PDA

View Full Version : Giai Thoại Văn Chương - Sưu Tầm -



SilverBullet
06-23-2008, 02:42 PM
Bắn rụng mặt trời


Đoàn sứ giả nước Nam do hoàng giáp Ngô Kính Thần dẫn đầu, sang sứ nhà Minh, quan nhà Minh ra câu đối:

Nhật hỏa, vân yên, bạch đán thiêu tàn ngọc thỏ.

(Mặt trời là lửa, mây là khói, ban ngày đốt cháy vầng trăng).

Câu này có ư là có một thế lực hùng hậu đă dẹp tan đi thế lực yếu kém hơn. Mặt trời hiện ra th́ mặt trăng mất đi. ư bóng gió là thiên triều bắt nước nhỏ phải quy phục.

Ngô Kính Thần ung dung đối lại:

Nguyệt cung, tinh đạn, hoàng hôn xạ lạc kim ô.

(Trăng làm cung, sao làm đạn, chiều tối bắn rụng mặt trời).

Câu đối lại tuyệt hay, h́nh tượng sắc sảo hơn, chất quật cường cũng rơ. Nghe nói, nhà Minh rất bất b́nh v́ câu đối này, đă bắt giam sứ giả.

Câu đối này từ trước vẫn được xem là của Mạc Đĩnh Chi. Nhưng hiện nay đă tra cứu lai lịch. Lời văn được khắc trên bia đá, khắc năm 1656, tác giả văn bia là tiến sĩ Vũ Đăng Long. Theo lời bia, th́ câu đối trên đây là của Ngô Kính Thần, người xă Xuân Hy, huyện Kim Hoa (nay thuộc Hà Nội). Ông Ngô Đỗ Hoàng Giáp năm 1493.

Thường Dân Nam Bộ
06-23-2008, 04:41 PM
Những giai thoại về Cao Bá Quát
- Vũ Ngọc Khánh -

Cá nuốt cá, người trói người

Chuyện kể khi c̣n bé, Cao Bá Quát ra tắm ở Hồ Tây. Đúng vào lúc vua Minh Mệnh tuần du ở ngoài bắc, nhà vua cũng đến Hồ Tây xem phong cảnh. Đạo ngự đi qua, tàn lọng rợp trời, gươm đao sáng quắc, ai cũng phải tránh xa, riêng cậu Quát cứ tự do vùng vẫy. Lính đến bắt lôi lên bờ, cậu cứ trần truồng đến trước mặt vua, tự khai là học tṛ, v́ trời nực ra tắm mát. Vua nh́n xuống hồ thấy có con cá lớn đang đuổi đàn cá con, liền đọc một câu đối, bảo nếu đúng Quát là học tṛ th́ phải đối được, sẽ tha không đánh đ̣n; vua đọc:

Nước trong leo lẻo, cá đớp cá.

Cậu Quát ứng khẩu đối ngay:

Trời nắng chang chang, người trói ngườị


Hay là thầy Lư...

Ở làng Cao Bá Quát có viên lư trưởng có tiếng là hay nhũng lạm. Dân làng chê trách nhưng không ai dám chỉ trích công khai. Cao Bá Quát tuy c̣n nhỏ tuổi, nhưng cũng biết chung mối bất b́nh với dân chúng. Nhân có việc làng cho đắp đôi con voi thờ dựng trước cửa đ́nh, cậu Quát cùng chúng bạn ra chơi, lấy bút viết luôn vào lưng voi bài thơ:

Khen ai rơ khéo đắp đôi voi
Đủ cả đầu đuôi, đủ cả ṿi
Chỉ có cái kia sao chẳng đắp
Hay là thầy Lư bớt đi rồi.


Ước đời Nghiêu Thuấn

Một lần Cao Bá Quát đến nghe b́nh văn ở một trường Đốc. Nghe đọc những câu văn tầm thường, ông cứ lắc đầu và c̣n bịt mũi tỏ ra khó chịu. Lính bắt vào nộp quan đốc học. Quát xưng là học tṛ, hỏi học với ai, ông trả lời:

- Tôi học với ông Tŕnh ông Chu.

Tŕnh, Chu là hai vị học giả vào hàng tôn sư trong đạo Nho. Trả lời như vậy là tỏ ra ḿnh học với các bậc thánh hiền, học từ gốc chứ không thèm học ngọn! Quan đốc giận, ra câu đối bắt đối ngay:

- Nghĩ tiểu sinh hà xứ đắc lai, cảm thuyết Tŕnh Chu sự nghiệp?

(Chú bé này ở đâu đến đây, dám nói đến sự nghiệp ông Tŕnh, ông Chu to lớn?)

Cậu Quát đối lại:

- Ngă quân tử kiến cơ nhi tác, dục vi Nghiêu Thuấn quân dân.

(Người quân tử gặp thời làm việc, muốn quân dân đều được như đời Thuấn, đời Nghiêu).

Quan đốc phục tài, nhất là cảm thấy chí hướng lớn lao của người trẻ tuổi. Ông đă không giận mà c̣n thưởng cho Cao Bá Quát.



Câu đối khóc mướn


Cả mấy thầy nho đi gặp một đám tang, chủ nhà mời dừng chân để xin câu đối. Không hề quen biết, cũng chưa rơ t́nh h́nh cụ thể thế nào, không ai nghĩ ra viết câu đối sao cho hợp. Một nho sĩ cùng đi trong đám ấy, xin giấy bút viết ngay:

- Thấy xe thiên cổ xịch đưa ra, không thân thích lẽ đâu khóc mướn.
Tưởng sự bách niên đừng nghĩ lại, động can tràng nên phải thương vay.

Các nhà khoa bảng ở đám tang hết sức phục đôi câu đối tài t́nh. Có người đoán ra ngay: - Cứ giọng văn lưu loát và t́nh cảm phóng khoáng này th́ tác giả chắc chắn là Cao Bá Quát. Họ chèo kéo đám nho sĩ để hỏi han, th́ quả nhiên đúng như vậy.


Cót két thẩn thơ

Tương truyền khi chưa quen nhau, ông Quát nghe tiếng ông Nguyễn Văn Siêu dạy học, t́m đến thăm ḍ. Ông Siêu c̣n nghèo lắm, chỉ ngồi trên ghế chơng tre cũ kỹ, học tṛ trải chiếu ngồi quanh nền nhà. Cao Bá Quát xin vào học. Ông Siêu ra câu đối, bảo có đối được mới nhận.

Tiên sinh tọa tịch thượng, cót chi két, két chi cót, cót cót két két.

Ông Quát đối ngay:

Tiểu tử nhập đ́nh trung, thẩn chi thơ, thơ chi thẩn, thẩn thẩn thơ thơ .

Nguyễn Văn Siêu rất phục, dắt tay mời vào. Từ đó hai người kết bạn vong niên.


Câu thơ thi xă

Cao Bá Quát vào Huế thi, rồi được làm một chức quan nhỏ ở Huế. Các ông hoàng bà chúa cùng với những tao nhân mặc khách ở Kinh đô, thường nhóm họp nhau, đàm luận và xướng họa thơ văn. Họ lập ra một thi xă lấy tên là Tùng Vân. Tùng Vân là tên hiệu của Tùng Thiện Vương Nguyễn Miên Thẩm, người đứng đầu thi xă này. Có người muốn rủ ông Quát vào thi xă, đưa cho ông xem một vài tập thơ văn, nhưng vô t́nh lại không chọn lựa, đưa phải những bài quá kém. Nghe nói, ông Quát xem rồi bịt mũi đọc câu ca:

Ngán cho cái mũi vô duyên
Câu thơ thi xă, con thuyền Nghệ An.

Nhiều nhà thơ ở Huế bất b́nh về sự khinh miệt này. Tuy bất b́nh, họ vẫn phải ngầm đọc lại các tác phẩm của ḿnh, để xem có đến nỗi "hôi" như mùi thuyền chở nước mắm ở Nghệ An vào không?

Riêng có vị chủ tŕ thi xă, Tùng Thiện Vương là có thái độ khác. Ông cũng thấy trong số hội viên thi xă Tùng Vân nhiều người văn chương... đáng chê trách. C̣n Cao Bá Quát, th́ thật là một tài năng. Tùng Thiện Vương đă nhún ḿnh, nhiều lần t́m gặp và đón mời ông Cao. Cuối cùng Cao Bá Quát cảm động, trở thành bạn thân của Tùng Vân.


Trên dưới đều chó

Nhờ có tài văn chương, tuy chức phận thấp, Cao Bá Quát thường được nhiều người lưu ư, kể cả nhà vua. Một hôm, có hai viên quan căi cọ nhau về một việc ǵ đó, đâm ra ẩu đả. Cao Bá Quát v́ có chứng kiến nên vua Tự Đức bắt viết tờ tŕnh cho vua rơ đầu đuôi. Ông Quát khai rằng:

Bất tri ư hà
Lưỡng tương đấu khẩu
Bỉ viết cẩu
Thử diệc viết cẩu
Dĩ chí đấu ẩu
Thần kiến thế nguy thần tẩu

nghĩa là:

Chẳng biết v́ sao
Hai bên căi cọ
Bên này rằng: chó
Bên kia cũng: chó
Trên dưới đều chó
Rồi họ đấu vơ
Thần thấy thế nguy thần bỏ (*)

(*) Về giai thoại này, trong nhân dân vẫn nghe truyền tụng như trên. Sách Giai thoại làng nho của Phùng Tất Đắc chép hơi khác và cung cấp xuất xứ có vẻ cụ thể hơn.

Chuyện rằng hai vị quan trong triều là Phan Văn Nhă và Vơ Văn Khải đánh nhau v́ chuyện văn chương. Ông Khải xem bài ông Nhă chê kém và nói Văn như thế chó nó cũng làm được. Thế là sinh sự.

Vua Tự Đức hỏi, Quát cứ "sự thực tường khai" như sau:

Quát quá Nhă gia
Nhă hô: Quát! Quát!
Quát lại âm
Thủ bất tri
Vĩ bất tri
Chỉ kiến lưỡng tương đấu khẩụ..

(Mấy câu chép tiếp giống như trên, câu kết hơi khác):

Thần kiến thế nguy
Thần khủng thần tẩu.
Mấy câu dị bản trên nghĩa là:
Quát qua nhà Nhă
Nhă gọi Quát! Quát
Quát đến uống
Đoạn đầu không biết
Đoạn đuôi không biết
Chỉ thấy: hai bên căi cọ...
...
Thần thấy thế nguy
Thần sợ thần chạy .


Khù khờ khệnh khạng

Vua Tự Đức thường cứ nghĩ ra những tṛ văn chương độc đáo để khoe tài với các quan. Một lần, ông nói với họ:

- Đêm qua, trẫm nằm mơ thấy hai câu thơ thật đặc biệt:

Viên trung oanh chuyển khề khà ngữ
Dă ngoại đào hoa lấm tấm khai .

Các khanh thấy thế nào?

Các quan đều nức nở cho là lạ, thơ chữ Hán kèm tiếng Nôm, rơ nghĩa mà có h́nh ảnh tân kỳ, chắc là tiên thánh nào ban cho, hoặc nhà vua nghĩ được câu thần cú. Chỉ có Cao Bá Quát quỳ tâu:

- Tâu bệ hạ, câu thơ ấy là thơ cũ đấy ạ! Nguyên là hai câu 3, 4 ở một bài thơ thần đă được nghe.

Vua ngạc nhiên, thơ ḿnh nghĩ ra kia mà. Anh chàng họ Cao này sao dám nói là thơ cũ? Nhưng vua cũng b́nh tĩnh bảo:

- Nếu khanh đă nghe cả bài th́ đọc thử xem:

Cao Bá Quát đọc:

Bảo mă tây phong huếch hoác lai
Huyênh hoang nhân tự thác đề hồi
Viên trung oanh chuyển khề khà ngữ
Dă ngoại đào hoa lấm tấm khai
Xuân nhật bất văn sương lộp bộp
Thu thiên chỉ kiến vũ bài nhài
Khù khờ thi tứ đa nhân thức
Khệnh khạng tương lai vấn tú tàị

Tạm dịch:

Gió tây ngựa huếch hoác về
Huyênh hoang người cũng tự đi theo vào
Khề khà oanh hót vườn nao
Đồng quê lấm tấm muôn đào nở hoa
Xuân không lộp bộp sương sa
Ngày thu chỉ thấy trời mưa bài nhài
Khù khờ thơ đă cũ rồi
Ông c̣n khệnh khạng hỏi người hay thở

Đức vua bị một đ̣n đau quá. Ông biết rơ Cao Bá Quát bịa ra, mà lại ngang nhiên trêu chọc ông: "Khù khờ thơ đă cũ rồi, ông c̣n khệnh khạng hỏi người hay thơ".


Câu đối đề đèn lồng

Cao Bá Quát có dịp vào Quảng Nam, đến thăm nhà một cụ đồ (sau này là thân sinh ông Nguyễn Hiển Dĩnh). Nhiều người nghe tiếng ông giỏi thơ văn đă đến xin chữ. Một người làm đôi đèn lồng để thờ mẹ, xin ông cho một đôi câu đối Nôm. Ông Quát viết luôn vào đôi đèn lồng hai câu:

- Trước mẹ dạy con, gió chiều nào che chiều ấy, con dạ.
Giờ con thờ mẹ, đèn nhà ai rạng nhà nấy, mẹ ơi!

Trong Nam truyền tụng là câu đối rất hay, dùng toàn tục ngữ mà sát với đôi đèn.


Câu đối đề nhà học

Trước khi khởi nghĩa, Cao Bá Quát được triều đ́nh nhà Nguyễn đưa đi làm giáo thụ ở Quốc Oai, vùng đất thuộc Sơn Tây, xa chốn kinh đô, thành thị. Học tṛ ít, cảnh sinh hoạt tiêu điều. Ông đă viết đôi câu đối dán ngoài nhà học:

Nhà trống năm ba gian, một thầy, một cô, một chó cái
Học tṛ dăm bảy đứa, nửa người, nửa ngợm, nửa đười ươi (*)

(*) Câu đối này có người cho là của Ông ích Khiêm.


Vũ Ngọc Khánh

Thường Dân Nam Bộ
12-28-2008, 09:27 PM
Giai thoại về nhà tiên tri Nguyễn Bỉnh Khiêm


Lịch sử khoa cử Việt Nam có hàng chục trạng nguyên, nhưng ít có ông trạng nào mà tên tuổi lại được nhắc tới với nhiều giai thoại kỳ bí như Nguyễn Bỉnh Khiêm (1491 - 1585). Là một nhà thơ lớn của dân tộc, Nguyễn Bỉnh Khiêm đề cao tư tưởng nhân nghĩa, ḥa b́nh. Chính ông là người đầu tiên nhắc tới hai chữ Việt Nam trong các tác phẩm của ḿnh. Là một người thầy lớn, Nguyễn Bỉnh Khiêm đă đào tạo nhiều nhân tài cho đất nước. Học tṛ của ông, người theo nhà Mạc, người theo nhà Lê. Ngoài triều Mạc, cả họ Trịnh, họ Nguyễn, những người thuộc các phe đối lập, cũng đều tôn kính ông, thường xin ư kiến ông về nhiều vấn đề hệ trọng. Nguyễn Bỉnh Khiêm đă chỉ cho tất cả. Họ đều thấy sự chỉ dẫn của ông là đúng, nên ông được xem như bậc đại hiền, một ông trạng tiên tri...

Những lời khuyên làm nên sự nghiệp

Năm 1568, khi Nguyễn Hoàng thấy anh ruột là Nguyễn Uông bị Trịnh Kiểm (anh rể) giết, bèn sai người đến xin ư kiến Nguyễn Bỉnh Khiêm, lúc này đă 77 tuổi, đang sống ẩn dật ở Am Bạch Vân. Không trả lời trực tiếp, ông dẫn sứ giả ra ḥn non bộ, chỉ vào đàn kiến đang ḅ và nói:

"Hoành sơn nhất đái, khả dĩ dung thân"
(Một dải Hoành Sơn có thể dung thân được)

Hiểu được ư ấy, Nguyễn Hoàng nhờ chị gái xin với anh rể Trịnh Kiểm cho vào trấn thủ đất Thuận Hóa từ đèo Ngang trở vào, từ đó lập ra nhà Nguyễn ở phương nam. Về sau sử nhà Nguyễn sửa thành "vạn đại dung thân", hy vọng sẽ giữ được cơ nghiệp măi măi.

Ở Thăng Long, Trịnh Kiểm cũng muốn bỏ Vua Lê để tự xưng vương. Khi cho người đến hỏi ư kiến của Nguyễn Bỉnh Khiêm, ông không trả lời mà dẫn sứ giả ra chùa, thắp hương mà nói: "Mấy năm nay mất mùa, nên t́m thóc giống cũ mà gieo". Rồi lại bảo chú tiểu quét dọn chùa sạch sẽ và nói: "Giữ chùa thờ Phật th́ ăn oản". Hiểu ư, Trịnh Kiểm không dám phế bỏ nhà Lê mà pḥ Vua Lê để lập nghiệp Chúa.

Phùng Khắc Khoan đến gặp Nguyễn Bỉnh Khiêm, với ư muốn nhờ thầy cho một lời khuyên: Có nên bỏ nhà Mạc để vào Thanh Hóa với triều đ́nh Lê - Trịnh? Cả buổi chiều tṛ chuyện, Nguyễn Bỉnh Khiêm chỉ hỏi t́nh h́nh, nói chuyện văn chương chứ không trả lời. Đêm ấy Phùng Khắc Khoan ngủ lại tại nhà thầy. Sang canh tư, Nguyễn Bỉnh Khiêm đến pḥng ngủ của học tṛ, đứng ngoài gơ cửa và nói vọng vào:

"Gà đă gáy rồi, trời đă sáng, sao không dậy, ngủ măi ử"

Phùng Khắc Khoan nghe xong, suy nghĩ, và đoán rằng thầy gián tiếp bảo thời cơ đă đến, có thể vào giúp nhà Lê. Ông vội vàng thu xếp hành lư, đợi đến lúc mặt trời mọc th́ vào giă từ thầy. Nguyễn Bỉnh Khiêm vẫn không nói ǵ, chỉ cuốn một chiếc chiếu ngắn ném theo. Phùng Khắc Khoan nhặt lấy chiếu, vừa đi vừa nghĩ:

"Phải chăng đây là ư dặn ḿnh cần hành động gấp và dứt điểm như cuốn chiếủ"

Khi Nguyễn Bỉnh Khiêm gần mất, nhà Mạc cho người đến hỏi ông về kế lâu dài. Ông đáp: "Cao Bằng tuy tiểu, khả diên sổ thế" (Đất Cao Bằng tuy nhỏ nhưng dựa vào đó có thể kéo dài được vài đời). Sau quả đúng như vậy.

Những lời sấm cho nhiều đời sau

Dân gian lưu truyền nhiều bản Sấm kư được cho là của ông. Hiện nay ở kho sách Viện nghiên cứu Hán - Nôm c̣n giữ được bốn bản. Tuy nhiên các bản này đều không có tên người chép, chép từ bao giờ và chép ở đâu? Do vậy, chúng ta cần phải làm rơ vấn đề đâu là khả năng dự báo xă hội của Nguyễn Bỉnh Khiêm do kiến thức và kinh nghiệm đă đem lại, đâu là những điều mà người đời đă gán ghép cho ông? Mặc dù là "tồn nghi" nhưng chúng tôi cũng xin trích ra để bạn đọc cùng khảo cứu.

Truyện kể lại rằng, trước khi qua đời, Nguyễn Bỉnh Khiêm để lại một phong thư, đặt trong một ống quyển gắn kín, dặn con cháu sau này nếu làm ăn sa sút, mang thư ấy đến gặp quan sở tại th́ sẽ được cứu giúp. Đến đời thứ bảy, người cháu thứ bảy là Thời Đương nghèo khốn quá, nhớ lời truyền lại, đem phong thư đến gặp quan sở tại. Quan lúc này đang nằm vơng đọc sách, nghe gia nhân báo có thư của cụ Trạng Tŕnh th́ lấy làm lạ, lật đật chạy ra đón thư. Vừa ra khỏi nhà th́ cái xà rơi xuống đúng chỗ vơng đang nằm. Quan sợ hăi vội mở thư ra xem th́ chỉ có mấy chữ:

"Ngă cứu nhĩ thượng lương chi ách
Nhĩ cứu ngă thất thế chi tôn
(Ta cứu ngươi thoát khỏi ách xà rơi
Ngươi nên cứu cháu bảy đời của ta)

Quan vừa kinh ngạc, vừa cảm phục, bèn giúp đỡ cháu bảy đời của Trạng hết sức tử tế.

Đến đời Vua Minh Mệnh (1820 - 1840) trong dân gian lưu truyền một câu sấm: "Gia Long nhị đại, Vĩnh Lại vi Vương" (đời thứ hai Gia Long, người ở Vĩnh Lại làm vua). Vua Minh Mệnh vốn tính đa nghi. Biết được mấy câu sấm ấy, nhà vua vừa có ư đề pḥng, vừa căm giận Trạng Tŕnh. Tổng đốc Hải Dương lúc bấy giờ là Nguyễn Công Trứ được lệnh đến phá đền thờ Trạng Tŕnh.

Nguyễn Công Trứ cho lính đến, cứ y lệnh triều đ́nh cho đập tường, dỡ nóc. Nhưng khi tháo cây thượng lương ra th́ một cái hộp nhỏ đă để sẵn trong tấm gỗ, rơi xuống. Quân lính nhặt đưa tŕnh chủ tướng, Nguyễn Công Trứ mở xem, trong đó có một mảnh giấy đề chữ:

"Minh Mệnh thập tứ
Thằng Trứ phá đền
Phá đền th́ lại làm đền
Nào ai cướp nước tranh quyền ǵ ai".

Nguyễn Công Trứ vội ra lệnh dừng ngay việc phá đền, khẩn cấp tâu về triều đ́nh, xin làm lại đền thờ Trạng Tŕnh.

Ở một tập sấm mở đầu có các câu:

"Nước Nam thường có thánh tài
Sơn hà vững đạt mấy ai rơ ràng
Băi ngọc đất nổi, âu vàng trời cho
Học cách vật mới ḍ tới chốn..."

Có người cho rằng những lời thơ ấy đă khẳng định đất nước có nhiều người tài giỏi, cùng với nhân dân giữ vững đất nước qua biết bao nguy biến. Đất nước cũng có nhiều tài nguyên phong phú cần được khai thác. Đảo Sơn phải chăng là Vũng Tàu - Côn Đảo? Nơi có tiềm năng về dầu khí và có vị trí kinh tế chiến lược? Những lời sấm ấy cũng khẳng định phải có khoa học - kỹ thuật (học cách vật) mới có thể khai thác tốt và sử dụng tốt những tài nguyên đó, những âu vàng trời cho.
Tập sấm c̣n đề cập tới một bậc Thánh giúp đời:

"Một đời có một tôi ngoan,
Giúp chung nhà nước dân an thái b́nh
Ấy điềm sinh Thánh rành rành chẳng nghi"

[...]

Trong tập sấm cũng ghi một lời rất đặc biệt:

"Hồng Lam ngũ bách niên thiên hạ
Hưng tộ diên trường ức vạn xuân"
(Đất nước Hồng Lam này sau ta 500 năm
sẽ là một thời kỳ hưng thịnh vạn mùa xuân)

Nguyễn Bỉnh Khiêm mất năm 1585, thọ 94 tuổi. Ba trăm năm sau, trong bộ sách lớn "Lịch triều hiến chương loại chí", nhà văn hóa Phan Huy Chú đă coi Nguyễn Bỉnh Khiêm là "Một bậc kỳ tài, hiển danh muôn thuở".


Trường Sơn

Thường Dân Nam Bộ
12-28-2008, 09:29 PM
Giai thoại về Đoàn Thị Điểm


Cái túi vải Đa La

Cô con gái Đoàn Doăn Nghi, tên là Đoàn Thị Điểm, mới trạc tuổi thiếu niên mà đă có tài học vấn hơn người, và được thiên hạ chú ư v́ một phong cách rất đặc biệt. Ra đường, cô thường xách một cái túi vải Đa La (một loại vải đẹp ngày xưa). Tự tay cô thêu lên cái túi ấy hai câu thơ của Lư Bạch:

Đăn sử chủ nhân năng túy khách
Bất tri hà xứ thị hương nhân

(Miễn sao chủ nhân có đủ rượu làm say khách
Cần ǵ phải phân biệt là chốn lạ hay quen)

Đề thơ như vậy, là chứng tỏ một tâm hồn phóng khoáng và một tŕnh độ học vấn cao. Thượng thư Lê Anh Tuấn biết được chuyện này, liền nhắc với ông Nghi - học tṛ cũ của ḿnh - xin nhận cô Điểm làm con nuôi. Gia đ́nh họ Đoàn chấp thuận.


Thơ đi một ḿnh

Sống trong gia đ́nh thượng thư Lê Anh Tuấn, cô Điểm có điều kiện đọc nhiều sách vở văn thơ, tŕnh độ cô lại tấn tới thêm. Cô thường được cha nuôi sai đến các nhà bạn đồng liêu của ông, hoặc mượn kinh truyện, hoặc đưa thư từ. Những người này biết tiếng cô gái tài hoa, nên cũng hay thử tài. Một lần, cô Điểm một ḿnh tới nhà quan tham tụng Nguyễn Công Hăng, không có gia nhân đầy tớ đi theo. Ông Hăng nhân đó bảo cô làm thơ vịnh cảnh đi một ḿnh (độc hành thi). Cô Điểm không phải suy nghĩ lâu, đọc ngay hai câu:

Đàm luận cổ kim tâm phúc hữu
Truy tùy tả hữu cổ quăng thần.

(Bàn luận chuyện xưa nay th́ lấy gan ruột làm bạn tâm sự
Theo liền bên phải bên trái th́ lấy chân tay làm bạn theo hầu).

Ông Nguyễn Công Hăng phục lắm.


Cuộc rút lui của Trường An tứ hổ

Tiếng tăm của Đoàn Thị Điểm lan rộng. Khi cô rời gia đ́nh Lê Anh Tuấn về ở với anh để chăm sóc mẹ, nhà riêng của họ Đoàn đă trở thành nơi hằng ngày có các danh sĩ ở kinh thành Thăng Long t́m đến làm quen. Nhưng cô Điểm không nhận lời ai, v́ cô chưa thấy người nào thật là bậc tài hoa danh sĩ. Một lần, khá đông những thầy nho, đều là bậc hoàng giáp, tiến sĩ kéo đến nhà ông Nghi, xin yết kiến cô Điểm. Cô không vội ra, chỉ cho một đứa cháu gái, bưng ra một quả trầu, trên đề ḍng chữ:
Đ́nh tiền, thiếu nữ khuyến tân lang.

Cả bọn trầm trồ, khen nét chữ đẹp. Một vài thầy khóa hấp tấp, gật gù nói khẽ với nhau: Thế này th́ nhiều hy vọng lắm! Câu đối ra hợp cảnh mà có phần khêu gợi. Nào thiếu nữ, nào tân lang.

Nhưng họ ngạc nhiên thấy mấy ông bạn hàng đầu đăm đăm tư lự. Những ông bạn có phải là hạng tầm thường đâu. Chính là những người lỗi lạc nhất trong danh sĩ mà bà con Thăng Long hâm mộ, tôn họ là Trường An tứ hổ (4 con hổ - người giỏi văn nhất kinh thành). Cả đám tứ hổ đứng yên không nói năng ǵ. Cuối cùng, Vũ Diễm, người xuất sắc nhất của tứ hổ, từ từ đến trước bức mành mành, chấp tay nói vọng vào:

- Xin đa tạ chủ nhân, bọn chúng tôi xin được về học thêm, không dám phiền chủ nhân thừa tiếp nữa.
Thế là các nho sĩ lủi thủi kéo nhau ra về. Vũ Diễm vừa đi vừa giảng cho anh em nghe:

- Câu thách đố này của Hồng Hà nữ sĩ, tài t́nh mà lắt léo lắm đấy, các bác ạ! Cô ta dùng tiếng đồng âm đấy mà. Thiếu nữ là cô gái trẻ và cũng là làn gió nhẹ. Tân lang là chàng rể mới, nhưng cũng là cây cau. Thành ra câu văn muốn hiểu gió nhẹ vờn cây cau hay cô gái mừng chàng rể mới đều đúng cả. Nếu hấp tấp đối theo một nghĩa th́ chẳng bơ mua cười. Bọn chúng tôi đành thoái là v́ như vậy đó.


Niềm vui của Nguyễn Kiều

Đoàn Thị Điểm kén chọn, măi đến 38 tuổi mới chịu lấy Nguyễn Kiều. Cuộc hôn nhân có thể nói là kỳ diệu và có tiếng tăm vang dội cả kinh thành Thăng Long. Nguyễn Kiều chắc chắn là phấn khởi nhất, v́ cả thế gian này không ai lọt được vào mắt xanh của Hồng Hà nữ sĩ, th́ nay ông có thể là người hạnh phúc nhất đời. Ông đă có thơ:

Khoáng thế tao phùng khoáng thế duyên
Thử thân chung phúc hệ sinh tiền
Ṭng kim băo khán, hà nương tử
Thủy tín nhân hoàn hữu trích tiên

Tạm dịch:

Nhân duyên gặp gỡ nhất trần gian
Cả cuộc đời ta được phúc ban
Ai bảo khát khao tiên nữ nữa
Nàng tiên đă xuống cơi nhân hoàn

Tất nhiên không phải không có người ghen với Nguyễn Kiều. Người ta thóc mách nhau, không rơ v́ sao mà cô Điểm lại sẵn sàng kết duyên với một người nhiều tuổi hơn ḿnh, đă có hai đời vợ, có con, gia đ́nh cũng túng thiếu. Thóc mách thế thôi, nhưng rồi họ cũng mừng cho ông Kiều. Có bài thơ có lẽ là do một bạn tri âm của Nguyễn Kiều sáng tác - làm lời của ông Kiều gửi đến cầu hôn cô Điểm:

Lăo khứ bần lai kỷ độ sương
Bồi hồi si mộng phóng đài trang
Thiên biên bồng mấn tri âm thiểu
Phù thế tương khan khối lỗi trường
Quân tử tính t́nh phi lănh nhăn
Mỹ nhân miện tiếu hữu hoa chương
Thiện đoan khả thượng cầu qui ngă
Song bút huy hoàng tảo bát phương.

Tạm dịch:

Già đến nghèo qua mấy độ rồi
T́nh si muốn gửi dạ khôn nguôi
Ven trời lận đận không tri kỷ
Tṛ rối đua chen lắm nỗi đời
Chớ sợ chàng trai đôi mắt tục
Chỉ mong người đẹp nét cười tươi
Duyên lành gắn bó cùng anh nhé
Ng̣i bút hai ta tỏa ánh ngời.


Một hóa hai

Gia đ́nh cô Điểm là gia đ́nh có truyền thống văn học, người anh cô Điểm là ông Luân cũng nổi tiếng tài hoa. Hai anh em thường đàm đạo văn chương, thử tài thử sức với nhau.

Một hôm, cô Điểm đương soi gương ở cửa sổ, ông Luân đọc một câu thách em đối lại:

- Đối kính họa mi, nhất điểm phân thành lưỡng điểm.

Nghĩa là:

Soi gương vẽ mày, một nét hóa hai (một cô Điểm hóa hai cô Điểm).

Cô em đối lại:

- Lâm tŕ ngoạn nguyệt, chích luân chuyển tác song luân.

Nghĩa là:

Tới ao xem trăng, một vừng hóa hai (một ông Luân hóa hai ông Luân).


Đối chữ sách

Cô Điểm đang đọc sách về Hán Cao Tổ. Ông Luân lấy ngay chuyện trong sách ra câu đối:

- Bạch xà đương đạo, Quư bạt kiếm nhi trảm chi.
Cô Điểm cũng dùng ngay chuyện trong sách để đối lại:

- Hoàng long phụ chu, Vũ ngưỡng thiên nhi thán viết.
Cả hai câu nghĩa là:

Rắn trắng giữa đường, ông Quư tuốt gươm mà chém
Rồng vàng đội nóc, ông Vũ ngửa mặt mà than.


Dồn đối phương vào chỗ bí!

Cô Điểm là con cụ Bảng Nhăn, nổi danh tài sắc. Học tṛ cụ thường muốn ngấp nghé. Trong số thầy nho, cậu Quỳnh nghịch ngợm nhất và cũng được cô Điểm quen hơn. Cô Điểm thường ỷ tài, thách cậu Quỳnh đối đáp, hẹn có hơn tài ḿnh th́ mới chịu làm thân.

Một hôm, hai người cùng ngồi trong nhà, trước bức vách là hai cửa sổ. Cô Điểm đọc:

- Song song là hai cửa sổ, hai người ngồi trong cửa sổ song song.

Quỳnh chịu không đối được.

Lại một lần, Quỳnh đi chợ Sơn Tây về, cô Điểm ra:

Lên phố Mía, gặp cô hàng mật, cầm tay kẹo lại, hỏi thăm đường.

Một lần khác, cô Điểm đang tắm, Quỳnh gơ cửa đ̣i vào. Cô Điểm giăy nảy không cho, nhưng anh chàng cứ kèo nèo trơ tráo. Cô Điểm lại phải dùng thủ đoạn văn chương, ra câu đối bảo đối được th́ sẽ mở cửa:

Da trắng vỗ b́ bạch

B́ bạch cũng có nghĩa là da trắng, lại là một tiếng tượng thanh. Quỳnh chịu không đối được vùng vằng bỏ đi.

Câu chuyện sau này c̣n được hư cấu dài hơn.

Thường Dân Nam Bộ
12-28-2008, 09:32 PM
Câu đối của thí sinh bướng bỉnh


Vào khoảng cuối đời Lê, có Nguyễn Ḥe, một học sinh rất sắc sảo (không rơ lai lịch ra sao) đi thi hương. Quan chủ khảo năm ấy cũng tên là Ḥe, v́ thế khi xướng quyển người ta kiêng tên quan phải đọc chệch là Nguyễn Huề. Nguyễn Ḥe biết thừa nhưng cố t́nh không chịu vào. Người xướng quyển xướng đi xướng lại mấy lần, mọi người đă vào hết, riêng Ḥe vẫn c̣n đeo ống quyển đứng yên. Cuối cùng, người xướng quyển chơ loa vào Ḥe mà hỏi họ tên. Ḥe liền gào to: "Tôi là thằng Ḥe!"

Người xướng vặn:

- Sao gọi măi không vào?

Ḥe đáp cứng cỏi:

- Chỉ thấy gọi thằng Huề chứ có thấy gọi thằng Ḥe đâu?

Sau người xướng phải xướng to đúng tên Ḥe, bấy giờ Ḥe mới chịu vào.

Thấy thí sinh bé oắt mà ương ngạnh, quan chủ khảo sai giữ Ḥe lại để hỏi vặn nghĩa lư văn chương. Hỏi đến đâu nhất nhất Ḥe đều đối đáp trôi chảy đến đấy, quan liền ra một câu đối:

Lạn Tương Như, Tư Mă Tương Như, danh tương như, thực bất tương như

Nghĩa là: Lạn Tương Như, Tư Mă Tương Như, tên như nhau thực chất chẳng như nhau (Lạn Tương Như, nhân vật nổi tiếng đời Chiến quốc. Tư Mă Tương Như: nhân vật nổi tiếng đời Hán).

Có ư lên giọng kẻ cả rằng hai đằng cùng tên Ḥe, nhưng một đằng quan một đằng học tṛ, so b́ với nhau sao được.

Ḥe liền đối lại:

Ngụy Vô Kỵ, Trưởng tôn Vô Kỵ, bỉ vô kỵ, ngă diệc vô Kỵ

(Ngụy Vô Kỵ: người thời Chiến quốc. Trưởng tôn Vô Kỵ: người thời Đường, Kỵ c̣n có nghĩa là kiêng dè).

Nghĩa là: Ngụy Vô Kỵ, Trưởng tôn Vô Kỵ, ngươi không sợ th́ ta cũng không sợ.

Quan chủ khảo thấy đối xược, căm lắm nhưng cũng phải phục tài, v́ chữ Tương như trong câu vừa là tên người, mà lại vừa có nghĩa là "như nhau", được Ḥe đối rất chọi với chữ Vô Kỵ: cũng vừa là tên người, lại vừa có nghĩa là "không sợ".

Sau đó quan ra một câu khác có ư khuyên răn:

Xỉ tính cương, thiệt tính nhu, cương tính bất như nhu tính cửụ

Nghĩa là: Răng tính rắn, lưỡi tính mềm, tính rắn sao bằng tính mềm bền lâu.

Nhưng Ḥe nào chịu, đối lại ngay rằng:

Mi sinh tiền, tu sinh hậu, tiền sinh bất nhược hậu sinh trường.

Nghĩa là: Lông mày sinh trước, râu sinh sau, sinh trước chẳng bằng sinh sau dài.

Ngụ ư bảo quan chủ khảo tuy đẻ trước, nhưng dại th́ sao bằng đẻ sau mà khôn.

Đến đây, quan chủ khảo biết Ḥe là tay thông minh mà bướng bỉnh, không c̣n dám vặn vẹo ǵ nữa.

Thường Dân Nam Bộ
12-28-2008, 09:35 PM
Giải nghĩa bằng ca dao



Có người nghe tiếng Lê Quư Đôn học vấn uyên bác t́m đến hỏi ông:

- Dạ tôi có nghe hai câu mà không hiểu ư nghĩa ra sao và gốc gác ở đâu. Xin ngài giảng cho.

- Vâng, ông cứ đọc.

- Dạ, hai câu ấy là:

Trương phàm khuyến tửu thi ca
Phụ mễ đầu hà chi thán

Lê Quư Đôn gật đầu:

- Hai câu ấy hay lắm. Nghĩa cũng rơ ràng đấy chứ. Chỉ là:

Khúc hát căng buồm mời rượu
Lời than gánh gạo lội sông

Chứ có ǵ là lạ!

- Dạ, thế nhưng nói như thế là hàm ư ǵ, và ở đâu mà ra những câu chẳng ăn nhập ǵ với nhau cả?

Lê Quư Đôn ngẩn người. Đúng! Sao lại có hai câu chắp vá rời rạc thế này. Ông càng nghĩ càng bí, đành nói với người kia:

- Bác cho tôi khất vài hôm. Ngày kia bác lại xem tôi có nghĩ ra không.

Người kia bằng ḷng và ra về. Lê Quư Đôn hết nằm dài nghĩ ngợi, lại ra thư viện lục sách vở, kiểm tra lại tất cả hồ sơ ghi chép của ḿnh, vẫn không t́m ra xuất xứ hai câu lạ lùng ấy.

Ông đành xếp sách, đi lang thang trong xóm ngoài làng, vừa đi vừa cố nhớ lại trong óc xem có hy vọng giải đáp vấn đề không. Quen chân, ông ra măi ngoài bờ sông, thấy ông lái đang đẩy chiếc thuyền ra. Trên thuyền lại có thêm mấy người sửa lại dây leo, để kéo buồm lên. Ông lái ngồi đầu khoang cười bảo họ:

- Hay lắm, được gió cho căng buồm lên, chẳng phải chèo chống ǵ đâu. Các ông mau tay lên rồi ta ngồi thung dung mà chén cho khoái! Rượu mua rồi!

Một anh cười ngặt nghẽo:

- Ừ! Rồi mà thung dung. Coi chừng nửa đêm xuôi xuống chỗ ngoặt kia. Lúc ấy th́ sẽ rơ:

Thuận buồm xuôi gió
Chén chú, chén anh
Nước ngược chèo quanh
Mày tao chi tớ!

Cả bọn cười ầm. Lê Quư Đôn giật nẩy ḿnh. Bất giác ông cũng mỉm cười khoan khoái. Ông đă t́m được cách giải đáp về câu thơ đang bắt ḿnh suy nghĩ. Th́ ra câu thơ ấy chỉ là dùng cứ liệu của ca dao. A! "Căng buồm mời rượu" là như thế đó.

Lê Quư Đôn vội vàng rảo bước về nhà. Thế th́ - ông nghĩ - câu thơ dưới "Lời than lội sông gánh gạo" cũng chỉ do xuất xứ của ca dao thôi. Trí nhớ ông được huy động vội vàng. Nhưng ông chưa kịp nghĩ ra, th́ đă đi tới đầu xóm. Từ trong một nhà tranh nhỏ bên đường, một chị đang đưa con trên vơng. Tiếng ru trầm trầm tha thiết vẳng ra:

Con c̣ lặn lội bờ sông
Gánh gạo đưa chồng, tiếng khóc nỉ non.

Nghe được câu hát ru ấy, Lê Quư Đôn sung sướng như muốn reo lên. Ông lặng đi một phút, rồi bất thần chạy vội về pḥng đọc sách của ḿnh, rút ngay một tờ giấy và cầm lấy bút, lẩm bẩm:

- Thật là có thầy ngay trước mắt mà không biết hỏi. Ḿnh c̣n phải học nhiều!

Ông chép vội những câu vừa nghe được. Thật ra, đó cũng là những câu ông đă biết, đă thuộc, chỉ v́ vô ư mà không biết kịp thời vận dụng để ứng xử kiến thức cho nhanh nhạy đấy thôi. Hồn thơ lai láng, ông ghi tiếp thêm vài ḍng nữa, nối vào những đoạn ca dao trên.

Hôm sau, người khách tới, vui vẻ nhận ở ông tờ giấy có chép lời giải thích và b́nh luận... cũng bằng văn vần theo kiểu ca dao:

Thuận buồm xuôi gió
Chén chú chén anh
Nước ngược chèo quanh
Mày tao chi tớ
Phải chăng tích nọ
Có đúng hay không
Con c̣ lặn lội bờ sông
Gánh gạo đưa chồng tiếng khóc nỉ non
Lời than ḷng dạ héo hon
Ra ngoài chữ nghĩa dấu son thánh hiền.