PDA

View Full Version : DƯỚI BÓNG MẸ HIỀN



Son Ha
05-05-2008, 12:08 PM
Nhân dịp ngày lễ Mẹ, để cho ACE nào ở MGP muốn hiểu biết thêm về ư nghĩa MẸ theo nền tảng Minh Triết của Việt tộc qua Nguyên Lư Mẹ, xin mời đọc bài trích dẫn sau đây trong tác phẩm Thái B́nh Minh Triết của triết gia Kim-Định.



Bóng Mẹ hiền đây xin được hiểu là dưới ảnh hưởng của nền Minh Triết đầy đủ nguyên lư Mẹ. Đó là điều họa hiếm. Hầu hết chỉ c̣n có cha, tức duy dương, duy trí, duy vật.

Nói tới Mẹ hiền tự nhiên liên tưởng tới cha dữ. Đó không phải bất công, mà chỉ là kiểu nói b́nh dân có phần hơi mạnh để tỏ tính của hai đối cực: bên nhu bên cương, bên tṛn đầy bên bắt góc. Cương mà không được nhu thấm nhuần th́ dễ trở nên bạo hành tàn nhẫn. V́ thế nếu phải chia ra hai cột th́ bên Mẹ là yêu thương vô bến bờ, chuyên nâng đỡ đời sống. Bên cha là tăng quyền uy, bắt đi sát kỷ luật nghiêm khắc.

Bên Mẹ là hoà b́nh, bên cha là hiếu chiến. Bên mẹ là tích tụ. Bên cha là phân tán. Bên Mẹ là lệ làng. Bên Cha là pháp nước. Pháp nước th́ chung cho toàn quốc, có tính cách trừu tượng, tự trên áp đặt không hợp cho mọi nơi được. C̣n lệ làng là của từng điạ phương hợp t́nh hợp cảnh v́ do dân dựa theo kinh nghiệm mà đưa ra nên có tính cách b́nh dân hơn hẳn. Bên mẹ là nông thôn đồng ruộng, văn hóa. Bên cha là thành thị, văn minh, thương mại. Bên Mẹ là nhân ái yêu thương. Bên cha là trí mưu tính toán. Nói gọn là :"mẹ non nhân, cha nước trí".


Tóm lại nếu phân ra được th́ ai cũng nhận bên mẹ. Luật Manu nói mẹ đáng mến ngàn lần hơn cha (W. Durant 494). Tuy nhiên không v́ mẹ đáng yêu mến hơn mà bỏ cha được. Bởi như đă nói trên: mẹ cha chỉ là đại biểu cho hai thái cực. Kinh Dịch nói "duy dương bất thành, độc âm bất sinh" không được chọn một bỏ một. Lư tưởng là làm sao giữ được cân đối. Theo tiền sử ở thời thái sơ gọi là văn hóa th́ điạ vị mẹ nổi vượt nên có an ḥa, có cân đối, nhưng đến đời văn minh th́ cha lấn mẹ, vậy là mất thế quân b́nh. Bí quyết giữ thế quân b́nh ở tại nâng đỡ bên mẹ: nâng đỡ bên yếu, gọi là tinh thần phù yểu, biểu thị bằng tục trọng tả (tay tả yếu hơn nên được dùng để chỉ bên yếu cần nâng đỡ) có vậy mới giữ được thế b́nh quân giữa âm và dương để làm nên cơi người ta.


"Cơi người ta" phải có bầu khí Thái Hoà để đúng với câu :"thiên sinh, địa dưỡng, nhân ḥa". Muốn cho câu trên trở nên gần gũi và thắm thiết cùng cực th́ văn hoá Việt dùng h́nh ảnh mẹ cha. Thay v́ nói “thiên sinh mẹ dưỡng” th́ nói "cha sinh, mẹ dưỡng", nội dung như nhau, chỉ khác lối tŕnh bày: nói "cha sinh mẹ dưỡng" là rút cái bao la thiên địa vào tầm mức nhỏ cho con người dễ thâu nhận, chứ chân lư vẫn là một, gọi là "thiên điạ vạn vật nhất thể". Theo đó th́ cái thực cho một phần cũng là thực cho tất cả = một cọng cỏ cũng giá trị như trời đất. Nói thiên sinh điạ dưỡng hay nói cha sinh mẹ dưỡng cũng thế: đứa con phải là sản phẩm của một tác hợp tràn đầy ái ân thâm thiết, nên sản phẩm phải được định tính bằng chữ Ḥa chữ Hợp. Nói nhân ḥa cũng như nói Ḥa là con người. Thiếu Ḥa không ra người được. "Bĩ chi phỉ nhân". Muốn ra người phải là quẻ Thái. Có đạt Thái Ḥa th́ con người mới đạt cùng cực là Đại Ngă Tâm Linh. Đó cũng là cứu cánh của con người rồi đó.


Thế nhưng trong thực tế con người chỉ đạt những bước ḥa nho nhỏ cỡ lương tri thường nghiệm, nghĩa là những hậu quả bé nhỏ c̣n đầy mâu thuẫn. Kinh Thánh có câu khuyên người cần hiền lành như chim bồ câu, nhưng lại phải khôn ngoan như con rắn. Câu đó phảng phất lư tưởng tiên rồng, v́ cũng có chim chỉ mẹ và rắn chỉ cha. Nơi Việt tộc th́ tiên chim và xà long đă gặp nhau trên cánh "Đồng Tương".

Nói cánh "Đồng Tương" là nói lên mối Tương quan thân mật cùng cực như thấy được trong Trống Đồng h́nh chim Âu đang đưa cái hôn nồng cháy vào tận cửa họng thuyền rồng. Thực không thể tả cảnh ái ân cách thắm thiết táo bạo hơn, nhưng cũng thanh tao rất mực không thể hơn được nữa. H́nh ảnh ấy nói lên sự thực hiếm có trên đời là nền Minh Triết tṛn đầy gồm cả mẹ lẫn cha mà tiền nhân ta gọi là "Giao Chỉ" với nguyên nghĩa là chỉ trời chỉ đất giao thoa. Giao thoa được cùng chăng là do con người có làm tṛn nhiệm vụ "Nhân Ḥa" cùng chăng.

Trong thực tế ở khắp nơi tất có nhiều cuộc giao chỉ, nhưng hầu hết đều ở đợt lương tri, chứ chưa đạt đợt triết lư, nên thiếu những lâu đài trường cửu như nơi Trống Đồng. Lác đác đó đây cũng có gặp chim và rắn, nhưng lại trong thế giao tranh như thần điểu Garuda đang mổ rắn Naga bên Ấn độ, tức là chim rồng không gặp nhau trên cánh Đồng Tương, mà trên cánh đồng tương tranh tương đấu. Bên Perse c̣n tệ hơn khi cho thần lành diệt thần dữ. Đó là lấy dương át âm, đi đến thuyết nhị nguyên đối kháng, y như vật biểu hầu khắp nơi đều không có chim trời đi với rắn nước, mà nếu có chim th́ hầu hết là loài chim ăn thịt thứ dữ, hay toàn loài ác thú 4 chân, nên đều là tương tranh tương đấu, chứ không có tương ái tương ḥa.


Điều ấy có nghĩa là trong hết mọi chặng con người chưa thành tựu được cảnh Thái Hoà trong "t́nh lư tương tham, tri hành hợp nhất". Sâu xa hơn nữa th́ ư thức phải hợp với tiềm thức, nói kiểu siêu h́nh là Hữu phải ôm Vô. Hữu là ư thức là lư trí, c̣n Vô là t́nh là Tâm (tâm thuộc tiềm thức): hai diện đó phải ḥa phải hợp, nếu không th́ gây ra tâm bệnh thường là loại schizophreny có nghĩa là chẻ đôi tâm trí, v́ thế cũng gọi được là split personality= bản lănh chẻ đôi. Người bị chứng đó mắc đầy mâu thuẫn, mảnh mún, rời rạc, thiếu nhất quán. Không có được một bản ngă hùng mạnh. Đây là đợt cá nhân. Bước sang đợt gia đ́nh th́ "phu thê giao bái" đốc ra lối "chồng chúa vợ tôi" theo kiểu luật rừng yếu thua mạnh được.


Thế rồi lên hai cấp trên là "trị quốc b́nh thiên hạ" th́ là thói mạnh lấn yếu, trước là nước lấn nhà: đốc ra độc quyền chuyên chế. Tổ tiên ta quen nói "nhà nước" rồi "làng nước" nối hai lại một, nhưng khi rơi vào tay chuyên chế th́ cả làng lăn nhà đều bị lấn át. Đến chỗ cùng cực th́ chỉ c̣n quốc tế chứ nước cũng bị đe dọa biến luôn dưới sức búa bổ "Tam Vô" là vô gia đ́nh, vô tôn giáo, vô tổ quốc. Vô tôn giáo là diệt tâm t́nh. Vô gia đ́nh là diệt tổ ấm nuôi dưỡng xác thân, diệt luôn tâm hồn với t́nh âu yếm thiết tha của gia tộc. Cuối cùng đến nước là mối t́nh cao quí giữa đồng bào cũng vô luôn để dành chỗ cho quốc tế, nhưng đó chỉ là cái tên trừu tượng rỗng tuếch được dùng để đày đọa con người, chứ có c̣n nội dung người đâu. Tất cả tai họa đó đều tại lỗi triết học duy trí đă đánh mất Nguyên lư Mẹ.


Tóm lại bầu khí của nơi giữ được nguyên lư Mẹ là bầu khí Thái Ḥa an vui, sống mạnh cả nhà lẫn nước. Platon đă nói được một câu chí lư rằng: "sự khôn ngoan cùng cực ở tại biết xếp đặt ổn thỏa việc nhà việc nước. Tuy nói được câu đó nhưng không làm được, v́ Platon đă không quan trọng hóa nhà cho đủ, không biết đi một đường tả nhậm để bênh vực bên yếu là nhà, nên nhà đă đă bị nước lấn át. V́ thế văn hóa tây âu đi đến duy dương, duy trí, mất nguyên lư Mẹ, gây nên thứ văn hóa duy lư, thiếu t́nh, tức cũng là thiếu vui sống... chuyên về vơ công ca và bi kịch mà yếu về thơ trữ t́nh và sinh thú như bên Đông Á.


Có hai sự kiện lớn lao trong văn hóa kiện chứng cho tính cách c̣n Mẹ: một là thần cứu tế Lokesvara bên Ấn độ vốn là thần nam, làm phó đức Adiđà bên tây phương tịnh thổ, thế mà khi xuất hiện trên phần đất Việt nho đă mặc xác nữ trở thành Quan Thế Âm Bồ Tát, lại c̣n bồng đứa con gọi là Quan Âm tống tử, tức là đi ngược hẳn với bên Tây Trúc diệt dục, diệt sinh: "li gia cắt ái". Sang đông bộ th́ nâng t́nh lên đến độ làm Thần Nữ, lại c̣n bồng con, cho con (tống tự). Việc thứ hai Đức Di Lạc hiện thực câu nói: "thứ nhất bộ râu thứ nh́ bầu bụng". Bầu bụng th́ đă phơi ra quá rơ đủ nói lên hậu quả của sự vui sống. C̣n cái miệng th́ tuy không râu nhưng lại cười tươi như hoa nở rộ. Bỏ râu đây không là diệt sinh mà là để khỏi che mất cái miệng cười tươi vui sống. Hai sự kiện trên minh họa đầy đủ bầu khí văn hóa có nguyên lư Mẹ: "c̣n Mẹ ăn cơm với cá ; mất Mẹ liếm lá gặm xương".