinh văn 64 Quẻ của ông ta ‘có thể nói là chỉ diễn lại phần giảng’ của cụ Phan Bội Châu (1867 - 1940), cho nên là tôi đă phải duyệt lại Bản Chú giải của cụ Phan, để coi cụ giảng 2 Chữ ‘bất tốc’ này của hào Thượng Lục của Quẻ Tu ra sao?

Và, cụ Phan đă viết rành rành thế này: ‘Bất tốc, nghĩa là chẳng mời’.

Ô hô! Cuối cùng rồi ‘học giả’ Nguyễn Hiến Lê rượt học giả cổ, kim chạy đến vắt gị lên cổ  để một ḿnh ‘học giả’ nhà ta cứ ‘thủng thẳng’ mà đi! Ô hô! Thực là đại bất hạnh cho học giới!

+ Quẻ Thái (Khôn / Càn).

Trong đoạn giảng về Thoán Từ Quẻ này, NHLê có đoạn viết:

 ‘Trong quẻ Thái này, Càn không nên hiểu là trời, v́ nếu hiểu như vậy th́ trời ở dưới đất, không c̣n trên dưới phân minh nữa, xấu....’. (tr. 266).

Ở đây, hiểu Càn là Trời th́ có ǵ không ổn, thưa ông Nguyễn Hiến Lê? Trời ở trên Đất ở dưới, điều này có ai mà không biết? Nếu cứ ‘phân minh’ như kiểu Nguyễn Hiến Lê th́ tôi xin hỏi ông  Quẻ Bỉ (Càn / Khôn) Trời trên, Đất dưới, phân minh như vậy tại sao lại xấu? Nguyễn Hiến Lê đă không hiểu 1 điều cực căn bản là ở Quẻ Thái, vị trí của Càn và Khôn thuần tính cách tượng trưng, hoặc nói khác đi, đây chỉ là h́nh ảnh tượng trưng để diễn đạt í tưởng mà thôi! Càn ở dưới ngụ ư đi xuống, Khôn ở trên ngụ ư đi lên, 2 bên gặp nhau; c̣n ở Bỉ Càn ở trên không đi xuống, Khôn ở dưới không đi lên, h́nh ảnh 2 bên không gặp nhau! Gặp nhau là ‘giao’, không gặp nhau là ‘bất giao’ - h́nh ảnh của 02 Quẻ Càn, Khôn ở đây chỉ nhằm diễn tả cái ư ‘giao’ và ‘bất giao’, chẳng liên quan ǵ tới vị trí thực tế của Trời và Đất mà cần phải có 1 sự ‘trên dưới phân minh’ như suy nghĩ nông cạn của Nguyễn Hiến Lê.

Đây là nguyên tắc, hoặc dùng Thuật ngữ Dịch, gọi là ‘Lệ’, biểu thị ư tưởng của Dịch Kinh.

1 ‘Lệ’ căn bản như vậy mà Nguyễn Hiến Lê cũng bất thông th́ làm sao luận Dịch đây? Kinh văn Dịch đầy h́nh ảnh tượng trưng, Nguyễn Hiến Lê rồi làm sao nắm được những ǵ ở ‘tại ngôn ngoại’ đây?

+ Quẻ Đại Tráng (Chấn / Càn).

Hào Cửu Tam: ‘... Đê dương xúc phiên, luy kỳ giốc’.

Nguyễn Hiến Lê dịch:

 ‘... con cừu đực húc vào cái dậu, bị thương cái sừng’.

1/. ‘Đê dương’ là con ‘Dê đực’, không phải con ‘Cừu đực’.

Có điều đáng ngạc nhiên là ở Hào Thượng Lục sau đó 3 Hào, cũng chữ 2 ‘đê dương’ này, Nguyễn Hiến Lê rồi dịch đúng là con ‘dê đực’. Sao lại buồn cười đến thế nhỉ?

2/. ‘Luy’ ở đây có nghĩa là ‘vướng mắc, mắc kẹt’, không phải ‘bị thương’ như Nguyễn Hiến Lê đă dịch.

Và như vậy, dịch đúng, câu trên sẽ là:

 ‘... Con dê đực húc vào hàng rào, sừng nó rồi kẹt giữa hàng rào’.

+ Quẻ Khuê (Ly / Đoài).

 ‘Thượng Cửu:  Khuê cô, kiến thỉ phụ đồ, tái quỉ nhất xa, tiên trương chi hồ, hậu thoát chi hồ. Phỉ khấu, hôn cấu. Văng ngộ vũ tắc cát’.

Nguyễn Hiến Lê dịch:

 ‘Ở thời chia ĺa mà cô độc (sinh nghi kị), thấy con heo đội đầy bùn, thấy chở quỉ đầy một xe. Mới đầu giương cung để bắn, sau buông cung xuống, xin lỗi rằng ḿnh không muốn làm hại hào 3 mà muốn cầu hôn. (Hai bên ḥa hợp, vui vẻ) như sau khi nắng lên, gặp cơn mưa, tốt lành ǵ hơn’.

Nguyễn Hiến Lê vốn không hiểu hết hào Thượng Cửu Quẻ Khuê, cho nên là trong phần chuyển dịch rồi có những chỗ thêm thắt ba láp, chưa kể là có vài ba chỗ không đúng tinh thần Việt ngữ - chẳng hạn như ‘heo đội đầy bùn’ là ‘đội’ ra làm sao? Tiếng Việt không ai nói 1 con heo ḿnh bê bết những bùn śnh là ‘đội đầy bùn’ hết, họa chăng chỉ có Nguyễn Hiến Lê! Có thể thấy là Nguyễn Hiến Lê đă sợ rằng người ta nghĩ ông ta bất thông Hán văn, 1 tŕnh độ Hán văn vốn đă không mấy khá, v́ thế ông ta đă chọn lối dịch từng chữ một. Cũng bởi vậy mà câu văn của Nguyễn Hiến Lê đôi lúc rồi hóa ngây ngô và hơn nữa c̣n làm sai lệch ư của Nguyên văn, và thí dụ ở đây là Câu ‘tái quỉ nhất xa’ mà Nguyễn Hiến Lê đă dịch là ‘chở quỉ đầy một xe’. Nói ‘chở quỉ’, vậy xin hỏi Nguyễn Hiến Lê là ai chở ai ở đây? Thực ra th́, chẳng có ai chở ai hết, là cái xe chở đầy quỉ, là cái xe có đầy quỉ đó thôi!

Từ câu ‘xin lỗi rằng ḿnh....’ cho tới hết th́ vừa dịch bậy, vừa thêm thắt ba láp.

(Có thể kể thêm 1 vài cái ngây ngô, ngớ ngẩn của Nguyễn Hiến Lê qua lối dịch từng chữ một, như:

Quẻ Tiểu Súc ông ta dịch là ‘ngăn cản nhỏ (hoặc chứa nhỏ)’, 2 quẻ Đại Hữu và Đại Súc, dịch là ‘Có lớn’ và ‘Chứa lớn’. Việt ngữ, nói ‘Có’ th́ người ta nói ‘Có nhiều’, ‘Có ít’. Cũng vậy, nếu nói ‘Chứa’ th́ nói ‘Chứa nhiều’ hay ‘Chứa ít’, không ai nói cách ngây ngô như Nguyễn Hiến Lê hết!)

Tôi dịch lại Hào Thượng Cửu Quẻ Khuê như sau:

 ‘Cách biệt (với chung quanh), ở trơ trọi một ḿnh (v́ vậy mà) thấy (bầy) heo bê bết những bùn thấy 1 xe đầy nhóc những quỉ, lúc đầu th́ dương cung lên, sau đó lại bỏ cung xuống  v́ (rồi ra) chẳng phải là giặc cướp, là xuôi gia đó thôi. Đi tới trước, (hễ) gặp mưa th́ tốt’.

Bút pháp Hào này hư hư, thực thực, là hư nhưng cũng là thực, càng nghiền càng thấy í vị....

Tâm ăm ắp những nghi kị th́ nh́n đâu cũng thấy dơ bẩn (heo bê bết bùn śnh), Tư lan man... th́ tưởng quỉ thấy quỉ, tưởng thần thấy thần (1 xe đầy nhóc những quỉ).

Câu cuối, ‘Gặp mưa th́ tốt’, ‘mưa xuống’ th́ bao nhiêu ‘bùn śnh’ trên ḿnh heo rồi trôi hết, và bao nhiêu bóng quỉ trên xe rồi cũng tan biến (bao nhiêu nghi kị, ảo tưởng rồi rũ sạch) - ư vị là ở chỗ đó, Nguyễn Hiến Lê chưa hiểu tới độ này, chưa tiến nhập cảnh giới giữa hư và thực của Hào này.

Khi nói về Thoán từ Quẻ Khuê, Nguyễn Hiến Lê viết: ‘Quẻ này xấu nhất trong Kinh Dịch’. Nhưng, đến lúc kết luận về Quẻ này, Nguyễn Hiến Lê lại nói ‘Quẻ Khuê là quẻ xấu nhất trong Kinh Dịch nhưng kết quả lại không có ǵ xấu...’. Xấu nhất nhưng kết quả lại không xấu, thiệt là khó hiểu?

Những sai lầm của Nguyễn Hiến Lê th́ cứ trải dài dài trong suốt cuốn sách của ông, và rồi những Sai lầm loại tôi đă trưng dẫn tới đây không phải là ít, kể ra nữa cũng mệt, tôi tạm đặt 1 dấu chấm ở đây v́ chừng đó cũng đă đủ để rơ tŕnh độ của Nguyễn Hiến Lê về Hán học, về sự hiểu biết về Kinh Dịch.

Giang Phiên (1761 - 1830), Kinh học gia nổi tiếng Thanh triều (1644 - 1911), có 1 tác phẩm tựa đề ‘Kinh Giải Nhập Môn’, trong đó ông dẫn tất cả 51 điều mà 1 người phải biết khi giảng, luận Kinh Điển. Nói phải biết v́ đây là những điều ‘Nhập Môn’, như tựa sách đă nói rơ.

Mỗi điều là 1 tiêu đề của 1 Chương, và ở đây tôi dẫn 3 Chương.

Chương 22. ‘Thuyết Kinh tất tiên thức Văn tự’.

Chương 23. ‘Thuyết Kinh tất tiên thông Huấn Cổ’.

Chương 25. ‘Thuyết Kinh tất tiên tri Âm Vận’.

Tác phẩm gồm VIII Quyển, 3 Chương trên đây thuộc Quyển IV.

Ở Chương 22, ‘Giảng Kinh trước hết phải hiểu biết về Văn tự’, Giang Phiên có đoạn viết:

 ‘Tự hữu H́nh, h́nh bất nhất:  Nhất Cổ Văn, nhị Trứu Văn, tam Tiểu Triện, tứ Bát Phân, ngũ Lệ Thư, lục Khải Thư, tương nhân đệ biến.

Tự hữu Thanh, thanh bất nhất: - Hữu Tam đại chi âm, hữu Hán, Ngụy chi âm, hữu Lục triều chí Đường âm.

Tự hữu Nghĩa, nghĩa bất nhất: - Hữu Bản nghĩa, hữu Dẫn thân nghĩa, hữu Thông tá nghĩa.

H́nh, Thanh bất thẩm, huấn cổ bất minh khởi tri Kinh Truyện sở ngôn giả hà vật, sở thuyết giả hà sự gia?!’.

 ‘Chữ th́ có H́nh, và h́nh th́ bất nhất: - Một là Cổ văn, hai là Trứu văn, ba là Tiểu triện, bốn là Bát Phân, năm là Lệ thư  sáu là Khải thư.

Chữ th́ có Thanh, và thanh th́ bất nhất: - Có âm đọc của thời Tam đại, có âm đọc của các thời Hán, Ngụy, có âm đọc của thời Lục triều cho tới thời Đường.

Chữ th́ có Nghĩa, và nghĩa th́ bất nhất: - Có nghĩa gốc, có nghĩa suy rộng (từ nghĩa gốc) và có nghĩa vay mượn.

(Tự) H́nh, (Tự) Thanh không hiểu, huấn cổ lại không rơ th́ lẽ nào mà hiểu được Kinh, Truyện nói cái ǵ, giảng việc ǵ đây?!’.

Ở Chương 23, ‘Giảng Kinh trước hết phải thông Huấn Cổ’, Giang Phiên có đoạn viết:

 ‘Cứ Nhĩ Nhă phân Thiên chi nghĩa, Cổ thông cổ kim dị ngôn  Huấn tắc giai ngôn h́nh mạo, nhi thuyết Kinh chi đạo bất ngoại thử nhị Tự. Thông cổ ngôn, thông cổ âm, nhi cổ nghĩa vô bất thông hĩ! Tri h́nh Huấn, tri thanh Huấn nhi cổ huấn vô bất minh hĩ!’.

 ‘Cứ như ư nghĩa việc phân Thiên của Sách Nhĩ Nhă th́, Cổ giải thích sự dị biệt giữa ngữ ngôn xưa và nay  Huấn th́ nói về h́nh tướng (của Sự vật) - và nguyên lí giảng Kinh rồi không ngoài 2 Chữ này! Thông hiểu ngữ ngôn cổ, thông hiểu âm đọc cổ th́ nghĩa cổ có nghĩa nào mà không thông suốt! Biết h́nh tướng, biết thanh âm (của Sự vật) th́, Điển tịch cổ không Điển tịch nào mà không hiểu!’.

Và ở Chương 25, ‘Giảng Kinh trước hết phải hiểu Âm Vận’, Giang Phiên có đoạn viết:

 ‘Tự hữu cổ âm tức hữu cổ vận, dĩ kim âm kim vận thằng chi tắc hạn cách bất hợp, do hữu ngữ Bắc âm dĩ Nam âm thằng chi, hạn cách do cố dă! Nhân tri Nam Bắc chi âm hệ ư Địa, bất tri cổ kim chi Âm hệ hồ Thời’.

 ‘Chữ có âm cổ tất nhiên có vận cổ, nếu lấy nguyên tắc của âm ngày nay, vận ngày nay mà đọc th́ không hợp cách, cũng như về ngữ ngôn, theo cách phát âm ở miền Nam mà đọc âm miền Bắc th́ không hợp cách là điều cố nhiên. Người ta (vẫn) biết là âm Nam, âm Bắc tùy thuộc địa lí, mà không biết là âm cổ, âm kim th́ tùy Thời mà khác’.

Trên đây là những điều ‘Nhập Môn’, Nguyễn Hiến Lê c̣n chưa thông th́ làm sao mà giải Kinh đây?!

C̣n ‘chưa qua khỏi cổng’ th́ Nguyễn Hiến Lê làm cách nào mà dẫn người khác ‘vào trong sân đây’?!

Trên đây là nói về chuyên môn, và chuyên môn th́ mọi người đă thấy hết sức là rơ Nguyễn Hiến Lê rồi vốn đứng lấp ló ngoài ngơ, chơ miệng nói vào những điều mà ḿnh thấy không rơ, nghe không rơ! Chẳng những vậy mà cho tới những chuyện thông thường ông vẫn để lộ sơ hở, kể như sau:

(1). Về 1 số thư tịch Nguyễn Hiến Lê trưng dẫn.

+ Trước hết là cuốn ‘Dịch Học Tân Luận’ của Nghiêm Linh Phong.

Ở trang 34, Nguyễn Hiến Lê ghi: ‘Dịch Học Tân Luận (Chính trung thư cục ấn hành  Đài bắc 1971)’.

Rồi ở trang 62, ông lại đề: ‘Dịch Học Tân Luận (Chính trung Thư cục  Hương cảng, 1971)’.

Và ở trang 85 th́ ghi: ‘Dịch Học Tân Luận... (do nhà Chính Trung Thư Cục ấn hành, 1973)’.

Rồi ở các trang 63 và 66 ông lại ghi: ‘Dịch Kinh Tân Luận’.

Minh Di án:

Về nhà xuất bản, nơi xuất bản người ta thấy Nguyễn Hiến Lê ghi bất nhất. Về nhà xuất bản th́ đúng nhưng nơi xuất bản đúng phải là Đài Bắc v́ nhà Xuất Bản ‘Chính Trung Thư Cục’ từ hồi nào chưa hề đặt tại Hương Cảng. Hương Cảng chỉ là 1 trong số những ‘Tổng Đại Lư Nước ngoài’ (Hải ngoại Tổng kinh tiêu’) của Đài Bắc, và địa điểm là ‘Tập Thành Đồ Thư Công Ti’.

Về năm xuất bản th́ tôi không rơ nhà xuất bản Chính Trung có tái bản tác phẩm kể trên vào các năm 1971 và 1973 như Nguyễn Hiến Lê đă ghi hay không, v́ lẽ, cung cách làm việc của Nguyễn Hiến Lê ở đây rất là đáng ngờ. Bản ‘Dịch Học Tân Luận’ tôi hiện có là bản in năm Dân Quốc 58 (tức 1969) và đây là Bản in lần đầu tiên (Sơ bản) của nhà xuất bản Chính Trung.

+ Kế đến là cuốn ‘Dịch Học Khải Mông’ của Chu Hi (1130 - 1200).

Nguyễn Hiến Lê đă ghi sai là ‘Dịch Số Khải Mông’ (tr. 83).

Sau cùng ở trang 90, Nguyễn Hiến Lê viết:

 ‘Đặc biệt nhất là cuốn The Symbols of Yi King của Z. D. Sung  Paragon ( Paragon có phải là tên nhà xuất bản không? Ở đâu? In năm nào, không biết, chỉ biết bài đề tựa của tác giả viết năm 1934 )’.

Nguyễn Hiến Lê thắc mắc như trên đây cũng phải thôi! Có điều là đă thắc mắc th́ thắc mắc cho trót  c̣n chuyện nữa sao ông không thắc mắc? Đó là cái ông Z. D. Sung trên đây là ông nào?

Nghiên cứu về Trung Hoa, gặp tên 1 người ghi theo lối phiên âm La tinh th́ đây là chuyện rất là ‘khó chịu’, chỉ những người nghiên cứu Trung Hoa bất thông Hán văn mới bằng ḷng với những cái tên ‘không giống ai’ đó, c̣n đă biết đôi chút Hán văn th́ người nào cũng cố truy tầm cho ra mới thôi, nhất là những nhân vật có tiếng  v́ rằng, bất cứ tên 1 Trung Hoa nào cũng đều có thể đọc ra âm Hán Việt qua lối Thiết âm. Có điều, cũng phải nhận rằng muốn đọc 1 tên Trung Hoa phiên âm La Tinh ra Hán tự, để từ đó chuyển qua âm Hán Việt, là chuyện hết sức nhức đầu, đến cả người Hoa cũng đành chịu! Lí do là ngôn ngữ Trung Hoa có rất nhiều tiếng đồng âm! Nếu là 1 nhân vật tiếng tăm trong 1 lănh vực nào đó th́ c̣n có thể đoán ra, ngoài ra th́ đành.

Việc dùng mẫu tự La Tinh phiên âm Hoa ngữ của các giáo sĩ Truyền giáo Tây phương trước đây đă thất bại cũng bởi lẽ đó! Trong khi đó, may mắn hơn, chúng ta có được chữ Quốc ngữ, v́ rằng ngôn ngữ Việt rất ít tiếng đồng âm.

Trở lại với cái Tên Z. D. Sung. Nhân vật này không ai khác hơn là Thẩm Trọng Đào đă đề cập ở đoạn nói về ‘Lưỡng Phái Lục Tông’ trước đây.

+ Gần cuối Chương III. là Chương lược thuật về ‘Các Phái Dịch Học Từ Hán Tới Nay’, trong đề mục ‘Hiện nay’, đề cập t́nh h́nh thư tịch về Dịch, Nguyễn Hiến Lê viết:

 ‘Trong mấy chục năm gần đây, các nhà xuất bản ở Hương cảng và Đài bắc vẫn thường in sách viết về Dịch, nhưng chúng tôi không thể theo dơi được, mới thấy được ba cuốn đáng chú ư...’.

3 cuốn Nguyễn Hiến Lê ở đây là ‘Chu Dịch Tân Giải’ của Tào Thăng, ‘Chu Dịch Cổ Kinh Kim Chú’ của Cao Hanh, và ‘Dịch Học Tân Luận’ của Nghiêm Linh Phong. (Coi trang 85).

Nguyễn Hiến Lê lại ḷe bịp nữa rồi! Tại sao tôi lại nói Nguyễn Hiến Lê ḷe bịp?

‘Học giả’ Nguyễn Hiến Lê đă nghĩ rằng thiên hạ không ai đọc được Hán văn chắc? Để theo dơi t́nh h́nh thư tịch về Dịch ông ta phải ‘theo dơi’ ở tận Hương Cảng và Đài Bắc. Người không biết cứ nghe ông ta nói mà phát rét! Nguyễn Hiến Lê muốn nói chuyện sách vở? Tôi xin nói chơi với Nguyễn Hiến Lê về sách vở!

Đi từ trung tâm Sàig̣n, theo đường Trần Hưng Đạo đi vô miệt Chợ Lớn, vừa đi qua khỏi ngă ba Đồng Khánh/Tản Đà vài chục thước, ở dăy Phố bên trái là 2 tiệm sách Quảng Ích và Chin Hoa cách nhau chỉ 5, hoặc 6 căn phố. Từ Quảng Ích đi lui lại, quẹo phải vào đường Tản Đà, chưa tới trăm thước, ở dăy phố bên mặt là nhà sách có cùng tên, tiệm ‘Tản Đà’; rồi từ Tản Đà đi tới mấy chục thước, đến ngă tư đầu tiên th́ quẹo phải, đi vài chục thước, cũng ở dăy phố bên mặt, là đến tiệm sách Liên Hưng. Con đường này tôi không c̣n nhớ tên, chỉ nhớ là ở phía bên kia ngă tư có 1 tiệm bán hủ tiếu Sa tế rất ngon, và chỉ bán buổi chiều mà thôi, đây là chưa kể tiệm Hậu Thái ở đối diện xeo xéo 2 tiệm Quảng Ích và Chin Hoa, có điều là tiệm này chỉ bán sách giáo khoa cho học sinh trường Tàu mà thôi! (Đường Đồng Khánh là đường Trần Hưng Đạo nối dài).

Kinh điển Trung Hoa, nói chung là văn học cổ điển, xuất bản tại Đài Loan và Hương Cảng, đều có thể t́m thấy dễ dàng ở 4 tiệm sách trên đây, kể cả những sách mới ra.

Chưa hết, ở mặt sau Đại học Y khoa, trên đường Nguyễn Trăi, hướng vào Chợ Lớn gần ngă tư Nguyễn Trăi / Triệu Quang Phục, ở dăy phố bên phải là tiệm sách Tập Văn; và từ tiệm Tập Văn đi tới mười mấy thước, tại góc ngă tư, ngay trên vỉa hè đường Triệu Quang Phục, là 1 Tiệm Sách không bảng hiệu! Nói là tiệm sách chứ thực ra người bán sách 1 người Hoa què 1 tay, rồi căng 1 tấm bạt làm mái, kê 3 cái kệ - 2 cái cao, 1 cái thấp, bày bán 1 vài quyển sách. Tuy vậy, đôi lúc cũng có thể t́m thấy tại đây 1 vài bộ sách giá trị! Tôi nhắc đến tiệm sách nhỏ này v́ bộ từ điển Hán văn đầu tiên trong đời, Bộ ‘Vương Vân Ngũ Đại Từ Điển’ tôi đă mua tại đây; và sau đó là các Bộ ‘Thủy Kinh Chú’ của Lịch Đạo Nguyên (469 - 527) triều Bắc Ngụy (386 - 534) và kể cả bộ ‘Trung Quốc Thông Sử’ trứ danh của sử học gia Lữ Tư Miễn (1884 - 1957) và như 1 bộ nữa là ‘Sáp Đồ Bản Trung Quốc Văn Học Sử’ của Trịnh Chấn Đạc (1898 - 1958) đều mua tại đây.

Và, xeo xéo đối diện tiệm sách vỉa hè này, ước 100 thước về mé phải là tiệm sách Thế Giới.

[Ông chủ tiệm sách ‘Tập Văn’ hiện định cư tại Úc. Nghe một người Hoa tôi quen nói có dạo ông mở nhà hàng ở Sydney, sau rồi chẳng rơ ra sao? Cuộc đời ông cũng gọi là khá bềnh bồng! Năm 1970, ông từ Cam Bốt, tránh nạn cáp duồn, về Việt Nam ở Cà Mau làm ăn cũng khá, nhưng sau th́ lỗ lă. Năm 1972, ông lên Chợ Lớn, mở tiệm sách Tập Văn. Năm 1974 th́ ‘sanh ư’ phải nói là rất ‘hưng long’. Rồi đùng 1 cái 1 năm sau đó! Và chuyện rủi là trước đó vào đầu năm 1975 ông đă nhập từ Đài Loan cả 1 kho sách để sau tiệm. Rồi sau vài năm nghe nói ông đă phải đem bán kí lô cả kho sách đó để vượt biên!  Tôi và bạn Huyền Thanh Lữ là ‘cố khách’ thường xuyên của tiệm Tập Văn, chúng tôi và ông Tập Văn cũng gọi là khá thân, có những cuốn b́a sách hoặc găy hoặc xếp nếp, hoặc dơ bẩn, ông dẫn chúng tôi ra sau kho để tha hồ mà chọn cuốn nào ưng ư ].

Người Hoa đi đến đâu là mở hàng quán tới đó, nhưng rồi cũng ‘không quên’ mang theo Sách vở của họ! Muốn theo dơi t́nh h́nh sách vở Hán văn, ông Nguyễn Hiến Lê cần chi phải ‘nhóng cổ’ ḍm tận ở Đài Loan, Hương Cảng, người thực sự đọc sách rồi chẳng chết khiếp v́ tiếng hù của ông đâu!

Sau 30. 4. 75, các tiệm sách ở Chợ Lớn rất eo sèo, 1 số tiệm đă phải đóng cửa, sách phải qua sự kiểm duyệt rất gắt gao trước khi được bày bán. Khoảng năm 1977 có một chuyện rất thú vị là về đêm trên vỉa hè 2 đường Nguyễn Trăi và Kỳ Ḥa (song song với đường Nguyễn Trăi), sách vở đă được đem ra bày bán bên cạnh những ánh đèn dầu, hoặc sang hơn, th́ măng-xông. Có thể nói là những sách bày bán về đêm này phần lớn bắt nguồn, hoặc từ các tủ sách tư nhân hoặc 1 gia tộc nào đó. Người ta có thể kiếm được tại 2 nơi này những Sách quí, hiếm  và cũng cần nói thêm là các loại sách gọi là ‘Loạn Thế Chi Thư’, như Dịch, Lăo Tử, Trang Tử, Y Dược... th́ khá nhiều!

Tôi phải hơi dài gịng 1 chút để cho thấy Nguyễn Hiến Lê ‘nổ’ mà chẳng sợ banh xác,ngay tại Việt Nam sách Hán văn rồi đâu có hiếm, Nguyễn Hiến Lê hoặc là bịp, hoặc là chẳng biết ǵ hết!

Đừng nói chi những sách giá trị, đă in đẹp, lại vừa túi tiền  chẳng hạn bộ Dược học trứ danh là ‘Bản Thảo Cương Mục’ của Lư Thời Trân (1518 - 1593), xuất bản tại Hương Cảng, và giá năm 1970 là 400 đồng, th́ với lương của 1 giáo sư trung học đệ nhị cấp mới ra trường (chỉ số 470) vào thời đó, (trên 20 ngàn / tháng), đại khái c̣n có thể vói tới được mà ngay đến những bộ mà túi tiền giáo giới thời ấy rồi quá nhỏ để có thể rớ tới, rờ th́ được, cũng được nhập Việt Nam.

Năm 1970, tiệm Tản Đà có bày bán Bộ ‘Cổ Kim Đồ Thư Tập Thành’, tất cả 101 Cuốn, Khổ lớn in tại Đài Loan, giá trên 100,000 đồng. Bộ này bày trong tủ kiếng, ở bên trái, ngay cửa ra vào.

Lúc bấy giờ dĩ nhiên tôi cũng chỉ có rờ thôi. Đây là chưa kể một Bộ khác tuy rẻ hơn, nhưng cũng vài chục ngàn, đó là bộ ‘Trung Văn Đại Từ Điển’, cũng xuất bản tại Đài Loan.

(2). Nguyễn Hiến Lê lên mặt dạy các bạn trẻ.

Đă dẫn ở phần mở đầu Bài viết này, bây giờ tôi xin dẫn lại 1 lần nữa.

Trong ‘Lời Nói Đầu’ cho cuốn ‘Kinh Dịch, Đạo Của Người Quân Tử’, ông Nguyễn Hiến Lê có câu:

 ‘Muốn hiểu thêm Kinh Dịch, bạn nên t́m đọc những sách tôi đă giới thiệu trong cuốn này’.

Những sách Nguyễn Hiến Lê giới thiệu ở đây là những sách đă được nêu rải rác trong Cuốn sách nêu trên của ông, kể 1 vài cuốn quan trọng như:

-‘Lục Thập Tứ Quái Kinh Giải’ của Chu Tuấn Thanh (1788 - 1858), ‘Dịch học Tân Luận’ của Nghiêm Linh Phong và ‘Chu Dịch Cổ Kinh Kim Chú’ của Cao Hanh (1900 - 1986)  cũng như 1 số Bản chuyển ngữ tiếng Anh nổi tiếng như ‘I CHING or Book of Changes’ (nguyên Bản dịch Đức ngữ của Richard Wilhelm (1873 - 1930), Cary F. Baynes dịch từ Đức ngữ qua Anh ngữ), và cuốn ‘The I Ching’ của James Legge (1815 - 1897).

Nguyễn Hiến Lê nói mà không ḍm trước ḍm sau cho kĩ! Nếu các bạn trẻ mà đọc được 3 cuốn Kinh Dịch Hán văn nói trên th́ tôi bảo đảm họ dạy lại được cả ông, có đâu tới ông mở miệng khoác lác mà không biết mắc cở như vậy! Đây là 3 sách viết cho người có tŕnh độ khá cao  tôi không nghĩ là tŕnh độ Hán văn cỡ ‘năm gian nhà cỏ’ như Nguyễn Hiến Lê lại có thể đọc nổi  và chứng cứ là Nguyễn Hiến Lê đă dịch sai một đoạn Chu Tuấn Thanh giải về Hào Sơ Cửu quẻ Càn mà tôi đă dẫn chứng trước đây. Và nếu đă có thể đọc được những tác phẩm loại trên th́ cũng không cần đọc 2 bản dịch Anh ngữ trên đây, v́ Sách Kinh Dịch Hán văn đă xuất bản rồi có tới số ngàn, kiếm ra sách đă đủ mệt. Và cũng cần nói thêm ở đây là khi chuyển ngữ Dịch Kinh qua Anh ngữ và Đức ngữ, James Legge và Richard Wilhelm chủ yếu đă căn cứ bộ ‘Chu Dịch Chiết Trung’ của Lí Quang Địa.

Nghiên cứu Hán học mà phải viện dẫn tài liệu Anh, Pháp như Nguyễn Hiến Lê, chẳng cần nói cũng đủ rơ tŕnh độ Hán văn của ‘học giả’ Nguyễn Hiến Lê tới đâu rồi!

&

Cuối sách, Nguyễn Hiến Lê có mấy gịng gọi là ‘Nh́n Lại Quăng Đường Đă Qua’.

Trong mấy gịng này Nguyễn Hiến Lê có đoạn cho biết là lúc ông ta c̣n nhỏ, cứ ‘mỗi vụ hè’ bà mẹ ông ta cho ông học thêm chữ Hán với Bác Hai ông ta để ‘đọc được gia phả bên nội, bên ngoại’.

Bấy giờ ông cũng như Bác ông rồi ‘chỉ coi sự học đó là môt việc để tiêu khiển’. Nhưng rồi  vẫn theo ông, th́ ‘không thể ngờ được hoàn cảnh và thời cuộc khiến cho tôi, vài chục năm sau, thành một người nghiên cứu về cổ học Trung hoa’. (tr. 584).

Nguyễn Hiến Lê ba hoa chích choè, tự khoe là ‘một người nghiên cứu về cổ học Trung hoa’.

Là ‘một người nghiên cứu về cổ học Trung hoa’ mà âm đọc cổ trong Kinh Dịch có nhiều chữ rồi nhà ‘nghiên cứu cổ học’ đọc chẳng thông; ngay 2 chữ ‘Bất tốc’ trong Hào Thượng Cửu Quẻ Tu cũng ù ù cạc cạc để rồi dịch lếu dịch láo là ‘thủng thẳng’. Một đoạn văn ngắn chỉ mấy chục chữ mà c̣n lem nhem, lập là lập lờ dịch cho qua truông. Dẫn sách tham khảo, cùng 1 Cuốn sách mà lúc ghi thế này, lúc ghi thế kia...

Tŕnh độ Hán văn th́ như vậy, cung cách làm việc th́ như vậy, mà dám vỗ ngực, ba hoa xưng là người ‘nghiên cứu cổ học’ sao? Tôi thấy Nguyễn Hiến Lê quả là khoác lác, thiếu tự trọng!

Rồi ở 1 đoạn dưới Nguyễn Hiến Lê viết:

 ‘Từ 1971, tôi muốn nghiên cứu riêng về thời Tiên Tần, thời rực rỡ nhất trong lịch sử triết học Trung hoa....

Đă có sẵn một số tài liệu bằng tiếng Anh, tiếng Pháp, tôi nhờ một cô bạn trẻ, cô Thiên Mai, sinh viên du học ở Đài Bắc kiếm thêm cho tôi tất cả những sách bằng tiếng Trung Hoa xuất bản ở Đài loan, Hương Cảng....’. (tr. 587).

Lại khoe, lại loè thiên hạ rằng ta đây giỏi Hán văn lắm đấy, ta chỉ ‘theo dơi’ t́nh h́nh sách vở ở Đài Loan, Hương Cảng, lúc nào ta cũng chỉ mua sách ở Đài Loan, Hương Cảng, số sách tại các tiệm ở Chợ Lớn đâu đáng để 1 ‘học giả’ như ta đọc, mua sách ở Chợ Lớn th́ xoàng lắm, như thế c̣n ǵ là danh giá!

Cuối cùng rồi, cùng 1 bộ Kinh Dịch bộ ở Đài Loan, Hương Cảng có giá trị hơn ở Chợ Lớn!

Và ở gần đoạn cuối, nhà ‘nghiên cứu cổ học Trung hoa’ của chúng ta viết:

 ‘Nh́n lại đoạn đường đă qua trong hai mươi bảy năm nay, từ năm 1953, tôi thấy mới đầu tôi chỉ tính viết hai cuốn rồi ngưng v́ tự biết Hán học không phải là sở trường của ḿnh; nhưng nhờ gặp bạn, nhờ được độc giả khuyến khích, tôi đă mỗi năm tiến thêm ít bước, rốt cục đă viết được 19 nhan đề về Cổ Học (không kể một cuốn dịch của Lâm Ngữ Đường), trong đó có sáu nhan đề về Văn học đều đă xuất bản, c̣n tám nhan đề chỉ là bản thảo. Có những nhan đề chỉ gồm trên trăm trang, nhưng cũng có nhan đề gồm nhiều tập, dày bảy tám trăm trang, trên ngàn rưỡi trang; trung b́nh là ba bốn trăm trang.

Như vậy chỉ nhờ mỗi một câu của Mẹ tôi: ‘Con nhà nho không lẽ không đọc được gia phả bên nội bên ngoại’.’. (tr. 588).

Nguyễn Hiến Lê nói ‘nhờ gặp bạn, nhờ được độc giả khuyến khích’.

Tôi không rơ những người bạn Nguyễn Hiến Lê gặp là những người nào, nhưng qua tŕnh độ Hán học của ông thể hiện (một cách kinh hoàng) qua cuốn ‘Kinh Dịch, Đạo Của Người Quân Tử’ th́ tôi suy đoán rằng những người bạn đó phải là những người như 2 ông Xuân Phúc và Trần Văn Tích.

Với Trần Văn Tích, ông là 1 ‘tư tưởng gia siêu việt’, không ‘siêu việt’ sao được khi sách của ông đáng được đưa đi dự giải Nobel về tư tưởng, theo như cảm thán của Trần Văn Tích!

C̣n đối với Xuân Phúc th́ ông là 1 người ‘siêu thâm hiểu nho học’  v́ rằng cuốn sách của ông ‘rất có ích... cho tất cả các độc giả, dù người thâm hiểu nho học’, và rồi như vậy Nguyễn Hiến Lê không là người ‘siêu thâm hiểu nho học’ th́ là cái ǵ đây?

Và, 2 ông bạn, và bạn quư nữa, Xuân Phúc và Trần Văn Tích cứ thế mà nhồi... Nguyễn Hiến Lê, tung bổng nhà ‘nghiên cứu Cổ Học Trung Hoa’ lên khoảng ‘trời thu xanh ngắt’. Có điều, chừng ông Nguyễn Hiến Lê rớt xuống th́...... chẳng ai hứng, hỡi ơi! Nguyễn Hiến Lê rồi chết v́ cú nhồi v́ sự tung bổng này của những người bạn quư! Những tưởng ‘trời thu xanh ngắt’, hóa ra chỉ là ‘năm gian nhà cỏ’!

C̣n về ‘độc giả’ th́ tôi không dám ‘vơ hết nắm đũa’, nhưng với tŕnh độ ‘năm gian nhà cỏ’ của Nguyễn Hiến Lê th́ tôi lại suy đoán rằng hạng ‘độc giả khuyến khích’ nhà ‘nghiên cứu cổ học’ ở đây cũng không ai khác hơn 2 ông Xuân Phúc và Trần Văn Tích.

Và, cứ như vậy, cứ như cái học, vấn của Nguyễn Hiến Lê th́ ‘19 nhan đề về Cổ Học Trung Hoa’ của ông ta rồi có 1 mẫu số chung, là sai lầm và ở những điều sơ đẳng, tôi có thể khẳng định như vậy mà không sợ sai lầm, v́ rằng nền móng đă không chắc, phập phà phập phều, nhà nào lại đứng vững cho được? Lư tất nhiên là vậy! Cuốn sách này của Nguyễn Hiến Lê là 1 chứng cớ hiển nhiên!

Sau cùng, câu ‘Con nhà nho không lẽ không đọc được gia phả bên nội, bên ngoại’ thoáng qua tưởng như khiêm tốn lắm, nhưng thực ra th́ nó biểu lộ 1 sự kiêu ngạo ngầm của Nguyễn Hiến Lê, một sự kiêu ngạo của 1 kẻ dối ḿnh, dối người. Tŕnh độ đă không tới đâu lại không tự biết c̣n tưởng là ḿnh giỏi lắm  đây là dối ḿnh; truyền bá những hiểu biết sai lầm của ḿnh ra, lại lên mặt dạy người th́ đây là dối người. Nguyễn Hiến Lê tưởng ḿnh giỏi Hán học lắm? Thực không biết mắc cở!

Văn Tự th́ ‘bất thức’, Huấn Cổ th́ ‘bất thông’, Âm Vận lại ‘bất tri’......... mà Nguyễn Hiến Lê cứ tưởng là ḿnh đă giỏi lắm rồi, vênh váo tự nhận là ‘người nghiên cứu Cổ Học Trung hoa’. Hỡi ơi!!

Kinh điển Trung Hoa, nói chung là Cổ Học Trung Hoa, rất khó đọc, và trong các Kinh, khó hơn bất cứ Kinh nào hết là Dịch Kinh. Cũng v́ vậy mà Thư mục học Trung Quốc cổ, và kim, vẫn xếp Kinh Dịch đứng đầu các Kinh. Thư mục học Trung Hoa đă phân thư tịch thành 4 Bộ (Tứ Bộ) là Kinh - Sử - Tử - Tập, hay cũng gọi là Giáp Bộ, Ất Bộ, Bính Bộ, Đinh Bộ và thư tịch Kinh Bộ luôn luôn bắt đầu với Dịch Kinh.

Kinh Dịch là 1 Bộ Kinh cực khó đọc. Với cái ‘học, vấn’ quá kém cỏi về Hán học nói chung  và về Dịch học nói riêng, như Nguyễn Hiến Lê mà dám múa bút viết về Kinh Dịch th́ đến không có nhận định nào đúng hơn là không biết tự lượng, ham trèo cao, té nặng, là chuyện đương nhiên!

Lí Quang Địa (1642 - 1718) viết:

 ‘Kinh thư nan độc, nhi thử Kinh vi vưu nan. Vị khai quyển thời dĩ hữu nhất trùng Tượng Số đại khái công phu; khai quyển chi hậu, Kinh văn bản í hựu đa bị tiên nho ngạnh thuyết sát liễu, lệnh nhân khán đắc ư tứ cục xúc, bất kiến bản lai ‘khai vật thành vụ’ hoạt pháp’.

/ Chu Dịch Chiết Trung. Cương Lănh 3 /.

 ‘Kinh thư khó đọc, và bộ Kinh này là khó đọc hơn cả! Chưa giở sách ra đă có một số kiến thức đại lược về Tượng Số phải biết, sách đă giở ra, bản í của Kinh văn đa số học giả đi trước rồi đă nói hết sạch, làm cho người ta cảm thấy chật vật trong việc suy tưởng, (bởi thế) không thấy được thêm một ư tưởng nào khác nữa về tư tưởng vốn linh động, uyển chuyển (của Kinh Dịch)  đó là ‘quán triệt cái lư của vạn vật, (từ đó mà có thể) thành toàn trách vụ trong thiên hạ’.’

Chú thích.

Đoạn mở đầu Chương XI của thiên ‘Hệ Từ Thượng’ có câu: ‘Phù Dịch, khai vật thành vụ’.

Ở đây, với câu trên Lư Quang Địa có ư chỉ Kinh Dịch.

Thi Tử (390 - 330 tr. Cn.) nói:

 ‘Nhân tỉnh trung thị tinh, sở thị bất quá sổ tinh’.

/ Thi Tử. Qu. Thượng. Quảng Trạch /.

 ‘Ở trong giếng ḍm sao trời, bất quá rồi chỉ thấy mấy v́ sao’.

Hàn Dũ (768 - 824) viết:

 ‘Tọa tỉnh nhi quan thiên viết thiên tiểu giả, phi thiên tiểu dă!’.

/ Hàn Xương Lê Văn Tập. Qu. I. Phú. Tạp trứ. Nguyên Đạo /.

 ‘Ngồi dưới giếng mà ḍm trời (mà) nói rằng trời nhỏ, (rồi ra) trời đâu có nhỏ!’.

Cái ông Hàn Dũ này thân danh đứng đầu ‘Đường, Tống Bát Đại Gia’ mà rồi nói năng đến ấm ớ hàm hồ, chỉ nói khơi khơi ‘ngồi dưới giếng’! Ông ta muốn nói dưới giếng là con người  hay là con ếch, hay là con chi chi đó th́ cho tới bây giờ tôi vẫn c̣n mù mờ!

Kiến thức, học vấn th́ hạn hẹp như vậy mà Nguyễn Hiến Lê lại cứ thích làm thầy thiên hạ. Người ta có thể thấy rất rơ cái thích này của ông ta trong rất nhiều cuốn sách của ông ta, tâm lư con người ngàn đời vẫn không đổi! Hơn 2000 năm trước đây Mạnh Tử (390 - 305 tr. Cn.) đă từng nói:

 ‘Nhân chi hoạn tại hiếu vi nhân sư’.

/ Mạnh Tử. Ly Lâu Thượng. 23 /.

 ‘Bệnh của con người là thích làm thầy người ta’.

Và khổ một nỗi là hạng thích làm thầy người ta này rồi đều là hạng chỉ mới biết quẹt qua vấn đề ǵ đó th́ những tưởng ḿnh đă giỏi lắm rồi, cho nên, lật đật đem khoe mớ kiến, thức èo uột đó ra dạy người khác. Và dĩ nhiên Nguyễn Hiến Lê cũng thuộc hạng này.

Từ trước năm 1975, tôi biết Nguyễn Hiến Lê có viết về Trung Hoa, nhưng chưa bao giờ tôi đọc qua những sách loại này của ông - và thực sự tôi vẫn nghĩ rằng tuy đây không phải là lănh vực chuyên môn của ông, nhưng tối thiểu ông cũng không tới nỗi vướng mắc những Sai, lầm loại tôi đă nêu trong bài này. Cứ thử nghĩ, tới 1979, năm viết xong Cuốn ‘Đạo Của Người Quân Tử’ này mà tŕnh độ Nguyễn Hiến Lê c̣n kém cỏi đến vậy th́ trước đó tŕnh độ của ông ta ra sao, không nói cũng đủ rơ!

Và như vậy, ’19 nhan đề về Cổ học Trung Hoa’ của Nguyễn Hiến Lê đều phải xét lại hết.

Đâu đó tôi cũng có nghe 1 vài sự nghi ngờ về khả năng Hán văn của Nguyễn Hiến Lê, có điều là nói th́ phải có chứng cớ, không thể nào nói khơi khơi, cho thỏa ḷng yêu, ghét, đây chính là điều Đại Tượng từ Quẻ Gia Nhân (Tốn / Ly) gọi là ‘Ngôn hữu vật’.

Bài viết này nhằm phân biệt đâu là thực học, đâu là giả học để từ đó chính cái Danh.

Danh đă chính th́ mọi lạm dụng từ ngữ rồi không c̣n, học giả và ‘học giả’ từ đó mới không c̣n lẫn và lộn.




Minh Di.

Viết tại Bất Túc Trưng Thư Trai.

Trừ nguyệt tiểu. Nhị thập tứ nhật, Đại Hàn hậu lục nhật.

Thư Mục.


[1]. Kinh Thị Dịch Truyện.

Tây Hán. Kinh Pḥng.

Hán Ngụy Tùng Thư Bản (Minh. Tŕnh Vinh toản tập).

Cát Lâm Đại Học Xuất Bản Xă 1992 / Sơ.

[2]. Chu Dịch Chú Sớ.

Tam Quốc  Ngụy. Vương Bật chú (Kinh: 64 Quái).

Tấn. Hàn Khang Bá chú (Hệ từ Truyện...).

Đường. Khổng Dĩnh Đạt sớ (chính nghĩa).

Thượng Hải Cổ Tịch Xuất Bản Xă 1989 / Sơ.

[3]. Chu Dịch Lược Lệ.

Tam Quốc Ố Ngụy. Vương Bật.

Thập Tam Kinh Bản.

Thượng Hải Cổ Tịch Xuất Bản Xă 1997 / Sơ.

[4]. Chu Dịch Tập Giải.

Đường. Lư Đỉnh Tộ.

Bắc Kinh Thị Trung Quốc Thư Điếm 1987 / 2.

[5]. Đồng Khê Dịch Truyện.

Triệu Tống. Vương Tông Truyền.

Thượng Hải Cổ Tịch Xuất Bản Xă 1990 / Sơ.

[6]. Chu Dịch Tập Thuyết.

[7]. Độc Dịch Cử Yếu.

Triệu Tống. Du Diệm.

Thượng Hải Cổ Tịch Xuất Bản Xă 1990 / Sơ.

[8]. Dịch Toản Ngôn.

Nguyên. Ngô Trừng.

Thượng Hải Cổ Tịch Xuất Bản Xă 1990 / Sơ.

[9]. Dịch Kinh Lai Chú Đồ Giải.

Minh. Lai Tri Đức.

Ba Thục Thư Xă (TQ) 1989 / Sơ.

[10]. Ngự Toản Chu Dịch Chiết Trung.

Thanh. Lí Quang Địa.

Thượng Hải Cổ Tịch Xuất Bản Xă 1990 / Sơ.

[11]. Chu Dịch Thuật.

Thanh. Huệ Đống.

Thiên Tân Thị Cổ Tịch Thư Điếm 1989 / Sơ.

[12]. Dịch Hán Học.

Thanh. Huệ Đống.

Thượng Hải Cổ Tịch Xuất Bản Xă 190 / Sơ.

[13]. Chu Dịch Tập Giải.

Thanh. Tôn Tinh Diễn.

Thành Đô Cổ Tịch Thư Điếm (TQ) 1988 / Sơ.

[14]. Lục Thập Tứ Quái Kinh Giải.

Thanh. Chu Tuấn Thanh.

Trung Hoa Thư Cục (TQ) 1998 / 6.

[15]. Chu Dịch Thượng Thị Học.

Dân Quốc. Thượng Bỉnh Ḥa.

Trung Hoa Thư Cục (TQ) 1990 / 5.

[16]. Tiêu Thị Dịch Lâm Chú.

Tây Hán. Tiêu Diên Thọ.

Dân Quốc. Thượng Bỉnh Ḥa.

Trung Quốc Thư Điếm (TQ) 1990 / Sơ.

[17]. Chu Dịch Cổ Kinh Kim Chú.

Cao Hanh.

Trung Hoa Thư Cục (HC phân Cục) 1985 / Trùng ấn.

[18]. Dịch Học Tân Luận.

Nghiêm Linh Phong.

Chính Trung Thư Cục (ĐL) 1969 / Sơ.

[19]. Lưỡng Hán Tượng Số Dịch Học Nghiên Cứu.

Lưu Ngọc Kiến.

Quảng Tây Giáo Dục Xuất Bản Xă 1997 / 2.

[20]. Dịch Học Triết Học Sử.

Chu Bá Côn.

Hoa Hạ Xuất Bản Xă (TQ) 1995 / Sơ.

[21]. Chu Dịch Nghiên Cứu Sử.

Liêu Danh Xuân. Khang Học Vĩ. Lương Vi Huyền.

Hồ Nam Xuất Bản Xă 1991 / Sơ.

[22]. Chu Dịch Đại Từ Điển.

Ngũ Hoa chủ biên.

Trung Sơn Đại Học Xuất Bản Xă (TQ) 1993 / Sơ.

[23]. Dịch Học Đại Từ Điển.

Trương Kỳ Thành chủ biên.

Hoa Hạ Xuất Bản Xă 1995 / 3.

[24]. Chu Dịch Từ Điển.

Trương Thiện Văn,

Thượng Hải Cổ Tịch Xuất Bản Xă 1995 / 3.

[25]. Kinh Điển Thích Văn.

Đường. Lục Đức Minh.

Thượng Hải Cổ Tịch Xuất Bản Xă 1985 / Sơ.

[26]. Kinh Truyện Thích Từ.

Thanh. Vương Dẫn Chi.

Dân Quốc. Hoàng Khản & Dương Thụ Đạt phê ngữ.

Nhạc Lộc Thư Xă 1984 / Sơ.

[27]. Kinh Giải Nhập Môn.

Thanh. Giang Phiên.

Thiên Tân Thị Cổ Tịch Thư Điếm 1990 / Sơ.

[28]. Kinh Tử Giải Đề.

Lữ Tư Miễn.

Thái B́nh Thư Cục (HC) 1982 / Trùng ấn.

[29]. Tứ Thư Tập Chú.

Triệu Tống. Chu Hy.

Thái B́nh Thư Cục 1986 / 7.

[30]. Trang Tử Bổ Chính.

Chiến Quốc. Trang Chu.

Dân Quốc. Lưu Thúc Nhă chú.

Tân Văn Phong Xuất Bản Công Ty (ĐL) 1975 / Sơ.

[31]. Thi Tử.

Chiến Quốc. Thi Giảo.

Thanh. Uông Kế Bồi tập.

[32]. Hoài Nam Tử.

Tây Hán. Lưu An.

Đông Hán. Cao Dụ chú

Thanh. Trang Qú Cát hiệu san.

2 Tác phẩm ghi số hạng [31] và [32] tập trong:

Nhị Thập Nhị Tử Bản.

Thượng Hải Cổ Tịch Xuất Bản Xă 1996 / 8.

[33]. Tam Quốc Chí.

Tây Tấn. Trần Thọ.

Lưu Tống. Bùi Tùng Chi chú.

[34]. Tấn Thư.

Đường. Thái tông ngự soạn.

2 Bộ Sử Thư ghi số hạng [33] và [34] tập trong:

Nhị Thập Ngũ Sử Bản.

Thượng Hải Cổ Tịch Xuất Bản Xă 1991 / 8.

[35]. Thế Thuyết Tân Ngữ Hiệu Tiên.

Lưu Tống. Lưu Nghĩa Khánh.

Từ Chấn Ngạc chú.

Trung Hoa Thư Cục (HC phân Cục) 1987 / Sơ.

[36]. Tiên Tần Chư Tử Hệ Niên (tăng định bản).

Tiền Mục.

Trung Hoa Thư Cục (TQ) 1985 / Sơ.

[37]. Hàn Xương Lê Văn Tập Hiệu Chú.

Đường. Hàn Dũ.

Thanh. Mă Thông Bá hiệu chú.

Trung Hoa Thư Cục (HC phân Cục) 1975 / Trùng ấn.

[38]. Thuyết Văn Giải Tự Nghĩa Chứng.

Đông Hán. Hứa Thận.

Thanh. Quế Phức nghĩa chứng.

Tề Lỗ Thư Xă (TQ) 1987 / Sơ.

[39]. Khang Hy Tự Điển (tân tu bản).

Thanh. Thánh tổ Khang Hy sắc soạn.

Lăng Thiệu Văn toản tu.

Cao Thụ Phiên trùng tu.

Linh Kư Xuất Bản Hữu Hạn Công Ty (HC) 1981 / Sơ.

[40]. Từ Nguyên (Súc Ấn Hợp đính bản).

Quảng Đông, Quảng Tây, Hồ Nam, Hà Nam Từ Nguyên Tu đính tổ.

Thương Vụ Ấn Thư Quán (HC phân Cục) 1987 / Sơ .



Nguồn : TVTC

Son Ha
03-23-2008, 07:57 AM
Cám ơn NHDT đă chịu khó đi sưu tầm đó đây để đem về góc phố cái bài này. Hổng biết NHDT có đọc hết chưa, và nghĩ ǵ?

SH này thấy bài này có giá trị sử sách... chứ c̣n giá trị "chân lư" của Kinh Dịch mà chỉ dựa trên tài liệu sách vở hay Kinh Điển... th́ chỉ mới là "nhân lư" chớ không phải là "thiên lư" !

Hơn nữa tác giả Minh Di này có thể là "bác học" thiệt... nhưng dựa vào sự hiểu biết của ḿnh để khinh chê người khác, cho dầu người ta có "nổ" đi nữa... th́ SH nghĩ, không phải để xét đoán, nhưng để nói tuy là ông này có vẽ "bác học"... nhưng cũng chưa hiểu thật... ĐẠO của người quân tử là ǵ... v́ chưa có "tư cách" với "thái độ"... "minh minh Đức" ! V́ hễ là "đèn", là "ánh sáng" th́ tự nhiên "sáng" mà không cần phải dành để "sáng"... phải hông NHDT?

Chút cảm nghĩ để suy tư với NHDT...:rose1::caphe: