Welcome to Một Gc Phố - Chc cc Bạn mọi chuyện vui vẻ & như ...
Page 1 of 4 1234 LastLast
Results 1 to 10 of 31

Thread: My Bay Về Ngn

  1. #1
    Join Date
    Jun 2009
    Posts
    367
    Thanks
    1
    Thanked 535 Times in 215 Posts

    Default My Bay Về Ngn


    MY
    BAY VỀ NGN

    Cẩn ch: Xin chn thnh cảm nhận cảm nghiệm của qu bậc thức ngộ v ghi ơn qu tc giả, dịch giả m những cu ni được trch từ cc tc phẩm:


    ACHB: Ai Cập Huyền B; nguyn tc: A Search in Secret Egypt; Nguyễn Hữu Kiệt phỏng dịch; Xun Thu; CA, USA; 1988.
    BRTS: Bn Rặng Tuyết Sơn; Nguyn Phong phng tc từ tc phẩm (?) của Swami Amar Jyoti; Lng Văn; Ontario, Canada; 1998.
    CCCTN: Ci Cười của Thnh Nhn; Nguyễn Duy Cần; Đại Nam; CA, USA; (?).
    CD: Chu Dịch; Phan Bội Chu; Xun Thu; CA, USA; (?).
    CDHG: Chu Dịch Huyền Giải; Nguyễn Duy Cần; Tủ Sch Thu Giang; (?).
    CNCĐ: Chấp Nhận Cuộc Đời; Luise Rinser; Nguyễn Hiến L dịch; Si Gn, VN; 1971
    CTC: Ch Tn Ca; Bhagavad Git; Quang Hoa dịch; Center for Cultural Development; Saigon, VN; 1971.
    DGLPCN: Du Gi Lục Php của Naropa; Garma C. C. Chang; Ni sư Tr Hải dịch; Tr Minh Thất ấn tống; TX, USA; 1997.
    ĐĐK1&2: Đạo Đức Kinh I&2; Lo Tử; Thu Giang Nguyễn Duy Cần dịch. Xun Thu; Houston, TX; USA; ?
    DKYC: Dịch Kinh Yếu Chỉ; Nguyễn Văn Thọ; Tc giả xuất bản; USA; 1997.
    DTCN: Dược Tnh Chỉ Nam; Hạnh Lm Nguyễn Văn Minh; Xun Thu; (?).
    ĐBCT: Đi Bạn Chn Tnh; Hermann Hesse; Vũ Đnh Lưu dịch; Ca Dao, SiGn, VN; 1969.
    ĐMQXT: Đường My Qua Xứ Tuyết; Anagarika Govinda; Nguyn Phong dịch; Lng Văn; Ontario, Canada; 1994.
    ĐPHB: Đng Phương Huyền B; Nguyễn Hữu Kiệt dịch; Xun Thu; CA, USA; 1988.
    ĐPVPP: Đức Phật v Phật Php; Narada Maha Thera; bản dịch Phạm Kim Khnh; Xun Thu; CA, USA; 1971. Viết Tắt: ĐPVPP.
    ĐTNN: Đng Ty Ngụ Ngn; n Như Nguyễn văn Ngọc; Xun Thu; California, U.S.A; (?).
    ĐTPG: Đại Thừa Phật Gio Tư Tưởng Luận; Kimura Taiken; Thch Quảng Độ dịch; Tu Thư Đại Học Vạn Hạnh; VN; 1969.
    EM: Encyclopedia of Mysticism and Mystery Religions; John Ferguson; Crossroad; New York, U.S.A; 1982.
    GLTH: Biện Chứng Giải Thot Trong Gio L Trung Hoa; Nghim Xun Hồng; Xun Thu; CA, USA; 1991.
    GTTLT: Giải Thot Trong Lng Tay I & II; Pabongka Rinpoche; Thch Nữ Tr Hải dịch; Xun Thu; CA, USA; 1998.
    HTTT: Huyền Thuật v cc Đạo Sĩ Ty Tạng; Mystiques et Magiciens du Thibet; Alexandra David Neel; 1929; Nguyn Phong phỏng dịch; Lng Văn; Toronto, Canada; 1992.
    HTVPĐ: Hnh Trnh về Phương Đng; Nguyn Phong dịch; Người Việt; CA, USA; 1993.
    JOL: The Jewel Ornament of Liberation; Sgam.Po.Pa.; Herbert V. Guenther dịch sang Anh ngữ; Shambala Publications, Inc. CA, U.S.A; 1971.
    KCGL: Kim Cang Giảng Luận; Thch Thanh Từ; Thnh Hội Phật Gio; TP Hồ Ch Minh, VN; 1993.
    KCĐĐ: Kim Cang Đại Định; Nawami; Thuần Tm dịch; Xun Thu; CA, USA; 1989.
    KLGT: Kinh Lăng Gi Tm Ấn; Thiền Sư Hm Thị; Thanh Từ dịch; Tu viện Chơn Khng; Vũng Tu; VN; 1975.
    KPBĐ: Kinh Php Bảo Đn; Lục Tổ Huệ Năng; Thch Minh Trực dịch; Phật Học Viện Quốc Tế; CA, USA; 1987.
    KPMKD: Những Khm Ph Mới về Kinh Dịch; Đo văn Dương; Microseis Technologies, Inc.; Houston, Texas, U.S.A; 1994.
    KT: Kinh Thnh; Nguyễn Thế Thuấn, DCCT dịch; Dng Cha Cứu Thế, Việt Nam; 1975.
    KTG: Kit Gio Dưới Mắt Một Phật Tử; Đại Sư Buddhadsa; Nguyễn Văn Tng & Nguyễn B Tng dịch; Định Hướng Tng Thư; USA; 1996.
    KTTP: Kiến Tnh Thnh Phật; cassette tape; HT Thch Thanh Từ; Pearland, TX, USA; (?).
    KVG: Kinh Vin Gic; Thch Thanh Từ; Thiền Viện Trc Lm, Đ Lạt, VN; 1997.
    LDĐP: Những Ngy v Những Lời Dạy Cuối Cng của Đức Phật; Thch Minh Chu dịch; Ban Tu Thư Đại Học Vạn Hạnh ấn hnh 1967; Xun Thu; CA, USA; 1997.
    LĐGLPG: Vi Luận Đề Về Gio L Phật Gio; Dalai Lama; Nguyn Chu dịch; Xun Thu; CA, USA; 1997.
    LTĐĐK: Lo Tử Đạo đức Kinh; Hạo Nhin Nghim Toản dịch; Đại Nam; (?;?).
    MCTĐT I: Ma Chướng Trn Đường Tu I; Nghim Xun Hồng; Xun Thu; CA, USA; 1998.
    MGTT: Cơ Sở Mật Gio Ty Tạng; Trần Ngọc Anh dịch; Thế Giới; CA, USA; 1995.
    NTGG: Nguồn Thiền Giảng Giải; Thch Thanh Từ; Xun Thu; CA, USA; 1997.
    NHK1&2: Nam Hoa Kinh I&2; Lo Tử; Thu Giang Nguyễn Duy Cần dịch. Xun Thu; Houston, TX; USA; ?
    NTNH: Nguồn Thiền Như Huyễn; Nghim Xun Hồng; (???); U.S.A.
    NVTH: Nẻo Vo Thiền Học; Nhất Hạnh; L Bối; Sign, VN; 1971.
    OM: Oriental Mysticism; Edward Stevens; Paulist Press; New York, Paramus, Toronto; U.S.A; 1973.
    PBĐK: Php Bảo Đn Kinh; Mai Hạnh Đức dịch; Hội Phật Gio BaLamật; Houston; TX, USA; 1989.
    PG: Phật Gio; Tuệ Quang Nguyễn Đăng Long; Trường Sơn; Si Gn, VN; 1963.
    PHTH: Phật Học Tinh Hoa; Nguyễn Duy Cần; Đại Nam; CA, USA; (?).
    PXH: Php Xuất Hồn; Đỗ Thuần Hậu; Đại Nam; California, U.S.A; 1994.
    SCTT: Su Cửa Thiền Thất; Bồ Đề Đạt Ma; Trc Thin dịch; Phật Học Viện Quốc Tế xuất bản; CA, USA; 1987.
    TBS: Tm Bất Sinh; Thiền sư Bankei; Thch Nữ Tr Hải dịch; Thanh Văn; California, U.S.A; 1997.
    TCM: The Catholic Myth; Andrew M. Greeley; Collier Books; New York, U.S.A; 1991.
    TĐĐT: Thập Đại Đệ Tử; Thch Tinh Vn; Như đức dịch; Ấn Tống; CA, U.S.A; 1997.
    THĐHĐP: Tinh Hoa Đạo Học Đng Phương; Nguyễn Duy Cần; Tủ Sch Thu Giang; (?), Việt Nam; 1972.
    THTL: Thần Học Thing Ling I & II; Honh Sơn Hong Sỹ Qu, S.J.; Thời Điểm; CA; USA; 1997.
    TL: Transformed by the Light; Melvin Morse, M.D.; Ballantine Books; New York; 1994.
    TLPTC: Triết L Phật Thch Ca; Ngọc Lin; Tri Thức; Xun Thu; (?).
    TTĐ: Biện Chứng Giải Thot trong Tư Tưởng Ấn Độ; Nghim Xun Hồng; Xun Thu; CA, USA; (?).
    TTHB: Ty Tạng Huyền B; Lạt Ma Lobsang Rampa; Nguyễn Hữu Kiệt dịch; Xun Thu; USA; 1988.
    TTNHK: Trang Tử Nam Hoa Kinh; Nguyễn Duy Cần; Tập Iⅈ Đại Nam; California, U.S.A; 1994.
    TTSC: Tạng Thư Sống Chết; Sogyal Rinpoche; Xun Thu; CA, USA; 1996..
    TTTH: Trang Tử Tinh Hoa; Nguyễn Duy Cần; Đại Nam; California, U.S.A; (?).
    TTTT: Tử Thư Ty Tạng; Padma Sambhava; Hong Thi dịch; Xun Thu; CA, USA; 1997.
    TTvNHK: Trang Tử v Nam Hoa Kinh; Nguyễn Hiến L; Văn Ha; (?).
    : Tn Ước; Một nhm dịch giả; Ta Tổng Gim Mục Gio Phận TP HCM, Việt Nam; 1994.
    VĐLN: Vn Đi Loại Ngữ; Quế Đường L Qu Đn; Phạm Vũ v L Hiền dịch v ch giải; Tự Lực; (?).
    VNVT: V Niệm Vin Thng; Thch Minh Hiền; CA, USA; 1995.
    XDNSQ: Xy Dựng Nhn Sinh Quan; Nghim Xun Hồng; Đại Nam; California, U.S.A; (?).


    - Phật co tu bồ đề: chư bồ tt ma ha tt ưng như thị hng phục kỳ tm. Sở hữu nhất thiết chng sanh chi loại, nhược non sanh, nhược thai sanh, nhược thấp sanh, nhược ha sanh, nhược hữu sắc, nhược v sắc, nhược hữu tưởng, nhược v tưởng, nhược phi hữu tưởng, phi v tưởng, ng giai linh nhập. V dư niết bn nhi diệt độ chi. Như thị diệt độ v lượng, v số, v biến chng sanh, thực v chng sanh đắc diệt độ giả. H dĩ cố? Tu bồ đề, nhược bồ tt hữu ng tướng, nhn tướng, chng sanh tướng, thọ giả tướng tức phi bồ tt... (KCGL; Tr.22-23).

    Hưng ngồi ghế đầu dy bn di, lim dim cặp mắt, dường như để tm tr bay bổng nơi ci hư v; chiếc đầu theo thn mnh nhẹ nhng chuyển động ha cng lời kinh tiếng Hn pha lẫn Phạn bung lơi từ cửa miệng chẳng khc chi nh sư đang cầu siu. Gần nửa tiếng đồng hồ nghe m chỉ những giọng ngn nga loại ngn ngữ tối m, tiếng Việt khng ra Việt, Tu khng ra Tu, ni g những sắc sắc, v v, nhược nhược, phi phi, khiến ci đầu Sỹ quay quay m vẫn chưa thấy g về điểm chnh yếu của Phật học. Hắn nổi cơn bực:
    - Thi, thi, thi! Đủ rồi, đủ rồi, ci giọng ng giống như sư cụ tụng niệm cầu siu! Kinh sch th kiếm đu chẳng c; ai đọc khng được, v dẫu c đọc cả đời cũng khng hết. ng lm ơn ni một cu thi, chỉ cần cho chng ti biết mục đch hay chnh của Phật học l g. Bộ ng tưởng chng ti khng biết chữ hay sao nn cần gom tụ về đy nghe ng nhai lại những điều đ được ghi chp trn giấy trắng mực đen!
    - Ti giảng kinh Kim Cang. Dẫu đang a cố lấy giọng tụng kinh, Hưng đ vội pht ngn thnh lời kẻ cả của diễn giả. Bộ ng khng biết Lục Tổ Huệ Năng nghe lm được một cu kinh Kim Cang khi đi ngang nh một b gi đang tụng niệm m thnh chnh quả sao? (GLTH; Tr.162). Giảng kinh th phải trnh by kinh cho đng với lề lối nh Phật. Giảng kinh m khng tụng kinh th tụng điều chi? Cầu Trời khấn Phật ai khng biết; ngược lại, no ai nhận ra mnh chỉ cầu điều khng biết hoặc chẳng nn, ấy l chưa ni đến cầu những điều lm mnh luẩn quẩn trong vng v minh!
    - Khng chnh quả, phụ quả chi hết! Chng ti chỉ cần ng ni điểm chnh yếu của nh Phật chứ ng đ chnh quả đu m đi giảng kinh. Kinh Phật cn đ, ai tụng khng được! Xin ng lm ơn dẹp ci giọng nghnh ngang, l nh của ng đi cho chng ti nhờ.
    Thế l nhm họp trở nn ồn o như vỡ chợ bịt cả miệng giảng vin. Kẻ ni cu ny, người chm lời diễu khc chẳng ai để v ai cũng thch ni. Cuối cng Sỹ h ln:
    - Yu cầu im lặng, mọi người nn im lặng để nh con đi hỏi diễn giả tm tắt sự khn ngoan nơi kinh Phật. Đoạn hướng về pha Hưng, Sỹ thao thao ra lệnh. ng nn nhớ, người ta ni "kinh nh đạo, gạo nh cha," chứ đu phải kinh nh Phật m ng cố l c cưa mất giờ ăn nhậu. Cho ng một pht, chỉ một pht thi, v nếu một pht m ng khng ni được điều muốn ni th cả đời cũng chẳng ni được. Nếu ng đ biết th ni toạc mng heo cho đỡ mất giờ, khng biết dẫu cho l nh cch mấy cũng chẳng ni được g. Ni lẹ, ni gấp, nếu khng yu cầu hội đồng tuyn n phạt.
    Nt mặt Hưng vẫn lộ vẻ nhỡn nhơ, chừng như khng để đến những lời ni v thi độ hng hổ do "đến cơn" thm nhậu của Sỹ "nh con" được phụ họa bởi sự ồn o nơi mười mấy ci mỏ bn ra tn v, rnh cơ hội c người đề nghị tuyn n phạt để vo ha, cng cổ v cho ci cng l nơi ta n bạn b tự do pht biểu theo kiểu dn chủ, đa số thắng tiểu số; mặc dầu l lẽ nhiều khi chẳng đu vo đu miễn sao c kẻ ln tiếng yu cầu hội đồng tuyn n, do biết r, cả hai bn bị co v nguyn co lc no cũng sẵn sng tuyn dương cng l bằng cch cng bn nhậu nhoẹt; v nay anh, mai ti, dn nhậu l thế, no c lọt đi đu m e ngại thiệt thi. Biết vậy, Hưng thầm nghĩ cch gi Sỹ bị phạt lm bữa nhậu tới, bn giơ tay ra hiệu cho mọi người bớt ồn o đoạn lấy giọng nghim trang ln tiếng:
    - Ti c lời yu cầu chủ tịch hội đồng giải thch về sự luận xử kẻ gy rối lc diễn giả đang giảng kinh khiến khn thnh giả bị đnh trệ cơ hội thức ngộ.
    - Lc ny khng phải l lc giải thch, giải yu, hay giải ba, m l tuyn n về tội l nh uổng ph thời giờ v lm chậm trễ cơ hội thức ngộ của mọi người. Nh con cực lực yu cầu hội đồng ra lệnh phạt. Sỹ bất chấp, chỉ nằng nặc kiếm cớ gy n nhậu, lại dng ngay ngn từ "thức ngộ" thường được Hưng nhấn mạnh lc ni kinh Phật với đồ dng gậy ng đậy lưng ng.

    Sỹ hay dng tiếng "nh con" mang đầy vẻ lễ độ, khch so, nhưng nghĩa m chỉ ngang bằng phải lứa anh, ti, v danh xưng "nh con" l tiếng người Bắc hay dng để chỉ người phối ngẫu khi ni chuyện với những bậc trưởng thượng. Trong khi ni chuyện với bạn b, Sỹ dng ngn từ ny với chỉ chnh mnh nn c biệt danh l "Sỹ nh con". Hơn nữa, nơi vng bờ biển nhỏ b chẳng được bao nhiu gia đnh Việt Nam cư ngụ m c những ba người tn Sỹ; bởi vậy, khi ni đến tn, người ta nhắc km danh hiệu cho dễ phn biệt. Một Sỹ mang danh hiệu "Trm" v ngy xưa, hồi cn trẻ, cụ trm ny ni tục văng mạng nn được gn cho biệt danh "trm tục." Một Sỹ khc c biệt hiệu "Sỹ gy." Ngữ ny nổ to lao thin tướng. Ni chuyện về bất cứ vấn đề g hắn ta cũng tỏ ra đ thừa biết, dầu chẳng biết g ngoại trừ tn cu truyện vừa được nhắc tới. Hắn ta hay dng cu "tớ đ biết thừa" nn cũng được gọi l "Sỹ biết thừa;" sau ny mấy người quen đổi thnh "Sỹ gy." Gy l tiếng lng c nghĩa như nổ nn biệt hiệu của hắn thay đổi cũng chẳng lạ g. Sỹ nh con đ nhiều lần kiếm cớ v thường được mọi người hưởng ứng nn cố nhấn mạnh "lệnh phạt."

    Thế l cả bọn khn giả đồng loạt to miệng a-rua, phạt, phạt, phạt, km theo những tiếng vỗ tay nhịp nhng cổ v kiến tuyn n. Ni rằng cổ v mới đng, v no ai lạ g, bạn b lại sắp c thm cơ hội, h nhau chia sẻ tiết canh vịt hoặc vịt nấu chao, ti ngan hay nhng giấm, c gỏi, c hấp, đu dễ chi được họ bỏ lỡ. Thế nn, cứ vung vt ha theo, kẻ cổ v lại đứng vo phe nguyn co, đng no cũng c lợi, bởi đng, sai, phải, tri, đu khng biết, nhưng bn no bị phạt họ cũng đều được vinh quang tham dự, ly anh, chn ti cng nng cao tuyn dương cng l của kẻ to miệng.
    - Ti khng chống n nhưng ti chỉ yu cầu hội đồng xt xử cho cng bnh, hợp l, hợp tnh, trnh điều oan ức cho bất cứ ai. Tất nhin, n phạt đ được quyết định; vấn đề chỉ l ai phải thi hnh n phạt m thi. Hưng lại giơ tay, ni r từng tiếng lấy lại trật tự.
    - Tuyn n, tuyn n. Mời chủ tịch hội đồng ln tiếng. Dăm ci mỏ thc giục.
    - Hy khoan, ti chưa ni xong. Nguyn co Sỹ dm thch thức ti tổng kết sự khn ngoan của lời kinh Phật trong vng một pht. Ti sẽ thực hiện với chỉ một cu. Vậy nếu ti thi hnh chu ton nhiệm vụ ny, phỏng n phạt c được trao cho kẻ to miệng ph đm lm mất thời giờ của hội đồng khng? Ti chỉ muốn được xt xử cho cng bằng; kẻ gy rối phải được trị tội v đồng thời cũng l cơ hội nu cao cng l ngăn ngừa đồ nước đục thả cu. Xin ng chủ tịch pht biểu.
    - Khng cần chủ tịch ln tiếng, nh con dm thch đố, nếu diễn giả chỉ ni một cu c thể gom tm sự thức ngộ kinh Phật, nh con bằng lng chịu phạt khng kiến, khng ku ni chống n.
    - kiến hay, kiến hay. Hoan h Sỹ nh con. Chỉ một cu thi, nếu ni cu thứ hai sẽ bị phạt. Hoan h, lại những tiếng vỗ tay khuấy vo cảnh ồn o như vỡ chợ được phụ họa với những nt mặt tươi ri. Bia bung tiếp tục thi nhau lch tch nổ cho mừng cng l sắp sửa hạ mn kiến tạo cơ hội. Thế l chắc như bắp, chẳng Hưng th Sỹ phải thi hnh n phạt; mọi người đều cảm thấy phấn khởi v sắp c thm dịp nhậu. Chnh lc ấy, trưởng hội "mới bị p buộc" chẳng đặng đừng phải nhận lnh trch nhiệm, đnh đứng dậy giơ hai tay đn p cảnh ồn o.
    - Nhn danh chủ tịch hội đồng, yu cầu mọi người im lặng chuẩn bị tuyn bố n lệnh. Trước hết, bị can diễn giả thi hnh chức vụ với một cu ni để hội đồng nhận định ty cơ quyết định. Mời diễn giả ln tiếng.
    - Tỳ kheo thn mến, đy l điểm rốt ro của nh Phật.
    - Hết một cu. Yu cầu hội đồng tuyn n. Sỹ nh con vội ln tiếng chụp cơ hội.
    - Ti chưa ni hết cu, đy mới chỉ l phần mở đầu giới thiệu.
    - Một cu l một cu, khng cần biết giới thiệu, quảng co chi hết. Sỹ nh con l luận.
    - Ngy xưa đức Thch Ca sau bốn mươi chn năm giảng lẽ Phật học m vẫn chưa ni g, th ti đ ni chi đu! Yu cầu chủ tịch cho kiến.
    - Đ hết phần giới thiệu, by giờ đến cu ni tổng kết kinh Phật. Bị can diễn giả được php ni. ng Thung giơ tay dn xếp.
    - Trong Lm Tế Lục c cu, ph hết, bỏ hết, "Gặp Phật giết Phật, gặp tổ giết tổ" (NVTH; Tr.63), gặp php bỏ php, khng tin ai ni, khng để kẻ no hay bất cứ sự khn ngoan hoặc l thuyết no đnh lừa, m dụ.

    Mọi người đang kiếm cch ph đm, ch trch diễn giả lng thng rắc rối lm mất thời giờ thưởng thức mn ra rang muối đ được thng bo trước khi nghe giảng kinh Phật th lại chợt ngỡ ngng v cu ni của cũng anh chng diễn giả l nh khiến những chiếc mũi như bị tịt, qun cả mi sả chy lẩn quất lan vo khng kh được bốc ra từ l nướng nơi nh bếp lan tới.
    - ng ni sao? Gặp Phật giết Phật th cn g để ni? Gặp php bỏ php sao trở thnh Phật? Phải phạt! Khng thể chm chước! Yu cầu hội đồng dự thnh phạt ng thầy l nh ny năm kt bia v dm lộng ngn xi bậy. Hiểu hay khng chẳng cần biết, Sỹ nh con mượn cớ dng lẽ cả v lấp miệng em cố gn p cho Hưng phải lm bữa nhậu.

    Cu ni vừa thot ra từ cửa miệng Hưng khiến mọi người cảm thấy bng hong v khng ngờ hắn dm bạo miệng như thế. Mới đầu a kinh Phật m đến khi tm tắt lại ph hết, bỏ hết, giết cả Phật, cả tổ th cn thi php no bậy hơn! Bao nhiu người xưa nay khng dm dẫu chỉ ni diễu về Phật, nhất l đạo Phật, v ni đụng đến tn gio l điều tối kỵ bởi phần no mang tnh cch khinh khi niềm tin của kẻ khc. Đng ny, Hưng ni về kinh Phật m cu ni cn qu người chống bng, chế diễu, khiến một vi người cảm thấy mu nng bốc ln tạo thnh tm trạng kh chịu, bực bội với kẻ ni cu ngang ngược. V mấy cnh tay giơ ln tỏ muốn pht biểu. ng Thung cũng cảm thấy bối rối khng km.

    Khng ngờ Hưng dm bạo mồm miệng đến như thế! M no hắn đ uống bao nhiu đu, mới c hai chai Heineken th lm sao c thể khiến đầu c ci thng chứa ấy bị ảnh hưởng sinh sự lộn xộn được. Mấy người giơ tay c vẻ bị đụng chạm tự i, mặt no mặt nấy lộ nt căng thẳng. Phải dẹp ci miệng ch ny thế no đy, u cũng tại mnh đưa ra đề nghị khiến giờ bị bối rối; ng thầm nghĩ m cảm thấy lng ruột nhộn nhạo, miệng lưỡi luống cuống khng biết ăn ni kiểu no để c thể xoa dịu mấy cnh tay đang giơ cao v tự i tn gio bị tổn thương.

    * * *

    Trưởng hội đồng dng người vừa tầm, hơi c cht da thịt, v dễ thương, độ chừng năm mươi mấy, gần su chục. Một người khắc kỷ như ng Thung m giữ chức quan ta quyết định việc thưởng phạt của hội đồng nhố nhăng v trật tự, được phụ họa bằng những ci mỏ coi trời bằng vung, kể cũng l chuyện hiếm c. Mấy năm trước kỳ mới quen những người trong nhm nhậu, ng Thung rất t ni, ngược lại, khi no ln tiếng chỉ lun lun đưa ra những nhận định đng, sai, phải, tri, nn thế ny, chẳng nn thế kia lin hệ tới vị thế người pht biểu. ng t ni c lẽ v nhận thấy qu nhiều người ni những điều theo ng nghĩ chẳng nn ni nơi vai tr của họ. Vẻ bn ngoi nghim trang, kn đo, thm phần chừng mực tạo nơi lng người đối diện với ng sự knh nể, tn trọng, đồng thời khng trnh thot nỗi e d. Tuy nhin, từ khi quen với Hưng nhn một hm hai người tham dự đm cưới, dần d ng bị cuốn ht đn đm với nhm to miệng ny. Sự thay đổi bản chất khắc kỷ v nhn quan eo hẹp đến với ng kể cũng chua cay nhưng đem lại lợi ch c nhn lớn lao xt về phương diện thức. Nguyn nhn gy nn sự thay đổi lại chnh l Sỹ nh con to mồm, ng ổng pht ngn giữa bn nhậu về gi trị sự sống nhn lc mọi người đ ng ng.
    - Đời đng sống hay khng đng sống th ni lm qui g! Đu phải tự mnh muốn được sinh ra m đặt vấn đề gi trị hay khng! Ti hỏi cc ng, mẹ cc ng đu bao giờ hỏi kiến cc ng c muốn chui ra khỏi bụng mấy b ấy hoặc được php nằm lỳ đến lc no chn th b ra đu! Thế nn, mnh được sinh ra, ni cho đng, bị sinh ra để sống th cứ sống. Hơn nữa, trước khi đặt vấn đề gi trị sự sống th mnh đ v đang sống. Do đ chng ta chẳng phải trở nn ci qui g cả! Bộ khng lm được ng nọ b kia chẳng lẽ mnh chỉ l những xc chết biết thở? Ti nghĩ, ai muốn lm ng nọ b kia hy coi chừng c ngy lnh thẹo chứ hay ho g m cũng tốn hơi bn luận.

    Sỹ nh con xưa nay ồn o, no động ngược lại t bị phản đối v hắn c lối l luận trộn lẫn những tưởng đang bn thảo v thực tại coi bộ ngy ng nhưng nghe hợp tnh, hợp l, đồng thời lắm lc đưa ln mặt tri của những vấn đề thường tnh khiến người nghe thấy ngạc nhin, thch th. Hắn lại thch diễu, dm nhảy xổ vo bất cứ cu chuyện no d quan trọng, trang nghim hay nhn đm, bẻ quặt bẻ quẹo nghĩa của lời vừa được ni theo chiều hướng khc với định của kẻ pht biểu, khiến đi khi người ni bị mang vạ chẳng ngờ để rồi đnh chấp nhận bị phạt bằng bữa nhậu. Tất nhin, rượu vo, lời ra, m khi đ chếnh chong hơi men giữa đm bạn b quen biết, mấy ai để đến lời ni. C chăng, giới xồn xồn lc xỉn xỉn chỉ kiếm cch ni cho vui, cng ph ngang nhiều cng tốt v cng bới ra lắm chuyện để ni. Khổ nỗi, dẫu đn đm với nhm nhậu, ng Thung lại khng biết uống bia. C lần bị p qu, ng rng cầm hơi, nn thở chịu đựng nửa lon bia, v chỉ mấy pht sau nằm lăn ra salng để cho trời đất xoay vần. Sỹ nh con ngay hm ấy thm vo tn ng một chữ thị, "Thị Thung." Đ thế, hắn vẫn khng tha, cứ kiếm cch ny, l kia bắt Thị Thung thực tập đức tnh "nam nhi tri ch" theo ring biện luận dựa vo cu, "Nam v tửu như kỳ v phong." Trước khi nhậu chưa thanh tẩy lng ruột th chưa được gắp, hắn tự by ra luật nhậu bắt Thị Thung phải lm một hớp, mượn cớ khng sc miệng bằng hơi men sẽ lm giảm phẩm chất mn nhậu, v như vậy l khinh thường, bi bc cng lao nấu nướng của đầu bếp. Thỉnh thoảng trong lc nhậu, hắn lại kiếm cớ nọ, nguyn nhn khc phạt một hơi bia. Mới chỉ qua mấy lần gặp gỡ ly anh chn ti, Thị Thung tiến bộ trng thấy, đ đưa cay được một lon "bất oai." Lần tiếp theo nhn c thằng b vừa đng năm tuổi, Sỹ nh con lm tiệc mời nhm họp mượn cớ khai tm chu nhỏ. Chẳng hiểu bị ly hay ngứa miệng thế no m Thị Thung hm ấy, lc sắp nhập tiệc, ln tiếng hỏi nghi thức khai tm. V thế l Sỹ mượn cớ, li ngay chai Napolon ra khui, miệng cười vui vẻ, liến lu bn về chữ khui cũng c nghĩa l khai để tạo nghi thức. Lấy trong tủ chn chiếc ly nhỏ lm mẫu mực ăn đồng chia đều km theo cu "Tửu bất khả p, m đ p th bất khả từ, v nếu từ tất bị phạt," tướng no tướng nấy vui vẻ nng ly mừng khai tm chu nhỏ. Thật tội cho Thị Thung, trong khi chu nhỏ chẳng thấy đu chỉ thấy người uống rượu vừa khui. Rồi ly rượu vẫn phải cạn, Thị Thung nn hơi nhăn mặt thi hnh nhiệm vụ kết quả lỡ ngứa miệng nhắc tới nghi thức khai tm m mắt nổ đom đm. V cũng từ đ, hnh như chất rượu nặng mới thử một lần đ thấy cng hiệu gip con t con vị Thị Thung lm quen với bia dễ dng hơn.

    Vo thời buổi ny ng Thung xa được tn đệm "thị" v đ c thể thanh ton những ba lon bia mỗi lần nhậu. Lẽ đương nhin "gần mực th đen, gần đn th rạng," đn đm với nhm nhậu lu dần thnh quen; vả lại, khi men bia thấm nhập, người nghim chỉnh đến mấy cũng kh m để về lời ăn tiếng ni của mnh. Sau mấy lần uống ng ng, ng Thung c những cu lỡ lời. Dĩ nhin, đ lỡ lời, dẫu ăn năn th cũng qu muộn; sự kiện ny gip ng nhận ra phần lợi ch của lầm lỗi nơi mọi người; chnh những g khng nn khng phải được gọi l lầm lỗi đ trở thnh điều kiện, ni đng hơn, thy dạy mnh chấp nhận lầm lỗi nơi những người chung quanh thay v ph bnh, ln n. Đng khc, ngoại trừ nố ham m ch chn say sưa đến độ mất thức nhn phẩm, khi chếnh chong, con người dm sống thật với lng mnh. C lẽ đy cũng l cơ hội cho ng Thung tự nhận chn nhiều hơn, v cũng c thể bởi c cơ hội ni chuyện nhiều với những người quen biết khng cần để đến hnh thức pht biểu nn ng trở nn cởi mở hơn.

    Bữa nhậu đ nửa chừng, ng Thung vừa mới thanh ton xong chai bia thứ hai nn hơi sừng sừng, nghe Sỹ nh con l luận loanh quanh, li đng nọ, quẹo đng kia bn đế v,
    - Ch my ni thế th cần g phải sắm nh lầu, mua xe tốt, v mặc quần o cho đẹp. V nếu ni được sinh ra để sống th cứ sống, tất nhin chuyện ng nọ b kia lm sao m c thể trnh được nơi một x hội rừng r, mạnh được yếu thua.
    Mọi người nơi bn nhậu ngỡ ngng v khng ngờ ng Thung dm đế v đấu với ci mỏ Sỹ nh con. Đng l chuyện kh tin nhưng c thật. Chẳng những thế, ng ta lại dm ngầm hiểu nghĩa cu ni theo kiểu truyện Trạng Quỳnh, về chuyện ng nọ b kia.
    - Php lạ xảy ra, php lạ xảy ra. Tnh ln tiếng, phỏng chốn dương gian mấy ai c thể hiểu.
    - Thế mới biết "Gừng cng gi cng cay." Xưa nay ti cứ nghĩ cu "Ao rậm th lắm c tr" t nhất đ c chỗ khng p dụng được. Anh cả coi bộ lầm ngầm coi chừng đấm chết voi lc no khng biết. Bởi nhiều tuổi nhất trong nhm, ng Thung được Hưng gn cho biệt danh "Anh cả."
    - Ai khng c một con heo đang ngủ nơi lng mnh? Sỹ nh con lại oang oang. C điều kẻ no kho giả hnh giả chước ra bộ đạo mạo che mắt thin hạ th được coi l đứng đắn. Cc ng khng nhớ người xưa c cu, "Hơn nhau tấm o manh quần, nếu đem lột trần ai cũng như ai" sao! (Ca Dao). Ni cho đng, chiếc o khng lm nn thy tu th hnh thức chỉ c thể đnh lừa được những tm hồn non dại, ngờ nghệch m thi.

    Miệng Sỹ nh con đưa ra nhận thức chn thnh nhưng khi lọt vo tai anh cả lại chẳng khc g tri nổ ngầm chứa sức cng ph mnh liệt. C điều, qua những lần nhậu, ng Thung hiểu được Sỹ nh con ăn ni khng mang c m thực ra đ l những nghĩ hiện thực, lột trần bản chất con người một cch to bạo, khng ro đn hoặc nể nang, thương xt, hay nhường nhịn kẻ nghe. Chẳng thế m t ai dm đấu l với hắn bởi ai cũng ngại ni đến mặt tri thị dục tận đy lng mnh. Thực ra, qua vi lần ăn năn bởi lỡ miệng lc ha theo tn gẫu với những người bạn nhậu trẻ hơn, ng Thung cảm nhận được một điều, v đ l những phiền h nơi tm tưởng do sự ăn năn tự mnh nhận thức chứ đu ai để g. Người ta khng cố chấp, xt nt m mnh lại cứ như g chọi, chọi người chn quay lại chọi chnh mnh. ng chợt hiểu cu ni ngớ ngẩn đ c lần Tnh l nh khi say b tỉ, "Lửa no c nng, chỉ tại mnh cảm thấy n nng m thi." Lời chn thnh, hiện thực, trở nn xc c cho những kẻ khng dm đối diện với con người thực của mnh do đ cố giả hnh, tự dối lng mong được người đời chim ngưỡng một cch tầm thường v thế l thỏa mn, tưởng mnh quan trọng bởi được coi l ng nọ, b kia. Đng, lửa khng nng, lời ni của người khc khng thưởng khng phạt ai m mnh cảm thấy ray rứt, nhột nhạt, chỉ tại mnh. Nghĩ như thế, ng mới nhận ra cu dn gian thường quan niệm, "C tật giật mnh" mang nghĩa thm su, khng ngờ đ bao lu nay ng coi thường. ng chợt nhớ c lần cũng tn Sỹ nh con trong lc đấu lo oang oang pht biểu khi một người trong nhm bn về sự ph bnh thất thiệt, "C g đu m mấy ng để đến những lời bnh phẩm ba xu cho mệt, kẻ đeo kiếng đen th nhn ci g m khng tối m. Những nhận định của họ chẳng khc g cc thy bi la coi voi m thi. Nh con nghĩ, thế no cũng c thy bi rờ trng của ấy bị n đ cho văng mạng th lại hng hồn tuyn truyền rằng đ gặp được voi cha c quyền lực di sơn, đảo hải khiến mnh mới đến gần đ bị tung ln." Đng khc, dạo mới quen, ng Thung c cảm nghĩ sao mấy người bạn trẻ ny họ v tư, sung sướng đến thế. Nhậu sứa sứa vo rồi th tha hồ ăn ni bạt mạng, to lao thin tướng, mang đủ mọi hạng người lm đề ti diễu trong khi ng phải đắn đo, cố gắng tỏ ra chừng mực. Chẳng hạn một hm, Hưng ch Tnh ốm yếu nn giả tỉnh giả say hỏi,
    - V đu ch my ăn như hổ, uống như rồng cuốn m ốm nhom ốm nhch, nếu lm thịt khng được vi ci gắp vậy?
    - Sao ng dốt thế, mập hay ốm ty lc cn nhỏ c được chăm nom đầy đủ chất bổ dưỡng để cc tế bo pht triển ngay từ đầu hay khng chứ đu phải cứ ăn nhiều uống lắm l c thể mập được!. Dẫu đang ng ng m Tnh lm bộ nghim trang, tỏ ra thng hiểu, v trả lời ph hợp với l luận khoa học đoạn bỏ lửng, ngụ ch người hỏi l dốt, nng ly bia lm một hơi.
    - Ti hỏi tại sao ch my ăn nhiều m vẫn cứ ốm chứ khng cần biết nguyn nhn ốm với mập.
    - Thưa ng, ti cn đang thấm giọng; banh tai ra m nghe, ngy xửa ngy xưa, thời xưa lắm rồi, lc m ti mới cho đời, bố ti ginh hết phần của ti rồi cn đu.

    Cu trả lời khng ai c thể dm nghĩ tới m Tnh lại oang oang vung vt ra bộ đắc ch lắm. Họ l thế, trẻ khng tha, gi khng thương, dm đem chnh bản thn ra m diễu. Tuy vậy, mặc dầu coi bộ ồn o, ăn ni lộn xộn qua những lời lẽ bng cợt, to lao, tứ lại ngầm chứa sự suy nghĩ thm trầm, phanh phui, nhạo bng hnh thức rởm hoặc bộ mặt tri của con người dựa nơi những điều mắt thấy tai nghe tạo nn ci cười ngỡ ngng.
    ng Thung cn đang thầm nhận định thi độ v tứ cu ni của Tnh th Sỹ nh con phang tiếp,
    - Thế mới l con người, ln n những g mnh thấy thch th khi thực hiện để gia tăng gi trị của sự vụng trộm.
    - Chẳng c g được gọi l vụng trộm m thực ra chng lại l những chiếc gương soi chnh mnh, Phủ đặt vấn đề, v d che giấu cch mấy khng cho người khc biết th mnh đ biết. Bởi vậy, sự vụng trộm l điều nghịch với chnh lng mnh m thi. Phỏng nếu lương tm mnh khng giao động khi lm những chuyện chẳng nn tại sao e ngại người khc biết, tại sao phải vụng trộm? Muốn cho người khc khng biết no kh chi, đừng lm th ai biết, đu cần che giấu.
    - Ni như vậy cn g th vị để vụng trộm? Tnh nu cu hỏi.
    - Thưa ng, Phủ nhại lối ăn ni ra vẻ quan trọng của Tnh, c cu ni "Muốn nếm được niềm hoan lạc thực sự của gian dm phải l một kẻ knh thnh đạo đức" (Anatole France). ng khng thấy rằng người ta ln n những quyển sch v lun v chng li ra bộ mặt thật của con người sao? Như vậy, chnh những g được gọi l tội lỗi lại l điều mnh thch, v chng hm chứa sự hấp dẫn tuyệt vời.
    - Thế sao người ta phải che giấu?
    - V con người khng dm đối diện với chnh mnh, e nhận biết mnh chẳng ra g do đ phải che giấu, chẳng những thế lại đng thm bộ mặt m phạm hầu đnh lừa mọi người chung quanh, đặc biệt những kẻ được coi l xấu miệng.
    - Như vậy phải biết ơn kẻ xấu miệng mới đng, Tnh trở giọng ngang.
    - Đ l lẽ đương nhin v cần thiết.
    Vừa định ni cu ph đm th lại được ủng hộ, đồng khiến Tnh cảm thấy ngỡ ngng,
    - ng ni chi? Phải biết ơn mấy người xấu miệng dm li ng b ng vải, bới lộn tng pho con tẩy bạt của ng ln hay sao m cho l lẽ đương nhin v cần thiết?
    - Khng biết ơn họ th lấy ai vạch điều chẳng nn cho mnh sửa. Cuộc đời thay đổi, con người thay đổi m mnh khng thay đổi sao đng sống. Khng c kẻ xấu miệng sao c thể nhận ra điều rởm nơi mnh. ng phải nhớ, phương php tuyệt vời nhất để tiu diệt kẻ th l để cho n sống.
    - Để cho n sống v giết mnh thay v tự tử? ng ni chi lạ!
    - R dốt nhưng khng biết dựa cột để nghe lại cứ chẩu ci mỏ v. Để n sống bới mc mnh cho biết đường m sửa. Đy l tự học khn, tự thăng tiến dựa trn ci dại của người đối lập. ng nn biết, kẻ bới mc mnh l đứa dại v trong khi mnh biết được mặt tri của mnh do n phanh phui, tất nhin mnh phải sửa đổi, v sửa đổi khng ngừng th cng ngy mnh cng thăng tiến hơn; trong khi kẻ bới mc mnh chết chm với ci ngu dại của n, ci dại chỉ đường cho hươu chạy.

    Mấy cu nghịch luận của Phủ khiến ng Thung bừng tỉnh. Những ci mỏ bn trời khng văn tự ny pht thanh lắm điều bổ ch, ng thầm nghĩ. Đ bao lu nay ng thường phải e d bởi muốn trnh những lời bnh phẩm của thin hạ, thay v nhận ra điều kẻ khc ni khng ra g về mnh, lại l cơ hội chỉ đường thăng tiến. Sự so snh về tuổi tc tự động tan biến gip ng mở rộng lng ha đồng cng những người trẻ tuổi hơn, ph tan chướng ngại tạo nn bởi nhận định nghịch luận, điều m xưa nay t khi ng dm tham gia bn thảo hoặc đ nhiều lần cố trnh hầu tm tư khng phải suy nghĩ hay giao động. Cũng bởi đ, ng hiểu được cu ni ngược, "Kẻ khn ngoan tự lừa dối; người ngu đần nghịch với ci thuận v thuận với điều nghịch." Thế mới biết, Cng tột của thng minh lại chẳng khc g ngu đần, ng Thung thầm nghĩ m lng dng dng niềm cảm khoi.
    Từ đ ng nhận ra gi trị của sự nghịch luận dẫu xưa nay ng lun d dặt v biết r, d chỉ lời ni nghi ngờ sự chnh đng của qui ước một tổ chức cũng lm những người trong tổ chức đ phẫn nộ. Lời ni nghịch, những cu hỏi ngược lại, mới thoạt nghe thật chối tai nhưng mang gi trị lm sng tỏ mặt tri của vấn đề. Bnh thường, c nhiều trường hợp những l thuyết một chiều chợt nghe rất xui tai, lại hợp l, hợp tnh, nhưng nếu đặt cu hỏi ngược lại, thực thể vấn đề được phơi by khng đơn giản theo thi quen nhận định m đi hỏi suy luận lin hệ tới hon cảnh lệ thuộc. Sự kiện tự n độc lập nhưng ty mi trường diễn tiến để rồi được coi l đng sai, phải tri, hoặc nn hay khng nn. Điều ny khuyến khch tự nhận định, v khng thể no lấy sự suy tư, nhận định của kẻ khc lm căn bản cho suy luận của mnh; bởi cng một sự kiện c thể giải thch nhiều lối khc nhau ty quan điểm của người nhận định. ng Thung cn nhớ, c lần Phủ đem mấy cu thơ ra đố,
    - Anh cả nghĩ g về kết luận của đoạn thơ ny, "Một chiếc cầu, một chiếc cầu, v một chiếc cầu, chồng ln nhau. Hỏi tại sao?"
    - Th ba cy cầu nối liền ba con đường khc nhau được lm chồng bn trn nhau chứ c g đặc biệt đu m ch my hỏi.
    - Em muốn ni cu kết phải thm vo thế no?
    - Ti chịu thi v c biết thơ văn l g m thm với nếm!
    - Anh thử nghe coi lạ khng; tc giả viết tiếp, "Chng tranh đua xem ci no cao!"
    Mấy cu thơ coi bộ ngớ ngẩn, mới nghe qua tưởng tc giả khng; thế m n đ lm cho ng Thung suy nghĩ loanh quanh luẩn quẩn suốt ba ngy trời mới nhận ra điều ngớ ngẩn tc giả nu ln m chỉ lối nhn phiếm diện của con người, chưa kịp suy tư đ vội chấp nhận hay xt đon dữ kiện. Cũng chnh mấy cu thơ ngớ ngẩn ny gợi lại cu ni của một nh tư tưởng no đ m ng khng nhớ tn, "Ci ngu nhất của con chuột bị mắc bẫy l khng ăn được miếng mỡ đ đnh lừa n vo cạm." ng chợt nhận ra sự ngu nhất cho người muốn thăng tiến l tin v lm theo những g người khc ni m khng tự nghiệm xt. Bởi vậy, những lối nhn chật hẹp, độc đon phải l con đẻ của sự dốt nt thiếu suy tư, hnh trnh v thức chỉ thấy ở những xc chết biết thở. Nghĩ đến đy, ng thầm đa với chnh mnh v chợt nhận ra đ bao lu nay ng đ tri qua những ngy thng như một xc chết cn biết cử động.

    V thế l họ cao hứng đưa ra kiến xung phong lm diễn giả, diễn thật nơi một chầu nhậu cuối tuần. Lc sứa rồi, ng no cũng hay, tướng no cũng giỏi, cứ to miệng ba hoa chẳng ai ni ai nghe; do đ cần c người lm trọng ti phn xử. "Trọng ti l cha mẹ," Tnh đề nghị khi ng Thung bị p buộc đưa ra nhận định trong lc vấn đề ngừa thai đang được bn ci, tất nhin phải xỉn xỉn đấu ht mới hăng. Thực tm, e ngại mấy ci mỏ bạ đu phang đ, ng Thung cố chối từ sợ mang họa v biết chỉ một cu v tnh khng hợp tai sẽ bị cả bọn lc ng ng hạ thủ khng nương tay m c chăng lại dng l luận quay cho như quay dế bất kể phe phi. Hơn nữa, cng người cng phe cng bị đấu nặng bởi bị gn cho đồ phản thng, tạo cơ hội để phe bn kia thừa thắng xng ln lm hao hụt vị thế thng thi cao trọng của phe mnh.
    - Cho tớ đứng ngoi vng php luật, khng dm đụng chạm đến mấy ci mỏ của qu ng. Thi thi, tớ xin hng v điều kiện.
    - Tửu bất khả p, v đ p bất khả từ. Chuyện g cũng vậy, phải c đầu c đui. Cng l phải c quan ta xt xử v hội đồng gim định, nhất l ở đất nước tự do dn chủ. Nh con đề nghị chng ta đề cử rồi bầu cử, đa số thắng tiểu số. Nh con xin đề cử ng Thung lm trọng ti.
    - Ti đồng .
    - Ti cũng đề cử anh cả.
    - C ai đề cử người khc nữa khng?
    - Bầu bn g nữa, bất chiến tự nhin thnh đu cần phải bầu.
    - Phải bầu để mọi người c cơ hội chứng tỏ quyền dn chủ của mnh. Ai đồng bầu anh cả lm trọng ti xin giơ tay.
    Lại c dịp cho những ci mỏ rối ln vo ha với nhau tạo thnh thứ cng l dn chủ p buộc. Thế m họ lại ra bộ nghim trang giơ những hai tay một lc.
    - Anh cả bị bầu, ti xin lỗi, anh cả được mọi người trang trọng bầu lm trọng ti. Xin cho một trng pho tay. Hưng cổ v, v trng pho tay đ nổ. Xin nng ly chc mừng anh cả trọng ti, v những phần bia dang dở trong ly lại được cạn để c phần trống cho những chai bia đang đợi chờ.

    Đến nước ny th kẻ bị p buộc cũng đnh chấp nhận được bầu. ng Thung tập tnh mi để tim nhiễm thm thi độ l ph lại phải đng bộ mặt trang trọng giơ tay c kiến.
    - Xin cho ti ni.
    - Im lặng, nghe trọng ti pht biểu. Giọng Tnh h to v ko di. Đang nhốn nho mượn cớ chc mừng để ngốn thm bia m những ci loa phng thanh v trật tự ngưng mấp my kể cũng lạ.
    - Nếu lc đưa ra nhận định phn xử m anh em khng thm đếm xỉa chi tới quyết định th c trọng ti m lm g. Mấy anh em quen thi ăn ni bạt mạng xưa nay, sao cố lm kh dễ tớ vậy?
    - Trọng ti l cha mẹ, ai ci lại trọng ti l bất hiếu sẽ bị phạt. Tnh cướp lời, vung vt đưa ra dự luật.
    - Đồng , đồng ! Ci lại trọng ti sẽ bị phạt.
    Bia chc mừng quyền hnh trọng ti tiếp tục cạn. Cứ c cớ để ồn o chc mừng v nốc bia l vui rồi, đu ai cần biết chuyện g sẽ phải đến. Khổ nỗi, bia chc mừng dẫu đầy dẫy m no trọng ti c sức đu để uống, ngược lại, niềm vui bị p buộc chưa kịp triển nở th khốn kh đ kề cận do mấy ci mỏ khng chịu ăn da non.

    - Cng việc cần thiết bầu bn đ xong. By giờ xin trọng ti phn xử những kiến bất đồng về ngừa thai. Phủ gợi lại cuộc bn ci dang dở chưa ng ngũ lc ny.
    - Trọng ti ra lệnh, phe quan niệm nn ngừa thai chọn một người đại diện trnh by. Phe cấm ngừa cũng cần c một người biện minh cho l do tại sao cấm. Ai dm coi thường cử tọa chen vo ph rối lc người đại diện đang thuyết minh, d ở phe mnh hay phe đối thủ, lập tức bị ghi sổ chờ ngy thực hiện lệnh phạt. Biết sự khốn kh sắp đến, ng Thung đnh chấp nhận ln giọng ngăn ngừa những ci mỏ pht ngn bừa bi c thể kiếm cớ dồn ng vo nước b. Đ vậy, Sỹ nh con vẫn khng tha,
    - Nh con xin hỏi trọng ti, c được uống bia lc nghe khng hay cũng phải nn uống.
    - Uống th được nhưng khng được lm mất trật tự.
    - Uống m khng được ni cho hả hơi bia th cũng giống như chuyện Trạng Quỳnh, cho lm điều ny cấm sự kia.
    - Trọng ti đ tuyn bố điều luật r rng. Ch my nn nhớ, trọng ti l cha mẹ, khng vng lời sẽ bị phạt. By giờ, mời đại diện phe cho l nn ngừa thai trnh by l do.
    - Nh con xin đại diện phe nn. Sỹ nhanh nhẩu giơ tay đứng ln muốn ni, e người khc ni sớm hết phần mnh.
    - Chưa bầu, chưa c đại diện, ngồi xuống, ngồi xuống. Phủ ko Sỹ p ngồi xuống ghế.
    - Chỉ c ng với ti một phe m ti khng đại diện được hay sao; nếu ng muốn đại diện th ni đi.
    - Ti xin c kiến cho phe nn. Chng ti chỉ c hai người khng thể bầu được v ai cũng muốn lm đại diện; do đ, ti đề nghị xin cho mỗi người ni một nửa. Yu cầu trọng ti minh định.
    - Được, ch biết php tắc, cho ch ni trước.
    - Bầu trọng ti ny l bầu ba tạ rồi b con ơi! Sỹ bp xp.
    - Ch Sỹ chưa được php ni m đế v sẽ bị phạt. Kể từ giờ pht ny trọng ti sẽ thẳng tay lm việc. ng Thung ra bộ chủ tọa rnh nghề.

    Cho d người no người nấy đ chịu chấp nhận bị phạt hết lượt, ngoại trừ trọng ti, thế m lắm lc vẫn đng người ni, chẳng ai nghe. Đại khi, phe nhận định nn ngừa thai nu ln những trở ngại thực tại, nhất l sống nơi x hội nhố nhăng khng thể no gio dục con ci theo truyền thống v bản chất của dn tộc mnh. Chẳng những thế, đời sống kinh tế kh khăn khiến con mnh chẳng được như con người sẽ tạo nn mặc cảm thua km pht sinh bất mn trở thnh nguyn nhn dẫn đến lng ham muốn vật chất kiến tạo tm thức n lệ cho quyền lực, tiền bạc. Nhận thức đau lng nhất của "phe nn" đưa ra l th rằng t con m mnh đủ sức lo cho chng nn người cn hơn nhiều con m v thiếu thốn đ khiến chng trở thnh những bộ my chạy theo vật dục sau ny. Đy l lối giết người một cch v thức v qu độc hại, trong khi người bị hại lại chnh l những đứa con của mnh.

    Nghe những nhận định rất thực tế nhưng chưa bao giờ nghĩ tới khiến ng Thung bng hong. Tuy đ đứng tuổi v chỉ được bốn người con đ ăn ring ở ty nn sang đến bn ny, ng khng phải lo nghĩ về nỗi kh khăn của cc bậc cha mẹ đang phải đối diện với thực tế. Ở Việt Nam no c ai bao giờ ni đến chuyện đn b con gi, ngừa hay ngưng; thế m bn đy người ta đưa ln TV, bo ch, lm nhốn nho cả ln. Xưa nay, ng chỉ quan niệm sống theo tự nhin, sống sao cho ha thuận với mọi người, trnh điều ong tiếng ve v nhất l trnh lời ra v c thể trở nn đề mục cho người đời đm tiếu. Bởi vậy, nghe sự gii by hợp tnh, hợp l của những người coi bộ ăn ni to lao trong nhm nhậu, ng lại thấy cần phải c nhận định đứng đắn về thực trạng cuộc sống, v nn c suy tư chn chắn ha hợp thi độ trực diện vấn đề chứ khng thể chỉ nghĩ hoặc cho rằng điều g hay đường lối no nn để rồi cứ vậy m theo l đủ. Lu nay, nghe người ta kho lo nhiều về chuyện ny nhưng n khng phải l chuyện của ng; do đ ng trnh tham luận hầu khỏi bị đưa ra lm đề ti v mấy cu ni của mnh. No ai lạ g miệng người đời, d ni hay, ni dở, lối no cũng bị mổ xẻ bởi người ni một đng trong khi kẻ nghe c quyền nghĩ theo họ. Điều khiến ng ngạc nhin nhất, l những người trong nhm nhậu coi bộ chẳng c gi trị g nơi vẻ bn ngoi, sao lại c những nghĩ v lối nhn trung thực đồng thời am hiểu vấn đề như vậy. Tại sao thi độ họ mang đầy vẻ bất cần, nhiều khi đến độ ngạo đời, đi lc dm tự ngạo; v hơi men đ thấm ng ng, m lc để gii by vấn đề hc ba, họ lại c thể trnh by cch thng suốt chứng tỏ đ l kết quả của những suy tư minh mẫn.

    Phe chống ngừa thai nhấn mạnh gi trị sự sống. Điểm chnh yếu họ đưa ln l sự sống khng thuộc quyền lực của con người. Để bổ xung cho l lẽ, họ đặt vấn đề giả sử những người mẹ ngừa thai, sao c họ đang ngồi nhậu để bn luận về nn hay chẳng nn ngừa. Bởi thế, những g khng ty thuộc quyền lực con người, chng ta khng c quyền v cũng khng được php đụng chạm đến. Mang th dụ nơi sự pht triển v sinh sản của loi vật, chng khng biết ngừa thai nhưng khng c loi no pht triển qu độ, c chăng chỉ đang dần mn mất đi. Chẳng hạn như loi ong, loi kiến. Con ong cha đẻ trứng hng loạt theo tự nhin m c sao đu. Để kết luận, họ đưa ra nhận định nn tun theo luật tự nhin; v thin nhin đ tự c luật điều ha, v con người khng nn nhng vo lm xo trộn.

    Bn no cũng c l v dữ kiện được đem ra chứng minh đều hợp tnh. Phe nn c hai ci mỏ chĩa mũi di vo gi trị nhn bản. Phe chống biện hộ cho quyền lực hiện hữu, nhiều lc ồn o, gay cấn khiến trọng ti tiến thoi lưỡng nan. Suy luận về điểm thiết yếu bn ny th lại phải đối diện thực trạng chẳng đặng đừng bn kia. Cho rằng nn cũng khng xong, m chẳng nn lại kẹt nhiều trường hợp. ng Thung nhận ra khng thể đứng hẳn về một phe, m giữ vị thế trung lập th chẳng khc g kẻ đi giữa hai lằn đạn, khng r rng, khng lm hi lng được ai. Xt về thực tế, ci mỏ no c cuộc sống tương đối kh hơn, muốn c thm con nhảy vo phe bảo vệ sự sống theo luật tự nhin. Hai ci mỏ Sỹ nh con v Phủ, người no người nấy hơn km cả t tất nhin đứng chung phe điều ha sinh sản. Hơn nữa, dẫu bn về vấn đề quan trọng m thực tại được trnh by đ khiến mọi người cười đau cả bụng; chẳng hạn trường hợp Phủ nu ln điều được gọi ngoi muốn về sự p dụng ngừa thai tự nhin,
    - Th ti cũng để lắm chứ, nhất l b ấy. Thế m chẳng hiểu sao, đến lc n phnh ra th chuyện đ rồi, chỉ cn nước nhn nhau m cười chứ lm chi được nữa.
    - Th đừng khều khều nữa. Tnh đế v.
    - Tớ đu c khều, chỉ dại cht xu . ng khng nhớ cu, Khn ba năm, dại một giờ sao!
    - Lm sao c thể dại được những một giờ?
    - Tớ chỉ lặp lại lời tiền nhn. Muốn biết sao c thể dại được những một giờ, đo mồ, li mấy ng ấy ln m hỏi.

    V chuyện đến vẫn phải đến, lỡ chấp nhận lm trọng ti sao trnh khỏi mn phn xử, ng Thung thầm nghĩ.
    - Trước hết, ti muốn hỏi qu vị, tất cả chng ta đang hiện diện nơi đy đ ai mang bầu bao giờ chưa? Trọng ti bất đắc dĩ mở mn hỏi lăng nhăng kiếm lối thot.
    - Ti lm sao c bầu được m mang!
    - Chẳng ring g anh, l đn ng tất nhin khng thể mang bầu được. Thế th tại sao chng ta bn về chuyện chẳng bao giờ thực hiện nổi?
    - Trọng ti đổ bn sang ao, kiếm đường trnh n giải đp. Phủ ln tiếng.
    - Nhiệm vụ trọng ti l phn xử đng sai chứ khng đưa ra giải đp v chỉ người trong cuộc mới c được giải đp đng đắn. Nếu đặt vấn đề nn hay khng nn th bn no cũng c những trường hợp c l v những trường hợp kh m chịu đựng nổi. Vấn đề no cũng đều c t nhất hai phương diện đối nghịch. Bởi vậy, ni rằng nn ngừa thai th lm g c chng ta ngồi nơi đy bn chuyện nn hay khng. Bảo phải theo luật tự nhin th cố theo đấy nhưng mới dại cht xu n đ phnh ra rồi biết tnh sao đy! Như vậy, trước hết, chỉ những người c thể mang bầu mới c quyền ni. Kẻ no khng thể mang bầu, hoặc muốn c bầu m khng được, tốt nhất nn banh tai ra m nghe v mọi kiến, mọi nhận định phiếm diện đều lo lếu. Đng khc, những kiến lo lếu tạo nn kết quả tai hại khng đo lường được. Chẳng hạn, mấy người lm ghe c nn nghe lời đề nghị phải lm thế no trn biển của kẻ khng biết g về nghnh nghề đnh tm bắt c khng? Bởi vậy, nếu muốn biết r thực thể vấn đề nn hay khng nn ngừa thai, tại sao khng mời mấy b vợ của cc ng trnh by sự việc. Ti khng c bầu nn khng c quyền ln tiếng bảo cc b ấy phải thế no cho c bầu hoặc khng c bầu.
    - Anh cả ni như thế tức l khng thể phn định được nn hay khng nn ngừa thai, Hưng nu kiến! Ti nghĩ, cần c một luật chung lm căn bản để lấy đ lm mẫu mực cho những quyết định.
    - Ti chỉ l trọng ti nu ln nhận xt của hai phe về thực thể ngừa thai chứ khng c quyết định bảo n l đng hoặc l sai. Cc ch thấy r hơn ti v cc ch đang phải đối diện với vấn đề ny. Ti đồng với phe cấm v sự hiện hữu của con người khng ty thuộc quyền hạn của bất cứ ai. Khng ai c quyền giết người; khng ai c quyền ngăn cản sự triển nở quyền lực sự sống nơi con người cho d ở vị thế no. Tuy nhin, trong trường hợp con người khng đủ khả năng bảo vệ sự sống th sao c thể ni chi. Chng ta khng c đi cnh như chim nn khng bay được như chim. Do đ, ti nghĩ, những người c đủ năng lực, tương đối được đời ưu đi hơn, nn v cần tiếp tay với những người thiếu điều kiện hoặc bị rơi vo trường hợp chẳng đặng đừng. Như vậy, vấn đề cần được nu ra, đ l phỏng những người chủ trương cấm ngừa thai c thực hiện bất cứ g để bảo vệ v gip đỡ những đứa trẻ được sinh ra trong những điều kiện thấp km hay chưa? Thực ra, khi mnh khng ở trong trường hợp khốn kh của kẻ khc, mnh khng c quyền ni nhăng, ni cuội, rống ci mỏ ln m ba hoa chch cho. Cc ch thấy r, pht lc th ai cũng ni được nhưng thực tế chứng minh, phỏng những người c của ăn của để, những người thm kht c con m khng c được đ thực hiện những g để gip ai đ rơi vo tnh trạng thiếu điều kiện nui dưỡng v gio dục con ci chưa? Ti thch đố cc ch trong phe cấm ngừa thai tự kiểm thảo về phương diện ny. Nếu chưa ai gip đỡ g cho người khc nui dưỡng v gio dục trẻ em km may mắn, lm ơn cm ngay ci họng lại. Cuộc đời ny nhiều kiến tốt lnh qu rồi, v chng ta đang phải đương đầu với những kiến tốt lnh nhưng ngu xuẩn bởi cho rằng những g tốt đối với người ny cũng tốt cho người khc. Ti ăn được ớt v khng c ớt nhậu mất ph; tất nhin ớt tốt v cần thiết đối với ti. Cc ch nhai thử tri ớt hiểm như ti xem n c tốt lnh khng th biết. Thực tm ti nghĩ, vấn đề ngừa thai ty thuộc từng trường hợp chứ khng thể no c luật cố định được coi như khun mẫu cho mọi người cứ đấy m thi hnh. Bởi đ, điều m ch Hưng đi hỏi gọi l luật chung lm căn bản th lại chẳng c g chung. Tự bản chất của ngừa thai khng thể ni đng hay sai m khi p dụng ty trường hợp mới c thể đưa ra nhận định nn hay khng. Giả sử, ch Phủ v ch Sỹ c tiền rừng bạc bể; con ci cc ch muốn g được nấy; phỏng hai ch c thấy cần ngừa, cần chặn g khng? Cc ch khc chủ trương khng nn ngừa, hy gip hai ch Sỹ v Phủ thực hiện chủ trương khng nn l điều tốt nhất. Bởi vậy, khng cho l đng, chẳng ni rằng sai m tự xt hon cảnh v lối sống thế no trong trường hợp của mnh mới c thể c cu trả lời đng đắn nhất v chỉ ring cho trường hợp đ m thi. Ai c kiến thực tiễn no yu cầu pht biểu. Tuy nhin, chỉ bn ra, tn v cho c chuyện để ni hoặc ph bnh theo kiểu thiển cận một chiều, sẽ bị phạt gấp đi.
    - Hoan h trọng ti! C l, c l, xin mọi người cho một trng pho tay. Lẽ dĩ nhin, tiếp theo trng pho tay phải l mn nng ly chc mừng. Cũng may, ng Thung mới uống hai chai.
    Mấy người cảm thấy thỏa mn v lời giải đp, d khng thể đưa ra được luật chung nhưng t nhất đ lm sng tỏ vấn đề để mọi người c nhận định trung thực hơn. Họ tiếp tục bn luận về ny hay, cu ni kia trung thực. Lại c người tỏ khng ngờ trọng ti c nhận xt thm su như thế. Ring ng Thung, uống một hơi bia để tự trấn an m lng vẫn cn run, ảnh hưởng cả đến tay chn. Tim ng đập thnh thịch dội ln tới mng tang. ng cảm thấy qu liều, nhất l trong lc ni, một p lực no đ đ nặng nơi tm tr khiến ng liều mạng phải để n thot ra bằng lời ni văng mạng. ng cn c thể gợi lại cu ni m lc vừa bung ra khỏi miệng chnh ng phải giật mnh, "Ti thch đố cc ch trong phe cấm ngừa thai tự kiểm thảo về phương diện ny. Nếu chưa ai gip đỡ g cho người khc nui dưỡng v gio dục trẻ em km may mắn, lm ơn cm ngay ci họng lại." ng nhớ rất r, lc ấy ng cảm thấy những đề nghị tốt lnh một chiều, v thức, pht xuất từ những đầu c thin kiến, hạn hẹp, đầy thị dục, lm ng bực muốn đin ln; đồng thời pht sinh mối thương cảm cho những người đơn sơ, khng may bị rơi vo thế chẳng đặng đừng khng cn phương cch no xoay xở. ng đ gọi những người bạn trẻ l "cc ch" bởi phần no đ, đưa ra hướng bảo vệ sự sống ngầm chứa sự lạm dụng l luận chỉ cố sao chứng minh quan niệm của mnh l đng, l chn l bất khả di dịch. ng run v lần đầu tin trong đời dm liều, bất chấp tai tiếng c thể xảy tới sau ny. Đng khc, ng run bởi mừng rỡ đ dm ni thực lng những g ng cảm nhận được thay v e ngại lỡ lời. Hơn nữa, đy cũng l lần đầu tin ng dm suy nghĩ theo mnh trong khi phải đối diện với thực trạng hc ba m nếu đứng về phe no cũng khng ổn thỏa. ng cảm thấy mnh hnh như đ lột xc khỏi con người xưa nay nht nht, e d, ni cho đng, lo ngại bị người khc hiểu lầm. Thuận hay nghịch với nghĩ, nhận xt của người khc l điều khng thể trnh nhưng dm suy nghĩ theo nhận định trung thực nơi mnh mới tạo nn gi trị con người đch thực của mnh. Khng ngờ, tự nơi lng tr ng đ tiềm ẩn gi trị m đy l lần đầu tin ng nhận ra. Niềm vui chợt đến khiến ng cảm thấy hnh diện v mnh l chnh mnh, khng phải theo ai khc, v cũng chẳng cần cố gắng trở thnh bất cứ g.

    - Nhưng sao mấy linh mục giảng nơi nh thờ nếu ngừa thai th c tội? Minh ln tiếng hỏi m lng cảm thấy bất an. Anh l người Cng gio, đạo gốc, tốt lnh, sng đạo, tun giữ những lời giảng dạy của cc cha một cch cẩn thận. Bởi thế, anh c thi độ hiền ha, chấp nhận, trnh hơn thua, đi khi cố nn nhịn về những lời giỡn hơi qu đng của bạn b. Anh được bạn b gn cho danh hiệu Minh bụt. Bụt l tiếng dn qu miền Bắc dng để chỉ tượng Phật, chẳng hạn bụt ốc, ng bụt, "Đi với bụt mặc o c sa, đi với ma mặc o giấy." Anh khoảng chừng bốn mươi tuổi; chị vợ lanh chanh, vui vẻ, hai người thnh hn đ hai mươi năm v c được su người con. Đứa lớn nhất, mười tm tuổi, thn xc to hơn bố. Chị Minh sắp cho ra đời chu thứ bảy khiến hai vợ chồng bối rối v hon cảnh khng được sung tc cho lắm. C lần hai vợ chồng khng hiểu nghe ai ni, đ gọi điện thoại xin gặp đức gim mục trnh by tự sự v bc sĩ đề nghị cột buồng trứng, nhưng gim mục trả lời cần c giấy bc sĩ chứng nhận nếu tiếp tục sinh sản nữa sẽ nguy hại cho sức khỏe người mẹ. V thế l đi vợ chồng đnh m thầm chịu đựng gnh nặng được tạo thnh bởi hai p lực, sinh kế kh khăn nơi gia đnh nhiều con v lề luật đạo phải giữ m khng biết giải quyết cch no. Nghe những lời nhận định của ng Thung khiến anh cng thm bối rối v nhận ra trch nhiệm v quyết định cuối cng ty thuộc chnh người đang phải đối diện từng trường hợp. Anh theo đạo, giữ đạo chứ no c tạo nn đạo đu do đ lm sao dm phạm luật đạo. Hơn nữa, cc cha giảng dạy những điều đng m gio dn nn theo để được phần rỗi. Phạm vo những điều cấm trong đạo khc no đ tự mnh đi vo con đường tội lỗi th sao được cứu, nhất l quyết định phạm luật lại tự ở nơi mnh; trch nhiệm ny sao trốn trnh được với một lương tm lun lun dằn vặt. Khổ nỗi, cố gắng ăn ở theo luật đạo cho lương tm thanh thản th anh lại phải chịu đựng cảnh khốn kh nơi cuộc sống. Bạn b, ai cũng c nh ring, c người mua căn nh hơn hai trăm ngn. Mấy ci xe mới, nước sơn bng lộn phản chiếu nh sng khiến người mới chợt nhn đ thấy xy xẩm cả mặt my. No người th than phải đng tiền cho con đi học nơi trường nọ, trường kia nổi tiếng hết chục ngn ny đến chục ngn khc, lại c cả xe ring cho con về thăm nh cuối tuần. Kẻ khc bn tn đưa gia đnh đi Hawaii, Florida nghỉ h, nghỉ mt, suốt cả tuần m chưa đi hết vng Disney World. Gia đnh anh phải chui rc nơi "housing" mun ngn sự phiền h ni ra khng thể xiết. Nhiều khi anh cảm thấy con người được sinh ra đ tự bị trng vo cổ những gnh nặng qu sức. Mặc dầu thương vợ con v đ cố gắng bội phần để lo cho gia đnh nhưng lắm lc nghĩ "biết vậy ngy xưa đừng lấy vợ" tạo nơi anh những tiếng thở di! Điều ny c lẽ phần no l nguyn nhn thc đẩy anh tham gia nhm nhậu hầu tm được những giy pht trnh phải đối diện với nỗi lng của một người trưởng gia đnh khng được đời run rủi ưu đi. Tương lai cc con anh sẽ thế no? Cu hỏi cứ chập chờn đe dọa m chưa bao giờ anh dm nghĩ tới phải trả lời ra sao. C những lc chn nản v bắt được t tm c, anh thở di lẩm bẩm một mnh, "Đời cua, cua my, đời cy, cy đo" c lo chi lắm cũng chẳng giải quyết được g.
    - Mấy ng linh mục đặt luật cấm ngừa thai th mấy ng ấy phải giữ chứ việc g ch phải lo. Sỹ nh con vừa nghe thấy Minh hỏi đ tơm tớp ln tiếng bất chấp quy luật v đng no cũng đ bị phạt. Hắn khng trả lời cu hỏi m bẻ quặt cu ni mang m chỉ cu hỏi về linh mục cấm ngừa thai ngầm minh chứng hắn ni c l, với chủ đch ni cho c ni. Hắn xưa nay vẫn thế, kẻ no khng để sẽ bị li vo trng phạt.
    Đ qu quen với lối ăn ni của Sỹ nh con, Minh vẫn điềm đạm,
    - Ti muốn ni cc cha bảo nếu ngừa thai th c tội chứ ti đu ni cc cha cấm.
    - ng cha ni th ng cha phải giữ chứ việc chi mnh phải giữ. Thế tại sao cc mục sư, cc đại đức, thượng tọa khng ni g? Thử hỏi, đạo no khng l đạo m cũng cng một vấn đề, đạo ny cho l tội, đạo khc khng bao giờ ni đến! Anh phải c nhận định về trường hợp của anh, khng thể no sống theo người khc bảo mnh phải thế no, Phủ chen v. Phủ theo đạo Cng gio nhưng tm tnh phng khong hơn v đi khi nếu gặp người cng tn gio ni về lề luật, anh thường nu ra những khc biệt khi đem so snh Phc m với những lời cc cha giảng dạy.
    - Bộ anh lm ra luật php hay sao m anh vẫn phải giữ v khng tun theo sẽ bị phạt. Anh c giỏi bắt mấy con ra biển hay c vc về nhậu thử xem anh dm sống theo mnh hay theo người khc bảo mnh phải thế no! Minh dng luật đnh c để đối lại với Phủ.
    - Luật php l điều chung cho mọi người tun theo v c ảnh hưởng lin hệ đến cuộc sống những người khc. Vấn đề ngừa thai khng lin hệ, đụng chạm đến ai nn ty thuộc quyết định c nhn; do đ khng ai ra luật cho ai được, Hưng ln tiếng. Chng ta cần biết phn biệt r rệt luật php v luật tn gio v c những sự phạm php bị luật php kết n nặng nề; tri lại tn gio chỉ đặt vấn đề sm hối; đồng thời c những luật tn gio qu khắt khe trong khi luật php khng ni g đến. Thế nn, luật php sở dĩ được đặt ra v sự lin hệ cuộc sống giữa con người với con người trong khi luật tn gio chỉ ni đến phần tinh thần, khuyến khch con người sống thức tm linh v khng c sự trừng phạt theo kiểu luật php. C thể ni, luật tn gio đặt nền tảng trn niềm tin của con người trong tổ chức v ai khng thuộc về tổ chức tn gio no đ sẽ khng bị luật lệ tn gio đ rng buộc.

    - Anh ni như thế th người v thần sẽ khng phải theo luật tn gio no hết?
    - Ti khng hiểu chữ v thần pht sinh từ đu ra v c từ bao giờ, Hưng giải thch. Tuy nhin, ti khng thể nghĩ được c ai thực sự v thần ngoại trừ những con vật v chng khng được sinh ra với khả năng tm linh; chẳng khc g cy cối khng được sinh ra với khả năng di chuyển của con vật nn khng đi lại được. Bất cứ ai cũng mang t nhất thức đặt vấn đề về gi trị con người của họ. Dẫu người dm thực hiện mọi điều họ muốn th cũng king kỵ một số vấn đề no đ. Sự king kỵ ny chứng tỏ họ khng v thần.
    - Nhưng họ khng theo đạo no tất nhin v thần v người v thần khng c đạo.
    - Ai dm ni người khng theo đạo no th v thần. Ti e rằng chnh người c đạo v thần; m người khng theo đạo no chưa chắc đ v thần. Nếu người no theo đạo m chỉ c niềm tin vo những ngẫu tượng th sao c thể ni được l họ hữu thần m c chăng chỉ l sự thờ phượng ngẫu tượng. Ti đưa ra th dụ, một điu khắc gia no đ khing về nh hn đ đ bao năm thng lăn lc bn đường, đẽo gọt thnh tượng Phật mang ra chợ bn. V thế l c người mua về đặt ln bệ thờ, đốt nhang đn, hương khi tm lum rồi x xụp lạy. Đ l l do tại sao dn gian c cu, "Hn đất cất nn ng bụt." Khi cn l hn đất, no ai biết đu những chuyện g c thể xảy ra trước đ, nhưng khi cất nn ng bụt th lắm kẻ lạy si cả đầu. Biết bao cy gỗ trong rừng sao khng ai cng tế, m cũng chnh phần no đ của cy gỗ được xẻ ra, rp nối lại thnh hnh thập tự, tại sao bao nhiu người theo đạo Thin Cha lại knh nể, tn thờ? Vậy người hữu thần lạy lục, tn knh điều g nơi những hnh tượng đ? Đức Thch Ca c ra lệnh cho ai khắc tượng ngi để lạy như tế sao khng? Người chết c cn ci miệng để nhai đu m người ta cng no hoa quả, no cơm, no trứng, lại cn tốn tiền mua hương, đốt nhang, đn c, đn giấy. C điều lạ, người ta mua tiền giấy đốt cng ng b ng vải đ chết m khng đốt tiền thật. Phỏng tiền thật khng thing nơi ci v hnh, hay v tiền giấy đnh lừa được cc bậc trưởng thượng đng knh nơi ging họ mnh? Đặt vấn đề như vậy, chưa chắc những người theo tn gio đ hữu thần m coi chừng v thần cả đm. Ci miệng của Hưng ni trơn như bi mỡ km theo dẫn chứng hợp l lin quan đến thực tại khiến người nghe cảm thấy tối tăm mắt mũi.
    - Vậy đạo Phật dạy g m anh ni đức Phật khng bắt người ta tạc tượng để trn bệ thờ? Định ln tiếng.
    - Anh hỏi cu đ th ni bao giờ mới xong nn ti khng trả lời. C điều, sự thực hnh tn gio l sản phẩm của l thuyết bắt nguồn từ nhận thức tm linh phối hợp với những hnh thức tỏ by bn ngoi được pht triển theo thời gian tri qua cc thời đại, v lu dần tạo nn nghi lễ, nghi thức. Những nghi thức ny diễn tả định ẩn chứa qua hnh thức thờ phượng. Chẳng hạn, một người lạy trước tượng Phật; họ đu lạy phần đất hoặc gỗ khắc nn bức tượng m tỏ lng tn knh vị no đ được thể hiện qua hnh ảnh của bức tượng. Tuy nhin, con người v lười lĩnh hoặc thiếu hiểu biết nn chỉ học theo nghi thức để tưởng rằng cứ lm như thế th được giải thot, được cứu rỗi. Hơn nữa, bất cứ thi quen no khi đ thm nhập, con người đều bị lệ thuộc v v qu lệ thuộc những tục lệ, nghi thức nn cảm thấy hi ha v cho rằng phải v chỉ c thế l đủ, thnh ra e sợ khng dm đặt vấn đề tại sao mnh phải lm vậy. Đng khc, c những người cn đưa ln quan niệm những nghi thức hoặc luật lệ do thần linh đặt ra cho mnh theo, khng lm theo th thần linh khng ph hộ. Ti nghĩ, nếu người no đ đ chẳng biết họ thờ điều g ẩn chứa qua nghi thức phụng thờ th chắc chắn c lạy đến si trn cũng khng được ơn ch g, c chăng chỉ để tự trấn an m thi.

    Những lời phn tch của Hưng tựa hng loạt mũi tn bắn vo lng ruột người nghe khiến những chiếc miệng quen thi hunh hoang, tay sai của những đầu c chếnh chong mang nặng chất men phải nn lặng, km theo vẻ mặt đượm nt trầm tư. Ni sao đy khi thực tại nội tm đ bao lu nay dồn đọng nỗi khắc khoải do lng khao kht tm linh tựa những ung nhọt căng đầy mu mủ bị chiếc gai v tnh khu toạc ra chẳng cn cch no che đậy khiến ai cũng phải trực diện với lng mnh. Mọi người bỗng im lặng bởi cảm thấy hnh như c sự thi thc no đ được truyền qua lời ni của Hưng gy p lực nhận định tm cch giải quyết nhu cầu tm linh. Xưa nay, qua những lần đn đm ăn nhậu khi đến độ sừng sừng, đu ai trong bọn họ biết king nể điều g. Thế m giờ đy tất cả im tịt tạo nn bầu khng kh nặng nề, dường như kh thở. Chnh Hưng cũng khng thể ngờ những điều anh ni ra lại gy căng thẳng nơi đầu c mọi người như thế. M cũng khng hiểu mnh ni với mục đch g, Hưng thầm nghĩ, chỉ biết vo lc đ ci miệng cứ trơn tru xổ lin tục, muốn tới đu th tới.
    - Ti đề nghị, ng Thung ln tiếng sau mấy pht thinh lặng, chng ta nn v cần suy nghĩ cng tm hiểu nhiều hơn về tn gio. Những nhận định của ch Hưng khng ngờ đ lột trần lng ruột của ti từ bao lu nay. Thực ra, chnh ti vẫn cảm thấy m mờ khng hiểu tn gio dẫn chng ta đi tới đu v đ nhiều lần suy tư về tn gio v những sự thực hnh tn gio, ti thấy nhiều điểm loanh quanh luẩn quẩn, cố theo chiều ny lại phản chiều kia m chiều no th tn gio cũng khuyến khch. Theo ti cảm nhận được, hnh như chnh những nh rao giảng tn gio họ cũng khng thng suốt điều họ đề xướng. Đy l đề nghị thực tnh, anh em nghĩ thế no?
    - Anh đề nghị như vậy c lẽ chỉ anh mới thực hiện nổi. Tụi em uống th được chứ ni về tn gio th no biết chi. Đến ngay những nh thuyết giảng tn gio m anh cn thấy ni loanh quanh luẩn quẩn th ai trong chng ta ở đy c thể ni được, Hưng đặt vấn đề.
    - Thực lng m ni, từ ngy hay ăn nhậu với anh em, ti đổi khc rất nhiều. Đy l chuyện thực tnh, anh em đừng chế nhạo ti mới ni được. Số l ti rất ngại bị người khc ph bnh v những lần lỡ lời đ cho ti kinh nghiệm. Người ta ph bnh ti th t m chnh ti dằn vặt, ăn năn th nhiều nn sinh ra e d, nht nht, phải đng bộ mặt giả mạo nghim trang, khng dm theo người đn đm hoặc ăn ni bạt mạng. Cũng chnh v thế, ti đ trở nn giống như con nhm, lun lun giương gai chm chọc người khc bằng cch ph bnh lời ăn tiếng ni cũng như thi độ của họ. Từ ngy quen biết anh em, ti dần dần nhận ra, sỡ dĩ ph bnh gay gắt những người khc v ti đ tự khinh, đ khng nhận ra gi trị con người của mnh. Chnh hm m ch Sỹ đặt vấn đề đời đng sống hay khng đng sống, v thực thể mỗi người c một con heo đang ngủ trong lng, lin quan đến sự giả hnh, ti mới nhận thức được điều ny. Thực ra, no ai thừa hơi để đến mnh, c chăng chỉ tại mnh đang chiến đấu với con heo nội tm rồi quay cắn qung sinh ra mun sự rắc rối, hết chọi người quay lại chọi mnh. V cũng từ đ ti nhận ra mỗi người tự đ c gi trị lm người v c sự kht khao hướng thượng, nhưng t ai dm đặt vấn đề để thăng tiến. Vừa rồi qua những lời của ch Hưng, ti cảm thấy bị thi thc cần phải tm hiểu, may ra t nhất phần no đ thỏa mn lng kht vọng nơi tm hồn mỗi người. Ti nghĩ, khng biết th hỏi, học thm nơi người khc, hoặc đọc sch. Vấn đề cn lại chỉ l mnh c thực sự muốn để dm lm hay khng.
    - Anh cả ni như thế cũng c l nhưng như vậy ai muốn th tự tm hiểu, tự đọc sch l đủ đu c g cần được đặt thnh vấn đề. Hưng đưa ra nhận định.
    - Ti nghĩ, nếu một người m mẫm tự tm hiểu th cuối cng cũng vẫn loanh quanh luẩn quẩn. Ti muốn sử dụng c tnh thng thường nhưng đặc biệt của anh em hầu mong c thể giải quyết thắc mắc.
    - Anh cả ni c tnh đặc biệt no m c thể giải quyết thắc mắc? Tụi ti chỉ c c tnh xỉn xỉn vo rồi l ăn ni lung tung, trn trời dưới biển, coi ai cũng như ai nhiều khi lại cn đem thần thnh ra m diễu th hng chi tm hiểu bất cứ g!.
    - Đặc tnh ăn ni văng mạng, coi trời bằng vung của anh em khi uống vo dăm chai bia vẫn c gi trị ring của n.
    - Thế sao! Sỹ nh con đế v. Thử hỏi khi những ci loa pht thanh ny nổi cơn ln chẳng ai ni ai nghe th c g m hng giải quyết được?
    - Vậy l do g mọi người by giờ đang xỉn m vẫn cn người nghe, nhất l khi ch Hưng vừa ni xong tại sao mọi người im lặng? Xưa nay c cu "ng bẩy mươi học ng bẩy mốt," m ti lại dm đương đường chấp nhận ng bẩy mốt học ng năm chục th anh em nghĩ sao? Chnh ti, tuổi lớn hơn hết phải học nơi anh em đức tnh ngay thẳng, dm ăn ni thật lng m khng e ngại bị hiểu lầm hay bị ph bnh. Ti cảm thấy, nếu chuyện g đ l sự thật th chẳng cần g che giấu, cũng chẳng cần bo chữa. Người khc hiểu hay khng, v dẫu cho họ ph bnh thế no chăng nữa th mnh vẫn l mnh. Người ta c cho rằng mnh l ng nọ b kia m mnh đ tự khinh th coi chừng cn khốn khổ hơn ăn tục ni pht nhưng lng chn thnh, ngay thẳng.
    - Cũng c l, thế anh định đề nghị phương php no về chuyện đọc v hỏi, anh lm ơn ni nghe coi? Phủ ln tiếng đoạn nng chai bia tu một hơi, giọng đ c vẻ ngang tng trở lại.
    - C sao xi vậy, nhưng ti hy vọng t nhất chng ta cũng c thể phần no đ đặt vấn đề để c ci nhn r rng hơn, v một cy lm chẳng nn non.
    - Ba chai bia lạnh anh cn than chi. Sỹ đế v.
    - Theo ti nghĩ, cả bao nhiu ngn năm rồi tn gio vẫn như thế th c suy nghĩ thm cũng chẳng lm được chi. Hưng ni.
    - Ti khng đặt vấn đề cứu nhn độ thế nn chẳng c ước muốn lm được chi. Ti chỉ muốn từng người c nhận định r rng hơn về tn gio hầu giải tỏa những khc mắc, khắc khoải tiềm ẩn nơi mỗi người m chưa bao giờ c cơ hội ni ln. Anh em thấy r, đ bao lu rồi mnh thao thức v nỗi kht khao no đ được thể hiện qua lối thực hnh tn gio m chưa c cơ hội đặt vấn đề. Đu phải v tnh ch Hưng nu ln những điểm lin hệ giữa nghi thức cng bi, tn thờ của con người, m ti nghĩ, ch đ suy tư về n v tm hiểu kh lu rồi. Thế nn, ti đề nghị, nếu được, ch Hưng ni về Phật gio, sau đ người khc ni về đạo của mnh. Ai thch th xung phong, khng thch th thi.
    Bn xui, tn ngược, cuối cng, ng Thung bị gn cho nhiệm vụ trọng ti. Chẳng những thế, ng cn được bầu lm trưởng hội nhậu, để rồi người đề nghị gọi ng l hội trưởng; kẻ khc ku chủ tịch nhm. Hội chẳng ra hội, nhm khng thnh nhm m cứ rối ln như bố vợ bị đấm chỉ v ci danh hiệu nn đặt cho người khc thế no. Mấy ci mỏ ny sinh lắm sự phiền nhưng cũng dm pht biểu nhiều điều mới lạ, ng Thung thầm nghĩ, mặc ai muốn to lao thế no ty v ng hiểu d ni thm chi lc ny với đầu c sửng sửng th cũng chỉ l cớ cho họ h nhau p mnh bị phạt.

    * * *

    - Ch Hưng, ch nn nhớ một điều. Đạo Phật l đạo minh triết; tại sao ch lại ni giết Phật, giết tổ, bỏ php th nghĩa l nằm ở chỗ no? Bất chợt bị lng tng trước cu ni ngổ ngo đến độ chi tai, kh thể chấp nhận đồng thời cảm thấy một vi người chuẩn bị phản ứng v cu ni xc phạm tới tn gio của họ, ng Thung đnh đưa ra cu hỏi lần lữa chờ kiếm đường giải quyết, hy vọng sự căng thẳng vừa bng ln c đủ thời gian giảm bớt.
    - Người minh triết v minh, kẻ v minh minh triết. Đ khng thm để đến lng tốt của ng Thung khi nu cu hỏi cũng như sự tức giận của những người đang giơ tay, Hưng phang thm cu ni mới thoạt nghe mang đầy vẻ xỉ vả con chu nh Phật.
    Thế l mấy người đang giơ tay nhao nhao ln, v một người khng thể nhịn được nữa,
    - ng ni g kỳ dzậy? ng muốn bảo rằng người theo đạo Phật đều v minh hết sao?
    Hưng ăn ni qu lo lếu, dm mượn cớ ni về Phật học để đưa ra đề nghị chi tai. Giết Phật, giết tổ, bỏ php th cn g đạo Phật! Xưa nay, minh triết l niềm hnh diện của những người thnh tm tm hiểu Phật php. Đu phải v l hoặc cứ cho rằng ta đy minh triết th mọi người chấp nhận mnh giỏi giang, thng suốt; m sự minh triết nh Phật đ phải trải qua bao thời gian thử thch. Theo truyền thống nh Phật, tri di từ thời đức Thch Ca qua hai mươi bẩy vị tổ nơi thiền mn ở Ấn Độ, tới đời tổ thứ hai mươi tm l đức Bồ Đề Đạt Ma đ sang Trung Hoa rao giảng Phật php tạo thm năm tổ Huệ Khả, Tăng Xn, Đạo Tn, Hong Nhẫn, Huệ Năng. Rồi no Bắc Tng của Thần T, no cc học phi Lm Tế, Qui Ngưỡng, To Động, Vn Mn, Php Nhn, no tiệm ngộ, đốn ngộ, no tiểu thừa, đại thừa, no khng luận, hữu luận, trung luận, no cấp tiến, tự do, khoan đại, no hơn một ngn bẩy trăm cng n, no những nhn vật lừng danh tạo dựng nn những tng phi như Tịnh Độ tng, Thin Thai Tng, Hoa Nghim tng, Thnh Thực tng, Mật tng, với những nền gio l của mỗi tng phi mang cc điểm đặc sắc ring biệt ty theo căn cơ người tu đạo để dẫn dắt chng sinh tới chỗ liễu ngộ tm thể, mang ảnh hưởng su rộng v pht sinh những kỹ thuật giảng dạy độc đo tạo cho thế giới Phật gio mun mu mun vẻ khng cch no c thể kiểm chứng được. Thế m Hưng v tnh dm pht ngn bừa bi, những lời ni vừa thot ra từ cửa miệng hắn chẳng khc g ngọn gio cn cụt nhỏ b nơi tay anh hề mi v quảng co thuốc dn Sơn Đng đi cn qut thế giới kin vững nh Phật, cội rễ su rộng thấm nhuần bao ngn năm nơi ci nhn sinh. Con người c thể lấp sng, ph ni nhưng khng thể no xa được Phật php nơi tm hồn chng sinh. Con nh ny sao hm nay ăn bậy ni bạ đến thế, ng Thung than thầm v tm khng an, cứ thấy lng ruột muốn nhẩy ra khỏi thn mnh. Thm vo đ, lời ni đầy giận dữ của Ty con cng lm ng hoảng. Phải gỡ cch no, qun khỉ ny đang khng p ng phải đứng vo vị thế trọng ti, phong lm anh cả, chủ tịch, chủ hội, chủ nhm, chủ ci củ thu biu, để by giờ cứ như thằng ngọng tắc cổ, muốn ni khng được, cầu ha khng xong. Cn đang xốn ln, Sỹ nh con đ bất chấp luật lệ ln tiếng,
    - ng pht lc v căn cứ! Mới giết Phật, giết tổ giờ lại cho rằng mọi người v minh. ng biết được những g về Phật gio m dm miệt thị thin hạ như thế. Nh Phật c cả trăm ngn cuốn sch; ng đọc cả đời khng hết vi cuốn sao dm coi cả thin hạ v minh.

    Loạn to, loạn to, ng Thung thầm nghĩ. Đến nước ny, khng hy vọng g ai ni ai nghe m c thể xảy ra ẩu đả v tự i tn gio. Ch Hưng ny ăn với ni, cha ẩu. Sỹ nh con đ nho v khuấy động. Kiểu ny coi chừng khốn kh đến nơi.
    Last edited by ttvl123; 12-05-2017 at 08:37 AM.

  2. The Following User Says Thank You to ttvl123 For This Useful Post:

    Kiến Hi (09-26-2013)

  3. #2
    Join Date
    Jun 2009
    Posts
    367
    Thanks
    1
    Thanked 535 Times in 215 Posts

    Default Re: My Bay Về Ngn (tt)

    tiếp theo,

    - Chẳng những kinh sch nh Phật, tất cả cc kinh sch của cc tn gio dưới nhn quan thức ngộ của nh Phật đều khng bằng chỉ một tờ giấy trắng. ng khng biết rằng Đạt Ma Sư Tổ ni, "Lnh hội được Phật tnh nơi mnh khng thể học được" (GLTH; Tr.205). Đ khng học được tm Phật th đu cần kinh sch. Nơi khc ngi cũng ni, "C ch g sự cng kiến, sự hoằng php, nhiệt thnh giữ giới, bố th, cầu kinh, đọc kinh v tất cả những thứ khc? Chỉ c một điều duy nhất l nhn thấy Phật nơi mnh" (GLTH; Tr.202). Hơn nữa, Lục Tổ Huệ Năng cũng chỉ ni "Kiến tnh thnh Phật" (GLTH; Tr.184) chứ đu phải đọc kinh sch mới c thể trở nn Phật. Như vậy, nếu tất cả cc kinh sch nh Phật hoặc bất cứ kinh sch no chỉ bằng được một tờ giấy trắng th cng trạng đ lớn lắm rồi. Tuy nhin, dẫu chỉ như tờ giấy trắng vẫn chưa v, chưa huyễn; m chưa v, chưa huyễn th vẫn cn dục. Như vậy, cn dục, cn muốn trở thnh Phật vẫn chưa l Phật, c chăng chỉ hợp với cu "Kẻ muốn lm thnh lại biến thnh th" (Pascal). Hưng vẫn mang vẻ điềm tĩnh, thm phần no ngang tng, thch đố, coi cử tọa như khng ra g nn nổi bật nt cao ngạo của kẻ chiếm thượng phong.

    ng Thung nghe vi lời ngng nghnh l luận, phn tch đưa ra nhận xt chứa đựng tnh chất khinh thế ngạo vật, dng lời ni của Đạt Ma Sư Tổ v Lục Tổ Huệ năng đem tờ giấy trắng so snh với kho tng minh triết kinh sch m bỗng giật mnh. th ra hắn nắm được nguyn l no đ nn dm chọc chơi thin hạ. Sỹ nh con coi chừng bị hố to phen ny. Lng ng mừng như mở hội, tự nghĩ, mnh c tuổi rồi m vẫn khng điềm đạm bằng Hưng, lại cn nng nổi, chưa kịp suy nghĩ đ rối ln v lo sợ. Thm một bi học cho xứng với tuổi trời, ng thầm nhủ.
    - ng ni sao, tờ giấy trắng m cn chưa v, chưa huyễn, ngược lại vẫn l th tnh?
    Thế mới biết, coi bộ vậy nhưng khng phải vậy, Sỹ nh con bắt được , th tnh khiến đm khn thnh giả thuộc loại dn nhậu hơi cảm thấy ngỡ ngng v cn đang bị hoang mang bởi Hưng dm so snh kinh sch nh Phật với tờ giấy trắng; chẳng những thế, hắn dm đưa ra mẫu người được tuyệt đối trọng vọng để ngang bằng với loi th. Lng ai nấy nhẹ hẳn! nghĩ bực tức về mấy cu ni của Hưng chợt đổi thnh niềm tn trọng nn họ để nghe, để chỉ v hai tiếng th tnh.
    - Những sch viết về Phật học chỉ minh chứng tất cả l huyễn. Ti hỏi anh em, nếu tất cả đ l huyễn cần g phải ni đến; hy để n l huyễn v ni về ci huyễn vẫn chỉ l huyễn. Thế nn, thay v để n l huyễn lại nhận chm con người nơi nghĩ về huyễn, nơi văn tự viết về huyễn, v như vậy đ mc nối khiến nghĩ con người khng thot khỏi ranh giới hữu vi. Phỏng như vậy khng thua tờ giấy trắng sao. Con người đ tự hm chứa tm Phật, ni cho đng đ l Phật m cứ bắt Phật nghe, đọc, nuốt những giải thch lng vng về ci huyễn th chẳng khc g khuyến khch họ biến thnh th bởi những người viết sch chạy theo th tnh muốn gip mọi người thnh Phật trong khi khng biết Phật tnh l g!

    Hn chi hắn dm to miệng! ng thung thầm nghĩ, chỉ một vi cu l luận loanh quanh luẩn quẩn khng những hắn giải tỏa tất cả nng giận con đẻ bởi thiếu hiểu biết nn khng đủ khả năng suy tư đồng thời lấy lại lng khm phục của cử tọa. Khng hiểu hắn học được ở đu! ng Thung nhớ lại hm đưa ra đề nghị những người trong nhm nhậu chia nhau ni chuyện về tn gio m cảm thấy hnh diện, qun bẵng mối lo sốt v khiến lng ruột xốn xang mấy pht trước. Lng hnh diện khiến ng buột miệng nu cu hỏi,
    - Nếu ni như vậy, theo ch nghĩ kinh sch nh Phật để lm g?
    - Nếu ni theo Đạt Ma Sư Tổ hoặc Lục Tổ Huệ Năng, kinh sch chẳng những ph kiến tnh m cn l phương tiện cho tổ chức huyễn lạm dụng được gọi l tn gio. Dưới con mắt v vi, qua nhận định của người minh triết, tn gio chỉ l tổ chức thế tục, một loại tổ chức bn về ci huyễn. Chẳng những thế, nếu ni theo Phật học, mọi tn gio cũng chỉ l huyễn m thi!
    - Huyễn l khng c thật m con người v v minh cho l thật nn phải diễn giải để dẫn về gic ngộ. ng Thung muốn lm sng tỏ vấn đề nn đưa thm lời giải thch đối nghịch.
    - Bn về huyễn tức l đ chấp nhận sự c được gọi l huyễn để rồi muốn xa bỏ n th vẫn cn l dục. Nguyn tắc thực tiễn của l thuyết Phật gio l diệt dục, diệt bất cứ sự ham muốn no d tư tưởng, hnh động, hay vật thể, v như thế, muốn diệt dục th đ l dục sao c thể thức ngộ được. Cho nn, tất cả những tổ chức, thuyết minh, kinh sch, hoặc bất cứ g cn mang bất cứ hướng no cũng đều l dục, vẫn ngăn cản nếu khng muốn ni l chận lối khng để cho con người thức ngộ. Ti thử hỏi qu vị, một người được coi l xấu, năm bảy vợ, ht xch, bi bạc. Nếu người đ muốn trở nn tốt phải lm g?
    - Phải tu thn, tch đức, phải lm việc thiện, phải ăn ở ngay lnh. Ty con, tn vừa nng giận lc ny ln tiếng.
    - Xin thưa, để trở nn tốt lnh ng ta khng phải lm g hết. Chỉ khng lm những chuyện được coi l xấu xa, ng ta tự động trở nn tốt lnh. Nếu tu thn, tch đức, lm việc thiện, ăn ở ngay lnh m cứ dan du năm bảy b, cứ ht xch, bi bạc th chẳng thể no gọi l tốt lnh được. Bởi vậy, cn muốn trở nn tốt lnh th đ chẳng tốt lnh, vẫn l dục.
    - Như vậy ng muốn ni con người đ tự tốt lnh?
    - ng khng bao giờ nghe cu "Nhn chi sơ, Tnh bản thiện" ở Tam Tự Kinh của đức Khổng Phu Tử sao?
    - Chứ l do g ng ni giết Phật bỏ php? Đ tự thiện rồi sao phải giết, phải bỏ; tnh đ bản thiện cần chi minh triết hoặc v minh!
    - Trước khi trả lời cu ny, Hưng nhấn mạnh từng lời ni gy sự ch của mọi người với chủ đch gi Sỹ nh con nhận phạt, ti yu cầu anh cả v hội đồng tuyn n kẻ ph rối v ti đ hon thnh trnh by sự khn ngoan kinh Phật bằng một cu ni.
    - ng chưa ni hết. Nếu ng ni hết tất nhin mọi người đ thức ngộ, đ minh triết, đ thnh Phật. Bằng chứng r rng, mọi người vẫn mu ti m tịt, vẫn v minh th d cu ni của ng c hết cũng chẳng đem lợi ch g.
    - Vấn đề thức ngộ khng phải chỉ nghe, hiểu rồi để đ m đạt tới được. Thử hỏi, ti ăn ng c no khng; ti uống bia ng say hay ti say? Thức ngộ khng thuộc về l tr nhưng cần l tr. Khng phải người minh triết chắc chắn c được sự giải thot m cần c căn cơ mới đạt đến giải thot. Ở đy, ti ni về Phật học chứ khng ni về đạo Phật cũng khng ni về thức ngộ.
    Sỹ nh con lại nho v đấu l lộn tng pho, ng Thung nghĩ, cần phải kha miệng tn ny mới được. Nhưng khng để hắn hỏi lung tung sao moi ra được những điều bổ ch bất ngờ, đng no cũng hay m cũng dở. Thi th giải quyết lệnh phạt trước, chuyện đến đu hay đến đ nn ng giơ tay ra hiệu đoạn ni,
    - Ch Sỹ đ tự động xung phong đi anh em một chầu khuyến khch v thưởng cng ch Hưng đ c thể gom tm sự khn ngoan kinh Phật bằng một cu ni ngay từ đầu. Như thế, sự kiện đ tự n giải quyết nn khng cần tuyn n. Ni cho đng, đy chỉ l sự trng hợp giải thch nghĩa lời dn gian thường dng "Gậy ng đập lưng ng."

    Những tiếng vỗ tay vang dội ha với những nt mặt tươi ri khiến người quan st tưởng cảnh ồn o chợt nổi dậy sẽ khng bao giờ dứt. Bia tiếp tục cạn hầu sẵn sng cuốn tri niềm vui vừa le, chờ đợi mn ngộ nghĩnh sắp đến. Dẫu được giải thch xung phong hay khuyến khch hoặc thế no chăng nữa th cũng bị phạt, Sỹ nh con đ bị nhiều lần, thm vo đ, bản tnh thch vui nn khng tỏ vẻ g ăn năn hối tiếc nhưng vẫn cố vớt vt.
    - Cho ng thắng v ti bằng lng chịu phạt; thế tại sao tnh đ bản thiện m cn phải giết Phật, bỏ php.
    - Phật php l php v; v Phật, v php, v niệm, v chủng, v loại, v tm, v thức, v thuyết, v sinh, v tử, v ngn, v, đủ mọi thứ v tất cả đều l huyễn. Nếu ai khng nhận biết tất cả chỉ l huyễn tất nhin vẫn theo thị dục.
    - Bộ ng ni lặp hay sao m v với ra lắm thế. Nếu đ l huyễn th ni lm g!
    - Bởi đ, Phật đu m giết, php khng c lấy chi bỏ! Đ khng giải thch, mở miệng ni ra lại ngang như cua, Hưng ln tiếng một cch tửng tửng khiến Sỹ nh con sng mu.
    - ng ni thế no? Khng c Phật th người ta cng bi cục gỗ, hn đ hay sao? Khng c php thế ng đang ni g vậy. To lao!
    - Đ biết to lao sao cn hỏi! Như vậy ai l người to lao?
    - Bay ni như,
    Sỹ nh con bắt đầu nổi đa. Trọng ti đnh phải nho v!
    - Khoan, khoan, ng Thung ni lớn tiếng; ch Sỹ, để ti ni. Việc của ch Hưng ni theo kinh Phật th hy để ch Hưng giải thch; đu phải việc ch bảo đng hay sai! Nếu ch đ biết l đng hay sai th nghe lm chi. Trọng ti l cha mẹ, yu cầu ch im lặng.

    Khng cn cch no giải thch lối trả lời ngang bướng của Hưng, ng Thung phải chỉa mũi di vo nhận định Sỹ nh con vừa mới đề xướng về cu ni ngang tng nghịch hẳn thực tế, "Phật đu m giết, php khng c lấy chi bỏ!" ng nghĩ, nếu khng c Phật sao c Phật gio! Những lời dạy nơi kinh sch nh Phật cả đời người đọc khng hết được gọi l php m Hưng đ dm cho rằng khng bằng tờ giấy trắng, by giờ lại ni khng c php th quả l qu ẩu dẫu hắn đ biện luận tất cả chỉ l huyễn. Tuy nhin, ng cũng thấy Hưng c l ở điểm "Cn muốn trở nn Phật vẫn chưa l Phật." M đ ai l Phật đu nn lại cần php để học hỏi. Đng ny, hắn muốn xa lun cả php, nhưng ci miệng của hắn qu lắm, chắc chắn c điều cốt yếu g nn cứ tơn tơn chọc chạch thin hạ bằng lối l luận nghịch thường được mở đầu với những cu ni bạt mạng, ngang ngược. Nhận xt như vậy, ng ln tiếng ngăn chặn Sỹ đoạn thch thức Hưng giải thch. Thế ch lấy g minh chứng. khng Phật khng php?
    - Phật l mnh v php nơi mnh sao c thể giết, sao c thể bỏ, c g m minh, c g m chứng, c chăng v minh. Tất cả Phật học chỉ bao gồm trong hai chữ "kiến tnh." Thế nn, gặp Phật giết Phật, gặp tổ giết tổ, gặp php bỏ php c nghĩa trong tiến trnh tu chứng, hnh giả khng theo đuổi bất cứ g cũng chẳng dựa theo phương php no. Ni nm na hơn cho c vẻ dư giả văn chương được gọi l yếu ngn, lục tổ Huệ Năng đ diễn giải bằng bốn cu, "Gio ngoại biệt truyền. Bất lập văn tự. Trực chỉ nhn tm. Kiến tnh thnh Phật" (GLTH; Tr.184).
    - Đ v Phật, v php, lại cn by ra gio ngoại, gio nội, văn tự, ngn tự rồi trực tm, trực lng, kiến tnh, Phật tnh. ng ni g lung tung! Nếu tất cả đều l v, đều l huyễn, tm đu m trực, tnh đu để kiến. Vậy thế no l kiến tnh? Kiến l g, tnh l g v tất cả đều huyễn! Phủ bất chợt ln tiếng. Từ lc Hưng ni, Phủ im lặng nghe v nhận thấy hnh như Hưng ni về một thực thể no đ chứ khng thm đ động g về Phật gio. Ngược lại, hắn c phần bc bỏ những lề lối cng kiến, lạy lục, bc lun l thuyết nh Phật, dm to miệng cho rằng tất cả kinh sch khng bằng tờ giấy trắng. Phải c l do g, Phủ nghĩ. Xưa nay, Hưng ăn ni tương đối chừng mực ngay cả trong lc say hoặc diễu. Thế sao lc ny hắn mang vẻ ngạo đời đến thế! Bởi vậy, Phủ dng ngay những lời Hưng vừa ni thch đố hắn phn biệt.
    - Ni vậy nghe được. Kiến tnh l trạng thi thức ngộ độc nhất v nhị trong hnh trnh tu chứng nh Phật, được gọi l thiền. Thiền bắt nguồn từ đạo B La Mn bn Ấn Độ. Thực ra, phản ứng chống lại hệ thống gio điều v tổ chức quyền hnh qu khắt khe cũng như l thuyết B La Mn đ l nguyn nhn pht triển Phật học. Khi Phật học truyền qua Trung Hoa do đức Bồ Đề Đạt Ma, thường được gọi l Đạt Ma sư tổ, ha lẫn với Lo học, lại truyền qua Nhật tạo nn phương php tu chứng gọi l Zen. Căn bản tu chứng nh Phật chỉ l kiến tnh. Kiến l thị kiến, nhận biết, đạt tới. Thế nn, minh triết gip thị kiến, nhận biết, tức l thức v kiến cũng l ngộ. Tnh c nghĩa bổn lai diện mục, thực thể, tm thể của mnh. Ni cch khc, tnh l Chn Như, Chơn Như, Cội Nguồn Hiện Hữu, Cội Nguồn Biến Chuyển, Biến Dịch, m Nguyễn Duy Cần gọi l Thực Tại Siu Việt ở mọi tạo vật. Theo Phật học, khởi đầu l Chn Như, vẳng lặng, tuyệt đối tĩnh tịch, v thủy, v cng; thế rồi khởi niệm hay vọng niệm pht sinh tạo thnh nghiệp. Nghiệp chồng chất biến chuyển thnh mun vật. Như vậy, mun vật chỉ l sự biến chuyển, tiến trnh thay đổi, hay biến dịch của Chn Như. V thế, kiến tnh l kiếm lại bản thể thực, tự thể của mnh, tức l ngộ Chn Như. Bởi vậy, muốn hiểu r tnh phải minh triết v thức nh Phật. Hưng xổ một thi khiến b con đầu c quay cuồng chỉ cn biết ngồi h miệng nghe.
    - ng ni g đu lộn tng pho. Nếu Chn Như đ tuyệt đối tịnh, v thủy, v chung, vẳng lặng, th sao c vọng niệm. Vậy vọng niệm ở đu ra chứ nếu vọng niệm tự nhin pht sinh th sao Chn Như c thể v thủy, v chung.
    - Đy l l thuyết nh Phật về Chn Như được gọi l Duy Thức hay V Thức Luận. Vọng niệm khởi nguyn ở đu ti khng biết v thời kỳ đ mẹ ti chưa c bầu; bố ti cũng chưa c. Qu ng muốn biết, chỉ cn cch thực hiện tu chứng bởi ti chỉ ni Phật học chứ khng ni được g về tu chứng. ng chứng, ng biết, v chỉ ng biết m thi. Ni ra khng được m cng diễn giải cng lộn tng pho. Cc ng nn nhớ bốn cu yếu ngn, "Gio ngoại biệt truyền. Bất lập văn tự. Trực chỉ nhn tm. Kiến tnh thnh Phật." Đ gio ngoại biệt truyền sao c thể ni. Khng thể no diễn giải do đ bất lập văn tự th sao c sch đọc. Thế nn, những sch nh Phật cũng chỉ ni về cảm nghiệm tu chứng, m người đọc v khng c cảm nghiệm tu chứng đ biến kinh sch trở thnh sự ngăn cản đường tu chứng m thi. Nếu ng no lười suy nghĩ, chỉ cần nhớ hai chữ "kiến tnh" để tu chứng l đủ. V thế, bất cứ cu hỏi no cc ng đưa ra cũng chỉ hỏi lung tung khng cần thiết bởi chng chỉ l huyễn nn cng khng cần biết.
    - Khng biết mới hỏi v đ biết sao cần hỏi. Tuy nhin, khng biết sao c thể hỏi v đ hỏi l đ biết điều mnh khng biết. Biết điều mnh khng biết tức l đ biết sao gọi l khng biết. V như vậy, hỏi điều mnh khng biết đu c thể gọi l hỏi lung tung!
    Mọi người vỗ tay hoan nghnh, vỗ tay v Phủ dng l luận ngược xui để biến sự khng biết thnh sự đ biết. Mượn cơ hội, Sỹ nh con lại chen v,
    - Ni như thế, thực sự biết th tất cả chỉ l huyễn v nếu đ l huyễn tất nhin khng cần biết. Do đ, biết điều mnh khng biết mới thực sự l minh triết.
    - Sao c thể ni được biết điều mnh khng biết v nếu đ l điều mnh khng biết th sao biết được. Như vậy, kẻ no khng biết điều mnh khng biết mới l minh triết v những người cho rằng họ biết điều khng biết mới l v minh.
    - Đ v minh sao c thể biết được điều khng biết?.
    - Trong cuộc đời ny thiếu g điều mnh khng biết; thế nn biết mnh cn nhiều điều khng biết mới thực sự l minh triết!

    V thế l đề ti được chuyển qua biết v khng biết để rồi kẻ ny, người kia rối um ln như đm ong mất cha. Khng cần biết người khc quan niệm thế no, những ci mỏ thi đua by tỏ nhận định của mnh. V ai cũng chỉ thấy l của mnh l đng đến nỗi c người mặt đỏ ta tai biện minh cho ci biết của mnh nho nho với bốn niệm biết, khng biết, minh triết, v v minh. Họ vậy đ, ăn nhậu đ hăng v bn luận cũng hăng, hăng tới độ tưởng trở thnh gy gỗ đến nơi. Nhiều khi ngn ngữ pht ra nơi cửa miệng khng thuận chiều hoặc diễn tả thiếu chnh xc muốn ni, tạo thnh p lực đẩy văng cả những lời chẳng nn bung theo nghĩ. Bởi vậy, nếu chưa quen với kiểu cch ăn ni của hội nhậu xồn xồn, người dự thnh kh c thể phn biệt được họ đang ci nhau hay đang bn luận, v cũng khng hiểu họ đang bn luận những điều được cho rằng biết hoặc khng biết. Thm vo đ, hnh như ci mỏ no cũng thch ni ngược. Những l luận thao thao bất tuyệt chồng chất diễn giải biết l v minh v khng biết l minh triết. M c lẽ họ khng biết thật! Họ đang uống bia nhưng khng biết mnh đang uống lại cứ dồn tm tưởng vo ci biết v minh v điều khng biết minh triết, biết hay khng chẳng biết, chỉ thấy bia cứ mở, người cứ uống! No ai hiểu người uống bia hay bia đang uống người!

    Nhn dịp ny, Hưng mở chai bia thứ ba, nhn hạ nhấm nhp chất đắng Heineken, mặc cho mọi người xn xao tranh luận bởi biết r họ khng thot khỏi vng luẩn quẩn của mấy cng n nh Phật. Anh thầm nghĩ, những lời ni của Đạt Ma Sư Tổ v Lục Tổ Huệ Năng đu phải chuyện để người ta bn tn sung, v nếu cứ lời ra tiếng v m c thể thức ngộ được th ai cũng c thể trở thnh sư tổ, cần g tu chứng. Cứ để họ ni, ni cho đ, ni lung tung sẽ tự nhận ra ng b v lc đ mới hy vọng họ chấp nhận được phần no điều nghịch l nhưng lại l căn bản trong hnh trnh tu chứng nh Phật. Những ci mỏ ny xưa nay đ qu quen với lối nhn hữu vi, đối đi, c người, c ta, lệ thuộc suy tư nhĩ ng v trở thnh n lệ đến độ khng thot ra được th sao c thể hiểu thấu những cu ni cảm nghiệm thiền viện. Đ l sư tổ đời thứ hai mươi tm bn Ấn Độ, thế m khi sang tới Trung Hoa, đối diện với Lo học, Bồ Đề Đạt Ma cần đến những chn năm ngồi quay mặt v tường tu chứng th sao kẻ nhn gian chỉ nghĩ sung m c thể thấu suốt được nt thm trầm nhưng tinh tế nơi cu ni qu ngắn gọn mang đầy mu thuẫn với thực tế của ngi. Lối nhn hữu vi khng cch no giải thch tiến trnh tm linh phương chi những đầu c quen thi l luận thị dục đi am hiểu kết quả tu chứng cửa Phật! Đồng rằng hnh trnh v thời điểm thức ngộ của mỗi người khc nhau; hơn nữa, c kẻ được sinh ra để thức ngộ v đa số con người chẳng bao giờ c thể đạt tới, nhưng phương php, nguyn tắc cần phải được phổ biến. Khổ nỗi, nguyn tắc tm linh th chẳng thấy đu m chỉ những cổ v tổ chức nhn sinh, hnh thức bn ngoi che lấp thao thức, kht vọng tận đy tm hồn mỗi người. Tu chứng nh Phật đu cần cng kiến, cầu khẩn, thế m người ta cứ đua nhau rước Phật B, tế Quan m! Lm g c Phật b, Phật ng. Phật chnh l Chn Như nơi mỗi người m cũng chia ra ng b, chắc sau ny họ sẽ bới thm Phật con, Phật mẹ. Con người dng lối nhn thế tục by ra lắm chuyện, v khng c người tin theo tất nhin sẽ bị tn tạ nn cng phải bới bo ra bọ tạo nền tảng v cơ sở vững chắc sao cho đng tn đồ, lắm thiện nam tn nữ, cng nhiều người cng kiến th cng nổi tiếng, cng oai vọng.

    Hưng thở di; nỗi ngậm ngi no đ chợt dng ln. Con đường tu chứng bị bịt kn m người no đạt đến th miệng như ngậm hạt thị v c ni ra, lời no lời ấy chi tai thin hạ, cn khng, lại mang đầy vẻ ngng cuồng. Hn chi tổ chức tn gio pht triển mạnh, mạnh nhưng luẩn quẩn nơi bến m! Đến tội cho con người! Đức Thch Ca chẳng viết m c chăng khuyến dụ mn sinh, "Lời ta ni như chiếc b," "Ngn tay ta chỉ mặt trăng nhưng ngn tay ta khng phải mặt trăng." Thế m con người mi m với gio php, gio l, triết l, sch ny, kinh kia loạn ln, tưởng rằng cứ tụng, cứ chất đầy suy tư triết l của kẻ khc vo đầu l sẽ được giải thot. Giải thot đu khng thấy m chỉ những n lệ của những kiến giải được gọi l minh triết. Đ minh no cần triết, nn cng triết chỉ cng v minh. Mấy người anh em đy cũng vậy, mới chỉ c chữ Biết lại đ thm vo chữ Khng cho đủ phần đối đi v quay cuồng với niệm cho c vẻ minh triết. Đng l chuyện thị dục lm phiền h hnh trnh thức ngộ của con người! Minh đu khng thấy chỉ luẩn quẩn. Nghĩ đến đy, Hưng thở di, tm trạng mang phần no chn nản, nng chai bia lm một hơi, sau đ khng cần hiểu thin hạ bn luận đến đu, anh giơ tay yu cầu mọi người im lặng, bung thm cu ni,
    - Biết hay khng biết cũng chỉ l khng! Minh triết hay v minh cũng chỉ l v. No lợi ch g m bn tn, tốn bia, tốn nước bọt.
    - Thế sao ng ni người minh triết v minh, kẻ v minh minh triết?
    - Ti chỉ ni theo kinh Kim Cang m thi, "Ni l Phật php đ tức chẳng phải Phật php" (KCGL; Tr.70) th minh triết hay v minh cũng chẳng phải l minh triết v cũng chẳng phải l v minh. M v n khng phải l minh triết nn gọi l minh triết, v n khng phải l v minh nn gọi l v minh.
    - Ti chỉ muốn hỏi tại sao ng lại ni người minh triết v minh, kẻ v minh minh triết chứ ti khng hỏi tại sao gọi l minh triết hay v minh.
    - Sao ng thng thi thế! Người no cng nhận thức được sự vật nhiều bao nhiu, cng nhận ra cn nhiều thứ mnh khng hiểu bấy nhiu nn biết mnh v minh. Kẻ no nhận thức chỉ bằng ci lng con rận nn cho rằng tất cả sự khn ngoan nơi thin hạ chỉ c thế, tất nhin tự cho rằng mnh minh triết. Chỉ vậy thi m khng chịu suy nghĩ, cứ la lối om xm. Thực ra, cu ấy như thế ny, người minh triết cảm thấy mnh v minh, v kẻ v minh dương dương tự đắc minh triết. Thế m cũng đi bn luận biết với khng rối ln!
    - Diễn giả ln nước! Ừ th cho ng hay, ng giỏi. Chng ti v minh ngồi nghe ng minh triết. Phủ lại chọc thm một cu. Dẫu biết Phủ ni khy nhưng Hưng tảng lờ bởi c đấu l thm cũng chẳng đi tới đu nn ni tiếp,
    - Nguyn tắc căn bản của Phật học l tu chứng chứ khng phải học thức. Điểm cuối cng của Phật học l kiến tnh, nhận ra tự thể hay thực thể của mnh. Tự thể, thực thể ny được gọi l Tm Phật hay Tm Chn Như; đ l Chn Như nơi con người. Danh từ nh Phật gọi l Phật tnh hoặc tm Phật. Thế nn, tu chứng để nhận ra Phật tnh hay Chn Như hoặc tự thể, thực thể mới l điểm rốt ro của nh Phật. Mọi sự bn luận, hiểu biết được gọi l minh triết hay v minh chỉ xoay quanh điểm ny. Ai chưa kiến tnh, thức ngộ đều l v minh. Chỉ kẻ no ngộ rồi mới được gọi minh triết. Đ l l do tại sao ti đ ni chỉ cần nhớ hai chữ Kiến tnh.
    - Sao ng by ra lắm thứ thế! No kiến tnh, Phật tnh, Chn Như, tự thể, thực thể, minh triết, v minh, lại cn thức với ngủ, m khng thấy ni g về niết bn, lun hồi? Bao nhiu người theo Phật gio lập cng đức để trnh nghiệp lun hồi hầu đạt tới niết bn, bộ họ sai hết sao? ng ni về Phật học chỉ thấy kiến với bọ, lại cn cho rằng Phật gio l tổ chức huyễn. Nếu Phật gio l huyễn sao c Phật B Quan m, sao c Phật Di Lặc, sao c Bồ Đề Đạt Ma, Lục Tổ Huệ Năng, vậy thử hỏi ng đ kiến tnh chưa?
    - Ti đ trnh by r rng; ti khng ni về Phật gio m chỉ ni về Phật học. Phật gio cũng như mọi tn gio, tất cả chỉ l tổ chức của con người by tỏ lng kht khao tm linh; đạo học diễn giải cảm nghiệm tm linh. Dẫu tn gio bắt nguồn từ đạo học nhưng tn gio bị ham muốn của con người chồng chất qu nặng nề nn c thể ni tn gio phần no ngăn chận tiến trnh tm linh của con người. Căn bản Phật học l kiến tnh chứ khng cầu khẩn, khng thờ phượng, cng tế, cầu siu, cầu an, chẳng bi lậy ai v Phật tnh ở nơi mọi người. Tm l Phật v Phật l tm. Thn xc con người chỉ như chiếc đ chở tm, chở Phật trong hnh trnh thức ngộ, giải thot. Đời người qu ngắn nn ta phải tự giải thot bằng cch tự khm ph Phật tnh nơi mnh tức l kiến "bổn lai diện mục" của mnh nếu ni theo ngn từ của lục tổ Huệ Năng. Chnh v tưởng tượng Phật l người no hay đấng no mnh muốn trở thnh nn con người by ra những kinh sch, phương php cng bi, cầu khẩn nhờ đấng no đ gip mnh m qun mất Phật tại tm, Phật nơi chnh mnh. V vậy, phải nhn vo tm mnh chứ khng nhn ra ngoi, phải tự tu chứng để nhận ra Phật tnh nơi mnh. Tự tm ra mnh, tm ra Phật tnh nơi mnh được gọi l kiến tnh v chỉ c một điều duy nhất ny m thi. Đy cũng l phương php đạt tới niết bn, phương php ph vng lun hồi, con đẻ của v minh tạo thnh nghiệp chướng. Bởi vậy, khng c kinh sch no c thể chỉ đng dẫn lối cho bất cứ ai đạt tới tm Phật m phải l chnh mnh tu chứng, chnh mnh nghiệm xt, hay cảm nghiệm. Khng c lối tu khổ hạnh no c thể giải thot con người ra khỏi vng lun hồi v kinh sch, sự khổ hạnh khng thể no gip ta nhận ra bổn lai diện mục. Thế nn, chng chỉ l điều ph phiếm, chỉ l kiến thức khng đem lại lợi ch g trong hnh trnh kiến tnh. Nơi Phật học, tất cả chỉ l kiến tnh m muốn kiến tnh phải tu chứng, v chỉ tu chứng mới thấy Phật nơi tm. Chỉ kiến tnh l điều duy nhất đng lm v đng học. Hơn nữa, muốn tu chứng cần định tm. Sự định tm c nhiều phương php để đạt tới. Do đ kinh sch chỉ viết để giảng giải cho người ta hiểu tất cả đều l huyễn hầu dễ dng định tm. Khổ nỗi, họ đ lầm, thay v biết để đạt tới định tm, người ta by ra cc nghi thức dẫn tới định tm khiến kẻ thiếu hiểu biết tưởng những nghi thức ny sẽ giải thot họ hoặc l phương tiện nhờ thần thnh cứu gip để được giải thot.
    - ng ni rằng Phật ở nơi mnh, Chn Như ở nơi mnh th khi mnh phạm tội tất nhin Phật nơi mnh cũng phạm tội sao? V nếu như thế, mọi người cũng như nhau v Phật đ ở tm mọi người nn đu cần cầu cứu, cng bi bất cứ thần thnh no! Hơn nữa, chỉ tu chứng m c thể kiến tnh th đu ai c thể gip ai, đu vị no c thể gip mnh được, v d minh triết hay v minh th c chi khc biệt. Phật đ ở nơi tm mnh, Chn Như nơi mnh th lm g cần đến Phật php, đu cần giữ luật lệ. V nếu mọi người đ l Phật th Phật đu c thể sa ng nn sao c thể phạm tội được. Phỏng thế c nghĩa tất cả những g một người lm đều l động tc của tm Phật, của Chn Như nơi người ấy. Như vậy th, h h, tha hồ ăn chơi, chẳng g l tội, chẳng cần cng kiến, tụng kinh, chỉ xỉn v xỉn sẽ tới niết bn, khỏi cần diệt dục, cầu siu, v tất cả mọi người đều l Phật, Phật ti, Phật anh, Phật bố, Phật mẹ, Phật đẹp, Phật xấu, Phật tứ lung tung. Sỹ ni một hơi.
    - Những điều ng vừa nu ln đức Bồ Đề Đạt Ma đ ni rồi (GLTH; Tr.202-203). Ti khng muốn lặp lại. V đức Đạt Ma sư tổ cũng ni thm l chỉ c một tội duy nhất đ l tội v minh, tội khng nhận ra Phật tnh nơi mnh. Tội lỗi ny rất nặng v n giữ ta trong ci v thường (GLTH; Tr.203). Hnh hạ thn xc, miệt mi chạy theo ham muốn thị dục để rồi tạo thm nghiệp chướng chồng chất ngy cng nặng nề thm no được ch g!
    - Nếu tm l Phật, l Chn Như th tất cả đều từ tm pht sinh ra đng khng?
    - Đng, đ l thuyết nh Phật.
    - Vậy cứ thử th tay v lửa xem ci tm pht sinh n nng thế no. ng ni giỡn!
    - Thực ra, chữ huyễn nơi nh Phật c nghĩa chng qua, sẽ qua đi, nhưng thường bị hiểu lầm l khng c thật. Dẫu v thức luận của nh Phật ni về diễn trnh v hnh, ngược lại khng hiểu sao cc kinh sch nh Phật thường dng chữ "khng hiện hữu" hay "v hiện hữu." Đy l điểm trc trắc của dịch thuật m người ta đ khng để hoặc khng dm sửa đổi. Nh Phật ni tất cả đều l "khng," l "hư v." Nếu đ khng c, khng hiện hữu sao ai c thể biết. Do đ chữ Khng cũng như chữ V trong kinh sch nh Phật mang nghĩa khng nhn thấy bằng con mắt thịt, tức l v hnh. Đồng thời, chữ Hiện hữu phải được hiểu l hnh hi. Đng khc, nh Phật khng ni về hiện tượng luận hữu hnh nhưng bn về kết cục cũng như cứu cnh của mọi sự vật, sự việc. Tất cả được pht sinh từ Chn Như do khởi niệm hay vọng niệm nn tất cả đều nằm trong trạng thi biến chuyển của Chn Như v được gọi bằng nhiều tn khc nhau theo ngn từ ty thuộc cc nh trước tc kinh sch. V vậy, Chn Như, Phật tnh, tm, Phật, tự thể, thực thể, bản thể, bổn lai diện mục, cũng chỉ l một. Khi dng tới chữ c v khng nơi kinh Phật, chữ khng thường mang nghĩa v hnh, chẳng nhn thấy; chữ "c" mang nghĩa hiện hữu d hữu hnh hay v hnh. Đng khc, v tất cả đều l hiện thể của Chn Như, của Phật tnh, những chữ c, khng, v, huyễn đều đồng một nghĩa. Cho dẫu dng cch no th cũng chỉ ni về hiện thể của Chn Như, d v hnh hay hữu hnh, d cho rằng thật hay huyễn. Đọc kinh Phật m khng để điểm ny, cc ng sẽ lạc vo m hồn trận của ngn từ. Th dụ về chữ "thường" nơi kinh Phật. Chữ thường c hai lối dng mang hai nghĩa thường hằng v biến chuyển, thay đổi, lin tục diễn tiến hm chuyện bnh thường phải như vậy. Trong cu ni cuộc đời biến chuyển v thường th chữ thường đy c nghĩa biến đổi khng thể ni hết được, khng đo lường được. Tuy nhin, nơi Lo học c cu, "Đạo khả Đạo phi thường Đạo" th chữ thường mang nghĩa chnh xc, thực thể. Lục tổ Huệ Năng dng chữ thường theo nghĩa thường hằng, bất biến. Nếu ai đọc truyện Hạ Xương sau khi gặp lục tổ Huệ Năng ni, "Người chấp v thường tnh, Phật ni hữu thường tm (GLTH; Tr.240) sẽ hiểu r hơn điểm rắc rối của chữ thường nơi kinh Phật. Thực ra, kinh sch nh Phật cũng như nhiều kinh sch khc, mỗi vị trước tc đều dng ngn từ theo nghĩa ring. Đy cũng l điểm kh khăn chung của mọi người trong tiến trnh tm hiểu cc đạo học.
    - ng khng trả lời cu ti hỏi m ni lung tung về kinh sch. Điều ti muốn ni l nếu mọi vật, mọi sự từ tm pht sinh, tại sao ng khng dm cho tay vo lửa? Tnh cảm thấy đắc khi nu cu hỏi bởi chủ đch dng kinh nghiệm cảm gic ngũ quan thch đố Hưng giải thch nhận thức tm linh.
    - Hỏi như thế ng đ khng hiểu g về l thuyết nh Phật v cng khng hiểu cu ni mọi vật từ tm sinh ra. Theo nh Phật, chng ta biết được mọi vật chung quanh nhờ gic quan. Thế nn, nếu khng c gic quan, tất cả chỉ l khng v như thế chng ta khng thể biết sự vật như chnh n m qua trung gian của gic quan. Nh Phật đặt vấn đề tm hiểu thực thể sự vật chứ khng ni về sự phiếm diện của sự hiện hữu nhất thời nơi sự vật. ng đ bao giờ nghe cu, "Lửa khng nng nhưng v chng ta cảm thấy n nng chưa?" ng c hiểu cu ny nghĩa thế no khng m cứ ni nhăng ni cuội. Phật học khng xt về hiện tượng vật chất m chỉ đặt vấn đề nguồn gốc mọi hiện tượng dẫn đến sự giải thot. Mọi sự trong cuộc sống hữu hnh rồi cũng qua đi, tất cả chỉ hiện hữu trong giai đoạn thời gian, d một vi ngy hay cả triệu triệu năm th cuối cng vẫn đi vo thế giới v hnh, nh Phật gọi l hư v. Cội nguồn của tất cả mọi sự hiện hữu, hữu hnh v v hnh chnh l Chn Như. Thế nn, Chn Như cũng l tm Phật nơi mọi người, v cũng l tự thể, thực thể, hay bản thể của con người, bản thể của mọi sự. Đ l l do tại sao ni mọi vật từ tm pht sinh. Tm l Chn Như, lửa cũng như thn xc, mọi vật đều l biến thể của Chn Như. Bởi vậy, khi ni về lửa phải so snh n với những sự vật hữu hnh chứ khng thể rp nối lộn xộn với tm v tm v hnh. Thn xc l biến thể của tm Chn Như bị lửa, biến thể của tm Chn Như đốt. Ừ th n đốt v lửa phải nng v n đốt mọi sự hữu hnh nhưng khng đốt được tm. Ti ni vậy thi, hiểu hay khng cũng chẳng lợi ch g v kiến thức đu c đem lại giải thot. Vấn đề chỉ l ng c nhận ra ci tm của ng l g khng; ng c kiến tnh được hay khng m thi!
    - ng ni, mọi người l Phật; ti đ l Phật rồi đu cần phải kiến tnh!
    - Kẻ no cn thấy mnh l g vẫn cn v minh, v muốn l g cũng vẫn v minh!
    Hưng phang một cu khiến Sỹ tối tăm mặt my. Tưởng rằng dng chnh lời ni của Hưng lc ny để ph ngang, ai ngờ bị đương đường cho rằng v minh.
    - Chnh ng ni mọi người l Phật, v một vị Phật th khng thể phạm tội được. Thế sao thấy mnh l Phật vẫn v minh? ng ăn ni luẩn quẩn.
    - Người no thấy mnh luẩn quẩn mới thực sự dợm bước vo ngưỡng cửa minh triết. Người no cn cho mnh l thế ny, khng l thế kia, vẫn cn đang luẩn quẩn nơi giới hạn ngn ngữ. Chẳng c Phật, chẳng c Chn Như, chẳng c php, chẳng c g ro trọi. Gọi l Phật v khng c Phật nn gọi l Phật. Đng ny cho mnh l Phật th chỉ l dục m chớ. Bởi vậy, giảng về Phật chẳng những giết chết Phật m giết lun người nghe giảng. Khng thể giảng về Phật v Phật l Chn Như. Phật l tnh của Chn Như nơi mọi người, mọi vật th sao cn thấy Phật hoặc cho rằng l Phật. Điều nn ni chỉ l kiến tnh hoặc thực hiện cch no để kiến tnh. Đ l hnh trnh thức ngộ, tu chứng. M tu chứng, chnh ng phải thực hiện chứ khng ai ni cho ng được. V như vậy, minh triết khng phải l gom gp kiến thức cảm nghiệm của người khc đem nhồi nht vo đầu mnh v lặp đi lặp lại m phải l kết quả của chứng nghiệm, chim nghiệm, tu chứng. ng nn khp ci mỏ lại l tốt nhất v cần suy nghĩ. Nếu sau bẩy ngy suy nghĩ vẫn cn u m chưa hiểu mới nn hỏi.
    - ng lo khot, đ suy nghĩ cần g hỏi! Muốn trở thnh Phật phải tu luyện chứ đ l Phật th tu luyện lm g!
    - Cn muốn l Phật vẫn khng thể thnh Phật. Vấn đề l thức ngộ Phật nơi chnh mnh. Đ l kiến tnh. Ti đ phải nhắc đi nhắc lại nhiều lần m ng khng chịu hiểu. Chỉ muốn, chỉ tu th ơn ch g, lm sao c thể giải thot. ng lm ơn nhớ cho, muốn tức l dục nn cn muốn, th cn dục. Chạy theo ci dục sao c thể kiến tnh.
    - ng cứ lải nhải mi hai tiếng kiến tnh! Vậy muốn kiến tnh phải thế no? Ni được m khng lm được cũng như cuội!
    - Muốn kiến tnh phải tu chứng. Muốn tu chứng phải hng phục tm. Muốn hng phục tm phải định tm. Muốn định tm phải diệt dục. Muốn diệt dục phải nhận ra tất cả chỉ l huyễn. Muốn nhận ra huyễn phải minh triết. Muốn minh triết phải biết khp ci mỏ lại, mở rộng tm hồn để suy tư, nhận định, điều g hay th giữ lấy, điều g khng hợp với mnh phải suy nghĩ cho tới cng ci l của n. V điều kiện để suy tư l phải nhận biết sự vật như chnh n. Tất cả mọi vật, mọi sự chung quanh trong cuộc sống đều l cơ hội. Khng biết sử dụng cơ hội để tu chứng đ l v minh.
    - V minh hay hữu minh khng cần biết! ng ni về Phật học m khng nhắc chi tới đức Phật Thch Ca, chỉ những kiến tnh, định tm, minh triết th minh triết ở chỗ no, v lấy g lm căn bản để kiến tnh? ng nn nhớ cu, "Khng thy đố my lm nn." Khng c đức Phật Thch Ca lm sao c đạo Phật, lm sao c Phật học, lm sao kiến tnh, định tm?
    - Gọi danh hiệu đức Phật Thch Ca đ phần no tự ngăn cản hnh trnh thức ngộ. Phật l người đ thức ngộ, đ kiến tnh. Tại sao khng gọi đức Phật Bồ Đề Lạt Ma, đức Phật Lục Tổ Huệ Năng, đức Phật Thung, đức Phật Sỹ, đức Phật Phủ, đức Phật Hưng? Phật tnh ở mọi người v tm l Phật, Phật l tm, m chỉ gọi đức Phật Thch Ca, đức Phật Di Lặc? Từ cch dng ngn từ, chng ta đ tự giới hạn hnh trnh thức ngộ, tự che lấp tm Phật nơi chnh mnh. ng khng nhớ nh Phật c cu, "Bung dao đồ tể l trở thnh Phật" sao? Ai cũng c tm Phật nn ai cũng l Phật; vấn đề cn lại l mnh c dứt được khuynh hướng theo đuổi v thường tnh hay khng, hoặc ngược lại, mnh c nhận ra tm Phật nơi mnh hay khng. Sự nhận ra ny gọi l kiến tnh. Đ l l do tại sao ti chỉ nhấn mạnh về kiến tnh m khng nhắc g tới đức Thch Ca. Gọi đức Phật Thch Ca phần no tự che lấp tm Phật nơi mnh để rồi chỉ nghĩ đức Thch Ca l Phật v mnh th khng thể kiến tnh. ng nn nhớ, "Trực chỉ nhn tm, kiến tnh thnh Phật," chỉ đơn giản c thế.
    - Khng c đức Phật Thch Ca sao c đạo Phật?
    - Kiến tnh khng cần đức Thch Ca. ng khng nhớ cu ni của đức Thch Ca sao, "Lời ta ni như chiếc b." Khi đ hiểu rồi phải bỏ lời ni đ đi m tiếp tục cảm nghiệm. Trong hnh trnh thức ngộ chng ta khng lm n lệ cho bất cứ cuốn sch hay c nhn no m phải hon ton tự do thực hiện ch, mở mang kiến thức v pht triển tr tuệ cho đến khi chnh mnh đắc quả v tm Phật ở trong tất cả mọi chng sanh (ĐPVPP; Tr.286). Đức Thch Ca cũng như cc tổ thiền nh Phật chỉ giải thch về cảm nghiệm trong hnh trnh kiến tnh chứ khng bảo phải khất thực, khất ẩm, hoặc ngồi kiết gi, kiết non, hay lễ cha, lạy Phật, m tất cả chỉ dồn vo hnh trnh thức ngộ tm Phật tức l nhận ra Phật tại tm. Đ l l do tại sao đạo Phật được gọi l đạo minh triết. Tuy nhin, trn thực tế, đa số người ta chỉ c triết chứ khng minh.
    - Thế sao sch vở viết đức Phật Thch Ca v thấy nhn loại đau khổ trong vng sinh, bệnh, lo, tử, nn tm đường giải thot cho mọi người?
    - Ni như vậy ng phải tự hỏi đức Thch Ca đ giải thot cho ng chưa hay ng vẫn cn phải bấn ln những khi vợ đẻ, con đau, lm lụng cực khổ m lắm lc tiền điện, tiền phn khng đủ trả tạo nn ưu tư, phiền no. Đ bao nhiu năm, bao nhiu lần ng cầu cng đức Thch Ca, đức B, đức Cha sao vẫn cn lận đận, luẩn quẩn th ai đ giải thot cho ng? Giải thot khng c nghĩa ng đang ngho hn, bốc ng bỏ vo cuộc sống vương giả, uy quyền, tiền đầy bạc đống tha hồ ăn chơi đng điếm, khỏi phải lo nghĩ vật lộn với cuộc đời. Giải thot l kết quả của kiến tnh, tự nhận ra tm Phật, những trắc trở, lo u, hay vui sướng, nhn hạ trong cuộc sống thế nhn đều nhất thời, chng qua v tất cả đều l huyễn, v mnh với Chn Như thực sự l một; mnh đang trong hnh trnh biến chuyển của Chn Như, quyền lực cội nguồn pht sinh mọi sự hiện hữu, v hnh cũng như hữu hnh, nhất thời cũng như vĩnh cửu. Chnh sự nhận thức ny gip con người thot khỏi tham sn si, những ham muốn con đẻ của v minh.
    - Thế sao c những vị bồ tt trở lại gip con người giải thot?
    - ng ni vớ vẩn, đ c những vị bồ tt gip con người giải thot th ng đ được gip chưa? Chẳng c bồ tt th sao c thể trở lại, sao c thể gip.
    - ng ni g lo lếu! Sch vở nh Phật ni vậy chứ bộ ti bới ra sao m ni khng c bồ tt?
    - Th ng hy đợi vị bồ tt no đ đến giải thot cho ng, cần g phải tm hiểu Phật học, cần g phải ăn, phải uống, phải lm lụng vất vả, phải lạy Phật, cng dường! Ni đến giải thot m c biết giải thot l g v giải thot khỏi ci g th ni lm chi m vẫn cứ hỏi! Chỉ một điều nn nhớ, định cứu gip người, giải thot người khỏi những lo u phiền no vẫn chỉ l dục. M đ l bồ tt th hon ton đ diệt dục theo l thuyết nh Phật sao cn c thể gip ai giải thot. V vậy, nếu ni rằng đức Thch Ca v thấy con người trầm lun khốn khổ trong vng sinh, bệnh, lo, tử, m kiếm đường giải thot cho họ, quả l sự bi nhọ lớn lao tới danh phận của ngi v cn muốn giải thot chnh mnh hay giải thot cho người vẫn cn l dục. Chạy theo dục, theo ước muốn d tốt hay xấu cũng khng hng g kiến tnh, sao c thể thức ngộ. ng nn nhớ, "phm chỗ c tướng đều l hư vọng" (KCGL; Tr.41); đ khng c tướng sao cn niệm, ước muốn, ni chi đến trở đi với trở lại.
    - Nhưng những vị bồ tt lm việc, gip đỡ v cầu, v cng, v danh sao gọi l dục?
    - Th đ l việc của Phật tnh, của Chn Như đang lm nơi mọi sự sao cn gọi bồ tt! Thế Chn Như, Phật tnh đang lm việc nơi ng sao ng cn đợi hay muốn đức Phật hoặc bồ tt no giải thot?
    - Ni như vậy, theo ng đức Phật Thch Ca giảng giải điều g trong suốt bốn mươi chn năm m ng dm ni khng cần ngi?
    - Khi ti giảng kinh Kim Cang th qu ng rối ln ph đm. Theo kinh Kim Cang, đức Thch Ca ni như thế ny, "Cc vị bồ tt lớn nn như thế m hng phục tm kia. C tất cả cc loi chng sanh hoặc loi sanh bằng trứng, hoặc loi sanh bằng thai, hoặc sanh chỗ ẩm ướt, hoặc ha sanh, hoặc c hnh sắc, hoặc khng hnh sắc, hoặc c tướng hoặc khng tướng, ta đều khiến vo v dư niết bn m được diệt độ. Diệt độ như thế v lượng, v số, v bin chng sanh m thật khng c chng sanh được diệt độ. V cớ sao? Nầy Tu Bồ Đề, nếu bồ tt cn c tướng ng, tướng nhơn, tướng chng sanh, tướng thọ giả tức chẳng phải bồ tt" (KCGL; Tr.23). Đại khi những lời kinh ny c nghĩa bất cứ một niệm no dấy ln th đ l một sự pht sanh d thuộc loại no. niệm, nghĩ, tư tưởng, ước muốn, ước mơ tự n l một thực thể trong v hnh. Thế nn, dấy niệm th pht sanh, v như vậy, niệm, ước muốn đều l dục. Chủ điểm của Phật học l diệt dục để trở về nguyn bản với thực thể của mnh, trở về với Chn Như được gọi l kiến tnh. Bởi vậy, đức Thch Ca dạy rằng, một niệm dấy ln l c một chng sanh, do đ cần phải hng phục tm nghĩa l diệt niệm. V vậy, muốn hng phục tm th hy để tất cả những niệm, nghĩ, ước muốn vo chỗ khng cn sanh diệt được gọi "v dư niết bn." Niết bn chỉ về trạng thi khng cn sanh diệt. V dư c nghĩa khng cn tướng mạo. Bởi vậy, muốn kiến tnh phải hng phục tm, v sự thực hnh để hng phục tm l ngưng niệm, diệt dục, khng mơ ước bất cứ điều g d tốt lnh hay xấu xa. Như thế, khi đ khng c niệm tất khng sanh, khng tạo thnh nghiệp, khng tạo thnh chng sanh th c chng sanh đu m chịu khổ ải. Đy l điểm ni ngược của nh Phật. Khng tạo thnh chng sanh tức l độ tất cả chng sanh. Bung hết vọng tưởng tất nhin giải thot những chng sanh ngay từ khi chưa được tạo lập trong niệm. M đ l người, chng ta c v vn v số niệm, nghĩ, ước muốn, ước mơ. V như thế, khi bung hết vọng niệm đu cần đức Thch Ca hay đức bồ tt no gip giải thot; tự mnh đ giải thot mun ngn chng sanh th đ l cng đức giải nghiệp. V tất nhin, nếu bồ tt m cn c tướng, cn niệm th khng phải bồ tt sao c thể ni gip giải thot hay bất cứ điều g.
    - ng ni g luẩn quẩn, khng c chng sanh sao giải thot chng sanh?
    - Nếu ng suy nghĩ tạo ra niệm, vọng niệm tức l tạo ra chng sanh. Kinh Kim Cang c ni, "Cc ng chớ bảo Như Lai khởi nghĩ thế nầy: Ta sẽ độ chng sanh. Nầy Tu Bồ Đề, chớ khởi nghĩ thế ấy. V cớ sao? Thật khng c chng sanh Như Lai độ đ. Nếu c chng sanh Như Lai độ đ th Như Lai ắt c ng, nhơn, chng sanh, thọ giả" (KCGL; Tr.241). Bởi đ, ngừng suy nghĩ ng sẽ khng tạo ra chng sanh no để chịu khổ tức l đ độ. Như vậy, cn muốn độ tức vẫn tạo nghiệp, v ngược lại, diệt độ chnh l độ.
    - Tại sao bồ tt cn tướng, cn niệm th khng phải bồ tt? V diệt độ lại l độ?
    - Bồ tt m cn tướng th cn chấp giữa tướng v khng tướng. Bồ tt cn niệm th cn tạo thnh chng sanh v một niệm dấy ln tức l đ c sự chấp ng trong đ. Đy cũng l nghĩa tại sao được gọi l bồ tt v khng c bồ tt nn tạm gọi l bồ tt. Tất cả chỉ l Chn Như nơi tiến trnh biến chuyển. Hơn nữa, theo nh Phật, ước muốn cũng l niệm, l dục m muốn độ tức vẫn l dục. Khng muốn độ ai hay diệt độ cũng thế, tất nhin niệm độ chng sanh pht sinh bởi ước muốn. Ti chỉ giải thch vậy thi, dứt khot khng trả lời về hng phục tm v ni cũng bằng thừa bởi chẳng c g đng ni, chỉ c một điều nn ni l chẳng nn ni điều g.
    - Thi ng ơi, ng khinh chng ti vừa thi chứ.
    - C g m khinh với chẳng trọng, ni cũng v ch v cng ni cng chẳng ni được g th khinh ai; chẳng th cm ci họng lại cn lợi ch hơn. ng muốn ni, đến đy ngồi m ni. R thực, khng cho ni th khc, cho ni th mếu m vẫn thch ni.
    - Ch ni thế nghe được. Tui tưởng ch ra bộ ta đy chứ khng ngờ ch ni khng được. Thi, tui thnh thực xin lỗi. Nhưng t ra, dẫu ch ni khng được th cũng gip tui sng ra thm cht t chứ khng phải ni cũng như khng. Ch thấy khng, nếu tui khng hỏi lăng nhăng th sao biết được niệm v dục cũng như nhau. Tuy nhin, chẳng lẽ con người cố gắng sống tốt lnh, lm việc thiện để được giải thot cũng như khng hoặc c thể tạo thm nghiệp th, th, th...
    - Th ci g?
    - N kỳ qu, hiểu nhưng muốn ni ra khng sao diễn tả.
    - C phải ng muốn ni th để tiền của ăn chơi cho đ v đng no cũng l dục phải khng? V như vậy cng gip, cng cố gắng sống tốt lnh cng tạo nghiệp?
    - Cũng khng phải hon ton vậy m mới c một phần nhỏ; bởi nếu ni như thế chẳng khc g thiện c như nhau. Đến đời cũng khng chấp nhận được phương chi l đạo.
    - Thi, thi, ti hiểu rồi! Đy l ci ngu của ti lm phiền đến cc ng bởi ti cứ nghĩ cc ng cũng hiểu như ti! Đời l đời, l huyễn trong hnh trnh biến chuyển của Chn Như do nghiệp tạo thnh th thiện v c cũng như nhau, chỉ l huyễn, l biến dịch nhưng do v minh con người cho l thật. Đối với những ai đ kiến tnh th khng cn bị tri buộc bởi bất cứ hệ lụy no nn mọi hnh động của thể xc cũng khng thể lm uế tm Phật. "Một kẻ phm tục c gia đnh v lm nghề đồ tể cũng c thể l một vị Phật. Kẻ no đ lnh hội được Phật tnh th khng cn tạo nghiệp nữa, d lm bất cứ một hnh động no bởi kẻ ấy đ gic ngộ" (GLTH; Tr.206).
    - ng ni mọi hnh động của thể xc cũng khng thể lm uế tm Phật th đ l lối khuyến khch con người v lun sao?
    - Dẫu v lun hay hữu lun th hỏi cũng v ch, bởi ti đ ni l ti ngu m ng cn cứ hỏi để ti phải ni ngu. Đức Đạt Ma sư tổ trong bi giảng thuyết đầu tin tại Trung Hoa c ni, "Cả thế giới được nghĩ trong tm. Tất cả chư Phật, qu khứ v vị lai đ v sẽ được tạo thnh trong tm" (KCGL; Tr.201) th thiện v c, đng v sai, cũng bởi tm m ra; thế nn v lun hay hữu lun cũng nơi mnh m chớ. Thi, thi, ng lm ơn đừng hỏi nữa v chỉ nn biết rằng mục đch duy nhất m mỗi người phải đạt tới l sự gic ngộ, kiến tnh, v kẻ no kiến tnh, kẻ no thấy rằng mnh hon ton ha nhập với Chn Như tất nhin l một vị Phật d kẻ ấy khng được học hnh, nửa chữ nhất khng biết. Phật l người thức ngộ, thấy được Phật tnh nơi mnh, nơi tm mnh gọi l tm Phật. Như vậy phải kiến tnh chứ đừng muốn kiến tnh v cn muốn th cn chưa đạt tới m vẫn chỉ l dục. Trong ngn ngữ nh Phật by giờ gọi l tu chứng.
    - Thế sao c nơi đức Phật Thch Ca bảo "Khng c chỗ trụ m lm việc bố th. Nếu bồ tt bố th m chẳng trụ tướng th phước đức khng thể nghĩ lường?" (KCGL; Tr.34)
    - ng định mang kinh Kim Cang ra m le ti sao! Nhưng t nhất l ng đ đọc v để suy nghĩ, đ cũng l một điều hay. Mọi người đều r, bố th tiền bạc, của cải l lm điều thiện chớ khng phải tu hnh (KCĐĐ; Tr.91). Hơn nữa, đem tiền bạc bố th cho kẻ ngho uống rượu, x ke ma ty th lại l điều c chứ thiện sao được. Đức Thch Ca khng dạy việc bố th ti vật bn ngoi m sự bố th ti vật bn ngoi chỉ l gip phương tiện sơ khởi để tu hnh. Đức Thch Ca chỉ ni về php th v bồ tt chỉ c php th chứ mọi sự l huyễn th sao c thể đặt vấn đề bố th ti vật. Hơn nữa, nếu chỉ đặt vấn đề bố th ti vật tất nhin do bị nghĩ cho rằng đức Thch Ca thương xt con người trong cảnh khốn khổ sinh bệnh lo tử, vẫn bị lệ thuộc vo dục, trong khi đức Thch Ca chỉ khuyến khch thức ngộ, giải thot, diệt dục. Đương nhin, nghĩ như thế đ tự gn cho đức Thch Ca theo đuổi ước muốn, theo đuổi thị dục. Đại khi cu ni "Nếu bồ tt bố th m chẳng trụ tướng th phước đức khng thể nghĩ lường" c nghĩa nơi hnh trnh kiến tnh khng trụ vo bất cứ g. Đy l php an trụ tm, bung hết, bỏ hết khng đu l điểm tựa, chẳng đu l điểm tới, khng dnh dng g đến lục dục, sắc, thanh, hương, vị, xc, php (KCGL; Tr.36). Nơi kinh Kim Cang c chỉ r, "Khng nn chấp php, khng nn chấp phi php. Ta ni Php v dụ như chiếc b, php cn nn bỏ huống l phi php. (KCGL; Tr.52). V vậy, Ngũ Tổ Hong Nhẫn dạy rằng, "Khng biết tự tm th học đạo v ch. Nếu biết tự tm, thấy được tự tnh, đấy l kẻ đại trượng phu, Thin Nhn Sư, Phật" (GLTH; Tr.170). V Lục Tổ Huệ Năng ni r hơn: "Khng nn ngưng vo chỗ no m nẩy ra tm ấy. Hết thẩy hiện tượng khng rời tự tnh. (Ưng v sở trụ nhi sinh kỳ tm. Nhất thiết vạn php bất ly tự tnh) (GLTH; Tr.169). ng thử nhớ lại coi, nơi kinh Kim Cang c đoạn ni đức Thch Ca hỏi Tu Bồ Đề, "Nầy Tu Bồ Đề, nay ta bảo thật với ng, nếu c người thiện nam, thiện nữ đem bẩy chu bu đầy dẫy tam thin đại thin thế giới bằng số ct những sng Hằng kia ra bố th th được phước nhiều chăng? Tu Bồ Đề thưa: Bạch Thế Tn, rất nhiều! Phật bảo Tu Bồ Đề: Nếu người thiện nam thiện nữ, đối trong kinh nầy cho đến thọ tr bốn cu kệ v người khc giảng ni, phước đức nầy nhiều hơn phước đức trước" (KCGL; Tr.98). ng lm ơn để điểm ny, Phật học l một trong những đạo học, m tất cả cc đạo học đều khng ni về lun l, tm l, x hội, hay bất cứ g nơi điều kiện sống lin hệ đến con người nhưng chỉ gii by cảm nghiệm tu chứng. Ni theo Lục Tổ Huệ Năng l "Trực chỉ nhn tm, kiến tnh thnh Phật."
    - ng cứ lải nhải nhắc đi nhắc lại kiến tnh, tu chứng, m khng đưa ra được bất cứ đường lối hay phương php phải thực hiện cch no! ng c giỏi ni cho mọi người biết ng đ kiến được g, tu bao lu, v chứng hay tật được những thứ chi!
    - Lc trước ti đ ni, muốn kiến tnh phải tu chứng, muốn tu chứng phải hng phục tm, muốn hng phục tm phải định tm, muốn định tm phải diệt dục, muốn diệt dục phải minh triết, muốn minh triết phải mở rộng tm hồn để suy tư, muốn suy tư phải nhận biết thực thể sự vật để xa v minh. Ni cho gọn chỉ tu chứng mới kiến tnh. Do đ, tất cả những điều kiện một người phải trải qua đều thuộc về hnh trnh tu chứng. Tuy nhin, c những trường hợp ngoại lệ được gọi l đốn ngộ khng thể ni được.
    - Ti muốn hỏi ng tu đến đu, ng chứng được chỗ no, m c thể ni lắm thứ vậy?
    - Dạ ti nghe, nhưng xin ng lm ơn khp ci mỏ lại dm. Ti đ ni từ lu, ai chứng người ấy biết m ng khng thm hiểu lại cứ để ci mỏ đi trước ci đầu. Vừa rồi, ng hỏi ti phải thực hiện cch no để kiến tnh nn ti mới nu ln những điều kiện trong hnh trnh tu chứng. ng khng tu chứng th c ni đến mấy cũng như cuội v nếu chỉ cố gắng tm hiểu th cng lắm được gọi l minh triết, m người minh triết v minh, kẻ v minh minh triết th chẳng hng đạt tới ci qui g cả.
    - Tại sao ng khng giải thch những điều kiện tu chứng.
    - Ni vậy nghe được! Tuy nhin, cc ng muốn ti ni ngược hay ni xui, ni tới hay lui, hoặc nho nho lộn tng pho, hay hỏi v trả lời?
    - Sao ng by ra lắm kiểu ni kỳ cục, đ ngược lại cn xui, thm cả thứ lộn tng pho l thế no? Chng ti chỉ muốn biết đối với hng dn giả, thoạt tin phải lm g? Tại sao đ kiến tnh thnh Phật m lại cn phải tu chứng?
    - Kiến tnh thnh Phật tức l nhận chn được Phật tnh nơi mnh. Ni cch khc, nhận ra bổn lai diện mục của mnh, nhận ra mnh l Chn Như đang biến chuyển chứ khng phải l mnh v chẳng c g thực sự l mnh nhưng tạm gọi l mnh v chẳng phải l mnh.
    - Hy... khoan...! Ty con đột nhin ln giọng cải lương. ng ni g kỳ cục! Thế no l "Tạm gọi l mnh v chẳng phải l mnh?" Khng c mnh th lấy mả thnh để tạm gọi l mnh hay sao? Tất nhin, t nhất niệm no đ phải c trong nghĩ mới c thể gọi được l g v nếu đ khng c th khng thể nghĩ tới được. Như vậy, mnh đ c v đ c thể nghĩ tới một thực thể no đ th sao c thể ni chẳng c g thực sự l mnh?
    Mọi người vỗ tay reo theo sau cu l luận của Ty con. t ra phải như thế. Khng c mnh lấy g đặt vấn đề suy tư, tu chứng, v căn bản no đi kiến tnh. Nếu tất cả chỉ l huyễn th kiến tnh cũng l huyễn bởi gốc của kiến tnh tức l người suy nghĩ đ l huyễn. Mnh cũng huyễn th suy tư l lấy ci huyễn nghiệm những sự huyễn, tu chứng cũng l hnh trnh diễn tiến của huyễn tiếp nối chồng chất, v như vậy, sao ci thực c thể nẩy sinh từ ci huyễn.
    - Ni vậy nghe được, Hưng ln giọng kẻ cả, v t nhất đ dm suy tư, dm đặt vấn đề để giải quyết vấn đề. Đy l hnh trnh minh triết. Ngn từ tu chứng nh Phật thường nhắc tới c, khng, huyễn, thực, v minh, minh triết, kể ra chẳng xiết. Tuy nhin, cc tc giả trước tc kinh sch dng những văn từ ny ty thuộc niệm ring khng dựa trn bất cứ niệm căn bản no v vo những thời buổi đ chẳng c g được gọi l mẫu mực niệm chung, khng ni ngy xưa, ngay thời buổi by giờ cũng thế, cho nn người đọc kinh sch kiếm đường tu chứng thường hay gặp phải những cu ni rắc rối quanh quẩn do nghĩa của mấy chữ c, khng, huyễn, khiến sự suy tư v nhận định của họ bị đảo lộn lung tung tạo nn lng chn nản. Theo thiển kiến qua kinh nghiệm hiểu biết v cảm nghiệm đọc kinh sch nh Phật, chữ hoặc lời "c" mang nghĩa thấy được bằng mắt. Chữ "khng" mang nghĩa khng thấy được bằng mắt. Chữ "huyễn" c nghĩa chng qua. Thường th ty theo từng cuốn sch mấy chữ ny được hiểu thm về tnh chất hữu hnh v v hnh m định một cch no đ theo tc giả. Chng ta c thể nhận định như thế ny, c những "ci c" hữu hnh v cũng c những "ci c" v hnh. Khng nhn thấy chưa chắc đ khng c m c những "ci khng" hữu hnh đồng thời cũng c những "ci khng" v hnh. Thm vo đ, huyễn l những thong qua d v hnh hay hữu hnh, c thể l vật chất, c thể l nghĩ.
    - Tại sao đ khng lại cn khng hữu hnh v khng v hnh?
    - Ci c thể nhn thấy bằng mắt, rờ bằng tay, nhưng được gọi l khng v đối với quan niệm nh Phật, ci c, ci thực l ci trường cửu. Thế nn, ci c giai đoạn, hữu hnh by giờ m một triệu năm sau khng ai biết đến nữa vẫn l khng. Đọc kinh sch nh Phật cần để điểm ny, v bnh thường, chng ta chỉ nhắc tới ci khng, ci c giai đoạn, được gọi l huyễn theo nh Phật m qun rằng bất cứ g khng trường cửu đều bị nh Phật gọi l khng, ci khng khi tận cng. V như vậy, bất cứ g cũng l khng, khng nhn thấy cũng khng, nhn thấy cũng khng. Chả thế m trong kinh Kim Cang c những cu, "V tướng ng tức khng phải tướng, tướng nhơn, tướng chng sanh, tướng thọ giả tức khng phải tướng. V sao? V la tất cả tướng giả tức gọi l chư Phật" (KCGL; Tr.120); "Phật ni Bt Nh Ba La Mật tức khng phải Bt Nh Ba La Mật, ấy gọi l Bt Nh Ba La Mật" (KCGL; Tr.109); "Như Lai Ni 32 tướng tức khng phải 32 tướng, ấy gọi l 32 tướng" (KCGL; Tr.110). Đng khc, dẫu nh Phật cho rằng tất cả sự vật, niệm đều l khng nhưng lại cũng l c v "ci c" ở đy mang nghĩa đ l những biến chuyển của Chn Như, chẳng khc g những ngọn sng nơi đại đương. Bảo rằng c ngọn sng th vừa mới ni xong, n đ biến chuyển khc trước; bảo rằng khng c sng, cứ leo ln ghe chạy ra biển trong cơn ging bo sẽ biết ngay. Qu vị đ bị lộn tng pho ci đầu chưa? Coi chừng kẻo chn ln đng đầu v đầu xuống dưới chn với chỉ hai chữ c v khng nơi cửa Phật. V vậy, khng v c nơi Phật học mang nghĩa như nhau. Một sự vật bảo c cũng đng, bảo khng cũng đng nhưng đng theo niệm no. Cũng một chữ đng nhưng chia ra hai nhận thức nơi hai mi trường niệm đối nghịch lẫn nhau.
    - ng ni như thế một sự vật hay niệm c thể hiểu bốn trường hợp, hai đng, hai sai?
    - Khng những bốn trường hợp m nhiều hơn bốn nữa.
    - Tại sao hơn bốn trường hợp?
    - Cn c niệm th cn pht sinh trường hợp. Th dụ, c, khng, đng, sai, phải, tri, giả, thực, từng cặp đối nghịch v mỗi cặp lại đi km với lẽ đng sai. Chẳng hạn chai bia hoặc niệm về chai bia, bảo c cũng đng, khng c cũng đng; c cũng sai, khng c cũng sai; thực cũng đng, giả cũng đng; thực cũng sai, giả cũng sai. Thế no cũng đng v cũng sai ty niệm của người ni.
    - Nếu vậy th đừng c niệm nữa th chẳng g pht sanh.
    - Đy l l do tại sao gọi l huyễn. Lẽ đng, sai, thực, giả, c, khng, được pht sanh từ niệm nn nếu khng c niệm th lại chẳng c g được ni đến. Gốc nhận thức cần được để v n pht sinh từ tnh chất ny.
    - Vậy nếu khng c mnh sao c niệm? V như thế, phải c mnh mới c huyễn.
    - ng lạc vo m hồn trận c khng của nh Phật rồi. Nếu đặt vấn đề c mnh hay khng c mnh th ng trở lại điểm khởi đầu, vng luẩn quẩn c khng của niệm, m đ c niệm tức lại pht sanh.
    - Th phải c mnh mới c niệm v niệm l một thực thể nn mnh mới c thể nghĩ tới được. Nếu khng c niệm sao ng c thể nghĩ tới n?
    - Ti vừa mới ni ng lạc vo m hồn trận c khng lại vẫn cứ gn cổ ra m l luận. Ti chỉ hỏi ng, những con sng trn mặt biển c hay khng? Ni c cũng đng v cũng sai, ni khng cũng đng v cũng sai th ng ni lm sao? Ci đi, chứng minh coi; đu phải cứ to miệng m khng c sng, hoặc c sng. N vậy đ, luẩn quẩn với lẽ c, khng no được ch g!
    - Th con sng pht sinh bởi sự lun chuyển của nước ha hợp với p lực gi thổi nn được hiện ra v v thế gọi l c. Con sng c trong giai đoạn theo những điều kiện thin nhin bởi vậy được gọi l c.
    - ng vừa ni con sng c trong giai đoạn. Biển th vẫn l biển. Khi nước lun chuyển ty theo hấp lực của mặt trăng cộng hưởng với p lực của gi tạo thnh sng. Sự kiện ny ni ln những ngọn sng được tạo thnh bởi nước biển v những điều kiện phụ thuộc. Như vậy, nước l gốc của những ngọn sng. Sự lun chuyển của nước v p lực gi l những điều kiện. Hy lấy biển v sng lm th dụ điển hnh để diễn giải quan điểm nh Phật. Tất cả mọi sự kiện, sự việc, d niệm hay bất cứ vật g đều pht sinh từ Chn Như. Chn Như l cội nguồn pht sinh mọi sự kiện hữu hnh v v hnh chẳng khc g biển l gốc của mọi con sng. V mọi sự kiện được pht sinh từ Chn Như chỉ trong giai đoạn ngắn hạn hoặc di hạn do đ được gọi l huyễn. Đ l những ci c trong giai đoạn m xt theo thực thể Chn Như, chng l khng như những ngọn sng so với biển. Thế nn, ngọn sng được coi l c giai đoạn hữu hnh đồng thời cũng được coi l khng v hnh trong diễn trnh trường cửu của Chn Như.
    - Tại sao bỗng nhin ng lại by ra Chn Như trong khi đang ni về c khng của sng biển. Lại cn thm vo hữu hnh v v hnh. Chỉ hai tiếng c, khng chưa đủ rắc rối sao?
    - Chn Như hay Chn Khng l niệm nh Phật dng để chỉ cội nguồn của mọi sự hiện hữu hữu hnh v v hnh. V khng c cch no để m chỉ nn tạm gọi l Chn Như hay Chn Khng. Ti muốn dng ngn từ Cội Nguồn Hiện Hữu nhưng e chỉ vẽ rắn thm chn nn tạm dng ngn từ nh Phật để ni. Đồng thời, cc ng cũng thấy, ci bn, ci ghế, chai bia, cũng như thn xc con người l vật thể hữu hnh. tưởng, niệm, khng kh, tất cả những g khng thấy được bằng mắt nhưng chng ta c thể biết hoặc nhận định được tạm gọi l hiện hữu v hnh. Như vậy, gốc của mọi sự vật, sự kiện hữu hnh v v hnh l Chn Như. Gốc của ci c l ci khng.
    - Nếu ng đ dng hiện hữu hữu hnh v hiện hữu v hnh th dng lun cho dễ phn biệt, việc chi lại bới bo ra bọ, chm nếm gốc của ci c l ci khng.
    - Ni như thế mới ra vẻ Phật học.
    - Khng cần biết vẽ hay sơn, chng ti chỉ cần biết cch no, v dựa trn nguyn tắc no để tu chứng đạt tới kiến tnh như ng đ ni. Lm ơn dẹp ci hnh thức dổm cho đỡ rắc rối.
    - ng đề nghị như thế nghe được. Xin cc ng lm ơn nhớ cho mấy tiếng căn bản ny l Chn Như hay Chn Khng c nghĩa cội nguồn hiện hữu d v hnh hay hữu hnh, v cũng được gọi l Quyền Lực Hiện Hữu, hoặc Thực Tại Siu Việt, tương đồng với những danh hiệu Tạo Ha, Ha Cng, hoặc bất cứ ngn ngữ m định no khc để chỉ về cội nguồn hay quyền lực tối cao pht sinh mọi sự. Sự vật, sự kiện tạm chia ra hai phần, hữu hnh v v hnh, để dễ ni chuyện.
    - Chn khng l khoảng khng gian khng c khng kh, khng c g hết.
    - Đấy l danh từ vật l mang nghĩa vật chất. Th thi, khng dng tiếng chn khng nữa, nhưng nếu nghe ni đến n trong ngn từ nh Phật th qu ng lm ơn hiểu cho đ l Chn Như, Ci Khng chn thực, Quyền Lực Hiện Hữu tối cao.
    - Qua cầu, by giờ tiếp tục với Chn Như.
    - Tạm gọi Chn Như l Quyền Lực Hiện Hữu v tất cả mọi sự d hữu hnh hay v hnh, d được hiện hữu trong bất cứ giai đoạn no, mang sự hiện hữu, đều phải c quyền lực ny. Khng c quyền lực hiện hữu ngự trị sẽ khng c sự hiện hữu. Qu ng chấp nhận được khng?
    - Xin thưa chấp nhận. Bất chợt mọi người đồng loạt lấy giọng thưa bẩm chẳng khc g trẻ em lớp mẫu gio. Họ l thế, c những ci mỏ bn trời khng văn tự lc rượu bia pht biểu, v đi khi thi độ giả bộ đơn sơ như trẻ em để diễu gip bầu kh bớt căng thẳng trong những trường hợp c chuyện rắc rối xảy ra. C điều, bởi năng gặp gỡ ăn nhậu, bn luận, điểm chung nơi họ l tấm lng khng xt nt, chấp nhất, m biết mở rộng tm hồn tm hiểu.
    - Ci bn, chiếc ghế, chai bia l sự vật hữu hnh tất nhin hm chứa hay được hiện hữu bởi quyền lực hiện hữu thể hiện thnh hữu hnh. Quyền lực hiện hữu hữu hnh v v hnh ẩn tng nơi con người. Thn xc hữu hnh. nghĩ, định, ước muốn, ước mơ v hnh. Con người cn c thm quyền lực sng tạo, biến định, nghĩ từ v hnh thnh hữu hnh. Từ nhận thức ny, nh Phật ni "Tm sinh vật v vật sinh tm." Như vậy con người, cc vật chung quanh, khng kh, cy cối l hiện thể của Chn Như. Quyền Lực Hiện Hữu. Tm lại tất cả vật thể, sự kiện l những biến thể của Chn Như, của Quyền Lực Hiện Hữu.
    Chiu ngụm bia thấm giọng, Hưng tiếp,
    - Đy l gốc gc Phật học. Tu chứng l hnh trnh đạt đến nhận thức ny. Kiến tnh l thời điểm thực sự đạt đến trạng thi ny. Bởi thế, Phật học quan niệm mnh khng phải l mnh m chnh l Chn Như hiện thể trong diễn trnh biến chuyển. Ni cch khc, tất cả mọi sự, mọi vật, mọi niệm, ước muốn, toan tnh chỉ l những biến chuyển của Quyền Lực Hiện Hữu lin tục. Đ cũng l l do tại sao nh Phật c những cu ni kh hiểu, chẳng hạn, "Ni l Phật php đ tức chẳng phải Phật php" (KCGL; Tr.70). Tất cả cc sự kiện, sự vật được nh Phật gọi l php, v php l hiện thể của Chn Như nn Phật php khng phải l Phật php m chnh lại l Chn Như.
    - Như vậy, nếu tất cả l Chn Như trong diễn trnh hiện thể theo từng giai đoạn th đu c chi l tội, đu c chi l phc, chẳng g đng, chẳng g sai. Sao m li thi rắc rối, rồi no Phật tnh, no kiến tnh, no niết bn, no lun hồi, no chng sanh, chng tử lắm thứ vậy?
    - Đ l l do tại sao ti chỉ nhấn mạnh tới kiến tnh. Đạt Ma sư tổ đ ni thế; Lục Tổ Huệ Năng cũng chỉ ni thế. Những vấn đề biến chuyển thế no của Chn Như, c, khng, Phật php, bồ tt, tu chứng, niệm Phật, tụng kinh, sch vở, mọi sự chỉ luẩn quẩn trong ci ta b niệm m thi. Hơi ngập ngừng, Hưng tiếp, c điều, khi con người cn chưa nhận chn sự nhất nguyn giữa thực thể v hnh tướng th vẫn cn luẩn quẩn nơi ci v minh. Tất cả mọi sự hiện hữu d v hnh hay hữu hnh đều l tướng của thể. Khng c tướng ngoi thể v chẳng c thể ngoi tướng. Ni cch khc, vạn php l hiện tướng của thực thể Chn Như; ngoi Chn Như khng c php v ngoi vạn php khng c Chn Như. Cũng c thể diễn giải rằng mọi sự hiện hữu đều chất chứa Cội Nguồn Hiện Hữu v ngoi Cội Nguồn Hiện Hữu tất nhin khng c g hiện hữu. Như vậy, tất cả mọi sự biến chuyển của vạn vật chnh l sự biến chuyển của Cội Nguồn Hiện Hữu. Ni theo nh Phật, vạn php l sự biến chuyển của Chn Như v tất cả mọi hiện thể đều thuộc về thực thể cũng như biển v sng chỉ l nước. Sng l hnh tướng; biển cũng l hnh tướng giống như vạn php, cả hai đều thuộc về hnh tướng m Chn Như l nước. Ngoi nước, khng c g l sng, chẳng c g l biển. Bởi vậy, ngoi Chn Như khng c vạn php m nếu đ nhận ra vạn php lại cần được nhận ra gốc của vạn php chnh l Chn Như. Ti chỉ c thể ni được như thế v cũng biết r, cng ni thm cng chẳng ni được g. Ai c tai th nghe (Mt. 11:15), ai hiểu sao th hiểu. Nhưng thực sự, hiểu cũng v ch v hiểu biết chẳng gip ch g cho hnh trnh kiến tnh; vấn đề chỉ l tu chứng. Những ai khng chịu tu chứng m cứ đi hiểu th chẳng thể no hiểu được, v d hiểu biết lợi ch của nước đến mấy, khng uống vẫn cn kht, d hiểu bia ngon ngọt đếu đu, khng uống chẳng thể say. Quả thật, ni với những người khng tu chứng chẳng khc g dạy kẻ yếu đnh vật hoặc bn luận với kẻ v minh, sẽ bị họ khinh dể nt tinh tế của lời mnh ni (Cn. 23:9). Giọng Hưng trầm buồn, nhỏ dần mang đầy vẻ thao thức tạo nơi lng người nghe nỗi kht khao đượm phần khắc khoải mng lung. V thế l mọi người lại nhao nhao ln,
    - ng coi tụi tui ngu xuẩn đu c được.
    - Con nh ny được sinh ra trng phải giờ vạ miệng.
    - Ni vậy khng được, qu lo lếu.
    - Phạt, Sỹ nh con oang oang đề nghị. Yu cầu trưởng hội đồng trừng phạt diễn giả một cch đng đắn v dm khinh dễ mọi người.

    * * *


    Last edited by ttvl123; 12-05-2017 at 08:50 AM.

  4. The Following User Says Thank You to ttvl123 For This Useful Post:

    Kiến Hi (09-26-2013)

  5. #3
    Join Date
    Jun 2009
    Posts
    367
    Thanks
    1
    Thanked 535 Times in 215 Posts

    Default Re: My Bay Về Ngn

    tiếp theo
    .

    Nơi bộ salng, cụ Ti im lặng theo di diễn tiến của nhm nhậu. Cụ l anh bố của Hưng nn được mọi người gọi bằng bc. L thứ hai nơi một gia đnh mười người con m thn sinh của Hưng đứng vo hng thứ chn, ngy cn nhỏ, cụ được theo Nho học nhưng v khoa bảng lận đận lại trng vo thời kỳ đất nước nhiều biến đổi, chữ Quốc Ngữ thay thế chữ Hn đồng thời quan niệm vật dục xm lấn, chuyển biến lng người khiến những ai cn cht lim sỉ đều bị dồn vo cảnh bất đắc ch. Khom lưng luồn ci hoặc mưu m thủ đoạn tạo dựng danh vọng hay chạy theo tiền ti đ trở thnh ngn đn th đập thẳng v lng ruột những tm hồn được huấn luyện trong gương mẫu kẻ sĩ. Theo Hn học, tất nhin những tư tưởng nho phong thấm nhuần đậm đ nơi cch ăn nết ở, chẳng những thế, cụ hm mộ đạo học nn tha thiết kiếm tm nơi sch vở về Phật, Lo, Trang, v sau ny cụ c cơ may đọc về Ấn học v Kinh Thnh. Chnh lng say m đạo học đ dẫn dắt cụ đến quyết định sống độc thn mặc dầu khi tới tuổi trưởng thnh, quyết định ny đ lm khổ cụ khng t nơi mi trường của một gia đnh nho phong. Thế rồi thời buổi đẩy đưa, những thng năm di lnh trng sắp đặt cụ tới cương vị thiếu t mấy năm trước khi hưu tr. Sỡ dĩ cụ lận đận trn đường quan hoạn cũng chỉ v mối sĩ kh do nhận thức về đạo học đ ngăn cản lng chiều theo bản chất bnh thường của một con người khi đối diện với thế quyền v vật dục. Cũng chnh v vậy, những bạn lnh hoặc sĩ quan đ gọi cụ l thy tu khng cha.

    Dẫu cch sống bề ngoi tốt lnh được hướng dẫn bởi một nội tm cng thẳng, v dẫu được người chung quanh nhận định c tm hồn quang minh chnh đại, nhưng tận đy lng, cụ Ti phải đối diện với những trận chiến giữa tm linh v tham vọng thế tục nhiều khi khiến cụ muốn bung tay xui chiều hầu c cuộc sống vật chất v những giy pht thoải mi hơn. Nghe bạn b kể lại những thnh cng, những hnh diện đắc thắng trn trường đời do mưu m, thủ đoạn như sự khn ngoan thin bẩm, cụ nhận ra mnh đ sẵn dư thừa khả năng nếu khng muốn ni c thể hơn để lập mưu chước thế tục, chẳng những đem lại lợi ch trn đường quan hoạn m cn được thm tiền ti, danh vọng, được mọi người knh nể, e sợ. Tuy nhin, khi đối diện với lng trong những giy pht nghiệm xt tm linh, cảm nghĩ tựa lời ni v hnh v sắc no đ lun lun nhắn nhủ cụ xui chiều theo đường hướng thiện. Cu ni nơi Lo học, "Khng lm g nhưng khng việc g khng lm" giữ một vai tr quan trọng điều hnh mọi dự định cũng như đ bẹp mun ham muốn nội tm. Chữ "dục" nơi Phật học bao hm hon ton những phương diện ước ao hữu vi. D tốt lnh cũng l dục v đ chnh l sự ham muốn. Đu đ tưởng "Chẳng lm điều thiện th khng tạo điều c" nhiều lần đ khiến cụ phải cố gắng dẹp ci lng si động thực hiện những việc được coi l tốt lnh trong tầm tay, dnh thời giờ đặt vấn đề hầu c nhận thức tin kiến về hậu quả điều tốt mnh muốn thực hiện. Chữ "Thời" nơi Dịch học mới gh gớm lm sao! Một đng Dịch học nu ln người lnh đạo phải xử l cho c đạo đức, dng phương thức chnh trị giải quyết vấn đề nhưng phải c thời. Đng khc, tạo thời lại chnh l chạy theo thị dục nn đ chắc g tạo thời l điều tốt cho sức sống tm linh! Hơn nữa, c ở trong chăn mới biết chăn c rận; đ chắc g những điều mnh mơ ước đem lại lợi ch cho gi trị cuộc đời, v no ai biết hnh trnh thức ngộ của mnh phải trải qua những trường hợp no, bi học no cần thiết, bi học no chỉ l kết quả chạy theo thị dục! Bởi vậy, đ nhiều lần cụ tự nhủ, nếu mnh được sinh ra để hon thnh phận sự no hầu đạt đến đẳng cấp chi trong hnh trnh tm linh, tất nhin, mọi sự việc đ được chuẩn bị sẵn đng thời điểm dẫn mnh bước tới. Khng nhận thức được điều ny, chẳng thể am tường cu ni "Khng lm g nhưng khng việc g khng lm." Sự việc đng l sẽ xảy đến theo lẽ phải xảy ra, cung ứng cơ hội thăng tiến m mnh cố tnh xa v theo muốn, v tnh lm trệch dữ kiện, chắc chắn chỉ ko di diễn trnh cơ hội pht triển tm linh của mnh. Thế nn, tưởng l hay lại ha nn dở, tưởng l thi thố ti năng, thực hiện điều tốt nơi lối nhn hạn hẹp, sản phẩm của lng ham muốn thế tục lại trở thnh sự ngăn cản việc phải xảy đến đng thời đng lc. C thể ni, cụ tự nhủ, coi chừng lng tốt con đẻ của v minh l nguồn gốc tạo nn mun vn sự khốn kh cho con người. Phỏng chữ dục nơi nh Phật chỉ về muốn được gọi tốt lnh đ trở thnh vị kỷ. Thế nn, chẳng lạ g c cu ni, "Bất cứ ai khng nhận thức được sự việc mnh lm chỉ l cho chnh mnh, m chỉ cho rằng lm việc cho người khc, hoặc mang lợi ch cho người khc, hay kiến tạo cơ hội cho người khc, kẻ đ tất nhin l người bất hạnh, đng bị chn ght, v c độc" (Robert Baldick). Khổ nỗi, cng nhận ra những no động thực hiện cho chnh mnh th lại cng nhận thức r đang chạy theo thị dục. Phỏng mấy ai ngờ, ci tĩnh l gốc ci động, v ci tĩnh cũng l sự khn ngoan ngăn cản những ci động thị dục.

    Thời điểm ny, cụ đ tm mươi bảy tuổi. Hơn hai mươi năm trước lc đất nước đổi chế độ, một người bạn trung t an ninh v hiểu biết tấm lng v cầu nơi cụ, nn mấy hm trước ngy ba mươi thng tư đ ni dối muốn bn thảo chuyện cần khi cụ v Hưng, thời đ đ mười su tuổi, đang đi dạo vo buổi chiều, dn xếp cho cả hai bc chu ln chuyến bay rời bỏ qu hương cng với gia đnh ng ta. Qua mười năm sống trn đất nước người, Hưng đ lấy xong cấp bằng Master x hội học, cũng một tay cụ lo vợ cho chu đồng thời một gi v đi vợ chồng trẻ tiếp tục từ ngy đ ở chung cho tới nay. Hưng đ được bốn chu, hai trai, hai gi, chn cảnh "sng cắp đi tối cắp về" đem thn lm thu nơi văn phng như một thng lệ buồn tẻ; hơn nữa, qua gần hơn mười năm lm việc, vợ chồng Hưng do tằn tiện đ để dnh được số vốn kha kh, lại nhờ bc c tiền gi, chia sẻ điện nước nn Hưng quyết định lm ghe đnh tm, nửa ma vật lộn với sng nước ngoi khơi, nửa ma thảnh thơi cng th điền vin, quanh quẩn vng sng ngi hưởng niềm vui cu c để c nhiều giờ gần gũi dạy dỗ con ci. Nhờ trời, mới hai năm lm ghe, anh đ sắm được căn nh năm phng ngủ, khng sang lắm nhưng thoải mi v khng phải vay cng, mượn nợ. Dĩ nhin, lm nghề "đm H B" th tm c khng bao giờ thiếu; do đ, mn nhậu đ sẵn, bia bung, rượu ch cũng chẳng đng l bao, nn Hưng thường mời bạn b tới nhậu, t nhất cũng hai tuần một lần. Chị Hưng c lần tỏ vẻ kh chịu v e ngại con ci học đi sau ny sinh hư, nhưng Hưng l luận c khch khứa tới lui, mnh c cơ hội tập tnh cho con ci biết đối xử lễ độ với kẻ trn, người dưới. Vấn đề trẻ hư hay khng ty thuộc sự gio dục của bố mẹ.

    Lng cụ Ti tương đối thanh thản; mặc dầu c tuổi, nhờ trời cụ vẫn khỏe mạnh nn đi khi đi ghe với Hưng để thay đổi khng kh, v thường hay dẫn cc chu đi cu vo buổi chiều trnh cơ hội chng đua đi với những bạn b chẳng nn cng lứa. Nhiều lần hai bc chu bn luận chuyện đời rất tương đắc. Bc thm nho, chu l người được ăn học nn dễ am hiểu v cảm thng, kiến tạo đi tm hồn rộng mở chấp nhận cuộc đời; lu dần, nhận thức đạo học được đem ra chia sẻ. Cụ Ti đ để theo di v thăm d tm thức người chu độc nhất ny, nhưng năm thng dần tri, mi hai năm trước đy, Hưng mới c thể đạt được phần no lối nhn về thực thể sự vật. Thế rồi, bỗng một hm thng trước, Hưng m về cả chồng sch nh Phật, lại nhn ma lạnh rảnh rỗi cng việc, anh chi mũi đọc nhiều khi qun ngủ. Cụ Ti cảm thấy hơi lạ, mặc dầu để nhưng vẫn m thầm theo di.

    Đ nhiều lần cụ được mời tham dự những bữa nhậu của giới thanh nin xồn xồn ny tại nh Hưng; tuy nhin, dẫu được mọi người cảm mến v tn trọng, cụ chỉ ngồi ăn uống với họ chừng nửa giờ, đến khi cc tướng đ bắt đầu thấm hơi men, cụ lặng lẽ rt lui về phng ngủ. Thực ra, cụ nghĩ, dẫu mnh khng chấp nhất hoặc cảm thấy phiền h v những lời ni v tnh của nhm "người trẻ" thuộc hng con chu bởi thi độ của họ đối với cụ rất lịch sự, nhưng sự hiện diện của mnh c thể khiến họ phải giữ kẽ từng lời ăn tiếng ni tạo nn thi độ mất tự nhin, lu dần ảnh hưởng, sẽ biến họ thnh những con người khng dm sống chn thật. Đng khc, kiến thức của những người trẻ ny được đo luyện để hội nhập v lm việc nơi một x hội tin tiến nặng phần kỹ thuật, tuy chất chứa nhiều yếu tố phổ thng, nhưng dẫu sao, sự nhận thức vẫn bị lệ thuộc nguyn tắc đối đi nhị nguyn, hoặc l đng, hoặc l sai, hợp hay khng hợp, hy cn qu xa vời với nhận thức đạo học khiến cụ kh bề ni chuyện theo chiều hướng nhận chn thực thể cuộc đời hầu mong gip họ thm phần thức tm linh. Lắm khi cụ nghĩ, dẫu muốn gip họ m chưa tới thời điểm cho họ thức ngộ, c thể chỉ lm họ thm phiền. Hơn nữa, cn muốn lm điều g vẫn chỉ chạy theo thị dục, cụ m thầm tự nhủ hầu an lng chờ đợi.

    V dịp may đ đến, đồng thời cụ nhận ra nguyn nhn Hưng chăm chỉ đọc sch mấy tuần nay. Tuy nhin, cụ kin nhẫn theo di v lắng nghe những điều Hưng trnh by về nhận thức Phật học. Đ đi lần cụ định ln tiếng xen v nhưng cố dằn lng mỗi khi Hưng dồn khn thnh giả vo đường cng do dng những cu ni của mấy vị tổ thiền. Đồng rằng những cu ni ny l những cng n nh Phật, tự mang năng lực khuyến khch sự thức ngộ tm linh hoặc cng ph mn chắn v minh bao trm nhận thức con người, tuy nhin, luận đm cch ấy, chỉ những ai c tm thức đ đạt đến trnh độ no đ mới c thể chấp nhận hoặc nhận thức nổi. Hưng cn qu hăng hi v ngay thẳng, cn muốn soi sng cho những đầu c đ bị ảnh hưởng qu nặng nề chiều hướng hoặc lối nhn thế tục. Tham vọng chọc thủng mn tối v minh của con người dẫu sao cũng chỉ l thị dục, v như vậy, cn mang nặng hướng được coi l tốt lnh mong muốn khai tm người khc nn đ tự động tạo thnh phản ứng bất lợi; cn muốn lm điều thiện theo nhn quan thế tục th vẫn cn tạo điều c cho chnh mnh m thi. Hưng cố gắng cho trẻ sơ sinh ăn ti b thay v cho chng uống sữa, chẳng những hại cho chng m lại khốn khổ cho mnh do sự p dụng hon ton đối nghịch với cu Kinh Thnh, "Của thnh đừng cho ch." Hơn nữa, sự diễn giải qu ngắn gọn do dng những cng n nh Phật, phần no đ, đi hỏi người nghe phải c nghĩ v nhận thức tương đương với mnh. Hưng phạm ngay vo lỗi lầm căn bản t người để , v đ l người ta chỉ bị khốn khổ bởi lng thnh thực hiện những việc tốt lnh, v như vậy vẫn cn chạy theo thị dục.


    MBVN 03

    Thực ra, chỉ cần đi pht nhận thức, cu Kinh Thnh được nhắc lại từ cửa miệng Hưng by tỏ nỗi ăn năn minh chứng sự nhận thức đến với anh một cch bất ngờ sau khi đ tốn cng sức giải thch Phật học. Tuy nhin, thực tại lại ngược ngạo, no ai đạt được tiềm lực nhận thức ny khi chợt nghe cu ni mang đầy vẻ khinh bỉ của người đối diện. Mấy cng n nh Phật đi hỏi căn bản thức ngộ v nếu ai khng đủ trnh độ sẽ bị đảo lộn tm tư khng biết đường hướng no lm căn bản nhận định, khng thể hiểu điều g muốn được ni, v cng lắm chỉ khiến người nghe cho rằng diễn giả ni cuồng hoặc cố tnh le thin hạ. Đng ny, lời Kinh Thnh mới thoạt nghe đượm vẻ khinh thị đối với những tm hồn thiếu thức tm linh. Lời ni chẳng khc chi đem vũng bn khổng lồ tạt vo mặt người nghe, bắt phải cm miệng, v lại mang tnh chất coi kẻ đối diện thuộc thnh phần đốn mạt đng bị chặn họng khng cho php ni, d lời ni thuộc loại no!

    Cụ Ti đằng hắng hơi lớn cố tnh gy sự ch của mọi người, đoạn đứng dậy, từng bước chậm ri tiến đến đầu bn đối nghịch với vị tr Hưng đang ngồi.
    - Xin php anh em cho ti được chen vo cu chuyện. Giọng cụ nhẹ nhng đượm vẻ nghim trọng khiến ai nấy nhận ra c điều g bất thường.

    Đ nhiều lần ngồi đồng bn, no ai lạ g cụ Ti, tuy cao tuổi trời nhưng thi độ đối xử với những người hậu bối lun lun nh nhặn, thng cảm, nếu khng muốn ni l am hiểu. Trong những lc nhậu, đi khi người no đ v tnh ni cu qu trớn cụ cũng khng chấp nhất, chẳng bao giờ tỏ vẻ kh chịu m chỉ nhẹ nhng đưa ra lời giải thch mang nghĩa nhắc kho mọi người trnh sự xt xử khắt khe trong mọi trường hợp v đ chắc g những điều khng lọt tai lun lun mang tnh chất khng nn, ngược lại coi chừng chnh l cơ hội gip kẻ nghe mở rộng lng nhn lại chnh mnh. Nếu vội xt đon, tm tr sẽ bị đng khung, g b trước khi suy nghĩ, v như vậy, đương nhin đ bỏ lỡ cơ may thăng tiến nhận thức.

    Lc ny, một người gi cả được ai nấy tn trọng bao lu nay ln tiếng xin php lm họ ngỡ ngng dẫu hơi men đ đến lc c tc dụng ảnh hưởng.
    - Vng, vng, mời bc. Bc dng tiếng xin php lm chng chu kh ăn kh ni qu. Sỹ nh con nhanh miệng x xa, che lấp ci lng si động.
    - Ngồi nơi salng nghe anh em bn luận từ đầu tới giờ khiến ti muốn c đi kiến. Tuy nhin, lời thật bao giờ cũng mất lng; v vậy, nếu anh em chấp thuận cho ti ni với lng chn thnh v đồng thời chấp nhận nghe m khng xt đon hoặc chấp nhất, ti mới c thể ni được.
    - Thưa bc, khng sao, c bao giờ bc thấy tụi chu phản đối lời bc ni đu. Tnh chen ngang.
    - Anh Tnh, hy để ti ni hết, cụ Ti đưa tay ra hiệu. Ti nghĩ, những điều ti sắp ni c thể đụng chạm mạnh đến tự i của anh em mặc dầu ti khng c như thế. Thực ra, ti chỉ muốn ni ln nhận định của một người gi cả, c thể l lỗi thời, nn mong anh em rộng lng hiểu cho.
    - Vng, vng, mời bc; xưa nay chng chu hiểu bc qu m. Mời bc cứ ni, chu sẵn sng yu cầu mọi người ln n phạt nếu người no lộn xộn lm phiền đến bc.
    - Ngoại trừ ng Thung đy, v mới quen, ti khng được biết r mấy. Tuy nhin, qua những lần nghe chuyện với anh em, ti cảm phục ng c được một tm hồn cởi mở v sự nhận thức su xa từ những thực tại nhỏ nhặt đang xảy ra nơi cuộc đời. Cn những anh em khc, chẳng hạn anh Hưng, c bằng master, ở Việt Nam người ta gọi l cao học. Anh Sỹ, d con ci đng m sang đến đy vẫn cố gắng lấy được bằng chuyn nghiệp hai năm đại học. Anh Phủ, kỹ sư điện ngng nghnh để khoảng trống chiếc răng sất ngạo đời. Đại khi anh em thuộc vo thnh phần c học thức; ti c lời cảm phục. Tuy nhin, khi đề cập đến một tn ngưỡng tức l đụng vo chiều su tm hồn, tư tưởng của con người, do đ anh em cần phải dng những ngn từ nghim chỉnh để đm đạo hay trnh by. Những lời pht biểu của anh em dẫu rất chnh xc về sự nhận thức thức ngộ, nhưng đối với những tm hồn cn qu thiển cận bởi chưa thot khỏi vng v minh, những điều chnh đng pht xuất từ cửa miệng anh em đ trở nn qu ư cao ngạo. Anh em nn nhớ; đối với những trẻ em mới sinh được một hai thng chỉ nn cho chng ăn sữa chứ khng ai đem những mn ti b hay lng heo hoặc vịt nấu chao, dẫu tuyệt vời đối với mnh, m ngược lại chỉ lm khốn khổ bộ lng ruột những trẻ cn thơ ấu ấy. Thế nn, đối với những tm hồn non nớt nơi hnh trnh thức ngộ tm linh của đạo học, lời của cc anh đ bị coi như thiếu tư cch, đ tự hạ nhn phẩm v được coi như khng biết cht g về tn gio, v cn c thể bị hiểu lầm l cố bi bc kinh sch hoặc khinh khi những người c niềm tin. Đồng với anh em, nhất l anh Hưng, anh em khng bn về Phật gio m l Phật học.

    Chợt ngưng ni một cht v với giọng hơi đắn đo, cụ tiếp,
    - Ti xin lưu , như ti vừa nhận định, cc anh l những người tạm được gọi l c học. Tuy nhin, đối với những kẻ thiếu hiểu biết, hoặc những người ỷ lại trong phương diện suy tư, những g cc anh bn luận về Phật học sẽ rất dễ bị ngộ nhận thnh sự chỉ trch tn gio. Khi ấy, một tai hại đng tiếc sẽ ập tới, v việc nhỏ sẽ đẻ ra tri ni, lng chn thnh do nhận thức sng suốt về đạo học hướng dẫn nhưng thiếu khn ngoan về cch trnh by sẽ tạo nn mun vn phiền phức. Dẫu cụ Ti cố lấy giọng chậm ri v nhẹ nhng nhưng những lời ni pht xuất từ cửa miệng vẫn mang nặng vẻ nghim trọng khiến mọi người cảm thấy căng thẳng.
    - Ti khng dm phủ nhận sự hiểu biết su rộng của anh Hưng về Phật học, đồng thời ti cũng nhận r những điều anh trnh by lại qu xa lạ với Phật gio nếu khng muốn ni l hầu như chống nghịch với những sự thực hnh cng kiến hay nghi thức của cc tn gio. Trn thực tế, điều ny đng với mọi đạo học v tn gio, v đạo học trnh by về cảm nghiệm thức ngộ tm linh trong khi tn gio chỉ l tổ chức thế tục được kiến tạo do lng khao kht tm linh của đại đa số quần chng. Xt như thế, c thể ni, tn gio l tổ chức của con người mong muốn đạt tới sự thức ngộ hầu giải thot khỏi mng lưới v minh, mong chứng ngộ quyền lực siu hnh, quyền lực hiện hữu đang hoạt động nơi mnh. V như vậy, thực ra, nhiệm vụ của cc tn gio chnh thức phải l phương tiện dẫn dắt con người trn hnh trnh thức ngộ, giải thch cảm nghiệm thức ngộ, v trnh by diễn tiến thức ngộ.

    - Tuy nhin, ba nhiệm vụ chnh ny đ khng được bất cứ tn gio no nhắc tới m c chăng, chỉ được ni đến nơi đạo học. Cũng c thể thời điểm thức ngộ tm linh cho đại đa số quần chng chưa tới; cũng c thể v con người cn qu chm su trong v minh nn chưa muốn nhận biết về thức ngộ tm linh; cũng c thể những người c bổn phận, chức vị nơi tn gio chưa đạt đến sự thức ngộ tm linh nn vẫn cn bị luẩn quẩn nơi nghi thức, thực hnh theo l thuyết sng bi v chỉ lo pht triển tổ chức tn gio. C điều đng buồn, khng hiểu tại sao những bậc thức ngộ nơi cc tn gio lại cứ m thầm thinh lặng. Phỏng v họ biết dẫu ni ra cũng khng gip ch g bởi con người chưa đng được nghe, hoặc v những đầu c con người trong tổ chức tn gio cn qu non nớt khng đng họ đếm xỉa tới, hoặc v cảm nghiệm tm linh khi được pht biểu sẽ c vẻ nghịch lại với tn gio nn họ trnh trở nn cớ vấp phạm cho mọi người, hoặc họ khng muốn bị phiền h v sẽ bị đối diện với những lời kết n như sản phẩm từ những đầu c thiển cận v minh chăng.

    - Điều ti muốn ni l, cho dẫu sự hiểu biết cũng như thức ngộ của anh em đến thế no chăng nữa, nếu c g đng bn tới, xin anh em cứ nu ln v đy l quyền tối thượng của con người trong hnh trnh thức ngộ, nhưng xin anh em đặt vấn đề một cch thẳng thắn, nghim tc hơn. Ni th ni thế, nhưng nếu đứng vo vai tr của anh Hưng, chnh ti cũng khng biết phải ăn ni thế no cho c vẻ nghim tc hơn; chỉ một điều chắc chắn ti cảm nhận được, v đ l những pht biểu về thức ngộ tm linh nơi Phật học qua những lời dạy của cc tổ thiền nh Phật đ từ lu v cho đến by giờ vẫn đối nghịch với tất cả những sự thực hnh mọi tn gio, khng ring g Phật gio. C lẽ, cc nh thức ngộ tm linh cảm nghiệm r cảnh phiền toi của thực tại thị dục con người cũng như lời khn ngoan răn dạy nơi Kinh Thnh anh Hưng vừa nhắc tới nn chấp nhận m thầm nhn những cảnh nhố nhăng m đau lng thương xt v chuyện phải thế nn đnh chấp nhận như thế, chẳng cn cch no hơn. Thực ra lời Kinh Thnh v đặc biệt nơi Phc m, c những cu khinh thị đầu c u m chạy theo thế tục khng l g đến thực thể tm linh nơi mnh. Chẳng hạn nơi Matthu c ni, "Của thnh đừng cho ch, chu ngọc chớ quăng trước bầy heo kẻo chng dy đạp mất v quay lại chng cắn x cc ngươi" (Mt. 7:6). Phỏng cc vị thức ngộ của cc tn gio cũng v thế m đ trnh ln tiếng chăng!.. Ngừng một cht, cụ tiếp,
    - Ti rất thnh tm khi ni những lời ny với định c tnh cch bo động v đưa ra một cảnh gic thn tnh. Thiển nghĩ chẳng nn ni hơn v c ni g thm chăng nữa sẽ rờm tai anh em. C điều, ti mong anh em hiểu cho ti. Ti triệt để tn trọng tn ngưỡng d chưa bao giờ được vinh dự l một con chin Cng gio hoặc l một Phật tử. Ti vốn chỉ dm l một kẻ hết lng trn qu tổ tin, ng b cha mẹ mnh thi. Ci vốn học v hiểu biết của ti về đạo gio cn qu km cỏi. Nếu cho rằng ti c được cht khả năng no th hon ton ở lnh vực tm ti v tự nhận thức m thi. Thực ra, nếu c thể ni thm cho r, th xin thưa với anh em, suốt từ sau 1954 đến 1975, ti chưa hề c một cơ hội no bn mảng đến khun vin Việt Nam Quốc Tự. V ti đ thực sự thấm tha buồn khi quan st việc người ta rước Phật xuống đường! Ti đ sống qua những thời buổi ấy, cn đang sống by giờ v sẽ từ gi ci đời trong phiền muộn nơi ci lốt "muỗi người" nhỏ b khốn khổ của mnh.

    Cụ Ti ni một hơi, giọng chất chứa nỗi buồn man mc v thi độ tỏ r lng chn tnh. Ra hiệu cho Hưng lấy ly tr nơi chiếc bn nhỏ, cụ chiu ngụm tr cho thấm giọng đoạn tiếp,
    - Anh em cũng cần phải để nếu khng muốn ni l học khn từ những thi độ nng nổi đ của đa số quần chng. Thử hỏi, nơi thế giới Phật gio rộng lớn ấy được bao nhiu người thực hnh tu chứng? Lẽ đương nhin, đu phải cứ tu chứng l đ thức ngộ; hơn nữa, ci b quyền hnh, tham vọng thế tục mang quyền lực ảnh hưởng con người kinh khủng như thế no, chnh n được gọi l quỷ như trong Kinh Thnh đề cập tới; thế nn trong số t ỏi những người tu chứng ấy, được bao nhiu người thực sự thức ngộ! Thực trạng ny chứng tỏ r rng sự thiếu hiểu biết tm linh hoặc tham vọng thế tục vẫn cn trn lấp, che mờ tm tr con người. Cũng c thể con người khng được sinh ra để đạt tới thức ngộ v cn bị nghiệp chướng nặng nề lm m qung, ni theo ngn từ nh Phật tức l v minh.

    - Nhưng ti biết chắc chắn một điều đ l hầu hết mọi người chưa được nghe rao giảng, hoặc được trnh by r rng phải thực hnh tu chứng như thế no. Sự thức ngộ khng phải chỉ lng thnh m c thể đạt tới nhưng cần thực tập. Sự thực tập tu chứng cũng giống như ăn uống, suy nghĩ; khng ai c thể ăn dm, uống dm cho mnh th cũng khng ai c thể suy nghĩ, nhận thức, v thực hnh tu chứng cho mnh. Khng thế m đức Đạt Ma sư tổ cũng như Lục Tổ Huệ Năng của nh Phật đ c những lời nghe đến chi tai m anh Hưng nhắc đi nhắc lại v đ chỉ l kiến tnh m thi. Tuy nhin, thực tế chứng minh, ngay như trường hợp của ti, đ bao năm di kiếm tm cho r hơn, sch vở khng ni, những vị thuyết giảng Phật học cũng chỉ giải nghĩa, hoặc phn tch kinh sch theo phương diện nhận thức chứ khng ai ni ln được phương php thực tiễn no để định tm trong hnh trnh tu chứng. C thực nghiệm tu chứng mới thấy, nếu khng biết cch định tm, con đường tu chứng sẽ trở thnh v tưởng. Người ta rao giảng về thiền, về cc thế ngồi, về những mức độ đạt tới nhưng chng chỉ l sự thực hnh bn ngoi kh p dụng cho đại đa số quần chng. Hơn nữa, ngồi kiết gi, hoa mai m tr c, tm tưởng suy nghĩ lung tung th hon ton v ch v cn c thể trở nn phương tiện cho những kẻ lười lĩnh dng cửa Phật để ăn bm, tiu ph cuộc đời một cch nhm chn; chnh tm trạng ny tạo nơi lng dạ kẻ lạm dụng mặc cảm tội lỗi. Bởi thế, Ngũ Tổ Hong Nhẫn đ ni rằng "Khng biết tự tm th học đạo v ch." (GLTH; Tr.170). Đy cũng l l do tại sao Lục Tổ Huệ Năng khuyến co mọi người phải chấp lao tc vụ v thực hnh thiền trong cng việc. Ngi ni, "Ngồi xếp bằng trn m như ci cy kh, th c ch g đu!" (GLTH; Tr.183)… Cụ Ti ngừng ni, chiu ngụm tr.

    - Thưa bc, Ty con vội ln tiếng, Kinh Thnh l lời Cha sao lc ny bc ni khinh thị con người?
    - Bn luận khơi khơi về đạo học th dễ m đu được ch chi! Vo thời điểm no đ, nếu c ai trong anh em thăng tiến được một cht nơi hnh trnh tm linh, anh em sẽ thấy r, sự thức ngộ tm linh nung đốt con người tạo thnh lng xt thương đối với những ai cn đang m mi nơi ci v minh. Chẳng thế m đức Thch Ca đ v sự m muội của v minh giống như cảnh chy nh, con người cần gấp rt thot ra ư! Tuy nhin, nếu xt theo phương diện gio ha, chớ dạy người ta những điều thi qu hay bất cập. Nếu dạy người những điều thi qu thời người khng thể tới nơi; nếu dạy người những điều bất cập thời người học khng tiến bộ. Do đ, anh em nn nhớ một điều, vo thời điểm chập chững hnh trnh thức ngộ, nếu ai muốn chỉ dạy cho người, cần phải được nhập tm chữ "Trung" trong Dịch học. Nếu chỉ dạy chẳng đng thời, người thụ gio chẳng vui nghe, m cng dạy cũng uổng (Chu Dịch I; Tr.153). Đng khc, xt về phương diện tm linh, những lời ni pht xuất từ cảm nghiệm như chọc vo lỗ tai kẻ nghe v họ khng thực nghiệm tu chứng nn khng thể cảm nhận được. Thế nn chẳng trước th sau, kẻ no hung hăng theo kiểu ngựa non hu đ, khoe giấm khoe mẽ, chưa dầy cng tu chứng đ vội tm danh vọng thế tục qua danh hiệu tm linh, chẳng sớm th chầy sẽ bị lộ tẩy tham sn si. Nhn tiện, ti cũng xin c lời khuyn anh em v đ l khi bn luận về đạo học, chẳng nn dng tự i tn gio, bởi như anh em nhận thấy nơi thực tại, dẫu tn gio bắt nguồn từ lng kht khao tm linh của con người nhưng tn gio chỉ l tổ chức nhn sinh dng lề luật, nghi thức phần no đ gip những tm hồn cn qu thấp km xa lnh lối sống nguy hại cho hnh trnh thăng tiến tm linh.
    Ngưng lại đi pht dường như cố để người nghe c cơ hội thấm nhuần lời mnh ni, cụ Ti tiếp,
    - Anh em c thể nhận thấy r rng nơi thực tế, dẫu tn gio l tổ chức pht sinh từ lng khao kht tm linh, nhưng v p dụng cho đại đa số quần chng thiếu thực hnh tu chứng, thiếu cơ hội hiểu biết về tm linh, v thường khng muốn bị bận tm do phải đối diện với nhu cầu sinh sống phiền toi hằng ngy nn thường ỷ lại vo những lời giảng giải của những người c cuộc sống tu tr. Họ cứ tưởng rằng nghe giảng giải l biết hết mọi sự, hoặc hiểu được điều g l mnh đ đạt tới để rồi yn tm đ được giải thot hoặc cứu độ. Họ c kinh nghiệm sống, nhưng khng bao giờ thử đặt vấn đề đem những kinh nghiệm ấy p dụng vo hnh trnh thăng tiến tm linh. Ti muốn nu ln một th dụ điển hnh, anh em đang uống bia, phỏng ai c thể dng bất cứ ngn từ hay thi độ hoặc cch no để giải thch, trnh by cho ti cảm nhận được thực sự bia ngon ngọt như thế no khng? Ai cũng hiểu r, dầu với bất cứ phương cch no v cho d thời gian ko di bao lu, một người trong anh em cố gắng đem hết khả năng giải thch hoặc minh chứng th ti cũng khng bao giờ c thể cảm nhận được miếng bia thực sự ra sao. Chỉ c một cch nhanh nhất, hon hảo nhất v thật đơn giản, đ l ti nng ly bia uống một ngụm. Ngoi ra, sự cảm nhận về ngụm bia nơi miệng của ti khng thể giống với cảm nhận của bất cứ anh em no, v chỉ mnh ti biết. Tương tự như thế, sự thức ngộ trong hnh trnh tu chứng cũng vậy; khng ai c thể truyền đạt cho ai, v dẫu c ai đ, với thiện , cng cố gắng diễn giải th cũng chẳng thể no gip ch được cho ai m chỉ cng khng ni ln được g. Ti e rằng cng ni chỉ cng lm hại người mnh muốn gip m thi v cng giải thch lại cng khiến người nghe lạc vo vng phiền toi của niệm. Bởi vậy, nếu nhận xt kỹ cng, đạo học chnh l thức dẫn tới minh triết cho người tu chứng. Ai chưa bao giờ thực hnh tu chứng sẽ khng thể no cảm nghiệm được những cng n nh Phật, khng thể no hiểu được kinh điển v cng n chỉ l phương tiện cc tổ thiền dng để gip mn sinh thức ngộ, v kinh điển gii by cảm nghiệm tu chứng.

    Dẫu thi độ khng biểu lộ cht no mệt mỏi, cụ Ti lại ngưng ni, nhẹ khp đi mắt chừng vi giy, hnh như c điều g khiến cụ suy nghĩ lung lắm, đoạn ln tiếng.
    - Như vậy, muốn thăng tiến tm linh tất nhin phải tự mnh tu chứng v khng tu chứng sẽ khng cảm nghiệm được bất cứ điều g. Tu chứng l phương php thực hnh cảm nghiệm tm linh cũng giống như hnh động của con người khi đi ngồi trước cc mn ăn. Cho d thực phẩm gồm cc mn sơn ho hải vị sắp xếp đầy bn m cứ ngồi nghe người no đ giảng thuyết mn ny bổ bo ra sao; mn kia gip con t con vị thế no; mn khc lm đẹp da, sng mắt, bổ c, bổ thận, th dẫu nghe đến cả giờ, thực khch vẫn hon đi. Nếu kin nhẫn ngồi nghe cả ngy, c lẽ những mn ăn tuyệt vời đ chỉ cn nước đổ đi trong khi dạ dầy rỗng khng. Nghe giảng thuyết cũng vậy, nếu khng thực hnh tu chứng th dẫu cầu khẩn cch mấy cũng như khng. Bởi vậy, v khng tu chứng nn khng c cảm nghiệm, nhưng con người tự bẩm sinh lun lun thấy thao thức điều g đ hầu khỏa lấp nỗi kht vọng tm linh nn dễ chiều theo nghi thức cng kiến, thờ phượng được gọi bằng ngn từ đẹp đẽ thực hnh tn gio. Lẽ đương nhin, muốn c được mối an tm do sự thực hnh tn gio bằng những nghi thức lễ bi, thờ phượng, con người tm cch ku gọi sao cho c đng kẻ khc lm theo mnh như một trắc nghiệm tm l chứng tỏ mnh đ thực hiện được g để thỏa mn nỗi kht vọng tiềm ẩn ny. Thế rồi, thay v pht triển tm linh, tham vọng pht triển tổ chức tn gio đem lại danh vọng, uy quyền, v mun sự km theo nếu c, v như vậy, thực thể khao kht tm linh nơi con người đ bị lạm dụng để cổ v cho những tổ chức tn gio đề cao ước muốn giải thot, cứu độ. C điều, nếu ai dm suy nghĩ v đặt lại vấn đề sẽ nhận biết r rng, cng ước muốn giải thot hoặc cứu độ th cng nhận ra chắc chắn chưa được giải thot, chưa được cứu độ. Kinh nghiệm sống ai khng biết, cn ước muốn khỏi đi bụng th vẫn đi. Thực ra, con người biết kiếm thực phẩm để ăn khi đi m vẫn chỉ ước muốn được giải thot thay v thực hiện hnh trnh sao cho đạt tới giải thot. Nhưng khổ nỗi, nếu đ khng biết hnh trnh thực hiện cch no, khng biết phương thức thực tiễn no để thăng tiến tm linh, sao con người dm yn lng tin tưởng theo đuổi! Những l thuyết, những sự giảng giải kinh điển khng đem lại chứng minh cụ thể điều kinh điển ghi chp. Cũng c thể rằng thực thể tm linh được ni đến trong kinh điển qu cao, cần cảm nghiệm tu chứng lu ngy do đ kh ai lĩnh hội được. Cũng c thể chnh diễn giả chưa đạt tới mức độ tm linh th cho d luận l hay giải thch cch mấy vẫn chỉ lm đnh trệ trnh độ minh triết kẻ nghe. Đ nhiều lần ti suy nghĩ, đu phải v l kinh sch ghi chp những sự lạ lng xảy đến như những minh chứng hng hồn cho lời giảng của những vị sng lập cc xu hướng tm linh; m thường khi đọc đến những dữ kiện được ghi chp ny, chng ta đều c cảm nghĩ đ l những chuyện khng tưởng hay php lạ. Thế nn, cho rằng những sự kiện đ khng tưởng hay php lạ th con người đ tự hạn chế định thử nơi mnh. Lẽ đương nhin, hạn chế định thử tức l hạn chế sự thực hnh tu chứng. Ngừng lại một cht, cụ Ti kết thc, đến đy, ti nghĩ, ti khng cn g để by tỏ với anh em v đ ni hết những điều cần phải ni. Ti nhấn mạnh, đy l những điều ti phải ni v đ lỡ được nghe lm anh em bn luận m thi. Xin cảm ơn anh em đ cho ti cơ hội tỏ r nỗi lng của mnh.

    Ni đoạn, cụ Ti xoay người định dời gt. Tnh chợt ln tiếng,
    - Thưa bc, thế kinh sch nh Phật ni về những g sao m nhiều đến thế, v mục đch của đạo học l g nếu khng phải l cứu nhn độ thế?
    - Ti nghĩ anh em bn luận đ hơi lu v by giờ đ l chn giờ, cụ đưa tay nhn đồng hồ. Suốt từ năm giờ chiều, vị chi bốn tiếng bn luận, hơn nữa, anh em cn phải ăn uống, c lẽ để lc khc ti trả lời v cu hỏi bao hm qu rộng ri.
    - Xin bc ni mấy pht nữa thi, được nghe thm cht no hay cht ấy. Sỹ nh con miệng năn nỉ lằng nhằng, kiểu của hắn xưa nay vẫn vậy, trong khi đứng dậy ko ghế. Mời bc ngồi cho đỡ mỏi, ban thm cho chng chu đi lời.

    Cn g phấn khởi hơn gặp được người muốn tm hiểu về tm linh, cụ Ti cảm thấy nguồn hứng khởi chợt tro dng. Bao ngy thng chồng chất kiếm tm v chim nghiệm về đạo học, cụ đ đối diện với nỗi c độc tuyệt đối; đ l kh c người muốn nghe v c thể chấp nhận được những suy tư tm linh. Giờ đy, t nhất những lời ni trung thực từ cảm nghiệm tm linh của những vị tổ thiền, hoặc từ những cng n nh Phật được Hưng nhắc lại như khởi điểm đ lm đảo lộn lối nhn nhị nguyn tạo thnh khao kht muốn tm hiểu, một cch no đ, mở rộng tm hồn mấy người anh em ny hầu chấp nhận mọi kha cạnh của vấn đề được nhận định thay v thin kiến.
    - Nếu anh em muốn nghe, ni thm vi pht nữa cũng chẳng nguy hại g. C điều, anh em nn để tm, vị thm trầm nhất của Phật học l tinh thần v trụ, v tướng, khng lệ thuộc bất cứ một học thuyết no, khng đưa ra con đường no cho bất cứ ai; m mỗi người phải tự mnh tm ra đồng thời nhận thức được chnh mnh trong hnh trnh kiến tnh. Kinh Phật c cu, "Nhược dĩ sắc kiến ng, dĩ m thanh cầu ng, thị nhn hnh t đạo, bất đắc kiến như lai" (Chu Dịch I; Tr.414). Cu ny c nghĩa, Phật l ở bản tm, v thanh sắc. Thế nn, nếu ai lấy thanh m hoặc hnh sắc m cầu ta ở thanh m hay hnh sắc, người ấy đ đi vo t đạo, khng đạt tới niết bn. Phật học ku gọi kẻ muốn tm giải thot chẳng nn ỷ lại vo một uy lực no. Phật học khng phải l l thuyết an ủi con người hay phương thức để cho những tm hồn n lệ cầu cạnh thần quyền. Chnh đức Thch Ca thường căn dặn những kẻ theo ngi khng nn tin vo lời ngi ni m phải tự mnh xt lại đến lc no nhận thấy những lời ấy c gi trị chắc chắn, p dụng được trong hnh trnh tu chứng th mới nn theo (PHTH; Tr.56). Như vậy, mỗi người phải tự mnh kiến tnh chứ khng ai c thể gip ai hoặc kiến tnh dm cho ai. Đng khc, Phật học mục đch ph trừ kiến chấp nn c thể ni Phật học l một đạo học khng học thuyết, khng gio điều, ngược lại khai phng, giải phng tất cả những g con người sng bi. C thể ni, đy l nguyn tắc độc nhất v cũng l điểm cao thm nhất của Phật học. Chả thế m chnh đức Thch Ca đ ni: "Ta thuyết php trong khoảng bốn mươi chn năm m chưa từng ni một lời. Ta từ đm được chnh gic, đến đm nhập niết bn, trong khoảng đ ta chưa từng ni một chữ" (PHTH; Tr.73). Thế nn, vấn đề quan trọng nhất của Phật học chỉ l chuyển m khải ngộ. Hơn nữa, khng phải chuyển m khải ngộ l mọi sự được giải quyết m phải sống điều mnh đ thức ngộ được. Như vậy, Phật học cũng như cc đạo học khng phải l l thuyết cho người ta hiểu biết m thi nhưng l một đạo sống. Trong cuốn Phật Học Tinh Hoa, cụ Thu Giang Nguyễn Duy Cần c ghi lại cu truyện được trch từ Truyền Đăng Lục như sau: "Xưa Hương Nham ha thượng tham học ở Bch Trượng thiền sư. ng l bậc tuyệt thế thng minh, khn ngoan lanh lợi, phm hỏi một, trả lời đến mười. Thế m khi tổ Huy Sơn hỏi: "Lc cha mẹ chưa sinh ta ra, vậy thử ni một cu xem sao!" th tm thần mờ mệt, chả cn biết trả lời ra sao được cả. ng ta bn trở về liu, đem những sch vở bnh nhật đ học m đọc lại từ đầu ch cuối, mong tm cho kỳ được cu trả lời, nhưng rốt cuộc cũng chẳng tm thấy. Chn nản, liền than: "Ton l bnh vẽ, chẳng thể no n v!" Nhiều lần ng khất cầu tổ Huy Sơn ni ra cho biết th tổ Huy Sơn trả lời, "Nếu ta ni ra cho ngươi biết, nhất định sau nầy ngươi sẽ mắng ta v đ chỉ l ci biết của ta, khng ăn thua g đến ngươi cả!" Hương Nham tức mnh, đem tất cả kinh luận ra m đốt hết rồi qua đất Nam Dương học nơi Tuệ Trung quốc sư. ng khổ cng nghin cứu lu ngy chầy thng. Một hm đi pht cỏ chặt cy, v liệng một miếng miểng snh đnh trng vo thn cy trc, liền nghe pht ra một tiếng ngn lạ lng, bỗng liền khot nhin tỉnh ngộ! ng vội vng trở về tắm gội, đốt hương ngưỡng vọng về nơi tổ Huy Sơn m rằng: "Ha thượng thật l bậc Đại Từ, n ngi cn hơn cha mẹ sinh thnh. Nếu lc trước v ta m ngi ni ra th ngy nay sao ta được sự đắc ngộ ny!" (PHTH; Tr.80-81).
    - Thưa bc, ha thượng Hương Nham đắc ngộ thế no? Ty con chợt cắt ngang ln tiếng hỏi.
    - Kể ra anh cũng nng sốt về đường thức ngộ! Cụ Ti nhẹ nhng ni. Ha thượng Hương Nham đ l người thng thi, hỏi một c thể trả lời tới mười, điều ny c nghĩa sức học của ngi qu rộng ri m cn phải đọc lại tất cả cc kinh sch v vẫn phải than ln chỉ l bnh vẽ, cuối cng đem đốt hết, lại dời qua đất Nam Dương học thm nơi Tuệ Trung quốc sư cũng chỉ v một cu hỏi coi bộ tầm thường của tổ thiền Huy Sơn. Thế nn, cu trả lời về việc ha thượng Hương Nham đắc ngộ thế no đnh phải giống như cu trả lời của tổ thiền Huy Sơn m thi. Ti c trả lời cũng chẳng ơn ch g cho cc anh.
    - Thưa bc, bc đu phải l tổ thiền Huy Sơn! Sỹ nh con đế v.
    - Anh Sỹ, dẫu v tnh ni như vậy cũng đủ chứng tỏ anh đ coi thường ti qu lắm. Hy để ti ni hết, cụ Ti đưa tay lm hiệu ngăn Sỹ nh con đang định giải thch. Ti hiểu tấm lng chn thnh của anh em nng sốt muốn hiểu biết nhưng phải đặt vấn đề như thế hy vọng anh em để hơn về lời ăn tiếng ni lin hệ tới địa hạt tm linh, hay đạo học. C lẽ anh em chưa biết cu trả lời của lục tổ Huệ Năng khi quan biệt gi Giang Chu tỏ ra ngạc nhin v ngi nhờ ng ta viết bi kệ ln vch tường, "Học đạo V Thượng Bồ Đề chớ nn khinh thường kẻ sơ học. Người thấp c thể c tr cao; người cao c thể khng c tr cao" (GLTH; Tr.168). Thử hỏi, đu phải phi l m cu truyện được ghi lại cho đầy sch; cũng đu phải ti cố tnh kể lại cu truyện đắc ngộ của ha thượng Hương Nham lm uổng ph thời giờ của anh em. Thử đặt vấn đề, sau khi nghe cu truyện, anh em đ c được mấy pht suy nghĩ m vội hỏi. Thử so snh thời giờ của anh em dnh cho sự suy nghĩ về cu truyện với thời gian ha thượng Hương Nham đọc lại sch vở, năn nỉ xin tổ thiền Huy Sơn trả lời, cộng thm thời gian học cng Tuệ Trung quốc sư, anh em chưa kịp để suy nghĩ th đ muốn biết cu trả lời, no được ch chi. Ti đề nghị, anh em nn học nơi ha thượng Hương Nham, trước tin cần tự suy nghĩ, tm hiểu. Anh em khng để cu ni của Hương Nham cho rằng n nghĩa của tổ thiền Huy Sơn tạo nn bởi khng trả lời cn hơn cha mẹ sinh thnh sao! Sự thức ngộ giải thot con người khỏi vng lun hồi của v minh mang gi trị tm linh lớn lao biết chừng no, lm sao chỉ nghe giải thch m c thể đạt tới được. Anh Hưng ni rất đng, khng ai c thể thức ngộ cho mnh. Đắc ngộ cần tu chứng đồng thời khng ai c thể dẫn dắt. Ai tu chứng, người ấy biết, chẳng thể giải thch cũng như học từ kẻ khc.
    - Thưa bc, chu muốn biết... nhưng... tu chứng... l g v phương php... phải thế no? Phủ ngập ngừng hỏi v e ngại bị khiển trch như Sỹ nh con.
    - Thực ra tu chứng chỉ l tự mnh nghiệm xt. Tất nhin, muốn nghiệm xt đng đắn lại cần nhiều điều kiện để chuẩn bị tm tr m anh Hưng đ ni lc ny. Hơn nữa, một trong những điều kiện chuẩn bị cho sự thực hnh tu chứng chnh l minh triết. Đồng thời sự minh triết đi hỏi một tm hồn rộng mở để nhận thức thực thể sự vật v sự việc cũng như niệm, quan niệm. Thế nn, ti nghĩ, trước hết, anh em cần nhận thức về cc khuynh hướng đạo học sau đ nếu ai thực sự muốn thực nghiệm tu chứng ti sẵn sng ni cho biết cũng khng muộn.
    - Thưa bc, nếu như thế sao một người c thể đạt tới trnh độ tu chứng đng đắn bởi đu c cch no hiểu biết hết những kinh sch để kiện ton sự minh triết.
    - Ti hiểu anh muốn ni g. Dẫu kinh sch nh Phật qu nhiều v ngay đến tn của những tng phi nh Phật trn thế giới cũng kh c thể nhận định cho chnh xc như thnh quả của đặc tnh ph chấp, con đẻ của tinh thần v trụ, v tướng, khng lệ thuộc bất cứ học thuyết hoặc đường lối no; tuy nhin, minh triết đu phải l gom gp kiến thức của người khc để rồi nhắc đi nhắc lại như những phương chm m chnh l kết quả của chứng nghiệm, suy tư, nhận định, của một tm hồn hon ton tự do khng bị lệ thuộc hoặc m ảnh bởi bất cứ chiều hướng no. Ti thử nu một cu hỏi để anh em trả lời, chẳng hạn bia tốt hay xấu?
    Mọi người ngồi im lm. Những ci mỏ xưa nay vung vt to lao thế m giờ ny đnh chịu im tịt đối với một cu hỏi qu ư bnh thường khiến cụ Ti cảm thấy hơi ngỡ ngng.
    - Tại sao khng ai trả lời. Cụ khng dng tiếng anh em mang tnh chất thn thiện vẫn thường dng m chỉ hỏi với tiếng "ai" ngắn gọn, phần no chứng tỏ sự kh chịu do thi độ lỳ bởi e sợ sai lầm của những kẻ quen thi lắm miệng.
    - Thưa bc, ni rằng tốt cũng khng đng, m ni rằng xấu cũng khng đng nn tụi chu đu biết ni g!
    - Như vậy phỏng cu trả lời đng nhất l khng trả lời? Ti ni thế anh em nghĩ sao?
    - Thưa bc, khng trả lời chưa chắc đ đng m trả lời cũng chưa chắc đ đng. Chu nghĩ, khng trả lời được th đng hơn. Chu muốn ni đng hơn chứ cũng chưa chắc đ đng. Sỹ nh con b qu ni đại.
    - Đy l nguyn tắc của minh triết v suy niệm đến tận cng của thực thể sự vật cũng như sự việc chứ khng lệ thuộc vo luật lệ, quan niệm no hay chiều hướng, thch no. C điều, bằng ny anh em ở đy, ai cũng mới chỉ dm nghĩ tới phải trả lời thế no cho đng, cho hợp, chứ chưa ai dm nghĩ tới thực thể của cu hỏi. Nếu để hoặc nhớ lại, con người thường khng để tới nguyn nhn v thực thể của vấn đề được đặt ra m thường chỉ lo sao giải quyết một cch v thức miễn sao cho giống người khc hoặc trnh bị ch trch m thi. By giờ chng ta thử trả lời cu hỏi v sau đ đặt vấn đề về cu hỏi. Đối với một người khng uống bia, bia tốt hay xấu?
    - Thưa bc, c thể ni xấu v nếu uống vo họ sẽ bị say.
    - Tại sao say bị coi l xấu? V nếu như vậy, chỉ người say c thể bị coi l xấu chứ sao c thể ni bia xấu! Anh em thấy r, ảnh hưởng của bia, ni cch khc, sự p dụng của bia vo mi trường no đ tạo nn điều được con người cho l xấu hay tốt chứ khng phải tự bia xấu hay tốt. Bởi vậy, cho d trả lời bia xấu hay tốt cũng đều khng đng với bản chất của bia xt theo lối nhn lun l. Nếu ni rằng bia vừa xấu cũng vừa tốt lại cng khng chnh xc v đồng thời nếu bảo khng tốt khng xấu th sẽ bị mọi người cho l ngớ ngẩn; do xưa nay hầu như mọi người đều qu quen v lệ thuộc quan niệm định gi x hội về sự vật hay sự việc hoặc thế nọ hoặc thế kia cho c nhận định được gọi l r rng chứ thực sự khng g r rng m chỉ luẩn quẩn theo thch hay khng, hoặc lợi hại thế no. Thử đặt vấn đề, nếu đem một chai bia chia đều cho năm người uống đoạn yu cầu từng người ni ln cảm vị phần bia họ đ uống, chắc chắn khng ai ni giống ai v c thể kết luận ai cũng giải thch sai lạc đối với cảm vị của bốn người khc. Thực ra, nếu đem mẫu mực sai hoặc đng, ai cũng sai v ai cũng đng v đng với chnh họ, m sai v khng c ci miệng chứng nghiệm được cảm vị như của người khc. Tương tự như thế, nếu xt theo lối nhn tm linh, chn l chỉ c một dầu diễn tả bằng cch no, chẳng khc g cng một chất bia m năm người diễn tả năm cảm vị khc nhau ấy l chưa ni tới đối nghịch. Tạm thng qua niệm xấu tốt, by giờ thử xt tnh chất cu hỏi, c ai trong anh em đưa ra nhận định g về cu hỏi "bia tốt hay xấu" khng?
    - Thưa bc, cứ theo như bc vừa dẫn giải th cu hỏi tự n phi l nn đu cần phải ni g. Sỹ nh con nhanh miệng.
    - Tại sao anh lại theo sự suy tư của ti vừa dẫn giải? Tại sao khng sử dụng tr c của anh lm mẫu mực đưa ra nhận định? Chng ta xưa nay vẫn thế, đ qu quen với lối cố gắng nhồi nht vo đầu c mnh những g người khc tuyn truyền theo quan điểm hạn hẹp c nhn v cho rằng đ l học thức trong khi chnh mnh khng dm tự sử dụng tm tr để suy tư bởi e sợ sai lầm. Ti thử hỏi anh em, nếu ti đưa ra nhận định bia Heineken cay hơn ớt, c ai dựa trn đ để lm mẫu mực suy tư khng? Đồng , anh em tn trọng ti nhưng khng phải bất cứ quan điểm no ti đề xướng cũng c thể ph hợp với anh em. Trung thực nhận xt, điều đng nhất phải ni l những g ti c thể chấp nhận nhiều khi đối nghịch với quan điểm của hầu hết anh em ở đy. N đng, n hay, chỉ với ti m thi chứ chưa chắc g đem lại lợi ch cho bất cứ ai. Khng ai c thể suy tư cũng như chứng ngộ thay cho mnh m phải tự mnh. Như ti đ ni, chn l l chn l d dưới hnh thức no hoặc được diễn giải bằng cch no. Chn l khng l độc quyền của ai cũng khng thể chứa đựng trong một hệ thống hay gio phi no hữu hạn, nn cũng khng bị chứa đựng trong một danh từ hạn định hoặc cảm nghiệm c nhn. Thế nn, sự nhận định về gi trị của cu hỏi sẽ ty thuộc suy tư của mỗi anh em. Ti muốn nhắc lại, c ai đưa ra được nhận định no về cu hỏi "bia tốt hay xấu" khng?
    - Theo chu, Ty con ln tiếng, bc vừa khai ph một lối nhn rộng mở cần nhiều suy tư hầu đạt tới sự p dụng nơi nhận định thực thể sự vật v sự việc. Tuy nhin, v cảm thấy cần c thời gian ứng dụng nn hiện giờ chu chưa thể no c được nhận định g về cu hỏi.
    - Ti c lời khen anh Ty v đ dm nhận định v ni ln thực trạng nơi lng mnh. Đy cũng l điểm căn bản cho con người bước vo trạng thi minh triết. Ti dm khẳng định với anh em, kẻ no khng nhận biết chnh mnh, khng dm chấp nhận thực trạng nơi lng mnh, sẽ khng bao giờ c thể chạm đến cửa ng minh triết. Biết mnh thế no, bết bt ra sao, tốt lnh tới mực độ cao thấp bao nhiu nếu so snh với ước mơ của mnh, mới c được căn bản đi vo suy tư cảm nghiệm thực thể sự vật v sự việc. Ngược lại, kẻ no hiểu mun vn l thuyết thnh thiện, tốt lnh, khoa học, tm l, lun l, ngay cả đến những l thuyết đạo học. m chưa nhận biết chnh bản thn họ th mun đời vẫn v minh. Đọc kinh sch, cc đạo học khng bắt ai phải tin tưởng một cch m qung, chỉ tn gio thực hnh như thế để cổ v tổ chức của con người. Cc lời kinh Phật thường nhấn mạnh đến chữ "kiến" hơn l chữ tin. Phật học bi bc lng tn ngưỡng trước khi đ tự mnh nhận thấy v kinh nghiệm, bởi vậy mới ni "Kiến tnh thnh Phật" (PHTH; Tr.66). Xt như thế, muốn kiến tnh phải nhận biết chnh mnh v tnh l tnh Phật, tm Phật, ở ngay nơi mnh. Thế nn, người no muốn cảm nghiệm Phật học cần điều kiện mở rộng tm hồn, tr no, hầu c thể thng cảm với tất cả mọi gio l khc. Sự cố chấp hẹp hi v cuồng tn chnh l bức tường thnh kin vững ngăn cản sự thức ngộ tm linh. Chn l hiện ln mun mặt, mọi nơi, mọi chốn trong khi mỗi học thuyết chỉ diễn tả theo từng trnh độ, căn cơ cảm nghiệm của tc giả trước tc m thi. Như vậy, điểm căn bản của Phật học l ph kiến chấp, khng lệ thuộc bất cứ g, v đy l nghĩa cu ni nghịch l trong Lm Tế Lục, "Gặp Phật giết Phật, gặp tổ giết tổ". Bởi đ, kinh Vin Gic c đoạn ni, "Kinh điển của Phật ni như ngn tay chỉ mặt trăng. Nếu thấy được mặt trăng th r biết ngn tay chỉ kia khng phải cứu knh, khng phải l mặt trăng. Tất cả những ngn thuyết của Như Lai để mở by cho Bồ tt cũng lại như thế. Đy gọi l Bồ tt đ nhập địa ty thuận tnh Vin Gic" (KVG; Tr.117). Thực chất của trạng thi chuyển m khải ngộ nơi Phật học tức l thot ra khỏi mọi lề lối suy tư thng thường để c nhận thức vượt hẳn ln, chnh xc như sự vật, vượt ln trn l tr v những sự nhận thức thng thường, thot khỏi mọi thnh kiến thế nhn để nhận thực dữ kiện. C thể ni đy l lối nhận thức ngược lại với tất cả mọi nhận thức thng thường đối với sự vật. Người học Phật cần c một tinh thần tự do, khng nn lệ thuộc bất cứ kinh sch hay gio l no v sự giải thot được gic ngộ nơi mnh chứ khng phải n huệ của bất cứ đấng no hoặc ai ban cho. Thế nn, muốn hiểu Phật học phải c c hoi nghi. Chẳng nn tin theo những kẻ l luận hay, biện bc giỏi, cũng khng để l lẽ ho nhong coi như hữu l cm dỗ hay lừa bịp. Chỉ khi no tự mnh biết r việc g thuận, tốt với mnh v c thể chấp nhận được th hy nhận v theo. Nếu khng, hy từ chối v xa lnh dẫu n thế no! (PHTH; Tr.56). Đng khc, nh tư tưởng cao nhất khng phải l kẻ ru ngủ chng ta với những thnh kiến mun đời, m l những kẻ lm cho ta tỉnh ngộ, vạch ra cho ta thấy những điều mới lạ nơi những sự vật rất tầm thường trong đời sống m hằng ngy bị thi quen lm cho ta khng để . V thế, muốn tỉnh thức, muốn nhận ra điều mới lạ, phải c c hoi nghi. Cc đạo học đi hỏi nghiệm chứng nn rất cần sự hoi nghi. Hoi nghi l để cho ta nhn bằng cặp mắt của ta, nghe theo lỗ tai của ta chứ khng nhn theo cặp mắt kẻ khc, nghe theo lỗ tai người khc. (PHTH; Tr.58). Hơn nữa, chỉ những người thức ngộ mới cảm nhận được điều ny, đ l nghi lớn th gic ngộ lớn; nghi nhỏ th gic ngộ nhỏ; chẳng nghi th chẳng bao giờ gic ngộ (PHTH; Tr.59). V vậy, người tm hiểu Phật học khng nn để mnh bị rng buộc hoặc vướng mắc vo bất cứ g, ngay cả đối với chn l.
    - Thưa bc, nếu như thế đu cần g kinh sch cho hnh trnh chứng ngộ. Ty con vừa được khen nn cảm thấy hứng khởi ni ln cảm nhận về vai tr kinh sch.
    - Như vậy, phần no anh đ hiểu được tại sao đức Đạt Ma sư tổ ni, "Lnh hội được Phật tnh nơi mnh khng thể học được" (GLTH; Tr.205). Lục Tổ Huệ Năng cũng chỉ ni, "Gio ngoại biệt truyền. Bất lập văn tự. Trực chỉ nhn tm. Kiến tnh thnh Phật" (GLTH; Tr.184). Kinh điển nh Phật giảng về thực thể, tm thể pht sinh từ cảm nghiệm tu chứng, phn tch nhận thức hữu vi dẫn về cảm nghiệm. Dĩ nhin, kinh sch kiếm đu chẳng c, ai đọc khng được, v dẫu c đọc cả đời m khng tu chứng, khng tự nghiệm xt th no được ch chi, c chăng chỉ cng bị luẩn quẩn. Hơn nữa, phỏng ai đ bao giờ tm kiếm kinh sch chưa m ngược lại, thường th chỉ hay đu chầu đ, tưởng rằng nghĩ, nhận thức của người khc c thể giải quyết lng kht khao tm linh nơi mnh.
    - Thưa bc, bc c thể tm tắt những điểm quan trọng nh Phật đề cập tới được khng. Chẳng hạn, đại thừa, tiểu thừa l thế no, quan niệm ra sao. Lc trước, nghe Hưng ni, chỉ mấy chữ c, khng, huyễn, ng, v minh, minh triết chu đ thấy rối tm lum rồi th cn lng tr no m đặt vấn đề chứng với ngộ.
    - Tựu trung, Tiểu Thừa v Đại Thừa của nh Phật cng chung tam php ấn đ l chư hnh v thường, chư php v ng, v niết bn tịnh tịch (PHTH; Tr.97) nhưng v quan niệm về vị thế hnh giả khc nhau nn pht sinh tn khc nhau để dễ phn biệt. Đầu tin, nh Phật nhn nhận nơi thực trạng hữu hnh đề bạt chn l v thường. Nhận thức ny ni ln một thực thể đ l tất cả mọi sự, được gọi l vạn php hay chư php, đều lun lun lưu chuyển, biến dịch khng ngưng nghỉ, khng c g l thường trụ, bất biến. Sinh tử từng giy pht xảy ra trong cuộc đời; sự sống chết lin tục tiếp diễn bất tận như lun chuyển trn một vng trn, khng đầu mối, khng tận cng. Cuộc đời một người l tổng cộng những diễn biến sống chết; cả vạn vật cũng thế, hết xun đến hạ v được tiếp nối qua thu, đng để rồi xun trở lại. Bất cứ hiện tượng no trn đời đều trải qua bốn thời kỳ: sanh, trụ, dị, diệt, cn được gọi l thnh, trụ, hoại, khng. Sanh l sinh ra; trụ l tồn tại v pht triển; dị l biến đổi; v diệt l tiu tn. Đy l luật v thường v khng c g l thường trụ. Tuy nhin, chết khng phải l hết v chết l điều kiện tất yếu cho sự sinh sắp tới. Chết để m sống, chẳng hạn tế bo nơi con người, v sống để m chết nối tiếp nhau khng ngừng. Nh Phật cho rằng trong thời gian một ngy, thn ta đổi thay, thay đổi, chết đi sống lại tới 6.4000.099.980 lần. Người ta sở dĩ đau khổ v đ nhận thức sai lầm bởi cho rằng sự vật bất biến, thường trụ nn cố bm vo những ảo gic mong thỏa mn dục vọng, kiếm tm vĩnh cửu trong những sự vật đổi thay tạo nn thất vọng (PHTH; Tr.98-99). Thứ đến l Chn l v ng; v m lầm, con người cho rằng c ta, c người v những sự vật chung quanh. Nh Phật cho rằng, niệm về ci ta v những g thuộc về ta như vợ, con, nh, xe, chỉ l giả tưởng, khng c thật, v chnh v nghĩ rằng c mnh v những lin hệ khng c thật ny đ l nguồn gốc của tất cả mọi sự m lầm, v minh tạo thnh ng chấp, pht sinh đau khổ. Thực ra, ci ta, ci ng chỉ l hiện thể của Tm thường trụ bất biến, bao trm vũ trụ, tm ny đồng bản thể với vũ trụ, lin tục biến chuyển nơi mọi vật được gọi l Phật tnh, tm Chn Như, tm bt nh, tm đại bnh đẳng. Tm ny được coi giống như nước nơi biển, v con người cng mọi sự vật chẳng khc g những ngọn sng. V thế, Tm Chn Như, Tm Phật, Phật Tnh ny ở nơi mọi người, mọi vật. Tuy nhin, v v minh nn con người tưởng lầm mnh khc biệt với tha nhn tạo nn huyễn tượng tm chng sinh được gọi l tm chấp ng, tm m loạn (PHTH; Tr.100-101). Niết bn khng phải l nơi chốn theo quan niệm hữu hnh thường được tưởng tượng nhưng l trạng thi v niệm, v vọng. Chỉ nơi trạng thi ny Chn Như, Phật Tnh hiển lộ. Tuy nhin, nghiệm chứng trạng thi niết bn phần no đối nghịch lại phần duy thức nh Phật về nguyn nhn pht khởi cc php. Duy thức nh Phật quan niệm rằng khởi đầu, v thủy Chn Như, tịnh tịch, vẳng lặng. Nhưng khi Chn Như tự nhận thức lại chnh mnh nn vọng khởi, v cng ngy vọng khởi cng chồng chất kiến tạo chư php. Do suy luận ny, anh em c thể hiểu tại sao c người gọi tu chứng nh Phật l hnh trnh ngược php lun.

    - Tiểu Thừa của nh Phật chia con người thnh hai phần, tm tr v sinh l được gọi l tm v thn. Thn hay đời sống sinh l chỉ l sự hỗn hợp của tứ đại (địa, thủy, hỏa, phong). Tm l l sự hội hợp của những hỉ nộ ai lạc i ố dục chỉ trong phạm vi tri gic, suy tưởng, khi niệm v tnh cảm mừng giận vui buồn tạm gọi l thọ, tưởng, hnh, thức. Thế nn, cả tm v thn đều khng c g gọi l ta m v duyn giả hợp lại khiến ta c cảm nghĩ như c. Đy l con đẻ của ng chấp; thuyết nhn duyn trnh by cho ta r ci giả (vọng) để nhn r những g khng thật hầu tm về ci thật l v ng. Như vậy, ci được gọi l ta khng c thật nhưng m c. M th thấy c ta v khi tỉnh ngộ th lại l chn tnh, chn thể, Chn Như. (PHTH; Tr.103-105). Đại Thừa nh Phật cho rằng, sự vật lun lun biến dịch lin tục; tuy nhin, con người biết sự vật ty thuộc nhận thức. Sự nhận thức lại ty thuộc vo gic quan. Đng khc, gic quan của con người th giới hạn nn sự nhận thức qua gic quan khng thể no đng sự vật. Hơn nữa, nếu khng c gic quan, chng ta sẽ khng nhận biết sự vật d chỉ l phiếm diện. Như vậy, nếu khng c nhận thức th sự vật d c cũng như khng. Thật tướng của vạn sự, vạn vật được gọi l chư php lun lun trong diễn trnh biến dịch nn khng thể suy tư hay đo lường hoặc hnh dung bằng bất cứ niệm no. Thực thể ny hay thật tướng của sự vật tạm được gọi l Chn Như. Những g ta nhận thấy c biến động, sinh diệt, chỉ thuộc về hiện tượng m thi v đ l biến chuyển của Chn Như. Như vậy, bản thể của mọi sự, mọi vật l Chn Như khng sinh diệt, bất biến. Tất cả những biến động đều ở trong Chn Như. C điều anh em nn để , Phật học chỉ c thuyết nhn duyn chứ khng c thuyết nhn quả. Thuyết nhn duyn đại khi mang nghĩa khi đầy đủ điều kiện v tới thời điểm, Chn Như hiện thể thnh php tướng. Cn quan niệm nhn quả c nghĩa gieo gi gặt bo, đời cha ăn mặn, đời con kht nước, nhn no quả nấy, cy ngọt sinh tri ngọt, cy chua sinh tri chua, chỉ l lun l khuyn đời.
    - Thưa bc, bc lm ơn giải thch r hơn về sự khc biệt giữa thuyết nhn duyn của nh Phật v quan niệm nhn quả như thế no.
    - Thuyết nhn duyn cn được gọi l duyn sinh. Nhn l nguyn nhn; duyn mang nghĩa cơ hội. Sinh c nghĩa pht khởi, tạo thnh. Nh Phật cũng cn gọi l Nhn Duyn Quả Bo v gọi tắt l Nhn Quả. Thực ra, được gọi l nhn quả v quan niệm nhn duyn được hiểu theo nghĩa răn đời, cn chấp muốn gip con người lm lnh trnh dữ theo lối nhn lun l nhn sinh. Kinh nh Phật dạy rằng: "Nhất thiết Php, nhn duyn sinh" nghĩa l tất cả cc php (vạn sự, vạn vật) đều do nhn duyn m sinh ra (PHTH; Tr.125). Chng ta đều nhận thấy, chẳng hạn hột mướp mọc ln cy mướp v cy mướp sinh tri mướp chứ khng sinh tri cau; hơn nữa, cy mướp thế no, mướp hương hay mướp tru, mi vị ra sao lại ty thuộc chất đất, kh hậu vng no cy mướp được trồng. Từ thực tại ny suy ra c nhiều nguyn nhn ảnh hưởng v tc thnh một sự việc đồng thời cần phải c điều kiện v thời điểm để những thnh phần nguyn nhn ha hợp, tc thnh. Vấn đề được đặt ra lại l quyền lực no khiến cy mướp sinh tri mướp m khng sinh tri cau? Tại sao hột mướp khng mọc ln cy cau? Bởi thế, tuy gọi l nhn m cũng l duyn v khng c một ci nhn no l nhn đầu tin, v trước khi c những nguyn nhn v điều kiện tạo nn sự vật, sự việc, cn c những nguyn nhn chưa biết. Ni cch khc, thuyết nhn duyn nh Phật chỉ sự bao gồm tất cả những nguyn nhn v điều kiện ảnh hưởng lẫn nhau để tạo thnh php. Hơn nữa, mọi nhn, duyn, php tướng, đều l những biến chuyển của Chn Như; nn thuyết nhn duyn chỉ phần no giải thch về hnh trnh biến dịch của vạn vật, tc động của Chn Như. Như vậy mới c thể hiểu được cu ni nơi kinh Lăng Nghim: "Nhn duyn ha hợp, hư vọng hữu sanh; nhn duyn biệt ly, hư vọng danh diệt" (PHTH; Tr.133). Điều ny c nghĩa, nhn duyn hội hợp sinh ra hư vọng, giả tướng, v nếu nhn duyn chia la th khng pht sinh hư vọng giả tướng. Con người v chẳng hiểu (v minh) chư php đều do nhn duyn sinh ra nn cho rằng tất cả cc php đều c thực hoặc vĩnh cửu do đ kh bung bỏ v bởi thế sinh ra sự thiết tha yu qu sự vật từ sinh mạng, ti sản, đến sự nghiệp, v cho đ l vui sướng. Tuy nhin, khi những điều đ bị tiu diệt hay biến chuyển lng cảm thấy sầu khổ, bi thảm. Tm lại, mọi sự vật đều do nhn duyn kết hợp m sinh ra; nghĩa l khng c sự vật no c tự tnh. Chỉ c một tnh chung l Chn Như hay Phật tnh thế nn sinh v diệt đều l huyễn, đều l biến chuyển của Chn Như; v đồng thời, khng c g l thường diệt m chỉ l đoạn diệt. Bởi vậy, sau khi diệt lại cn c thể sinh; những g trước khi diệt trở thnh nguyn nhn cho sự pht sinh sau khi diệt ty thuộc những điều kiện gọi l duyn. Hơn nữa, vật chất tuy bị thấy tiu diệt m thực sự diệt đi để sinh ra năng lực, v năng lực bị diệt đi để vật chất sinh ra. Khoa học vật l đ chứng minh rằng vật chất khng phải l thường trụ; n c thể mất đi trong nhy mắt nhưng sự hủy diệt ny cũng chỉ l huyễn diệt m thi. Như vậy c thể ni, sinh v diệt chỉ l giả tướng của biến ha; cn bản thể (Chn Như) th chưa từng sinh diệt cũng chưa từng động biến. Thuyết nhn duyn phần no giải thch quan niệm động pht sinh từ tĩnh; tĩnh l gốc của động, v ci động, ci biến trong ci bất biến. Nh Phật nhận định vạn vật đang trn hnh trnh biến chuyển của Chn Như. Sự sinh diệt hữu hnh của cc sự vật chnh l Chn Như chuyển biến. Cc chủng tử được gọi l tiềm năng tức l những năng lực tiềm tng nơi Chn Như. Ngn từ nh Phật gọi l A-lại-da; tiềm năng ny khi đủ nhn duyn thuận lợi mới pht sinh. Tiềm năng A lại da hay tm thức ny vừa hằng vừa chuyển. Hằng v đ chnh l Chn Như; chuyển bởi lun lun sinh diệt v biến chuyển v cng ty thuộc nhn duyn. Nhận biết sự hằng v chuyển ny đ l nhận thức c m khng, khng m c. Gọi l c, theo nghĩa hiện hữu c thể nhn thấy được hoặc nhận định được, hoặc l khng, khi hiểu theo nghĩa tất cả chỉ l sự chuyển biến của Chn Như.
    - Thưa bc, nếu vạn vật hoặc sự kiện biến dịch phức tạp như thế v đều l diễn biến của Chn Như sao c thể hiểu được thế no l đng sai, phải tri? Ty con ln tiếng.
    - Cu hỏi của anh một nửa thuộc về phạm vi lun l thị dục v một nửa đi hỏi sự hiểu biết duy thức luận nơi Phật học. Theo Duy Thức Luận của nh Phật, vạn vật khng c sự vật no c tự tnh m nhờ nơi tc dụng của thức mới nhận biết được vạn sự vạn vật. Vạn sự, vạn vật đều l giả tướng của thức biến hiện ra chứ khng phải tự n c thật. Thức l nhận thức, khng c tự thể m lấy sự vật lm tự thể. Nh Phật chia ra bt thức: Nhn thức nhận biết sự vật về sắc, hnh; nhĩ thức nhận biết về thanh; tỉ thức nhận biết về hương; thiệt thức nhật biết về vị; thn thức nhận biết qua xc gic; thức nhận biết tất cả cc php; mạt na thức mang nặng chấp ng; v A lại da thức hay tm thức bao trm v pht sinh cc php (PHTH; Tr.138-141). Tm thức hay Tm Phật hoặc Chn Như l nguyn thủy pht sinh tất cả mọi hiện tượng v cũng c năng lực gn giữ tất cả mọi kinh nghiệm c nhn khng cho lạc mất. Tuy nhin, tm thức c nhn v tm Phật l một nn tạo thnh tự nghiệp v cộng nghiệp đối với con người. V thế c thể ni, một niệm, một tm cảm, cũng đủ pht sinh một năng lực lm rung động v biến chuyển vạn sự vạn vật chung quanh. Bởi đ, sự lin lạc giữa c nhn v tha nhn mật thiết đến nỗi c thể ni rằng người v sự vật chung quanh ta l một. Một c đối với tha nhn đủ gy thnh một nghiệp bởi n đ gieo vo tm thức một hột giống xấu cho ta v cho người. Như vậy, nh Phật cho rằng thế giới vũ trụ l sản phẩm v biến tướng chung của tm thức. Tm v vật biến tướng lẫn nhau nn được quan niệm tm sinh vật v vật sinh tm.

    Cụ Ti ni lin tục, giọng đều đều chậm ri chừng như muốn cho mọi người c đủ thời giờ thu nhận từng lời ni của mnh. Ngưng một cht để chiu ngụm tr, cụ tiếp,
    - Bởi v tất cả đang trn hnh trnh biến chuyển của Chn Như nn những sự thiện v c cũng chỉ l thnh phần của sự biến chuyển ny. Tnh chất thiện c của sự việc, sự kiện được phn biệt theo lối nhn lun l hữu vi, đng, sai, phải tri lệ thuộc thị dục của con người nơi trạng thi v minh, tức l chưa thức ngộ được tận cng của mọi sự vật, chưa kiến tnh, chưa ngộ được thực thể Chn Như hằng chuyển. Thật ra, theo nh Phật, việc lm khng quan trọng bằng niệm của người thực hiện. C những việc bề ngoi thấy lnh nhưng tm mang c niệm do đ đ c cu "Khẩu Phật tm x;" ni theo tục ngữ đ l "Ngoi miệng thơn thớt, trong dạ ớt ngm;" c khi việc thấy l c nhưng thật sự v niệm thiện m lm. Hnh như dn gian c cu, "Hnh phn quan, tm bồ tt" mang nghĩa ny. L thuyết Nh Phật luận về thiện c đều căn cứ vo tm địa chứ khng ch trọng về sự tướng của việc lm. Muốn đon định thiện c phải biết ci dụng của tm người thực hiện như thế no mới c thể nhận thức được. Thế nn, động lực chnh của sự tạo ra nghiệp l định tức l tm hay thức, nh Phật thường gọi l niệm. Hiểu như vậy, thức mang quyền lực điều hnh v chi phối tất cả mọi hnh động cũng như tm tư, nghĩ, định của con người. thức đồng thời c quyền lực sng tạo v thay đổi cuộc đời của một người. Con người đang trn hnh trnh biến chuyển để trở nn thiện hảo nn cuộc đời một người l cơ hội, giai đoạn nơi hnh trnh của diễn tiến trở về nguyn thủy Chn Như. Bởi vậy nghiệp qu khứ l nguyn động lực của kiếp sống hiện tại v con người giống như bộ my lệ thuộc tm thức. Như thế, thức bị ảnh hưởng nghiệp tạo nơi tiền kiếp v đồng thời cũng l căn bản cho con người cải tiến ty theo hon cảnh, vị thế, quyết định của mnh. Tu chứng l đường lối tốt nhất vượt ra khỏi ảnh hưởng nghiệp lực v khng để cho ước muốn hữu vi ảnh hưởng hnh trnh đạt tới tm Chn Như được gọi tm gọn l kiến tnh.
    - Thưa bc, nếu ni thiện c chỉ căn cứ nơi tm hay định của người thực hiện th nghiệp nếu c phải pht xuất từ tm. V nếu từ tm pht sinh nghiệp th đu cần phải ni đến duyn. Hơn nữa, cho d gọi như thế no, nếu đ l duyn lm sao trnh thot v đu khc chi một loại phận số của một người trước khi sinh ra đ bị ấn định như thế.
    - thức c thể thay đổi nhưng nghiệp duyn đ sẵn c ở qu khứ chẳng khc g mi trường v điều kiện kiến tạo thn xc con người trong bo thai trước khi được sinh ra. C thể so snh thức với cch sống v nhn duyn hay nghiệp với cơ thể con người. Lối sống gip cơ thể khoẻ mạnh hay bệnh tật th thức tạo căn bản tm linh cho con người. Nh Phật chia ra thập nhị nhn duyn. Đ l mười hai nguyn nhn lin hệ gy ra biến chuyển được gọi l khổ đế v tập đế. Theo nh Phật, tất cả vạn php đều pht sinh do mười hai nhn duyn: 1. v minh, 2. hnh, 3. thức, 4. danh sắc, 5. lục nhập, 6. xc, 7. thụ, 8. i, 9. thủ, 10. hữu, 11. sinh, 12. lo tử. Mười hai nhn duyn ny l khởi đầu của v minh, nguồn gốc đau khổ của sinh bệnh lo tử. Theo Phương Bối, "Khổ đế v tập đế l những điều thực nghiệm rộng ri v đầy đủ lm nền tảng cho phương php đạo Phật" (TLPTC; Tr.16). Ti khng muốn giải thch thm về thập nhị nhn duyn lc ny. Chỉ một điểm anh em nn để , đ l dẫu nhận thức v phn chia thế no th tất cả đều l biến chuyển của Chn Như, thực thể của chng vẫn l Chn Như m php tnh th lại l huyễn nn cng ni đến chỉ cng kh thot khỏi vng v minh.
    - Thưa bc, nếu chu khng lầm th hnh như nh Phật đặt rất nặng vấn đề v minh.
    - V nghĩa l khng hoặc lầm lạc hay chưa đạt tới. Minh nghĩa l nhận thực, hiểu thực, đối diện, kiến, thức, ngộ. V minh c nghĩa cho rằng mnh l một thực thể, c nhn, ci "ta" ring biệt được gọi l ng chấp sinh ra ci tm sai biệt. Chnh bởi nhận thức sự vật phiếm diện thay v đ l sự hằng chuyển của Chn Như nn pht sinh vọng động, phn chia, khiến lng nương theo cảm gic tạo nn khao kht, ham sướng, sợ khổ lệ thuộc sự vật hng thỏa mn lng ước muốn của mnh. Chấp ng c nghĩa tưởng rằng mọi sự, mọi vật, ngay cả chnh mnh l c thật chứ khng phải hiện thể của Chn Như nn sinh ra ước muốn, dục, cố bm vu vo nghĩ hay điều g đ tạo nn đau khổ nơi cuộc sống hữu hnh đồng thời cũng tạo nn nghiệp.
    - Thưa bc, hnh như bc chưa ni về sự khc biệt giữa Đại Thừa v Tiểu Thừa. Ty con nhắc kho.
    - Tiểu hay Đại Thừa được phn chia bắt nguồn từ quan niệm về vị thế hnh giả trong tu chứng nh Phật. Theo cụ Nguyễn Duy Cần, sự khc biệt giữa Tiểu Thừa v Đại Thừa bao gồm t nhất su điểm. Tiểu Thừa chỉ lo độ lấy mnh sao thot khỏi lun hồi đặt trn nền tảng tự gic m thi. Đại Thừa tự độ v phổ độ chng sinh, chẳng những gic ngộ chnh mnh m cn muốn mọi người được gic ngộ. Tiểu Thừa lo ph ng chấp chứ khng lo ph php chấp. Đại Thừa th bao gồm lun ph ng chấp v ph php chấp. Tiểu Thừa tch mnh ra khỏi x hội, thot ly thế gian tướng. Đại Thừa quan niệm giải thot, thức ngộ m khng rời thế gian tướng. Tiểu Thừa chn chường cuộc sống sinh tử, khổ no nn mong cầu chứng niết bn để thot vng lun hồi. Như vậy, Tiểu Thừa quan niệm niết bn tch rời sinh tử. Đại Thừa nhận thức được phiền no chỉ l huyễn, vốn khng, nn người theo Đại Thừa khng trụ nơi sinh tử, cũng khng trụ nơi niết bn v sinh tử v niết bn chỉ l một. Theo l thuyết nh Phật, đạt quả của Tiểu Thừa chỉ đạt tới La Hn trong khi Đại Thừa chứng Phật. Bởi vậy, c nhận định, ci ngộ của Tiểu Thừa l La Hn; ci ngộ của Đại Thừa l Phật. Tiểu Thừa v Đại Thừa quan niệm về c v khng khc nhau. Tiểu Thừa cho rằng vạn sự, vạn vật (vạn php) l thực c cn vạn tượng (hnh tướng) th rất sai biệt. Xt về quan niệm ny, Đại Thừa chia ra hai phi, Quyền Đại Thừa v Thực Đại Thừa. Quyền Đại Thừa cho rằng vạn php đều do tm , định ... gọi chung l niệm; ngoi tm khng c vật g khc. Thực Đại Thừa chủ trương chẳng c chẳng khng m cũng c cũng khng. Ni như vậy, sự vật, nghĩ mang nghĩa c trong giai đoạn, cuối cng vẫn l huyễn. Tiểu Thừa trọng về văn tự, lệ thuộc nghĩa đen nơi văn tự, g b theo kinh sch. Đại Thừa phng khong tự do, bất chấp văn tự. Tm lại, Tiểu Thừa v Đại Thừa tuy c nhiều điểm khc nhau, nhưng thực khng c ci no cao hoặc thấp m ty trnh độ giai đoạn thức ngộ của mỗi người (PHTH; Tr.108-110). Tuy nhin, Kinh Đại Niết Bn c ni: "Thấy tất cả đều l khng m chẳng thấy ci chẳng khng chẳng được gọi l trung đạo; thấy hết thảy l v ng m chẳng thấy tất cả l hữu ng cũng chẳng gọi l trung đạo (PHTH; Tr.73). Thực Đại Thừa pht triển nhận thức ny nơi tu chứng.
    - Thưa bc, qua kinh nghiệm tm hiểu đạo học, bc c nhận định thế no.
    - Ti khng thể trả lời được cu hỏi ny v nhiều vấn đề. Thứ nhất, đu phải chỉ Phật học l đạo học duy nhất m cn Ấn học, Lo học, Trang Tử, Thnh Kinh. Thứ đến, nơi hnh trnh tu chứng, cảm nghiệm của ti khng giống cảm nghiệm của bất cứ người no nn d c ni ra chỉ sinh thm phiền h, kh cho kẻ khc chấp nhận. Những g chng ta c thể ni được chẳng qua l những nhận thức chứ khng phải nhận định về đạo học bởi nếu nhận định tất nhin phải so snh. Tuy nhin, no lợi ch chi khi đem cc đạo học so snh với nhau! Chng ta khng thể đem so snh nền văn ha ny với nền văn ha khc th đạo học cũng vậy. V dẫu kinh sch đạo học phần no diễn tả cảm nghiệm tu chứng, nhưng ti e rằng, đối với tm hồn mới đạt tới mức độ tm hiểu sự học thức th những cảm nghiệm được diễn tả ở kinh sch đ chẳng soi sng g cho họ m c chăng bị họ coi thường hay dng lm những đề ti diễu cợt m thi. Thm nữa, kinh nghiệm tu chứng cho ti cảm nghiệm đơn độc, khng chia sẻ được cng ai, khng biết đu l bờ bến, v cũng khng thể hiểu r mnh ở mức độ no. Ti cố gắng tm ti nơi kinh sch để tự so snh hầu biết mnh thế no nhưng cng tm ti chỉ cng thấy bể học tm linh v cng diệu vợi. Nhn ni về nhận định đạo học, ti nhớ lời pht biểu của Krisnamurti, nh đạo học Ấn Độ. ng đặt vấn đề về sự cần thiết phải c bậc tn sư để dẫn ng đi vo chn l. Nhưng, nếu ng khng biết g về chn l th cch no cho ng biết chắc chắn bậc tn sư ấy dẫn ng vo trng chỗ đ? V nếu ng biết chắc l đng th ng cần g phải cậy ai dẫn dắt cho. Mối nguy hiểm nhất đối với người tm đạo đu phải l kẻ đối thủ hay người th địch của mnh m chnh l sư phụ của mnh. Học đi m khng bao giờ dm bung tay người tập cho mnh, cứ lun ỷ lại vo sự nng đỡ, du dắt của người ấy th suốt đời khng bao giờ đi được (CCCTN; Tr.250). Đng khc, sự gip đỡ của kinh sch hay một vị thầy chẳng khc g bc nng phu gieo giống trồng la. Mnh ăn cơm v cơm được tiu ha để biến thnh mu chứ bc nng phu khng tạo thnh mu cho mnh được. Tu chứng, nghiệm chứng đạo học c thể so snh với hnh động tch cực ăn cơm để biến la gạo thnh mu huyết. Như vậy, tu chứng, nghiệm chứng chnh l điều kiện thiếu yếu của thức ngộ. C phải anh em cng nghe ti ni cng cảm thấy chẳng tiến thm g khng? Vấn đề chnh yếu nơi đạo học l tu chứng chứ khng phải sự hiểu biết; chỉ may ra c người no đủ căn cơ đốn ngộ. Ni đến đy, cụ Ti bung nhẹ hơi thở di.
    - Thưa bc, chu xin lỗi trước khi ni nghĩ vừa chợt đến bởi nghe bc phn tch những quan niệm khc biệt nơi Phật học. Đ l dẫu cho nghĩ hay nhận thức d tuyệt vời đến mấy cũng thua bộ c đ đạt đến n. Kinh sch do con người viết ra; đạo học cũng do con người nghĩ tới th con người mới đng l chủ đề tư duy cho mọi thời đại. Phủ đắn đo, chậm ri pht biểu từng lời ni.
    - Ah! Thật l th vị! Khng ngờ đến tuổi ny v phải vo thời điểm ny ti mới nghe được cu ni tuyệt vời như vậy. Ti nghĩ, nh Phật phải cho anh l người thức ngộ m ti vừa nhắc tới. Chủ điểm của đạo học l chnh con người, tm sự lin hệ giữa thực thể con người với thực thể cội nguồn của sự hiện hữu. Nh Phật gọi bậc thức ngộ l "phật;" Lo học gọi trạng thi "huyền đồng;" Ấn học gọi "chn sư;" Kinh Thnh gọi "kẻ tin," Những tn gọi khc nhau cũng chỉ m định về trạng thi một người khi gic ngộ, tức l đạt đến thực thể hay tự thể của mnh hay của vạn vật dẫu dng những danh xưng khc nhau. Ti thực tm xin lỗi v đ c những lời với định chỉnh đốn kiểu cch ăn ni của anh em lc trước. Ni đng với lng ruột của ti, ti e ngại anh em v tnh bị hiểu lầm l chống bng tn gio. Ti từng tuổi ny m vẫn cn qu nng sốt đến độ nhận ra mnh hoảng. Đnh vậy, u cũng v lng tốt nn tự mnh phiền h, quấy nhiễu m thi.

    Thế l mọi người ngớ ra! Cụ gi được họ tn trọng xưa nay lại tự ln tiếng xin lỗi v thẩm định điều tốt lnh m chnh cụ gần nửa tiếng trước cho l nn, by giờ đ trở thnh khng nn. Thi độ chn thnh, ngay thẳng, dm nhận xt ngay cả nghĩ, tư tưởng pht sinh thi độ, v hnh động của mnh nơi một cụ gi đng tuổi cha ch đ lm mọi người cảm thấy hụt hẫng. Bnh thường, nếu chẳng may v tnh hay cố hoặc v lc men bia xm nhập đầu c khiến những ci mỏ trở thnh hăng tiết vịt, ăn ni bạt mạng khng king nể bất cứ điều g, dẫu một khi đụng chạm, mất lng ai th cng lắm, lc bị đặt thnh vấn đề, người vấp phạm chỉ dng một đi lời xin lỗi cho qua v thường th mang đầy vẻ bi bc, nhiều khi cố xỏ xin bo chữa cho điều chẳng nn mnh đ gy ra, hoặc lắm lc do tự i vặt, cố lờ như khng để hầu tưởng tượng mnh lun lun c l v lng tốt lnh, ngay thẳng. Cụ Ti đang thao thao giải thch về quan niệm nh Phật; những kiến thức uyn bc cụ trnh by chứng tỏ một con người thng đạt, thế m đ khng ngần ngại đến độ tự nhin phanh phui niệm tạo thnh thi độ khng hợp của mnh với những người thuộc hng con chu. Hnh như sự thức ngộ đạo học nng cao tm thức để nhận định r rng thực trạng con người của mnh khng đếm xỉa g đến tiếng tăm ho nhong hoặc danh vọng thế tục nhất thời. Cũng như mọi lần gặp trường hợp kh ăn kh ni, Sỹ nh con nhanh miệng ph bầu kh ngưng đọng,
    - Bc ni đốn ngộ l thế no? Đ ngộ m cn đốn th chẳng lẽ ngoi những sự thức ngộ, gic ngộ, đốn ngộ cn thm thứ kỳ ngộ hay loại ngộ no khc nữa chăng?
    - Ngộ l ngn từ thiền tng nh Phật, c nghĩa trạng thi của người kiến tnh, trạng thi của một vị phật nhưng vẫn cn mang hnh hi v cuộc sống như mọi người. Trong hnh trnh tu chứng, tm thức hnh giả đ được chuẩn bị đến độ chn mi nn cc vị tổ thiền dng một vi phương php để gip họ khai ngộ. Tuy nhin, đu phải mọi người sinh ra cng mức độ tm thức nn thời điểm gic ngộ khng ai giống ai. Bởi vậy, vấn đề chnh yếu l tu chứng. Tu chứng c nhiều phương cch, hoặc l ngồi thiền hoặc l tụng niệm v c khi vừa thiền vừa tụng niệm gọi l thiền niệm song tu. Đng khc, dẫu theo phương cch no, tm tưởng lun lun suy tư về một vấn đề nan giải khng thể suy nghĩ theo l tr, được gọi l qun tưởng. Qun tưởng l phương thức thực hnh nhận biết thực thể sự vật hầu diệt trừ v minh v kết quả thường l đốn ngộ. Trong khi qun tưởng, nếu nghĩ no len lỏi vo cũng khng dng l tr m xua đuổi, chỉ cần chuyển tm trở lại vấn đề đang suy tưởng m thi. Cc vị tổ thiền thường dng cng n cho mn sinh thực hnh qun tưởng. Chẳng hạn, "Tất cả sự vật đều trở về ci Một, vậy ci Một trở về đu?" (GLTH; Tr.275). Bn Trung Hoa, c hai phi thiền tng Lm Tế v To Động chủ trương chiều hướng khc biệt với cc mn phi Phật thiền khc đ l đốn ngộ. Theo khởi xướng của Lục Tổ Huệ Năng, phi Lm Tế giảm bớt tĩnh tọa trầm tư nhưng thiền trong khi lm việc, dng nhiều phương php v cng n hầu thức tỉnh ging tm thức v minh của cc mn đệ v thc đẩy trạng thi được gọi l "satori." Phi To Động vẫn chủ trương như phi Lm Tế đồng thời quan niệm mỗi người c hnh trnh tu chứng khc nhau ty thuộc thể chất c nhn bởi được sinh ra khc trnh độ lợi căn nn đưa ra php tu nhập thất thiền qun. Lối giảng giải của phi To Động rnh rẽ hơn nn đem lại lợi ch nhiều cho những người t lợi căn. Đốn ngộ l lối tu của Huệ Năng, "Trực chỉ nhn tm, kiến tnh thnh Phật." Tiệm ngộ đặt căn bản trn sự suy niệm để am hiểu kinh sch ha hợp với lối sống theo giới luật nh Phật. Tuy nhin, kinh nghiệm tu chứng cho thấy, kết quả đạt thnh của tổng số cả triệu tiệm ngộ khng bằng chỉ một lần đốn ngộ. Đốn ngộ c thể được m chỉ chẳng khc g "c chp vượt vũ mn ha rồng," cn tiệm ngộ được coi như "sống lu ln lo lng." Ni cch khc, bản thể, tự thể mọi người chnh l Chn Như th đốn ngộ c thể được m định với trường hợp đứa trẻ vừa sinh ra đ hon ton l một con người, c đầy đủ cơ thể như bao kẻ khc nhưng cần thời gian pht triển về tinh thần lẫn thể xc. Đy l trường hợp của cc vị thiền sư, nghe một cu đạo l hay cu kinh liền ngộ, tuy nhin vẫn cn vọng tưởng, cần thời gian chứng nghiệm để đạt tới triệt ngộ (NTGG; Tr.158). C thể so snh tiệm ngộ với hnh trnh của một nh thm hiểm. Những cố gắng, lao nhọc trong khi kiếm tm một vng đất lạ hoặc một ngọn ni chưa ai đặt chn tới. Hnh trnh ny cung cấp cho nh thm hiểm nhiều kiến thức chưa ai ni đến. Tuy nhin, kiếm được đất mới hoặc điều lạ hay khng th cũng giống như tiệm ngộ, người tiệm tu c đạt được g trong hnh trnh chứng ngộ hay khng. Thực ra, ngộ th chẳng c tiệm hoặc đốn nhưng ty căn cơ. Người tu lu rồi mới ngộ tạm gọi l tiệm. Kẻ c lợi căn đạt ngộ m khng tu chứng cũng vẫn bị vọng tưởng phiền h chẳng thể triệt ngộ. Bởi đ c thể ni, ngộ trước, tu sau tức l đốn ngộ, đốn tu. Người khng biết g, cứ cố gắng tu chứng rồi đạt ngộ tạm gọi l tiệm ngộ tiệm tu (NTGG; Tr.158).
    - Thưa bc, nếu như thế, sự gic ngộ đu cần phải vo cha đi tu m ở ngoi cũng được v mức độ đạt thnh tm linh của mỗi người ty thuộc căn cơ người đ đ được sinh ra.
    - Theo sự nhận định của những bậc chn tu viết nơi sch vở, tu chứng l hnh trnh tm linh của mỗi người khng lệ thuộc mi trường m chỉ ty thuộc tm hồn, tm , định của người ấy. Lục tổ Huệ Năng, phi thiền tng Lm Tế đ p dụng từ xưa. Ngay cả Đạt Ma sư tổ cũng ni trong gio l của ngi, "Một kẻ phm tục c gia đnh v lm nghề đồ tể cũng c thể l một vị Phật. Kẻ no đ lnh hội được Phật tnh th khng cn tạo nghiệp nữa, d lm bất cứ một hnh động no bởi kẻ ấy đ gic ngộ" (GLTH; Tr.206). Cuộc sống tu tr l cho chnh mnh bởi nếu cn ước muốn độ hoặc cứu hay gip người khc vẫn theo đuổi dục. Thực ra, con người khng dễ chi thot khỏi ham muốn thị dục. Hơn nữa, vo thời điểm ny c thm nhiều kẻ dng ngn từ nh Phật hầu kiếm chc cht danh vọng rẻ tiền. Nếu để theo di, anh em thấy r, hiện nay đang c phong tro tự ghp nối chữ thiền vo tn hay danh hiệu của kh nhiều người. No thiền sư ny, thượng sư kia, tạo nn mun ngn nghi ngờ nếu khng muốn ni đ lạm dụng ngn xưng của nh Phật. Ni cho đng, nếu thực sự l thiền sư, ai biết mnh l thiền sư? Nếu người ta biết mnh l thiền sư, mnh đ khng l thiền sư m đang tm hay chạy theo điều g đ nn dng danh xưng thiền để lo thin hạ hoặc c đồ cầu mong đạt tới mục đch no đ. Để thời giờ nghiền ngẫm về Phật học hay đọc kinh sch, anh em sẽ nhận ra, tu để được niết bn vẫn l dục v niết bn khng phải do cng lm ra; niết bn l sự thức ngộ, nhận ra mnh với Chn Như l một, đ l trạng thi kiến tnh. Niết bn chỉ l ci tn huyễn dng để tạm gọi v khng gọi bằng cch khc. Thế nn, tu khng phải để được Phật tnh v Phật tnh đ sẵn ở nơi mnh m tu để Phật tnh hiển lộ. Tu cũng khng phải để dẹp dục, dẹp phiền no v muốn dẹp dục, dẹp phiền no vẫn l dục, v như vậy tu chỉ l trở lại với tự thể của mnh. Ni như thế, ti muốn nhắc lại vấn đề anh Hưng đ nu ln; đ l người xấu muốn trở thnh tốt chỉ cần khng lm điều được gọi l xấu, m chẳng lm thm g v tự thể đ tốt; tự thể của mnh l Chn Như. Do đ, tu chứng giống như hnh động lau gương; lau bụi cho gương sng. Tuy nhin, thực sự, gương khng tự sng m chỉ phản chiếu, v nhận định ny cũng phần no nhắc nhở chng ta biết tu chứng chnh l tm lại tự thể của mnh. Đng khc, anh em đi khi nghe ni Phật học l ci học đi đến chỗ khng! Ni theo quan niệm đối đi kiến thức c v khng, thử hỏi, nếu đ khng đu cần đi đến. Điều ny cng chứng tỏ nguyn l căn bản của Phật học phải l kiến tnh chứ khng độ ai, chẳng gip ai, chẳng cần đi đến đu, v cũng khng cầu lụy đấng no. Thế nn, gic ngộ hay khng ty mnh chứ khng lệ thuộc bất cứ điều kiện no bn ngoi. Hiểu như vậy, nếu c ai ni rằng họ khng c điều kiện để thực hnh tu chứng hay qun tưởng, tất nhin họ khng c dẫu lun c.
    Last edited by ttvl123; 12-05-2017 at 08:57 AM.

  6. The Following 4 Users Say Thank You to ttvl123 For This Useful Post:

    chieunhatnang (07-09-2011), Kiến Hi (09-26-2013), saolinh (07-09-2011), TrcLan (07-09-2011)

  7. #4
    Join Date
    Apr 2011
    Posts
    2,448
    Thanks
    5,639
    Thanked 6,220 Times in 2,212 Posts

    Default Re: My Bay Về Ngn


    cảm ơn tc gỉả lmt, c hứng viết tiếp truyện di My Bay về Ngn...
    đừng cho đọc giả phải chờ như một năm qua...chứ hả
    av

  8. #5
    Join Date
    Jun 2009
    Posts
    367
    Thanks
    1
    Thanked 535 Times in 215 Posts

    Default Re: My Bay Về Ngn

    tiếp theo
    .
    - Bc ni sao! V l do g dẫu lun c m họ khng c?
    - V họ cũng như chng ta!
    Cu trả lời qu ngắn gọn nhưng mang ảnh hưởng mạnh mẽ tới những khối c vừa chợt rộng mở mong am hiểu thm kiến thức nh Phật. N được pht xuất từ miệng cụ Ti khiến khng ai c định bo chữa; ngược lại họ bị biến thnh những khối sa mạc kht khao chờ đợi được nguồn nước tm linh thẩm thấu. Tuy nhin, nghe th biết đấy nhưng biết rồi cũng chẳng đạt tới đu! Hnh như sự thch đố nơi lối diễn giải về Phật học của Hưng v những lời giải thch của cụ Ti chống nghịch lại tất cả những hiểu biết m mờ xưa nay của mọi người về nh Phật. Đu ai lạ g, dẫu nơi nao hay thời đại no, mỗi khi nhắc tới nh Phật hay Phật gio, những ngn từ lun hồi, niết bn, diệt dục, cấm st sinh, tụng niệm, ăn chay, dồn dập tới nơi nghĩ đ khiến mọi người mang mặc cảm nặng nề mnh khng thể no sống được như thế nn đnh chấp nhận sống cho qua, sống trầm lun. Ai khng thch ăn ngon, mặc đẹp! Hơn nữa, dẫu con người khng st sinh th đ tạo nn cơ hội cho kẻ khc st sinh. Đng khc, những cảnh tro cẳng ngỗng, no c giả, gi giả, được kiến tạo bởi con bun nơi những tiệm ăn chay đ l những đề ti cho họ diễu cợt v tưởng nh Phật hoặc đạo Phật chỉ bao gồm những nghi thức cng tế hoặc những tập tục king khem hm chứa sự p mnh p xc trong cảnh thm thuồng lối sống thế tục mọi người đang thụ hưởng. Nay, thực thể Phật học khng phải vậy m đục thấu ci lng v minh con người, nghịch hẳn những nghi thức v điều luật tn gio. Xt về tn gio v đạo học qua những g họ mới được nghe v hiểu, dẫu chỉ sơ si, sự so snh minh chứng tn gio chỉ l tổ chức của con người với mục đch hoằng dương đạo học. Tuy nhin, tn gio đ thực sự lạm dụng đạo học. Khốn nỗi, bởi v minh do ỷ lại, con người vui thch với sự lạm dụng ny khiến thị dục thế tục cng ngy cng chồng chất, che kn ng ngch tm linh. Chnh v nhận diện được thực trạng hn km con đẻ tham vọng thế nhn, nỗi xốn xang no đ bng lớn nơi tm tưởng mỗi người pht sinh động lực thc đẩy kiến tạo ước muốn phải lm g. Hai trạng thi đối nghịch, cảm nhận thiếu st v ước muốn hnh động đảo lộn giằng co chợt nổi ln dằn vặt những bộ c chếnh chong hơi men. Một đng e sợ khng cn g bm vu sẽ mất mối an tm xưa nay nương tựa hầu tưởng mnh c thế đứng qua danh hiệu ấn định niềm tin; đng khc, những cu ni của cc vị Phật tổ tựa mun vn sấm st ph vỡ tất cả l thuyết được gom tụ bằng những hiểu biết vỡ vụn về Phật học tạo nỗi khắc khoải nơi người nghe. Lời của cc ngi như từ ci v tận được nhắc lại qua mi miệng con người, khng thương xt, nng đỡ, hoặc xoa dịu bất cứ ai, m ngược lại, tn ph những ci lng ỷ lại v cấp bch hối thc như sức nng nung đốt tm trạng an tm giả tạo cần phải thay đổi cấp tốc, phải vng ln, nhảy ra khỏi mn lửa v minh đang thiu đốt. Những cu ni ấy dồn thc con người bước vo khoảng tăm tối mịt m của diễn trnh tm linh. Tu chứng, tu chứng! Chỉ hai tiếng nhẹ nhng nhưng khi vang đến mng nhĩ kẻ nghe đ trở nn động lực tn ph nỗi an bnh v minh. "ng chứng ng biết, v chỉ ng biết m thi. Ni ra khng được m cng diễn giải cng lộn tng pho. Trong tiến trnh tu chứng, hnh giả khng theo đuổi bất cứ g cũng chẳng dựa theo phương php no. Trực chỉ nhn tm, kiến tnh thnh Phật." Những lời ni của Hưng dường như trở lại mang theo năng lực khuấy động v thc giục mọi người tự đặt vấn đề.

    Tri ngược với mọi khi, những khun mặt ho hứng nơi bữa nhậu km theo mi miệng ồn o tranh nhau pht biểu, giờ đy mang đầy vẻ nghim trọng trong thinh lặng ng chừng mọi người suy nghĩ lung lắm. Cụ Ti chậm chạp đứng dậy, xoay người đoạn nhắc nhở,
    - Ni vậy qu đủ, chng ta cũng cần phải ăn.
    V mỗi người một tay, kẻ sắp chn bt, người dọn thực phẩm. Hưng đi mọi người tối nay v hai tuần trước cu được mấy con ra nơi ao của một người bạn. Khng hiểu học được ở đu, họ by ra lắm kiểu ăn thịt ra, no tiết canh, uống mu ra pha với rượu, ra nướng, ra c ri, ra luộc, ra rang muối, ra hấp thủy, cho ra, ra thuốc bắc. Mn ra nướng cn được by ra mấy cch khc nhau, để nguyn con nướng trn than nng hay đt l sau khi đ cắt tiết, hoặc mổ lấy thịt pha trộn gia vị rồi đt l hay nướng than. C người lại hấp cho thật chn rồi mới đem nướng, km theo nhiều kiểu cch phải giữ cho đng mi vị. C lần chẳng hiểu Phủ đọc được ở đu, thao thao bất tuyệt ni về đặc tnh vị thuốc của thịt ra, yếm ra, lại cn nhắc đến nhiều tn chỉ về những thnh phần khc biệt của ra chẳng hạn qui bản, lục tng, qui đảm trấp, qui niệu, qui nhục, qui nhục tửu, qui huyết, qui gip. Sau một hồi ni, Phủ kết luận, ai uống nhiều cao qui bản th ch kh, vui vẻ, khn ngoan, lắm con lại khoẻ mạnh, v thm tuổi thọ. Thịt ra chữa thấp ty, phong ty, chiết thương, gn xương nhức mỏi, ho v lạnh, tả huyết hay huyết lỵ. Thi th lắm thứ lắm kiểu, chẳng khc g ra l một loại thuốc thần trị b bệnh. Đặc biệt, Phủ nhấn mạnh, ngy lục gip hay những ngy trong thng mười hai khng nn ăn thịt ra v vo những ngy đ thịt ra trở thnh mn kỵ lm tổn hại tinh thần. Hơn nữa, ăn thịt ra khng được ăn chung với thịt heo, c mễ, nước dưa, rau sam, nếu khng để m ăn lộn với những thứ ny sinh tai hại v kể (DTCN; Tr.872-881). Bởi đ, chỉ cần thng bo cho một người l cả bọn đ hội họp đầy đủ e lỡ cơ hội hưởng thọ. Thực ra, chẳng hiểu cng hiệu thịt ra, cao ra thế no hoặc bổ bo ra sao, dn nhậu m nghe thấy mu ra pha với Hennessy, hoặc "B đi ng," hay "Thnh mờ mờ" th dẫu c bị liệt giường cũng nhổm dậy được m m tới. Ấy chỉ l mới nghe tn đ thấy cng hiệu. C điều lạ, khng ai đặt vấn đề sự cng hiệu pht xuất từ tn tuổi linh vật c thể sống được cả ngn năm hay từ hơi hướng của nước thnh v mới nhấp thử một tợp đ cảm thấy ngy ngất lng người! Ni rằng từ linh vật th n đ sống được bao nhiu năm đu m bị thượng ln bn cho mọi người xu x! C lẽ sự lạ xảy ra do cng đức của Hennessy, hoặc Rmy Martin chăng! V thế l theo thường lệ của những lần quy quần bn mn linh vật ny, chủ nh trịnh trọng khai mạc với nghi thức chia qui huyết. Lần ny, Hưng kiếm được chai "ch u" khiến mn qui huyết thm gi trị v m miệng hơn. Huyết ra, dẫu t, cũng đủ lm mầu rượu ch u đ đỏ cng thm tươi thắm tăng gia phần đậm đ cu truyện đang bỏ dở. Cụ Ti cũng được một ly; cn đang thưởng thức mi vị sau khi nhấp một ngụm nhỏ th thin hạ ai nấy đ hon thnh bổn phận khai mạc; c người đ kịp thời gặm đi ra nướng cn đang nng hổi.
    - Ni theo nh Phật, ra l giả tướng; rượu cũng l giả tướng; thi th đnh chấp nhận ăn ci giả cho qua v uống thứ giả cho qua, Sỹ nh con với giọng khề kh ln tiếng, giả tướng hấp dẫn như thế ny th nh con thấy đường thức ngộ vẫn cn xa lắc xa lơ. Hơn nữa, giả sử đạt đến thức ngộ m ăn khng cn cảm gic g, uống rượu uống bia chẳng thm say, c lẽ nh con chẳng nn thức ngộ, v như vậy, phỏng cn g để ni tới tu chứng, nghiệm chứng.


    MBVN 04

    Lời ni nửa nạc nửa mỡ, mới nghe tưởng hắn diễu cợt cho c chuyện ni, chẳng ngờ cu cuối lại mang nặng phần nhận định. Vẫn biết muốn thức ngộ, con người phải thực hnh tu chứng. Tuy nhin, dẫu tm ti qua sch vở hoặc nghe thuyết php hay tưởng tượng th cảm nghiệm tu chứng vẫn như những chiếc bnh vẽ, ng thấy, ai cũng thm thuồng nhất l lc bụng rỗng khng trong khi nhu cầu cuộc sống v cảm gic cũng như niềm vui thế tục, gốc rễ đ thấm nhập su tận đy lng, che lấp mọi bề chẳng dễ chi gạt bỏ d chỉ để c khoảng trống mỏng manh hầu gip con người nhận thức r hơn nẻo thức ngộ tm linh. Ăn khng cầu no, chẳng mong khoi khẩu, no ai tốn tiền bạc, giờ giấc dy dưa chuẩn bị cho thm phiền h? Uống rượu bia khng say, hỏi ai chịu tốn ngn quĩ chi ph cho dng mu lưu linh! Miếng bia, ngụm rượu, vừa tri khỏi miệng đ thấy ph, ai c thể từ chối sự mời gọi thực nghiệm nhất l đối với dn nhậu, thch c cảm gic lăn quay cng đất trời, hoặc gip phần no trốn chạy sự m ảnh của những phiền h nơi cuộc đời!
    - Con người được sinh ra c bộ lng ruột th phải ăn, phải uống. Ti thử hỏi ng, tại sao những cục đ khng ăn, khng uống? Cũng phải c l no đ m chng ta được sinh ra với ngũ quan v bộ phận tiu ha. Giả sử ng khng c bộ c th lấy g để đặt vấn đề thức ngộ? Ti nghĩ, c thể cn cảm thấy phiền h hoặc cn muốn giải thot khỏi những sự phiền h cuộc sống vẫn khng mong g bước vo con đường thức ngộ. Con người l thế v phải như thế mới l con người v khng như thế khng thuộc về giống người. M đ khng chấp nhận thn phận con người th vẫn cn luẩn quẩn trong vng ước mơ thị dục, vẫn muốn phải l thế ny hoặc khng l thế khc. Tại sao con hổ khng chịu ăn cỏ như những con th khc? Đu phải v n khỏe hơn hoặc khn hơn hay thch ăn thịt do đ khng chịu ăn cỏ. Thế những con voi đu yếu km g sao cứ cỏ m gặm, dẫu gặp thịt nai cũng khng thm ăn. Con hổ m gặm cỏ chắc chắn khng phải l con hổ. Con voi m cứ lng bắt th rừng ăn thịt lại cũng chẳng phải voi. Thế nn, d cho thức ngộ hay khng, đ c bộ lng ruột tất nhin phải ăn, dẫu khng muốn ăn cũng khng được. Thi th cứ cho l ăn cũng như khng ăn, uống cũng như khng uống, chẳng muốn cũng chẳng phải, c lẽ thảnh thơi hơn.
    - Theo ti, cn muốn thảnh thơi th vẫn cn phiền h bởi dẫu khng muốn ăn vẫn phải ăn, m đ vẫn phải ăn tất nhin vẫn phải lăn lộn kiếm miếng ăn. Bởi vậy, vấn đề được đặt ra lại l vấn đề ăn uống thế no hầu giảm bớt phiền h để được thảnh thơi hơn chứ khng thể no tẩy sạch được phiền h hoặc cũng khng thể no c được thứ thảnh thơi tuyệt đối theo con người mơ ước.
    - Ni như thế sao c thể diệt dục? Ty con chợt ln tiếng.
    - Ngay muốn diệt dục đ l dục cn ni chi đến diệt dục. Dẫu khng thch nh nắng mặt trời thiu đốt th khng c nh sng mặt trời lm sao c sự sống. Cuộc sống lệ thuộc vo những điều kiện phức tạp, v ngay sự sống đ phức tạp, nn con người mới mơ ước thảnh thơi. Tuy nhin, ti e rằng coi chừng c cuộc sống thảnh thơi lại khng biết n l thảnh thơi nn chnh sự thiếu nhận thức đ mới tạo thm phiền h. Thảnh thơi hay khng tự nơi tm mnh pht sinh thi độ, cch sống, cũng như dục hay khng do con người của mnh chứ khng phải tại hon cảnh v hon cảnh tự n phải như vậy. Con người phải sống th điều kiện hon cảnh v sự sống trở thnh mi trường kiến tạo cch sống, thức sống. Thế nn dục l mơ ước hoặc tham vọng bắt nguồn từ sự khng chấp nhận mi trường hay cch sống hiện tại của mnh m thi. Nghĩ cho cng, con người cần c lối nhn mới, nhận thức mới để sao c thể nhận ra tất cả mọi sự kiện, mi trường, đều l cơ hội thăng tiến trong cuộc đời hầu đem lại sự chấp nhận cuộc đời. Đ c thể l l do tại sao c cu: "Tr giả tự xử, ngu giả quan phn." Hưng ln tiếng.
    - Anh Hưng ni thế hơi qu, cụ Ti e Hưng pht biểu chạm tự i người khc nn ngăn chặn. Ti hiểu phần no tm tư anh em lc ny, giọng cụ đắn đo. C phải anh em đang cảm thấy bao lu nay mnh đ bỏ lỡ cả phần cuộc đời qu khứ v biết bao cơ hội v khng dm sử dụng tm tr, tự suy nghĩ hầu nng cao thức sống, m ngược lại nhẹ dạ tin theo những lời tuyn truyền cổ v của kẻ khc. Những chuyện đ qua khng thể sửa đổi được th hy để chng đi vo qu khứ; mỗi người chng ta hy cn những ngy đang tới v cả một tm hồn mở rộng no lo g muộn mng. Anh em thử nghĩ coi, c rất nhiều vấn đề d muốn hiểu biết mnh cũng khng thể biết v chưa đến thời điểm để mnh được biết. Chẳng hạn vo khoảng năm 1990 hay 1991, một số bc sĩ v những nh chuyn mn nghin cứu về ảnh hưởng cơ thể của người mẹ đối với thai nhi trong thời kỳ trứng nước đ đưa ra nhận định; khi người mẹ mang thai m uống rượu bia, chất men sẽ gy nguy hại phần no bộ c của thai nhi. Ti thử hỏi, bao nhiu triệu năm rồi con người hiện hữu trn mặt đất ny m mi cho tới nay mới c thể biết được điều ấy? Phỏng như thế, c ai trong thời đại ny được sinh ra với bộ c ton hảo tự nhin khng bị ảnh hưởng? Tuy nhin, nếu khng c sự ảnh hưởng của men rượu bia tới bộ no thai nhi phỏng loi người tiến bộ được như ngy nay? Sự việc phải xảy ra v đ xảy ra như thế tất nhin c l ring m mnh khng hiểu; điều đ khng ty thuộc thẩm quyền của mnh. Ti đồng với anh em, điểm chnh yếu l mnh c để nhận ra cuộc sống v những sự việc chung quanh l cơ hội cho mnh thăng tiến hay khng! Đng khc, hiểu biết sự vật v sự kiện để lm g, để trau dồi kiến thức cho c vẻ tr thức hay để nng cao thức tm linh? Đặt vấn đề như vậy chng ta mới c thể nhận ra mnh phải sống với thức thế no. Bnh thường, con người khng muốn chấp nhận thực tại nn sinh ra mơ ước trạng thi đối nghịch. Khng những kẻ ngho mơ ước giu c m người giầu c lại mơ ước ngho kh. C thể mới chợt nghe, chng ta thấy nghịch nhĩ nhưng thử hỏi đ bao giờ chng ta bỏ thời giờ kiếm cơ hội tm hiểu tm trạng những người được coi l giầu c chưa? Ti nghĩ, tm l chung, con người thường chỉ lấy chnh mnh lm mẫu mực tạo ra thin kiến nn đ tưởng rằng quan niệm hay nhận định của mnh ph hợp cho mọi người ở bất cứ mi trường, hon cảnh no m qun nghĩa cu ni "C ở trong chăn mới biết chăn c rận." Nếu khng thế, sao c Phật học, sao c Lo học, Ấn học, Phc m?
    - Thưa bc, Phật học do đức Phật Thch Ca giảng dạy, Phc m do đức Gisu ni; chẳng lẽ cn phải c l do no khc hay sao? Ty con hỏi.
    - Anh hỏi như thế; cụ Ti nhẹ nhng ni, đoạn trầm ngm khiến bầu kh chợt lắng đọng dẫu giữa lc đang ăn uống. Điều hơi lạ l ai nấy cũng đồng ngừng mọi cử động hướng về cụ gi theo di. Thực ra, cu hỏi coi bộ rất thường v xưa nay ai khng nghĩ như thế; bất cứ tn gio no cũng đều được pht sinh từ một nhn vật nguyn thủy. Ni đến đạo Phật tất nhin mọi người đều lin tưởng đến danh hiệu đức Phật Thch Ca; nhắc đến KyT gio ai cũng đều hiểu đạo ny được bắt nguồn từ đức Gisu, thế m thi độ cụ Ti đối với cu hỏi thường tnh lại trở nn nghim trọng. Chừng hơn một pht sau, cụ tiếp. Thực ra, khi nu ln cu hỏi, anh đ tự trả lời theo nhận xt thng thường từ xưa tới nay. Tuy nhin, cu trả lời đng đắn khng đơn giản như mọi người đ quen thi nhận định mập mờ, trốn trnh đối diện chẳng những thực thể sự kiện m cn cố tnh che giấu một tm hồn ỷ lại, khng dm dng khả năng suy tư để nhận định nếu khng muốn ni l lười biếng, thiếu c cầu tiến. Ni thế, ti muốn chứng minh bằng cch để qu anh em tự tm hiểu xem đức Thch Ca đ ni g, đức Gisu rao giảng thế no. Đem so snh những lời ni ny với kinh sch v sự thực hnh tn gio, chắc chắn anh em sẽ thấy nhiều điều l th. Điềm đạm nhấp miếng rượu pha mu ra, cụ tiếp, c phải anh em vừa nghe ti đặt vấn đề đ nhận ra đức Thch Ca cũng như đức Gisu khng viết sch bao giờ. C lẽ nơi Ấn học v Lo học cũng thế! Ni cho đng, sự khn ngoan tm linh đ c sẵn tự nguyn thủy, ở mọi nơi v mọi thời đại; vấn đề chỉ l con người c để nghiệm chứng hay khng. Đy chnh l nguồn gốc pht sinh ngn từ v minh v minh triết nơi Phật học. Thế nn, minh triết l điều kiện nghiệm chứng nơi Phật học, v mỗi ngnh đạo học đều đi hỏi điều kiện ny nhưng được gọi bằng những ngn từ khc nhau hoặc v những người tiếp nối khng để nn khng đặt thnh vấn đề. Suốt thời gian nghe anh Hưng ni chuyện, v từ ny tới giờ, đ nhiều lần ti muốn ni về vấn đề ny với anh em nhưng những cu hỏi lin tục kế tiếp khiến ti vẫn phải chờ cơ hội. Tuy nhin, ti c thể bị lầm do đ muốn biết c phải anh em nghĩ rằng minh triết l sự hiểu biết của những người thng minh, ti cao, học rộng khng?

    - Thưa bc, Ty con nhanh nhẩu, chu nghe ni Lục Tổ Huệ Năng của nh Phật khng biết chữ. Nơi Kinh Thnh khng thấy ghi Cha Gisu học trường no, bao nhiu năm.
    - Vậy anh c nghĩ cc ngi minh triết khng?
    - Xin php bc cho con ni ngang; con khng phải l cc ngi nn khng trả lời được.
    - Khng ngang chi hết m đ chnh l thi độ minh triết! Minh triết khng ty thuộc học vấn m đ l khả năng tự do nhận định tuyệt đối nơi mỗi người. Ngược lại, chng ta khng dm sử dụng khả năng ny. Th dụ, anh em gọi ti bằng bc. Tn ti khng phải l bc, v tiếng "bc" l ngn từ anh em chỉ về ti. Tn của ti l Ti nhưng Ti lại l tn cha mẹ đặt cho để gọi chứ khng phải l ti. Xưa nay, chng ta rập theo thi quen như thế, chẳng bao giờ hoặc l khng dm đặt vấn đề về những sự việc v sự kiện đ quen thi nn khng nhận ra khả năng minh triết nơi mỗi người. Cc vị tổ thiền, cc vị tổ đạo học chỉ l những người dm đi ngược thi quen m định nơi lối pht biểu của x hội chung quanh, v đặt vấn đề theo cảm ứng với sự vật v sự kiện. Từ nhận thức thực tại về sự vật, sự kiện, lng kht khao tm mối lin hệ của con người với nguyn thủy pht sinh. Hnh trnh tm hiểu ny được gọi l nghiệm chứng hay tu chứng theo những phương php cảm nghiệm khc nhau ty tnh chất v điều kiện của con người cũng như mi trường sinh sống theo từng thời đại. V c thể ni, những người kế tiếp muốn phổ biến sự khn ngoan được gọi l đạo học ny lại c muốn bổ xung cho r rng hơn, hoặc c đồ muốn cho nhiều người nhận biết hơn, hay muốn tất cả mọi người từ hạng thng thi tới kẻ dốt nt nhận chn được sự khn ngoan tm linh nn đ viết thnh kinh sch trnh by cảm nghiệm; đồng thời cũng c những người thm nếm sự giải nghĩa ngn từ. Cng ngy kinh sch cng chồng chất v cng lắm nhn vật gii by sự khn ngoan khiến cho người hậu học bị rối m như rợ vo rừng. Hơn nữa, kẻ no cng c tham vọng phổ biến sự thng thi của mnh cng chỉ lm cho sự thức ngộ đạo học xuống cấp. Ti thử hỏi anh em, đa số anh em ở đy lm biển rả; phỏng anh em c thể giải thch cho mấy đứa trẻ năm, bảy tuổi cch đnh tm ngoi khơi khng, hay phải đợi đến ngy no đ chng khn lớn đủ mới c thể ni, v chng mới c thể lnh hội được. Tuy thế, nếu một người khng thch lm nghề biển, phỏng họ c muốn tm hiểu cch co tm thế no khng? Sự minh triết, nghiệm chứng cũng thế. Vậy m, thay v tm phương php khuyến khch lng kht khao nhận thức sự khn ngoan ty theo trnh độ v phẩm chất c nhn, người ta đ đặt ra những khun mẫu, lề lối thực hnh cũng như những giới hạn điều kiện kiến thức. Lu dần, sự truyền b đạo học nghiễm nhin trở thnh tổ chức tn gio với mục đch gip con người c cuộc sống tốt lnh theo khun mẫu lun l x hội, v đạo học bị biến thnh điều ước mơ của con người sau khi chết. Điều r rng, đức Thch Ca khng thiết lập Phật gio; đức Gisu khng chủ trương đảng phi Tin Lnh hay Cng gio. Anh em khng thể tm thấy danh hiệu Phật gio nơi kinh sch nh Phật, cũng như Tin Lnh hay Cng gio nơi Kinh Thnh. Thế m ngy nay chng ta nghe nhan nhản no l Tiểu Thừa, Đại Thừa, thiền tng nọ, mật tng kia. Cũng cng một sự thể, kẻ th gọi php thn, người ku tm vương, chn khng, chn như, tự thể, phật tnh, tự tnh, tnh gic, v ng. C lẽ những danh xưng tri qua cc thời đại gom lại nhiều hơn số người hiện hữu trn thế giới ngy nay. Tệ hơn nữa, đ c những trường hợp người khc khng suy nghĩ giống như mnh th gn cho họ danh hiệu ngoại đạo (KCĐĐ; Tr.22) hay lạc gio. Ấy, hy để ti ni thực lng, thử rở kinh sch nh Phật, mới chỉ đọc thong qua, anh em sẽ chứng nghiệm sự cả thể ny trong khi cuốn kinh no cũng lặp đi lặp lại những lời chn thật, bất hủ, Phật Tm, Tm Phật, Kiến Tnh, Kiến Tnh. Phỏng những bậc gic ngộ c can đảm dng những ngn từ như thế? Ti chỉ thấy những bậc thực sự gic ngộ ni nghịch lại; chẳng hạn, chẳng c tm, chẳng c Phật, chẳng c gio l tối thượng, chẳng c cc rc g ro" (GLTH; Tr.190). Cụ Ti đổi giọng ni một hơi chừng như muốn giải tỏa những suy tư chất chứa dồn p bao lu nay khng cơ hội giải thot.
    - Thưa bc, Hưng chợt ngắt lời,
    - C phải anh sợ ti ni những lời phạm thượng như ti đ từng sợ anh em bị coi l đả ph tn gio khng? Chẳng đợi Hưng trnh by điều muốn ni, cụ Ti chận ngang ni tiếp. Ti đ sợ anh em lầm lỡ như ti đ lầm lỡ chỉ v đời anh em cn di. Tuy nhin, kẻ khng bao giờ lầm lỡ th suốt đời lầm lỡ v đ bỏ lỡ những cơ hội sai lầm. Ti muốn ni với chủ đch gip anh em dm nhận thực về bản chất con người của mnh cũng như của thực tại. Đy l căn bản của minh triết, chuẩn bị cho hnh trnh tu chứng. Anh em thử bnh tm xt về tm l của những người gi đối với thế hệ trẻ dưới lăng knh nhận thức qua thực thể tu chứng nơi quan niệm cũ v mới. Người gi đ khng dm thực nghiệm hoặc thử những g mới v bất cứ những g khc lạ đều đi hỏi sự liều lĩnh, hy sinh, bất chấp vị thế cũng như cuộc sống. Bầu nhiệt huyết ny chỉ c ở những người trẻ v dẫu sao, đời họ cn di, lỡ thất bại, họ vẫn cn c cơ hội. Tri lại, người gi, qua những thăng trầm cuộc đời đ cảm thấy mệt nhọc, chn chường, cơ hội khng cn nn khng dm thử. Hơn nữa, c được thế đứng trong x hội đu phải chuyện lm chơi ăn thật. N đi hỏi cng sức, cố gắng, v cơ hội. Thử hỏi, tuổi trời đ cao, cơ hội khng cn, xc thn v tm tr đ đến hồi mệt mỏi no ai dm thử bất cứ g. Cứ lấy ti lm th dụ, ti biết, người gi thường c xu hướng bảo thủ, khng muốn tiến ha, v kh chấp nhận giới thanh nin c lối suy tư, ni năng, hay hnh động tri với thi quen của họ. Thấy điều g mới, người gi đều nghi ngờ ngược lại khng muốn để người trẻ thử xem sao v nếu để bọn trẻ thử m thnh cng tất nhin họ tự chứng minh đ bị thua v phải nhường vị thế cho bọn trẻ. Cũng c thể người gi khng chấp nhận sự mới mẻ v họ lm biếng; bởi muốn hiểu ci mới, ci lạ, phải gắng sức, phải vứt bỏ thnh kiến cũ của mnh. Thế nn, nếu chấp nhận bọn trẻ c l tức l tự chấp nhận mnh lầm lẫn. V như vậy, chẳng khc g tự ph đổ vị thế yn ổn của mnh, tự xa nha danh vọng lỗi thời đ được khoc ln mnh (CNCĐ; Tr.19-20). Ti tuy tuổi đ gi nhưng thấy cn nhiều điều mnh khng biết; c thể ni đng hơn, ti đ khng biết những g người ta thường cho rằng nn biết. Đ l l do tại sao bao lu nay ti rất t khi ni chuyện với anh em. C điều, đ đến lc chng ta khng cn tự phụ về những phn đon truyền thống nữa m bắt buộc phải xt lại hết những chn l của mnh xem c cn hợp với thời đại đầy biến chuyển ny hay khng. Đy chnh l căn bản cho sự minh triết, v sở dĩ ti phải ni đến vi đặc tnh của tuổi gi cũng chỉ với định nhắc nhở anh em nhận ra con người mnh thế no hầu trnh vướng phải những cố chấp, con đẻ của tham vọng nơi mọi người. V thế, khi xt lại những chn l xưa nay tưởng l vĩnh hằng, chng ta thấy cần phải bỏ đi hoặc phải được xt lại hay giải thch lại một số chn l đ từ bao đời đang ngự trị tạo thnh thi quen, điểm tựa cho mọi suy tưởng. Hơn nữa, c nhiều nhận định mới m một người chn thnh dm thực sự đối diện với lng khng sao bc bỏ được, chng ta cũng cần kin nhẫn v điềm tĩnh nghiệm chứng. Đ c kh nhiều người ln tiếng than, khng những giữa quần chng m cn nơi sch vở rằng thời đại ny l thời mạt php, hoặc dựa vo lối nhn hạn hẹp giải thch Kinh Dịch v cho rằng thời nay l thời văn minh cơ giới của Ty Phương đang lm b chủ hon cầu, tức l ở vo kiếp vận cuối cng của một chu kỳ sắp đến ngy chấm dứt (CDHG; Tr.43), v cn dựa vo mấy con số, nhắm mắt ni bừa rằng c sch đ tin tri tận thế sẽ xảy ra trong khoảng năm 2.000 v năm cuối cng l năm 1999 (CDHG; Tr.48). Nếu thời hiện nay lun lun xấu hơn thời đ qua th, c thể ni theo b Luise Rinser, một tc giả người đức, nhn loại hiện nay vẫn cn ăn lng ở lỗ, chỉ nghĩ tới việc săn bắn v giết lẫn nhau; m kẻ no đầu tin c vẽ hnh cc con th ln vch cc hang đ phải đng kể l c tội v kẻ đ đ tạo ra một ci mới tức nghệ thuật (CNCĐ; Tr.155). Suy như thế, ti nghĩ thời nay khng phải l thời mạt php m c thể ni l thời php mạt.
    - Thưa bc, Phủ chen ngang, sao bc lại gọi l php mạt?
    - Ti chưa kịp ni th anh đ vội hỏi. Thực ra ti cũng chẳng biết nn gọi l g do đ tạm gọi l php mạt. Đại khi nhn danh tm bồ đề, người ta muốn gip con khỉ trở thnh nhạc sĩ.
    - Bc ni sao, con khỉ đu được sinh ra để trở thnh nhạc sĩ! Sỹ nh con chen v.
    - Người ta đ qun ci duyn nơi nh Phật do đ cố hạ cấp Phật học để giảng dạy cho những người khng duyn kiến tnh để rồi khuyến khch ước muốn cầu cho được kiến tnh th chỉ tạo thm vọng tưởng. Hơn nữa, sự giải thot theo quan niệm nh Phật tức l giải thot khỏi vọng tưởng v khi khng cn niệm tất khng cn vọng tưởng. Đy l nghĩa độ chng sanh, khng c d chỉ ước muốn độ mới thực sự l độ của nh Phật. Bởi thế, Phật học khng mang d chỉ một cht ước muốn cứu độ v cn muốn, cn sinh niệm tức l vẫn tạo chng sanh sao c thể ni độ chng sanh. Anh em c thể hỏi bất cứ ai theo Phật gio, ngay cả những người thnh tm nhất, họ đều m mờ giải thch rằng đức Thch Ca v thấy nhn loại đau khổ trong vng sinh, bệnh, lo, tử, nn bỏ vợ, bỏ con, bỏ cả ngai vng đi tu cứu độ chng sanh. Anh em nghe ti ni c giống y chang một Phật tử khng? Sự hạ cấp nhận thức về Phật học ny chỉ trng thm vo cổ con người p lực v minh nếu khng muốn ni l đả ph Phật học. Tất nhin, cn trng mong được đạt tới bất cứ g tức l tự chấp nhận lệ thuộc vo ước muốn ấy. Suy như thế theo nh Phật, người no đ kiến tnh sẽ khng cn ước muốn độ ai v khng cn niệm m họ chỉ sống thnh thực với Tm Phật nơi họ v sẽ khng bao giờ rao giảng Phật học. Ngược lại, chỉ những người cn đang u m mới c tham vọng cứu độ hoặc giải thot chng sanh. M Phật, họ đang tạo thm mun kiếp chng sanh m khng nhận ra. Dĩ nhin, cuộc đời l thế, ai cũng tự tạo cho mnh một hnh ảnh l tưởng t khi hợp với sự thực rồi thấy mnh đng vai tr muốn đng cho c vẻ oai một cht với thin hạ. Anh em c hiểu ti ni g khng? Giọng cụ Ti như mơ mng nơi một thực tại khc biệt no đ mang thm nỗi xt xa.
    - Thưa bc, nếu khng c người giảng giải con đường thức ngộ th đu ai biết m đạt tới kiến tnh.
    - C thể đy l l do pht sinh tm bồ đề hay tm từ bi nơi nh Phật. Tuy nhin, dẫu l luận thế no chăng nữa th cũng đối nghịch thuyết nhn duyn v chỉ tạo thm vọng tưởng. Đồng rằng, chng ta l những lữ khch trong cuộc đời tm về chn l, nhưng đa số khng c can đảm tự nhn nhận chnh mnh nn đ tự tạo cho họ một hnh ảnh đẹp đẽ, cao thượng, v cố gắng giả hnh sống theo. Đy chỉ l kết quả của lng tự ty, kh tự nhận thấy con người thực của mnh. Phật học khuyến khch con người tự nghiệm chứng, khng tin bất cứ ai ngay cả những lời dạy của đức Thch Ca nếu chưa nghiệm chứng. Anh em khng nhớ cu ngi ni, "Lời ta ni như chiếc b" sao! V nếu mọi người tự nghiệm chứng th giờ giấc no, tm tr no nghe giảng giải. Như vậy, cng cố gắng giảng giải chỉ cng dẫn kẻ khng nghiệm chứng chm su trong vng luẩn quẩn niệm.
    - Chu khng muốn v khng dm tranh luận, nhưng chu nghĩ sự giảng giải phần no cũng đem lại lợi ch cho người nghe, chẳng được đng nọ, cũng được đng kia, giọng Hưng ngập ngừng,
    - Tranh luận l để đưa ra chnh đề v phản đề, bc bẻ những luận cứ của nhau rồi hai bn cng tiến thm một cht trn hnh trnh tiến tới chn l. Anh em cứ tự nhin v ti khng c cht định giảng giải Phật học đu. M thực ra, đu c g để ni bởi Tm Phật, quyền lực hiện hữu, đ tự ở nơi mọi người th giảng giải cũng v ch, c chăng chỉ vẽ rắn thm chn. Nếu ai được sinh ra để thức ngộ th khi tới thời điểm, chuyện phải đến sẽ đến. Để trả lời anh vừa nu ln, ti muốn nhắc lại cu ni của đức Đạt Ma Sư Tổ anh đ trnh by lc trước, "Lnh hội được Phật tnh nơi mnh khng thể học được" (GLTH; Tr.205). Ni cch khc, anh đ giảng giải Phật học; ngn đn gậy ng đập lưng ng ny anh thấy thế no? Phỏng những ai cn c tham vọng giảng giải cho kẻ khc kiến tnh, họ thực sự ra sao?
    - Nam m A Di Đ, Sỹ nh con đế v, hn chi m hắn lm ci đầu tụi chu muốn lộn xuống bn dưới ci chn! Cảm ơn bc đ lật tẩy thằng khốn nạn ny dm đọa đy cc vị Phật biết bao kiếp. Xin mời bc, chng ta phải dng nước thnh ha vị phật ra ny để tẩy trần cho minh triết thm được cht no hay cht ấy.
    - Thưa ng, Hưng ln tiếng, nếu cứ p dụng kiểu theo đm ăn tn, ng đng bị đy mun đời nơi ci đọa xứ bởi cn đi minh triết, thiếu nghiệm chứng th chẳng thể kiến tnh.
    Hưng vừa mở mn đấu ht, chợt thấy cụ Ti nng cao ly rượu nn im lặng theo di.
    - Ti mời anh em cng ti nng ly chc mừng tnh chất người nơi chng ta. Để ti kể cho anh em một cu truyện thần thoại của dn tộc Nga. Số l c một con rồng lần đầu tin nhn bng của n phản chiếu trn mặt nước, thấy xấu x qu, n kinh hoảng chết ngay lập tức (CNCĐ; Tr.102).
    Cụ Ti ngưng ngang, uống cạn phần rượu cn lại trong ly, đoạn đưa tay x một đi ra điềm tĩnh gặm. Cc tướng nhậu đang ch chờ nghe đoạn kết luận của cu truyện, tưởng rằng sau khi uống rượu cụ sẽ giải thch. Thế nhưng, đ nhai hết cả đi ra m vẫn khng thấy cụ ni g thm. Ai nấy đều ngớ ra.
    - Thưa bc, Ty con ln tiếng.
    - Anh muốn ni g? Cụ Ti hỏi ngắn gọn.
    - Con rồng.
    - N vẫn chưa chết. Chẳng đợi Ty ni hết, cụ chặn ngang; lời cụ nhẹ nhng tuy mang vẻ lạnh lng.
    Cu ni nghịch thường cng khiến mọi người khng hiểu cụ muốn ni g. Nơi cu truyện, con rồng thần thoại kinh hoảng chết ngay lập tức m đến khi Ty nhắc kho muốn hỏi thm cho r ngọn ngnh th lại được cu trả lời khng đu vo đu khiến kẻ nghe cảm thấy như bị dồn vo chốn hỏa m tạo nn tm trạng ngỡ ngng. Cụ Ti hnh như cố chờ đợi phản ứng của những người trẻ. Tuy nhin, sau đi pht vẫn chưa thấy ai ln tiếng, cụ nhỏ nhẹ hỏi,
    - Khng ai trong anh em thấy con rồng ?
    - Thưa bc, Sỹ nh con muốn ph tan bầu khng kh nặng nề, bc kể truyện con rồng huyền thoại th sao c thể thấy!
    - Con rồng trong huyền thoại đ chết v nhn thấy hnh ảnh của n phản chiếu trn mặt nước. Nhưng con rồng trong mỗi người chng ta th mơ tưởng những hnh ảnh khng thực về chnh mnh bởi biết rằng muốn đạt tới mục đch cao đẹp no đ đều phải chấp nhận những điều kiện hoặc thực hnh được gọi hy sinh. Điều ny c nghĩa chng ta khng dm soi gương sợ nhận ra bộ mặt thật của mnh th phải đau lng m sửa đổi. Thực tế ai cũng c thể cảm nhận được, v đ l d muốn hay khng, đời sống lun lun thay đổi. Sự thay đổi đi hỏi sự từ bỏ những điều sẵn c để chấp nhận những sự vật mới hay những kha cạnh mới của cng một vấn đề. Tuy nhin, bnh thường chng ta chỉ ao ước thay đổi m khng dm sử dụng sự tự do tư tưởng tuyệt đối nơi mỗi người để nhận thức v sống theo, m ngược lại e sợ bị thin hạ mỉa mai, đả đảo, hay bị chụp mũ với những danh hiệu mang đầy nhạo cười.
    - Thưa bc, mi trường sống ảnh hưởng tm tr con người cũng như lề lối v phương cch sống trn mọi phương diện th ai c thể c được điều bc gọi l tự do tư tưởng tuyệt đối.
    - Tự do tư tưởng tuyệt đối chỉ c thể c được nơi bất cứ ai dm dng nghịch luận để đặt lại mọi vấn đề đ được dạy dỗ hay đ quen thi chấp nhận. Bnh tm nhận định, khng dm đặt cu hỏi ngược lại những g mọi người chung quanh, hay cng tổ chức, hoặc cng tn gio chấp nhận chnh l thi độ khng dm soi gương. Chng ta sợ chnh chng ta để rồi tự chạy trốn, kiếm đủ mọi cch để che lấp bộ mặt thật của mnh. Thử đặt vấn đề, l do g tạo nn c tnh thch ăn nhậu nơi anh em? C phải v anh em quen uống rượu bia nn thm uống? Hoặc v anh em cần c những cơ hội nhộn nhịp cho vơi bớt nỗi chn chường của cuộc sống hiện tại? Nếu ni rằng thm bia rượu v thi quen th đu cần nhm họp để ly anh, chn ti! Nếu cần c người nọ người kia uống cho vui th l do phải l tại khng muốn một mnh gậm nhấm nỗi buồn khn ngui, dẫu anh em c gia đnh, nhiều người con ci cả đn. Suy như thế, mỗi người chng ta tự tiềm ẩn nỗi kht khao no đ m chnh mnh vẫn chưa nhận ra trong khi cứ miệt mi tm kiếm cơ hội khỏa lấp!
    - Thưa bc, ni theo nh Phật, niệm tạo vọng tưởng v như thế cng suy luận, cng tạo thm niệm th lại cng chồng chất vọng tưởng sao c thể đạt tới niết bn. Hưng đặt vấn đề.
    - Muốn đạt tới trạng thi minh triết chuẩn bị cho tu chứng phải hiểu biết chnh mnh thế no. Kinh sch nh Phật trnh by cảm nghiệm tu chứng, nghiệm chứng chứ khng phải l những luận đề giải thch chữ nghĩa hay kiến thức. Bởi vậy, những con mọt sch, những người chỉ dựa trn những kiến thức kinh sch hoặc sự am hiểu duy thức nh Phật khng phải l những bậc thức ngộ m chỉ l kẻ thng thuộc l thuyết nh Phật. Nghin cứu kinh sch hay đọc kinh sch nh Phật, nhưng chng ta thường hiểu lầm hoặc cố tnh hiểu lầm giữa sự hiểu biết l thuyết nh Phật hoặc nhận thức để thức ngộ với hnh trnh thực nghiệm thức ngộ được gọi l tu chứng hay nghiệm chứng. Sở dĩ ti muốn nhấn mạnh lại điều kiện căn bản cho sự minh triết l nhận biết chnh mnh v lc trước ti đang đề cập tới th anh Ty hỏi về Tiểu Thừa v Đại Thừa v những tiểu tiết khc tiếp nối lm đứt đoạn. Hơn nữa, hiểu biết chnh mnh cn lin hệ đến một số nhận thức nhn sinh lm nền tảng bước vo tm linh. Khng đủ điều kiện nhận thức trỗi vượt ln trn nền lun l nhn sinh, sự thức ngộ tm linh đương nhin vẫn cn bị cản trở. Thực tại nơi mỗi người chứng minh, sự nhận biết chnh mnh đi hỏi sự can đảm v ch dứt khot với những lề lối, tư tưởng, hoặc thi quen từ những quan niệm nơi cuộc sống đ bao ngy thng thấm nhập tm hồn c nhn; nh Phật gọi l vọng tưởng hoặc tướng ngn thuyết. Sự can đảm ny ni cch khc chnh l sự thnh thực tận đy tm hồn m khng tự lừa dối để chấp nhận chnh mnh hầu nhận ra những điều lợi ch nn cổ v v những tnh chất chẳng nn lm hại hnh trnh thức ngộ. Đng khc, một người quả thực can đảm th c thể nhận lỗi lầm của chnh mnh, nhận thực về mnh m khng sợ bị giảm gi trị hoặc thể diện. Khng nhận ra mnh thực sự như thế no sẽ pht sinh lng tự ty tai hại phủ lấp nỗi kht khao hướng thượng tm về gi trị v mục đch cuộc sống kiếp người. Người no c can đảm nhận thức nội tại tất nhin hnh động theo lương tm. Cc vị anh hng, cc vị thnh, thường bị một số người khng hiểu nổi tầm quan trọng về những hnh động liều lĩnh của họ nn cho họ l đin khng. Tuy nhin, c một thứ đin khng rất thng minh đ l can đảm v điều kiện ắt c v đủ để một người can đảm l sự thng minh. Kẻ ngu ngốc khng thể c can đảm m chỉ hnh động liều lĩnh, v thức. (CNCĐ; Tr.30). Thế nn, những người no khng dm suy nghĩ về gi trị v mục đch tối hậu cuộc đời mnh m cn lm bộ ngy thơ cho mnh l hiểu biết, giỏi dang, v cho rằng cuộc sống bất đắc dĩ của họ chỉ l nạn nhn của hon cảnh, c thể họ khng được sinh ra để thức ngộ hoặc khng muốn thức ngộ. Qu anh em nn nhớ một điều, v đ l khi hy sinh cho một ci g cao cả, người ta vượt ln khỏi bản ng nhỏ nhoi của mnh, m ha đồng với một nguồn sinh lực lớn hơn của ta nhiều lắm. V vậy, những người khoẻ mạnh nhất l những người hoi bo một l tưởng, được sức mạnh của l tưởng đ nng đỡ, li ko đi, khng cn th giờ nghĩ tới những nỗi khổ lặt vặt của mnh (CNCĐ; Tr.142). Như thế, điều kiện ắt c v đủ cho sự minh triết chuẩn bị cho hnh trnh thức ngộ phải l lng chn thnh nhận biết chnh mnh ngoại trừ những người đặc biệt đ được sinh ra với đầy đủ lng thnh nhận thức ny. Dĩ nhin, kẻ dm chấp nhận con người thực của mnh để sống theo lương tm cả l sự ngộ đời đối với mọi người chung quanh v thi độ cũng như lời ăn tiếng ni, tưởng của họ khng theo lề lối, thi quen x hội đương thời. Lẽ đương nhin, tưởng mới mẻ no m lớn lao, quan trọng th mới đầu cũng bị thin hạ mỉa mai, đả đảo. Tại sao vậy? C thể v chng lm lung lay vị thế của những kẻ bm vu vo những kiến thức lỗi thời như phương tiện hoặc căn bản cho thức sống của họ. Ti nghĩ, những anh em theo Cng gio c lẽ chưa bao giờ được nghe lời Thomas Aquinas tuyn bố: Nếu cc gio phẩm v khng hiểu r tnh trạng m buộc một người no đ phải hnh động tri với lương tm người đ, th người đ phải th chịu bị bi xch ra ngoi gio hội v chết cn hơn l phản lương tm của mnh (CNCĐ; Tr.167).
    - Thưa bc, nếu như thế trong trường hợp một người c lương tm bệnh hoạn th sao?
    - Người đ c lương tm bệnh hoạn đu c thể biết họ sai lầm cho d những người đồng thời nhận định về họ thế no. Tuy nhin, giả sử chng ta được sinh ra một trăm năm trước đy, anh em c thể tưởng tượng được chng ta c cơ hội cng nhau ăn uống v bn luận như thế ny khng? Một trăm năm trước lm sao chng ta c cơ hội nghĩ đến những điều như ngy nay! Ai c thể chấp nhận gi trẻ cng nhau tranh luận về một vi vấn đề. Như vậy ngy ấy, những ai dm ni ln nghĩ của sự tưởng tượng đến một vi thực tại c thể xảy ra by giờ coi chừng bị kết n l nhận định hoặc lương tm bệnh hoạn. Ti thử đưa ra th dụ, phỏng anh em no c thể giải thch cho ti cu ni của Lo học: "Khng lm g l lm tất cả." C phải chỉ mới vừa nghe, anh em đ thấy cu ni phi l rồi khng? Ti dng ngn từ phi l để chỉ cảm nghĩ nơi anh em v cu ni được pht ra từ cửa miệng ti. Giả sử nếu một người no đ trong anh em lặp lại cu ni m khng giải thch, thử hỏi chng ta sẽ nghĩ sao?
    - Thưa bc, khng, ah, chu xin lỗi, Sỹ nh con qu mau miệng ln tiếng trả lời qun cả thi độ lịch sự tối thiểu khi ni với một cụ gi.
    - Khng hay bệnh hoạn no khc g. Chng ta l con người nn mới gặp những lầm lỗi do sự hấp tấp, chưa kịp suy nghĩ đ vội xt đon. Cu ni nơi Lo học đứng vững đ mấy ngn năm m tới giờ vẫn bị cho l khng th những người khng quan niệm giống mnh tất nhin mnh cũng vội kết n m thi. Tuy nhin, đu phải ai cũng chấp nhận hoặc khng dm suy nghĩ đặt vấn đề về cuộc đời. Đu phải con người được sinh ra một cch phi l! Con người l động vật duy nhất biết rằng mnh khng trường cửu (Malraux). Anh em c thể nhớ lại đ bao lần chng ta phải đối diện với tm trạng hi hng v tuyệt vọng v nhận ra niềm vui sống của mnh đ bị đầu độc bởi sự hiểu biết rằng mnh vốn l một thứ động vật khng thể vượt ra ngoi ci chết. Chẳng ni g đu xa, cho d c suy nghĩ đến mấy, mnh cũng khng thể no kiếm được lối thot khỏi thực tại bất như tạo nn tm tư chn nản, đ bao lần cố lờ đi m khng được nn đnh chấp nhận sống để m sống, sống cho qua, sống chờ ci chết. Hiểu như thế, anh em thấy tại sao hầu hết cc nền triết học v tn gio đều đem lại một cu trả lời qu ư bi quan yếm thế. Đối với Phật gio, đời l bể khổ v con người trầm lun trong vng sinh, bệnh, lo, tử. Lo học nu ln trời đất bất nhn, coi vạn vật như loi ch rơm do đ chủ trương v vi. Thin Cha gio lại quan niệm con người bị khốn khổ v ngụp lặn trong vng tội lỗi nn Cha phải nhập thể cứu chuộc.
    - Thưa bc, khng ai thot được sự chết th đặt vấn đề để lm g! Chu nghĩ, nếu c ai t nhất sống được hai hoặc ba trăm năm th đặt vấn đề sao cho sống lu như họ mới hợp l. Đng ny, khng ai thot chết th mnh sao trnh khỏi.
    - Nếu mọi người chấp nhận như vậy tất nhin đ khng bao giờ c tn gio, triết học, đạo học, v nhất l sẽ chẳng bao giờ c những người m anh vừa gọi l khng. Thử đặt vấn đề, chng ta c tự do khng? Chắc chắn ai cũng nghĩ rằng mnh c tự do. Chnh cc triết gia Đng, Ty, kim, cổ, đều quan niệm con người c tự do. Ngay cả tn gio dẫu khng nu r vấn đề song vẫn ngầm hiểu như thế. Tiến xa hơn nữa, mọi người chng ta cn được đa số cc dn tộc trn thế giới chấp nhận c nhn quyền tối thiểu. Nhưng lm thế no để thực hiện sự tự do nơi con người? Phỏng khi tri tim chng ta ngừng đập, chng ta c thể nhn danh điều được gọi l tự do khiến n đập thm vi ci nữa khng? Thế th sự tự do chỉ c nơi con người chưa chết; v như vậy, bất cứ ai suy tư về thn phận con người đều mang khuynh hướng vượt khỏi số phận, v c ước muốn chống đối lại số phận của mnh, hoặc tm cch giải thot hay chạy trốn bằng qun lng, hay bất cứ phương cch no. Ai để giờ suy nghĩ về thn phận lm người đều nghiệm chứng được kiếp sống gắn chặt vo ging sinh ha tự nhin khng sao c thể thot ra được v trước khi suy nghĩ đến sự sống, thn phận, hay kiếp sống th con người đ đang sống. Lng kht khao giải thot ny dẫn con người đến nẻo đường độc nhất l trực diện ging đời bằng cch nhận thức chnh mnh để tm phương php giải quyết. Tất nhin, nhận thức chnh mnh l bắt đầu quay về nội tm để nhận ra thực thể nơi mnh. Ti l ai? Ti c phải chỉ l xc thn ny? Tại sao c nghĩ? Ti c tự do khng? Tại sao con tim c thể đập, v tr c c thể suy nghĩ, suy nghĩ ngay cả đến những điều chưa bao giờ thấy hoặc chưa bao giờ nghe, hoặc nhận xt về tm cảm yu thương. Từ đ, con người đạt tới những thực thể khc nơi chnh mnh m nhiều khi ni ra khng được hoặc cố giải thch th chỉ cng khiến người nghe rối tr. C phải đy l nguyn nhn để c cu kinh Phật "Bể khổ mnh mng, quay đầu l bến." Quay đầu đy l tc động của nhận thức bản chất, bản thể con người của mnh, nhận thực về chnh mnh.

    - Thưa bc, quay đầu thế no khi vợ con đm đề, rồi no tiền nh, tiền điện, tiền xe, bill bọng chồng chất khi ln, nhất l trong những trường hợp vợ ốm, con đau. Nhiều khi, ước g thn ny v xẻ lm đi lm ba, phần lo cy trả nợ, phần đi chợ nấu cơm, phần cn lại đưa b x đi sắm đồ e ra đường khng được ai để th sợ mặt chồng con, hoặc ốm bớt lỡ gi thổi bay mất lại khổ ci thn chưa gi đ mồi ci. Chu nghĩ mi vẫn khng cn gnh no nhẹ hơn th cn đầu đu m quay.
    - Thi, thi, đủ rồi, ni mi, ni hoi, ni dai, ni di, ni dại, ni khng để ai nghe m cũng cứ ni. Sỹ nh con mượn dịp chm v diễu trong lc mọi người đang để nghe cụ Ti nhận định khiến Phủ ln tiếng.
    - Anh Sỹ cũng c l, nhưng l một nửa v ước muốn của con người ở đu th lng dạ của họ ở đ (Mt. 6:21). Bản chất con người khng phải hon ton l một cơ cấu sinh l đ trở nn biết suy tư bởi được thấm nhập, học hỏi, do sự lin hệ với x hội, nhưng đồng thời cũng khng phải hon ton l một thứ tm linh siu việt vượt ra ngoi thể xc, m l cả hai, đồng thời tuy hai m một. Bnh tm nhận xt, những niệm hướng thượng, thiện, c, trch nhiệm, chn l, đạo l, nơi con người đều tượng trưng cho nguyện vọng muốn vượt ra ngoi vũ trụ cảm quan v thể chất để đạt tới những trạng thi hoặc cảnh giới vĩnh cửu, thường hằng. Những niệm ny dẫu ảnh hưởng từ cuộc sống nhưng khng phải bởi ngoại cảnh m bắt nguồn tự chnh con người. Ni rằng khng cn ci đầu để quay sao anh c thể ở đy vo lc ny? V như vậy, nơi con người cn c những sự kiện sinh hoạt nội tm khng bắt nguồn từ cuộc sống, từ vũ trụ ngoại giới hoặc lệ thuộc thể xc. Sinh hoạt nội tm ny chnh l những suy tư, thức, muốn chống nghịch lại thn phận kiếp người giới hạn, đ tạo nn đau khổ v sợ hi. Từ sự chối bỏ của con người khng muốn chấp nhận hon ton thn phận của mnh, tưởng Thượng Đế hữu ng tất nhin được pht sinh hầu tm nơi nương tựa cho tm tưởng hoặc v lười biếng muốn c một mốc cứ để đổ lỗi, hy vọng cảm thấy nhẹ phần đau khổ do tm trạng bất mn khng chấp nhận thn phận hầu ko l cuộc sống đ lỡ được sinh ra. C thể đy l sản phẩm của những đầu c thụ động.

    Cụ Ti ni tới đy đ thấy mấy người đổi thế ngồi; hnh như niệm Thượng Đế l sản phẩm của suy tư chạy trốn đụng chạm hơi mạnh tới niềm tin tn ngưỡng.
    - Thưa bc, tn gio mang mục đch gip con người sống tốt lnh, hiền ha hơn, lm điều lnh, trnh điều xấu, v đồng thời tạo tnh thn i để kiến tạo v đem lại trật tự x hội. Chu nghĩ, như thế đ qu đủ.
    - Anh nghĩ như thế, c nhận định như thế hoặc cho rằng mục đch của tn gio như thế, hoặc n đ đạt được đến như thế, hay anh đang lặp lại lời của người khc m tưởng rằng đ l nhận thức của chnh mnh?
    - Thưa bc, tn gio no khng dạy ăn ngay ở lnh, lm điều thiện, trnh điều c.
    - Đ l l do tại sao chng ta cần sử dụng tự do tư tưởng tuyệt đối qua hnh thức nghịch luận. Nếu ni rằng mục đch tn gio chỉ l dạy con người ăn ngay ở lnh, thế sao những sự kiện được gọi l c vẫn đang xảy ra mỗi ngy một nhiều? Ni rằng tn gio đem lại trật tự x hội tại sao c luật ny, luật kia, cả ngn thứ luật. Chnh lng kht khao tm đường lối giải thot thn phận con người đ pht sinh đạo học, tn gio. Đu phải ai cũng chấp nhận ko l kiếp sống chờ ngy chết. Giả sử anh em no đ đang khi đnh tm v tnh rơi xuống biển, phản ứng sẽ ra sao...
    - Th bơi, khng bơi sẽ xuống gặp H B!
    - , khng được ni leo. Bố ti l H; ti chưa chết sao ng dm phạm thượng. Cụ Ti vừa nng ly chiu ngụm rượu mới được Ty rt thm, mục đch để mọi người c vi giy suy nghĩ về lời mnh ni th Sỹ nh con đ nhảy xổ v ln tiếng khiến B phải ngăn ngừa ci miệng hay ni to lao.
    - Trường hợp những người tương đối c cuộc sống dễ thở, khng phải lo lắng về nơi ăn chốn ở hoặc những nhu yếu bnh thường, họ đu dễ dng thụ động chấp nhận cuộc đời. C cu ni của dn tộc no ti khng nhớ; cu ni như thế ny, "Khi những con vật ăn no, chng ngủ; nhưng khi con người khng phải lo lắng về miếng cơm manh o, họ suy nghĩ." Thực ra, tri ngược với c tnh thụ động, đu thiếu g người v kht vọng vứt bỏ thn phận n lệ, sợ sệt, yếu đuối của con người đối với ging đời, đ muốn ginh giật địa vị một siu nhn sng suốt, quật cường, tự mnh nắm giữ lấy vận mệnh đời mnh (XDNSQ; Tr.22). Họ đu chấp nhận điều người khc tuyn truyền m đ dm suy tư, tm mọi phương diện thực hiện một cuộc cch mạng tm linh hầu thot khỏi ch thống trị của những l thuyết n lệ quyền lực v hnh. Họ cho rằng niệm một vị Thượng Đế siu hnh ngự trị một cch tuyệt đối trn ch, vận mạng, l một sự hn nht, ỷ lại, v lười biếng, tự lm mất nhn phẩm, nn muốn vng dậy để thức lấy vị tr v thảm kịch trong thn phận của mnh. Dĩ nhin, điều ai cũng c thể cảm nhận được đ l thức con người l một khuynh hướng thường hằng nhưng cũng l một thất bại min tục nơi hnh trnh tiến tới kht vọng giải thot thn phận kiếp người, một hnh trnh r rệt nơi ch m lại kh tm phương tiện nắm bắt. Con người giống như một giọt nước trn ging sng sinh ha. N c quyền tự do tri dọc, tri ngang theo ging sinh ha, nhưng n khng c tự do từ chối khng hiện diện ở trong ging sinh ha đ (XDNSQ; Tr.178). Tm thức nơi thn xc chẳng khc g người cho đ nơi ging sng sinh ha. Người li đ muốn ra khỏi ging sng phải cho đ chứ khng thể bỏ con đ của mnh khi chưa tới bờ m c thể bước ra khỏi ging sng.
    - Dễ m, đnh chm đ, ku "coast guard" đem trực thăng bốc.
    - Thi ng ơi, lm ơn kha dm ci miệng lại để tụi ti nhờ. ng cứ nhảy xổ vo cổ họng kẻ khc lm mất ph.
    - Khng c trực thăng th ng chết chm cn g m ni, cn g m nghe. Bộ ti ni khng đng sao!
    - ng chẳng chết chm, B ln tiếng, th cũng chẳng ni chẳng nghe được. R l dốt m thch chen v ph đm. Ti thử hỏi ng, muốn ra khỏi ging sng sinh ha khi chưa tới bến bờ chỉ cn nước trốn lnh bằng cch tự tử chứ trực thăng, trực ging đu cho ng leo ln. M c lẽ ng ni cũng đng phần no, chỉ c trực ging. Thế l cả bọn ph ln cười. Suốt mấy tiếng đồng hồ B khng hề h miệng đm luận dẫu những lc ni diễu hắn đấu ht khng ngưng nghỉ. Cụ Ti hơi ngạc nhin về cu ni của B, thầm nghĩ sẽ hỏi thử xem nhận định lun l của anh chng ny ra sao.
    - Tại sao anh B khng chấp nhận c đột biến nơi ging sinh ha?
    - Thưa bc, nếu c g được gọi l biến đều phải c diễn tiến cch no đ tạm gọi l nguyn nhn hay ci l của sự việc. Đng ny, khng c nguyn nhn diễn tiến m cắt ngang cơ hội sinh ha tức l ph hủy hnh trnh thăng tiến của tm thức. Chu nghĩ, xt theo phương diện lợi hại, tất cả những điều g thuận lợi cho sự thăng tiến tm linh l thiện v bất cứ g ngăn cản sự thăng tiến tm linh đều l c; bởi nơi cuộc sinh tồn nhn loại, sống chết l lẽ thường v đ c sinh ắt phải c tử v chỉ những g khng sinh mới khng tử. Nhn về diễn tiến nơi ging sinh ha, thn xc được coi như con đ, m hồn hay tm thức nhờ vo đ xui theo hay ngược ging, th những g con đẻ của vọng tưởng lm phương hại tới hnh trnh kiến tnh đều phản nghịch lại quyền lực hiện hữu tối thượng phải được coi l c.
    - Thế anh nghĩ g về những chiều hướng đng, sai, đối đi nơi lun l?
    - Chu chỉ ni quan niệm c nhn, thực ra, chẳng c g lm điểm tựa chung ngoi tm linh để xt về lun l, v chu cũng khng chấp nhận đa số thắng tiểu số nn khng thch ln tiếng những khi c người luận đm. Nhn vo thực tại cuộc đời, biết bao những vấn đề tốt lnh, cả thể, no c bao giờ chng ta để hoặc c những hnh động no đ thực hiện hay cổ v. L do rất dễ hiểu; v những vấn đề tốt lnh đ chẳng c g lin hệ đến cuộc đời mnh. Tuy nhin, lắm thứ x hội cấm cch ny, ngăn cch khc m ai nấy cứ chờ cơ hội hở ra l h hửng vi phạm, miễn sao khng bị bắt quả tang. R rng chng ta phạm php nhưng lương tm khng cắn rứt; thực hiện điều được gọi l sai theo lun l m lng ruột thực sự thanh thản th nghĩa l sao? Thế m, chỉ một cu ni mất lng người khc, cả tuần, c khi cả thng ăn năn vẫn khng qun lng n hận. Như vậy, chu thấy luật lương tm nơi mỗi người mang gi trị tuyệt đối nơi người đ, trong khi lương tm mỗi người hnh như cũng c phần no khc biệt với những người sống đồng thời.
    - Ti hiểu điều anh muốn gii by. Luật lương tm m anh nhắc tới chnh l quan ta tối thượng xt xử thiện c nơi mỗi người. Theo nh Phật, con người bao gồm hai thnh phần cực độ: một thể xc hữu hnh, trọc v v thường tiu biểu cho ci mực độ cuối cng trong sự đi su vo lịch trnh hiện tượng ha; một thnh phần tm linh huyền diệu, thường tịch v thuần nhất, bắt nguồn thẳng nơi thực thể tuyệt đối. Ở giữa hai cực độ đ, l cả một hệ thống những cảm gic dục vọng, tnh tự, tư tưởng m ta thường gọi l c tnh của mỗi người (XDNSQ; Tr.36-37). Đời người l một giai đoạn cho thực thể tm linh tiếp tục trong hnh trnh thăng tiến của n. Ni như vậy, cuộc sống hữu hnh l một cơ hội lớn lao bao gồm những cơ hội nhỏ; đ l những sự kiện, sự việc xảy ra trong đời người. Biết sử dụng những cơ hội ny hay khng ty thuộc sự thức ngộ tm linh của c thể trong ging sinh ha vĩnh cửu ny. V như vậy, bất cứ hnh động, nghĩ, tư tưởng no ngăn cản hoặc lm hại đến hnh trnh thăng tiến tm linh đều được coi l c; sự c nặng nề nhất v chng cầm buộc tm hồn con người nơi ci v minh. Đ cũng l l do tại sao chng ta cần mở rộng tm hồn để học hỏi. Ti hơi lấy lm lạ khi anh B phn tch về mấy chữ trực thăng, trực ging; đến khi anh ni về luật lương tm, ti lại thấy r hơn sự vi diệu của diễn trnh tm linh con người. Chnh ti đ bao năm bị suy tư lun l lm khốn khổ; bởi suy nghĩ th hợp l hợp tnh nhưng khi đem p dụng nơi cuộc sống khng thể được. Thế mới biết con người l một thực thể chẳng những kh phức tạp; đồng thời ging sinh ha hay cuộc sống con người ngụp lặn trong ấy lại cn phức tạp hơn. Tuy nhin, khng muốn sống th chng ta đ đang sống, ngược lại, trốn chạy cuộc sống d bằng cch no cũng đều l hn nht v chắc chắn đang thực hiện điều c tối thượng; chỉ cn một giải php duy nhất l trực diện.
    - Thưa bc, dẫu sao, con người mang đầy tnh chất giới hạn trong khi thực tại lại qu phức tạp, chu nghĩ, cho d vng vẫy cch mấy chn con người cũng khng bước bn trn mặt đất dẫu chỉ nửa phn. Như vậy, phỏng ước vọng giải thot chỉ l mộng tưởng? Đng khc, ni theo nh Phật, niệm cũng chỉ l vọng tưởng, phương chi ước vọng giải thot. Thm vo đ, con đường tm linh, như bc ni, lại qu mịt mờ. Chẳng lẽ đnh phải quay lại chấp nhận bung xui cho qua kiếp người.
    - Ti muốn dng quan niệm hnh xử sự việc của cụ L Qu Đn; may ra phần no c thể trả lời về phương diện kiếm tm đường lối trực diện thực tại. Trong cuốn Vn Đi Loại Ngữ, cụ viết, "Ci kho của thnh nhn xưa l biết dựa theo vo ci sẵn c của con người m uốn nắn, thm bớt, cắt xn để xếp đặt cho mọi việc đều đi đến thnh tựu. Bậc qun tử trước lm, bậc qun tử sau theo, cch vật v tr tri l thế, gp mọi l lại để ứng ph với mun việc v mun vật l thế. Như vậy, khng phải l vu vơ theo ngọn ở ngoi m khng tm đến gốc ở trong. Nếu vật g, việc g cũng đi xt cho đến cng đến đủ th chẳng khc v đường nhiều lối thnh nỗi mất d vậy" (VĐLN; Tr.30). Anh em nghĩ thế no?
    - Tuyệt, B ln tiếng, cổ nhn ni gừng cng gi cng cay, cay nhưng c l.
    - C lẽ anh B bắt được điểm giao hợp giữa tm linh v cuộc sống.
    - Thưa bc, bc nhắc lại mấy cu ni của cụ L Qu Đn khiến chu chợt nhớ tới lời giải thch quẻ Bỉ về thi độ người qun tử nơi thời buổi nhiễu nhương do những kẻ tiểu nhn nắm quyền bnh. B ngưng ngang trong lc mọi người đang để nghe.
    - Tiếp tục, Sỹ nh con ln tiếng. Cu B trả lời mang tnh chất thch đố suy tư v chưa ai bắt được đầu mối lin hệ giữa cu ni của cụ L Qu Đn v cu trả lời của B khiến miệng lưỡi nhanh nhẩu như Sỹ nh con cũng khng m ra gt mắc no hầu ph ngang do đ hắn ko di hai tiếng "tiếp tục" v chờ đợi. Thế m B vẫn chưa chịu ni, hnh như c điều g khiến hắn bận tm suy nghĩ khng để đến những người chung quanh.
    Đưa tay ra hiệu mọi người nn im lặng, độ chừng t chục giy sau, cụ Ti ln tiếng,
    - C phải anh B đang lin kết lời khuyn nơi quẻ Bỉ, với tổng kết quan niệm đức l của kinh Dịch, nhận định của Trang Tử, v nếu ti khng lầm, thm vo đ lời Kinh Thnh?
    - Thưa bc đng vậy nhưng chu chưa nghĩ được tới lời Kinh Thnh.
    Sự đối đp giữa một gi, một trẻ qua vi cu ni bng quơ c mnh lực thu ht những người hiện diện khiến ai cũng để tm ch nghe. Họ ngạc nhin v xưa nay B khng thch bn luận về những vấn đề được mọi người coi l trọng đại m c chăng chỉ tham dự vo những cu chuyện diễu v thưởng v phạt. Hắn khng ph bnh, chẳng nhận xt, chẳng cho bất cứ g l đng, m cũng chẳng chấp nhất những g bị mọi người kết n l sai. V tnh lỡ ni cu g bị anh em ha nhau ln n phải quấy, hắn nhẹ nhng đưa lời x xa chấp nhận, "Th cuộc đời mnh sai đ nhiều rồi, c sai thm cht nữa đ đụng đến lng chn ai đu." Hoặc, "L người lẽ đương nhin lun lun sai lầm. Khng sai, ắt khng phải l người." Đi khi, hắn cn c lối ni qu quắt nhưng khng ai bắt bẻ được bởi giọng điệu thật nghịch thường, "Ti cn khng biết ti ni g th lm cch no ng c thể biết được ti ni g. Cứ coi n l sai, dẫu khng sao th đ c trăng." Xưa nay hắn hiền ha, diễu cợt, ấy vậy, chỉ mới vi cu ni qua lại với cụ Ti đ khiến thin hạ rối m.
    Nghe B trả lời thế, cụ Ti tiếp,
    - Nơi Kinh Thnh c cu, "Ny Ta sai cc ngươi đi như chin vo giữa si; hy ở khn như con rắn, v chn thực như chim cu" (Mt. 10:16).
    - Thưa bc, sao lại chim cu? Ty con chợt chen v, phải l chim cu chứ, Kinh Thnh viết như thế m.!
    - Anh ni đng. Tuy nhin, đ l nơi bản dịch của Nguyễn Thế Thuấn được viết như vậy. R rng hơn, cuốn Tn Ước mới pht hnh năm 1994 tại Việt Nam chp rằng, "Vậy anh em phải khn như rắn v đơn sơ như bồ cu." Nơi phần phụ ch của cuốn ny giải thch v "Rắn c ti trnh nguy hiểm v lun lun giữ ci đầu cho khỏi bị đnh. Người mn đệ đừng để mnh bị lọt vo trng của những ng tiến sĩ giả, nếu cần th phải trnh đụng độ với họ. Tuy nhin, vẫn phải giữ tm hồn v thi độ đơn sơ hiền hậu như bồ cu, loi chim hơi nghe tiếng động l bay v vẫn được coi l v hại" (TƯ; Tr.90). Đng khc, nếu anh em lật những cuốn Kinh Thnh bản dịch tiếng Mỹ đều được dng chữ "Doves," một loại chim giống như cu đất nơi Việt Nam chứ khng phải chữ "pigeon" dẫu "pigeon-hearted" c nghĩa l nht nht. Anh em thấy chim bồ cu nht nhưng đu hiền lnh g m chim cu mới hiền lnh. Ti khng theo Thin Cha gio, sở dĩ tm ti chỉ v thấy cu Kinh Thnh khng hợp với thực tế nn phải tm cho ra. Ti nghĩ, anh em nn đặt vấn đề tự tm hiểu cho mnh v đ l khởi đầu cho sự minh triết. Đu phải đơn giản m nh Phật đặt vo miệng đức Thch Ca lời khuyn khng nn tin những g ngi ni.
    - Thưa bc, phải như vậy mới hợp l. Đ lu, chu khng thể no hiểu được cu Phc m ny v chu khng thể no dung ha được con rắn v chim cu trong cng một người. Con rắn độc hại th được gọi l khn ngoan; chim cu nht nht, khng phải, chim cu mới đng, đi khi bị mấy con sẻ tranh ăn m khng dm mổ lại cn trnh đi nơi khc thế m cho l chn thực. Chu khng thể ngờ, sự khn ngoan hnh như đ được tri rộng nơi mọi dn tộc. Như thế th, giọng B ngập ngừng, c thể ni kinh sch đạo học dng mọi hnh thức, mọi sự việc lm phương tiện trnh by nghiệm chứng tm linh được gọi l sự khn ngoan để rao truyền diễn trnh thức ngộ hay tu chứng. Như vậy, c thể cu ni nơi Kinh Thnh, "Chnh để phn xt m Ta đ đến trong thế gian, ng hầu kẻ khng thấy th được thấy, v kẻ thấy được lại ha đui m!" (Gioan 9:39) mang nghĩa m chỉ về nhận định cảm nghiệm tu chứng, nếu chu khng lầm.
    - Ti khng ngờ anh đ đạt tới trnh độ tổng hợp bao nhiu năm suy tư của ti trong sự so snh cc đạo học dẫu tuổi đời anh cn qu trẻ. Thế năm nay anh bao nhiu tuổi?
    - Thưa bc, chu cũng c t tuổi rồi ạ, những bốn mươi mốt rồi đấy.
    - Anh cn trẻ chn. Tuổi đời mới chỉ bằng hai phần ba thời gian ti suy tư m anh đ đạt tới sự tổng hợp ấy tất nhin ti đ qu lỗi thời. Để ti nhắc thm một cu ni cũng của cụ L Qu Đn thử xem anh em nghĩ thế no. Cụ hắng giọng, đoạn chậm ri từng tiếng, "Trước nghĩ thế ny l khng phải, sau nghĩ thế khc l phải th bỏ điều trước m theo điều sau. Kiến thức của mnh sai, lời ni của người ta phải th bỏ ci của mnh m theo người. Khng cố chấp thnh kiến, khng che giấu lỗi mnh; cứ phải th theo, như lăn hn trn thế gọi l chuyển vin" (VĐLN; Tr.410).
    - Thưa bc, mới nghe th giống như dạy người ta trở nn ba phải, thuận gi phất cờ. Nhưng nghĩ kỹ lại, đ l thi độ của kẻ thng đạt, khng lập giới hạn, khng bo chữa, che giấu, lấp liếm, m minh triết, sng suốt. Như vậy, tất nhin hm chứa đức lim chnh v một ch cũng như lng tự tin sắt đ. C thể ni, đối với người như vậy, điều đ được nghiệm chứng l phải th d mun người cũng khng lay chuyển nổi với bất cứ điều kiện no.
    - Giải thch như thế c lẽ anh hiểu được l do tại sao đức Thch Ca khuyn đệ tử khng nn vội tin những g ngi ni m cần suy nghĩ, thực chứng đến khi no thấy đng thấy hợp mới nn theo. Tuy nhin, để tm tắt những g bn luận ny giờ, chng ta thử tổng kết vi nhận định đ được đề cập tới. Anh Sỹ, anh thch ni dai, ni di, vậy anh thử ni xem sao, đừng ni dại l được. Cụ Ti ly lối ni diễu của nhm người trẻ, đưa ra đề nghị.
    - Thưa bc, Sỹ đằng hắng lấy giọng ra bộ trịnh trọng, điểm chnh yếu bc ni l sử dụng tự do tuyệt đối bằng cch nghịch luận để c được nhận định đng đắn về mọi phương diện. Thm vo đ, sự nhận thức chn thnh phải được p dụng nơi chnh con người của mnh, nhận ra mnh thế no, tm hiểu cho đến tận cng thực thể mnh l ai. Từ đ, bản chất thực của một con người được ph diễn. Con người khng phải chỉ l xc thn rắc rối hiện hữu trong một giai đoạn thời gian m cn c phần tm linh huyền diệu; cả hai quấn quyện khng thể phn tch d chỉ bằng niệm. Dầu thế vẫn c thể ni, thn xc chỉ l phương tiện hay cơ hội cho hồn tiếp tục hnh trnh tm linh nơi ging sinh ha vĩnh cửu. Như vậy, sự nhận thức của con người đng vai tr tối quan trọng trong hnh trnh thăng tiến tm linh giữa thực tại cuộc đời qu ư phức tạp. V thế, con người cần biết mở rộng lng đn nhận v nghiệm xt sự vật v sự việc một cch rốt ro chứ khng theo thi quen chấp nhận dựa trn lối nhn phiếm diện đối đi. Sự nhận định phải được đặt trn căn bản lương tm chn thnh v một tm hồn kht khao lẽ phải. V như vậy, đối với bất kỳ vấn đề g, khng nn vội tin hay vội cho l đng cho tới khi sự khn ngoan được chnh mnh nghiệm chứng. C điều, nếu ai đồng hoặc bất đồng kiến với những g ti vừa tổng kết, nn dnh giờ nghiệm chứng trước khi pht biểu.
    - Đng l ni dai, ni di, ni dại. Phủ ln tiếng ngay khi Sỹ ngưng ni.
    - ng chưa nghiệm chứng sao đ dm vội ni, Sỹ đặt vấn đề.
    - Ni dại đu cần nghiệm chứng. Nếu đ nghiệm chứng sao c thể ni dại.
    Thế l Sỹ hng hổ thch thức,
    - ng thử tổng kết xem c dại hơn khng?
    - Nếu đ khng nn vội tin hay vội cho l đng bất cứ điều g m cần tự nghiệm chứng th chỉ cần ni, nghiệm chứng mọi sự (1Thes. 5:19), l đủ. Xt như vậy, khng ni dại, ni dai, ni di, ni thừa, ni thi, ni vi ra những điều khng cần ni th ni chi?
    - Ơ! Ch ni c l. Khng ngờ tớ ni dại m khng biết mnh ni dại. Sỹ nh con thi độ bỗng điềm nhin chấp nhận mnh ni dại khiến Phủ cụt hứng v lm cho mọi người ngạc nhin. Ngữ ny c bao giờ để lỡ cơ hội đấu ht tạo niềm vui, thế m dm tự nhận ni dại.
    - Ngy mai ti phải lo chống nh. B ni bng quơ, lạc đề.
    - Ch ni sao? Sỹ chụp cơ hội hỏi khng kịp để B ni hết cu.
    - Dạ thưa, với điệu bộ giả nghim trọng, B chậm ri, v ngy mai sẽ c cơn ging rất lớn, cho mừng kẻ đạt tới trnh độ thức ngộ biết mnh ni dại.
    - Biết mnh dại tức l minh triết. Dĩ nhin, sự hiểu biết ny lm rng động mun ci, th cơn ging pht sinh l lẽ thường. Sỹ nh con học theo ngn từ nh Phật cố vớt vt thế yếu của mnh.
    - Khi đ biết mnh dại dẫu khc lc nghiến răng th cũng chẳng cn răng để m nghiến sao c thể rng động mun ci. Cuộc đời nhiều lc oi oăm, khng cho ni th khc, cho ni th mếu.
    - Th tớ đ nhận mnh ni dại sao ch my vẫn cố tnh tấn cng.
    - Ai mượn ng dm lạm dụng danh từ nh Phật để bo chữa ci dại, ci dốt. Ni như ng, chẳng lẽ kẻ no lỡ dại một giờ cũng rng động mun ci?
    - Ch ni g? Sao c thể dại được tới những một giờ!
    - Một giờ th ăn nhằm g! Cổ nhn đ ni dại quanh năm l đng khc!
    Sỹ nh con chợt như ngồi phải lửa.
    - Ch my ăn ni lo lếu, dm v tớ với loi ch!
    - Chnh ng vừa ni! Thi, thi, ng lm ơn khp ci mỏ lại kẻo chẳng khảo cũng xưng; bởi chỉ những ai c tật mới giật mnh. Khng ni no ai biết mnh thế no. Ngược lại, cng ni chỉ cng lạy ng con ở bụi ny, hoặc vạch o cho người xem lưng th dẫu cố bo chữa hoặc che giấu đến mấy vẫn bị li đui.
    Khng hiểu sao miệng lưỡi B lc ny qu quắt dồn Sỹ vo đường cng. Chỉ c một chữ dại, hắn dng tục ngữ bắt qua, bẻ lại m chỉ so snh sự dại dột do ni nhiều với loại c đui.
    - Yu cầu trọng ti ra lệnh đnh chỉ bn chuyện ring tư giữa chốn cng cộng. Phủ ln tiếng.
    - Hai ch tạm thời bỏ qua để nghe cụ ni về nh Phật.
    - Thời giờ kể cũng đ muộn, anh em lm ơn để ti tm tắt một vi điểm cần thiết trước khi tổng kết nghiệm chứng nh Phật.
    - Thưa bc, lc trước Hưng nhắc tới hư v.
    - Những người phin dịch kinh sch nh Phật bị khuyết điểm l dng qu nhiều Hn tự; đồng thời nghĩa văn từ được dng lại lệ thuộc sự hiểu biết hoặc m định ring của tc giả trước tc nn khiến kẻ hậu học cảm thấy như rợ vo rừng. C thể chng ta phải đợi cho tới khi no c người phn định, so snh, v tổng hợp kinh sch nh Phật để trnh by những căn bản cũng như đường hướng thiết yếu gip đa số quần chng t lợi căn tu chứng chăng. Chẳng hạn như anh Ty vừa hỏi về "hư v." Ngn từ ny dĩ nhin nơi tiếng Hn, v nh Phật hay dng. Thực ra, Hư V, V Cực được dng bởi đạo gia chu. Đ l một quan niệm trọng đại về thực thể tuyệt đối bất khả tư nghị. Chữ "v" được dng trong Đạo Đức Kinh của Lo Tử từ thế kỷ thứ V trước Cng Nguyn (DKYC. Tr.139). Hư v khng c nghĩa l hư khng, hư ảo m l quan niệm cao siu nhất về Tuyệt Đối Thể, về Thượng Đế. Hư V trong Phật học cũng c nghĩa l Chn Như, Phật tnh. Xt thế, đạo gia gọi l Hư th Phật gia gọi l Khng. Hư V khng thể đặt tn được v con người khng thể no hiểu biết bằng l tr về Thực Thể Tuyệt Đối hay Quyền Lực Cội Nguồn Hiện Hữu pht sinh mọi sự. Đ l l do tại sao kinh Kim Cang c cu: "Ưng v sở trụ nhi sinh kỳ tm." Cu ny c nghĩa: tm nơi khng nương dựa m sinh tm. Lo học gọi l To hoặc l V Vi hoặc l Đơn, được dịch l Đạo tức Bản Thể của trời đất mun vật. Cn nhiều danh xưng khc nữa, nhưng mỗi danh xưng đều chứa đựng quan điểm chỉ về Tuyệt Đối, Chn Như, hoặc Thượng Đế, hoặc Cội Nguồn Hiện Hữu. Thần Hội, một Phật gia, tm ra Tuyệt Đối trong thm tm nhờ nhận định rằng c tư tưởng tức l đ nhập vng sinh diệt, sắc tướng, nhưng tư tưởng l ứng thn do Php thn, tuyệt đối thể nơi mọi người, pht sinh. Tuy nhin, Tuyệt Đối Thể th tịnh tịch dẫu cho ta hoạt động, suy nghĩ thế no, v như vậy, v niệm l căn nguyn cho hữu niệm. Tm ra được v niệm tức l thấy được Php thn, Phật tnh, Tuyệt Đối, V Cực, Hư V. Anh em nhớ kỹ điều ny v đ l khi nghe ni về Phật học hay đạo học, những ngn từ được dng mang nghĩa đặc biệt. Nếu anh em nghe thấy v l hay hơi chướng tai cũng đừng vội nhận định m nn cố gắng tm hiểu hay hỏi cho rnh rẽ nhất l đối với những cng n. Luận về đạo học, những pht biểu đều từ nghiệm chứng hay cảm nghiệm m ngn từ chỉ l tạm dng nn thường đối nghịch với những nhận thức l tr. V như vậy, những ai chưa c căn bản nghiệm chứng m đ vội phn đon th chẳng khc g xẩm rờ voi.
    - Thưa bc, Ty con lng dạ dường như c vẻ xốn xang nn ngắt ngang lời cụ Ti, như vậy sao c thể gip mọi người thức ngộ?
    - Cc bậc đạo gia tối kỵ truyền b cảm nghiệm bởi c thể những kinh nghiệm qua hnh trnh nghiệm chứng đ gip họ nhận thức được rằng đối với những kẻ cn đang m muội trong vng v minh thế tục th dẫu c giảng giải thế no chăng nữa cũng v ch, c chăng chỉ giống như dạy thằng yếu đnh vật. Xt về phương diện ny, khuynh hướng chnh của Phật học khng vụ vo việc tổ chức cuộc nhn sinh trước mắt, v tương tự như Lo, chỉ coi kiếp người như một giai đoạn bất đắc dĩ phải chấp nhận trong hnh trnh mnh mang của sự vật. Trọng tm của Phật học đặt vo sự giải thot tm linh con người, coi nhẹ phần tổ chức nhn sinh, thu gọn vo một mực độ tối thiểu khiến con người c thể dễ dng giải thot khỏi ảnh hưởng nặng nề tham vọng thế tục m đạt tới sự thức ngộ tm linh. Gio l uyn nguyn của đức Thch ca chỉ gồm c tứ diệu đế: Khổ, Tập, Diệt, Đạo v thập nhị nhn duyn. Nền gio l đ chỉ giảng giải về căn nguyn sự khổ, về cch thức cấu tạo nn sự phiền no để dạy mỗi người nn dng nghị lực của mnh tu luyện nơi nội tm mưu cầu giải thot (XDNSQ; Tr.33).
    - Thưa bc, đ mưu cầu sao c thể giải thot, Hưng im lặng đ lu giờ mới ln tiếng.
    - Nơi đy ti ni theo lối thng thường v ai lm việc g m khng c chủ đch. Thực ra, tu chứng hay nghiệm chứng nh Phật thực sự khng c chủ đch v nếu c chủ đch vẫn cn lệ thuộc niệm, vọng tưởng bởi vậy được gọi l chứng Ci Khng. Chnh cu ni nghiệm chứng ny đ sinh mun vn hiểu lầm cho những người muốn tm hiểu Phật học bằng kiến thức.
    - Thưa bc, nếu khng c chủ đch th đu cần cố gắng m chỉ sống cho qua, được sinh ra để sống th cứ sống.
    - Ti vừa nhắc tới, anh đ bị ngn từ nghiệm chứng nh Phật lm đảo đin. Chứng ci khng thường bị hiểu lầm l khng cần chứng m chứng lại cần cố gắng, vẫn quanh quẩn với vọng tưởng hay ước muốn. Nh Phật dng ngn từ chứng ci khng c nghĩa nghiệm chứng Thực Thể Tuyệt Đối, Hư V bất khả tư nghị nơi mỗi người. Thực thể ny khng thể nghĩ bn, nn được gọi l "Khng." Khng ở đy chnh l khng thể dng l tr suy luận, khng thể đem sự hiểu biết diễn giải, chẳng khc g cu ni của Thomas Aquinas, "Thượng Đế m c thể hiểu được, nghĩ tới được th khng phải l Thượng Đế." Trong Lo học cũng c ni, "To khả To phi thường To." Đy l mục đch cho nghiệm chứng v nghiệm chứng l hnh trnh đạt tới ha hợp với Thực Thể Tuyệt Đối. Thực thể khng thể nghĩ tới hay bn luận, chỉ c thể ni được những g khng phải chứ khng thể no ni g về thực thể đ được. Một số Phật gia muốn dng ngn từ đơn giản giảng gii cho giới bnh dn nn gọi tắt l "Ci Khng." Anh em nn để , hai tiếng Ci Khng nếu được viết trong sch phải được viết hoa v đ l Thực Thể Tối Thượng, chẳng phải l khng c g.

    Từ lc cụ Ti nhập cuộc, ng Thung để ghi nhận từng cu cụ giải thch hoặc đối đp với mọi người. Cng nghe, ng cng ngạc nhin về thi độ hiền ha, cởi mở cũng như nhận thức rộng ri c thứ lớp của cụ. Những lời cụ ni hnh như được sắp xếp để chuẩn bị cho vấn đề no đ vẫn chưa lộ diện. Đang trả lời về những đặc điểm tng phi nh Phật, cụ li cu chuyện qua nhận thức bản chất v vị thế con người trong ging sinh ha, khởi nguồn từ sự khuyến khch dng nghịch luận để pht triển tự do suy tưởng, dẫn tới trạng thi khng chấp nhận, khng vội tin tất cả những g chưa được nghiệm chứng. Thi độ nhận thức ny đi hỏi sự dứt khot với tất cả cc lề lối suy tư, khng lệ thuộc những quan niệm, chiều hướng tư tưởng đ sẵn c, khng dựa trn bất cứ căn bản no m hnh như chỉ cần lao mnh vo nghiệm chứng. Như vậy khi thực hnh nghiệm chứng, con người dĩ nhin đơn độc. Nhưng phương php, đường lối no? Đu l mốc khởi đầu? Hưng ni về điều kiện rốt ro nh Phật l kiến tnh nhưng khng thể ni phương php thực hiện. Nghĩ thế, ng quyết định hỏi cho r ngọn ngnh. V ngồi gần bn, ng quay sang cụ Ti, giọng nhỏ nhẹ,
    - Thưa cụ, ng Thung khng gọi cụ Ti bằng bc m dng danh xưng "cụ" mang đậm nt tn trọng, nếu khng nn vội tin hoặc vội cho l đng những điều kinh sch ghi lại, ngay cả lời dạy của đức Thch Ca, m cần nghiệm chứng th đu khc chi Lục Tổ Huệ Năng đ ni, "Gio ngoại biệt truyền, bất lập văn tự!" Đng khc, ni như cụ v anh Hưng th nghiệm chứng sao c thể giải thch m đ khng giải thch được th sao c văn tự no diễn tả bởi "Ngữ bất tận ngn v ngn bất tận ." Theo thiển kiến, qua nhận định về Phật học cụ v qu anh em đm luận, nghiệm chứng được pht triển trong hnh trnh tu chứng. Tuy nhin, tu chứng cần căn bản thực nghiệm no đ hnh như kinh sch nh Phật khng ni tới trong khi sự bn luận chỉ loanh quanh luẩn quẩn ở những kết quả thực chứng của cc tổ thiền hoặc suy luận giải thch của cc nh trước tc, bin khảo, mang đầy tnh chất duy l. Như vậy, cn cố gắng suy gẫm, giải thch th vẫn cn lệ thuộc niệm. Kinh sch nh Phật v những sự giảng giải chỉ ni về nghiệm chứng, tu chứng m khng ni tu chứng như thế no để c thực chứng. Thế nn vấn đề bế tắc vẫn l phải lm g để gạt bỏ được niệm; đu l phương php thực tiễn p dụng khởi đầu tu chứng th chưa thấy ngong ngch no tạm gọi ứng dụng được. Ngồi trước bữa ăn thịnh soạn m khng biết lm sao để đụng tới mn ăn no đu khc chi tốn giờ đi xem hng mẫu chẳng được php mua. Tu chứng m niệm, vọng khởi vẫn ngập trn nơi tm tr phỏng ch g. Lm sao cho con ngựa chứng tm tr khỏi chứng, khỏi xoay mng mng hoặc phiu diu nơi thế giới nghĩ? Sao khng thấy tổ no ni tới m chỉ lặp đi lặp lại biệt truyền, nghiệm chứng, kiến tnh, Phật tnh, chẳng khc g cc mn ăn hấp dẫn nhưng v bổ, giả tướng. Ai khng lặp lại được cu kiến tnh thnh Phật! Ai khng biết điều kiện muốn kiến tnh phải nghiệm chứng, tu chứng! Ai khng biết kinh sch trnh by thực chứng của sự thức ngộ! Vậy điểm khởi đầu cho tu chứng phải thực hnh ra sao, cụ c thể ni cho anh em biết được khng?
    - Nhận xt của ng rất đng. Chnh điểm ny đ lm ti lần m hơn hai mươi năm trời. Đọc sch nh Phật, cng lắm th chỉ được giải thch về hnh trnh qun tưởng theo phương php chứng nghiệm điều người khc đ nghiệm chứng. Ni theo L Qu Đn c nghĩa trnh mất d bởi cố gắng tm đầu mối. Tuy nhin, cn qun vẫn cn phiền v qun tức l suy niệm đến tận cng của sự vật hay sự việc cũng như niệm. Thực ra, kiến tnh khng cần phải qun. Cho d qun khng, qun v th vẫn cn lệ thuộc qun bởi Chn Như, Thực Thể Tuyệt Đối khng thể hiểu, khng thể biết, khng thể cảm được v biết được, cảm được, hiểu được tức khng phải Tnh m chỉ l php. Trạng thi ny Lo học diễn tả nơi cu ni bất cứ ai mới chợt nghe cũng đều cho l khng tưởng, "Khng lm g l lm tất cả." Trải qua thời gian kh lu tm ti, ti mới biết điểm khởi đầu của tu chứng thực nghiệm được gọi l định tm. Những kinh sch nh Phật m ti c cơ may đọc qua được viết rất m mờ hoặc giải thch tầm quan trọng của định tm được gọi với những văn từ khc chẳng hạn hng phục tm, diệt niệm, diệt dục, an trụ tm nhưng khng chỉ cch định tm thế no, hoặc c chăng lại khuyến khch qun tưởng; tuy nhin, thường th chnh lại ni về niết bn, trạng thi niệm v sanh v diệt, gọi tắt l v niệm. C thể nơi kinh điển cổ c ni m ti khng duyn để đọc chăng.
    - Thưa bc, bộ c dng để suy nghĩ, nghiệm chứng m định tm th sao c thể nghiệm.
    - Anh em nn biết thm điều ny, đ l Phật học bắt nguồn từ mảnh đất pht triển Ấn học chứ khng phải tự nhin m c đức Thch Ca gic ngộ nơi gốc cy bồ đề. Đng khc, khi Phật học khng thể pht triển được ở Ấn Độ v hệ thống tổ chức qu vững mạnh của Ấn gio nn Trung Hoa mới l mảnh đất mầu mỡ cho Phật học pht triển. Thm vo đ, trong tiến trnh pht triển tại Trung Hoa, Phật học du nhập thm một số quan niệm tm linh từ Lo, Trang. Như thế c thể ni, người no thiếu nhận thức Ấn học v Lo học, khng thể no hiểu nổi Phật học. Đ c người cho rằng Phật học vốn l một cuộc cch mạng muốn cải tổ lại chế độ x hội thời bấy giờ tại Ấn Độ đang bị p đặt nặng nề của tổ chức Ấn gio. Khoảng cuối thế kỷ thứ VI trước dương lịch, nền Ấn gio truyền thống đ đo tạo x hội thnh một chế độ chỉ đạo chặt chẽ bởi đẳng cấp B La Mn. Những lễ nghi được đặt ra cng ngy cng thm phiền toi v nghim ngặt v qu vụ về hnh thức; cc gio điều được p dụng theo nghĩa đen một cch cứng nhắc tạo nn hố phn chia giữa cc đẳng cấp ngy thm r rệt, cch biệt. V thế đức Thch Ca đ đứng ln đề xướng một phong tro cch mạng trong tn gio v x hội. C thể ni cuộc cch mạng đ l một cuộc cch mạng nhn bản v nhn chủ. Nhn bản ở chỗ đ tuyn bố tất cả mọi người đều chung một bản chất, cng hm chứa một tm thể v như thế cng c gi trị ngang nhau. Sự chấp nhận bnh đẳng ny l một sự chống đối chế độ x hội đẳng cấp của Ấn gio (XDNSQ; Tr.34). Sự định tm ti muốn ni mang tnh chất thực hnh, bước đầu của nghiệm chứng chứ khng lệ thuộc nghĩa của ngn từ. Đy l kinh nghiệm thực hnh rt tỉa từ Yoga nơi Ấn học.
    - Thưa bc, nếu khng được giải thch sao c thể thực hnh.
    - Sự thực hnh định tm khng giống như hnh động rp nối bộ phận chiếc my xe hoặc ci bn, chiếc ghế, m mang thm tnh chất thực nghiệm. Nếu anh em muốn thử, hy thử, chỉ thử mới biết v dẫu giải thch đến mấy cũng v ch.
    - Thưa bc phải lm g để thử? Cần những điều kiện g? Ngay by giờ hay phải đợi đến khi no?
    - Khng cần điều kiện g, v ngay by giờ cũng được. Vấn đề chỉ l anh em muốn thử cho biết hay khng m thi.
    - Ai khng đồng yu cầu giơ tay! Ty con nhanh miệng. Tụi chu hon ton đồng , xin bc ban lời. Chưa ai kịp quyết định giơ tay hay khng, hắn đ vội ln tiếng e c người bất đồng kiến.
    - Anh Ty hơi p buộc anh em nhưng chuyện cũng đơn giản thi; anh em chỉ cần theo đng những g ti ni l được. No, chng ta bắt đầu! Anh em sửa thế ngồi cho thật thoải mi, ngồi thế no cũng được, đoạn nhắm mắt lại. Kể từ giờ pht ny, anh em giữ nguyn thế ngồi, khng động đậy. Hy để đến ngn ci chn phải, anh em cảm thấy nơi đ ra sao; tiếp tục tới ngn gip ngn ci bn phải, ngn giữa, ngn thứ tư, ngn t, gan bn chn phải, mu bn chn, bắp chuối phải, đầu gối, đi pha sau, pha trước. Giọng cụ Ti trầm trầm, cch qung, dẫn tm tr người nghe thực nghiệm cảm gic từng phần của cơ thể, tai bn tri. Chng ta nghiệm lại từ đầu, ngn ci chn phải, ngn kế tiếp, ngn giữa, tai bn tri. By giờ chng ta để nghe những tiếng động đang xảy ra chung quanh. Chỉ nghe m thi, khng cần biết tiếng g v do đu pht ra. Tiếng v v, tch tắc, rc rc, o o, lẹt quẹt, Ngưng nghe, để tới cảm gic nơi ngn chn ci bn phải, ngn kế tiếp, ngn giữa. Cụ Ti dẫn tm tr họ qua tất cả ba vng cảm gic v hai lần nghe m thanh chung quanh. Thi, ngưng, mọi người mở mắt.


    Last edited by ttvl123; 12-05-2017 at 09:00 AM.

  9. The Following 2 Users Say Thank You to ttvl123 For This Useful Post:

    Đồng Bằng (07-10-2011), TrcLan (07-10-2011)

  10. #6
    Join Date
    Jun 2009
    Posts
    367
    Thanks
    1
    Thanked 535 Times in 215 Posts

    Default Re: My Bay Về Ngn

    tiếp theo
    .
    - C ai ngủ qun khng? Cụ Ti hỏi nhẹ.
    - Thưa bc khng, nhưng ph.
    - Ai c thể ni ln được mnh cảm thấy thế no lm ơn ni cho mọi người biết.
    - Thưa bc, chu thấy đang lc ấy chu khng để đến những g xảy ra chung quanh. Hnh như chu cũng khng để đến c nhiều người đang hiện diện m chỉ ch tm vo những điểm bc nhắc tới.
    - Nghĩa l anh chỉ ni ln được những g khng phải l cảm nghiệm của anh?
    - Bc ni đng! Chu khng diễn tả được thực trạng xảy ra.
    - Chu nghe, gọi l nghe chứ khng phải nghe, c m thanh no đ khng phải l m thanh nổi ln trong đầu mnh lc để nghe những m thanh chung quanh.
    - Anh vừa ni tương tự lối pht biểu nh Phật, "gọi l nghe chứ khng phải nghe, hoặc m thanh no đ khng phải l m thanh." Anh c biết anh ni g khng?
    - Chu biết chu ni g nhưng chu khng biết phải ni thế no.
    - Như vậy, cch ni chnh xc nhất phải l chẳng ni g v cng ni cng chẳng ni được g.
    - Thưa bc, đng như thế, v chu suy nghĩ th thấy ni thế no cũng khng đng.
    - Khng thể no ni một cch chnh xc tm trạng cảm nghiệm được. Trường hợp ny, Lo học diễn tả qua cu ni, "Người biết khng ni, kẻ ni khng biết." Đy l kinh nghiệm thực tiễn hy vọng anh em để nghiệm chứng những cu ni của đạo học tận tnh hơn. Hơi cao giọng, cụ tiếp, chng ta vừa thực tập định tm. Định tm khng c nghĩa khng nghĩ g nhưng dồn tm tr vo một điểm. Định tm chỉ l bước khởi đầu cho nghiệm chứng hay tu chứng, qun tưởng; v chứng hay qun m tm khng định th khng thể no nghiệm được. Bởi thế, những bậc thực nghiệm tu chứng khng tm ảo gic của đời sống bn kia sau khi chết m chnh l thực chứng thực thể uyn nguyn nơi mnh được gọi l Tự Tnh, Phật tnh. Từ cảm nghiệm thực chứng c thể ni, Phật học nhấn mạnh nhất về sự gic ngộ trong tất cả cc đạo học. Mục đch của hnh trnh nghiệm chứng khng phải l niết bn, trạng thi đạt tới tm tưởng v cầu, v niệm. Cũng như cc nền đạo học Chu khc, kiến thức con người khng thể no phc họa r rng cảnh giới tm linh của nh Phật (EM; Tr.34-35). Với lối nhn qua lăng knh kiến thức hữu ng, một số người theo những học thuyết Ty Phương cho rằng Phật gio l một tn gio khng tin nơi Thượng Đế (EM; Tr.35). Thực ra, về phương diện nhận thức sai biệt ny, thi độ tốt nhất đối với chng ta chỉ l im lặng. Chng ta c thể nghĩ g khi đặt mnh vo thn phận những con gii bọ đang sung sướng an hưởng hạnh phc của chng nơi xc rữa mục của con chuột chết xnh thối. Chắc chắn chng ch bai những con ruồi mẹ vừa đẻ chng ra l ngu dốt, khng biết nhận thức thin đường thực tại nn đ vội lao đầu vo ci khng gian v định chẳng c chi bm vu. Ti nghĩ, kinh nghiệm cuộc đời minh chứng, nhiều khi chng ta khng biết mnh đ ni g. Phỏng đy c phải l những giy pht của trường hợp ứng thn nơi niết bn hay khng m bao năm nay ti vẫn chưa bao giờ đạt được cu trả lời sao cho c thể tạm coi như hợp l hợp tnh. Ni như vậy, anh em đừng để g đến những lời ti ni. Hy tự cảm nhận, v cn ni vẫn cn m muội nơi niệm, ngn từ. Đối với nh Phật, thực thể con người khng phải chỉ l thể xc được bắt nguồn từ thời điểm sinh vo ci trần để rồi lc no cũng bị đe dọa bởi bệnh, lo, v chết chc. N cũng khng phải chỉ bao gồm một hệ thống những cảm gic, dục vọng, tnh tự, tư tưởng vẫn thường gy nn c tnh mỗi người. Vượt ln trn hai thnh phần v thường đ, nh Phật trnh by một thnh phần hết sức linh diệu nữa, thường được gọi l Tm, l một v c đồng những đặc tnh của thực thể tuyệt đối, nghĩa l v trụ, v bin, thường tịch, thuần nhất. Trong kinh Thủ Lăng Nghim, Phật c giảng cho ng A Nan về ci Tm to lớn của con người bằng cch so snh với ci hư khng v cc thế giới: "A Nan, ngươi nn biết rằng, ci ci khng gian kia, sinh ra trong tm ngươi, chỉ nhỏ b như một đm my điểm trn trời xanh, huống hồ l những thế giới cn nằm trong khng gian th thấm vo đu với ci Tm của ngươi" (XDNSQ; Tr.35-36). Tm thường trụ hay tm thể tuyệt đối nơi con người l gốc gc cho mọi sự biến chuyển của cuộc đời, l nguồn pht sinh mọi sự được gọi l php. Bởi vậy nh Phật ni vạn php tự Tm, khng c php ngoi Tm. Hai cu tiu đề lm then chốt nhận thức nh Phật đ l "Tam giới duy Tm, vạn php duy thức." Ni như vậy c nghĩa mọi sự vật trn ci đời ny đều pht sinh do nơi tm thể, song cch thức chuyển ha của Tm thnh sự vật l do thức quy định nn. Ni cch khc, Tm thể khng biểu hiện, thức l sự biểu hiện của Tm (XDNSQ; Tr.37). Đy chnh l điểm đức Đạt Ma sư tổ đ ni, "Cả thế giới được nghĩ trong tm. Tất cả chư Phật, qu khứ v vị lại đ v sẽ được tạo thnh trong tm" (KCGL; Tr.201).
    - Thưa bc, tại sao lại gọi l tam giới.


    MBVN 05

    - Tam giới l ba ci dục, sắc, v v sắc. Ba ci ny bao gồm tất cả chng sinh trong sinh tử (DGLP; Tr.34). Dục mang nghĩa tham i th trọng; sắc l những g c thể nhn thấy bằng mắt trần hoặc nơi tm tưởng nghiệm chứng, t tham i hơn; v sắc l cảnh giới thuần duy thức nơi qun tưởng. Tất cả những hiện tượng nơi cuộc đời hay trong hnh trnh tu chứng đều l phản ảnh của tm Phật nn những cảnh giới chỉ l hiện thể hay phản ảnh từ nơi tm Phật. Người tu chứng sẽ gặp những cảnh giới ny trong hnh trnh chứng nghiệm. Như vậy, dẫu giải thch bằng bất cứ cch no cho qu anh em lc ny cũng khng mang lại lợi ch g. Điểm tối quan trọng ti muốn trnh by l c một thực thể hằng hữu nơi mọi người gọi l Tm Bất Sinh m cc kinh sch gọi bằng nhiều tn khc nhau như tm Phật, Tự Thể, Tự Tnh, Php Thn, Hư V. Thực thể ny khng lệ thuộc nơi bất cứ ngn từ hay văn tự no chỉ về n, khng lệ thuộc vo phương cch nghiệm chứng hay tu chứng do đ khng bị giới hạn nơi tng phi Phật học no. V mỗi tng phi lập thuyết khc nhau để dạy người, m l do duy nhất để thiết lập những gio l l cốt lm cho người ta nhận ra được tm họ đ c sẵn ngay từ lc họ được cha mẹ sinh ra; ni cho đng, trước khi họ được sinh ra, tm họ đ hiện hữu, tạm gọi theo ngi Bankei l Tm Bất Sinh. Tm ny khng ai sinh thnh m tự đ c nn bất tử. Như vậy, mọi sinh hoạt của cc tng phi đều qui về một mục đch gip con người nhận ra tm hằng hữu, bất sinh nơi họ; nn cc tng phi, cc gio l chỉ l những phương tiện m thi. Tuy nhin, anh em c thể nhận r nơi lng mỗi người, đ l chng ta chỉ muốn hiểu biết để tưởng mnh đ đạt đến thực thể nghiệm chứng. Đy l tnh chất học giả m ti gọi l "thứ ăn khng tiu," nghe, hiểu được luận l, nhận định thế no rồi lặp lại như vậy thường được gọi l tr thức, ci học từ chương, mỏ vẹt, thiếu suy tư cảm nghiệm. Ti nghĩ, c thể đy l l do ngy xưa Tần Thủy Hong đốt sch, chn học tr. Ngy nay, con người đặt ra bằng cấp nọ, tiến sĩ kia. Anh em học hnh kh, nhưng những kiến thức trường lớp c đng gi miếng thịt, bt canh gip ấm lng mỗi khi đi bụng khng, hay l cng sức lm việc mới giải quyết được những thiếu thốn cuộc sống. C thể ni, những kiến thức khoa bảng, chỉ gip con người kiếm tiền một cch nhn hạ hơn nhưng chưa chắc đ nhiều tiền hơn cng sức lm việc v sự tnh ton. Ni cho đng, cn c động lực no đ khng dễ chi hiểu nổi v phải l người được sinh ra để giầu c mới giầu được. Xt về đạo học, kinh sch khng viết về những kiến thức khoa bảng ny m chỉ diễn tả kinh nghiệm hay cảm nghiệm thực chứng; ai khng nghiệm chứng, dẫu thng thi, hiểu biết cch mấy cũng khng thể no đạt tới được. Đy l l do chnh yếu khiến kinh sch trở nn kh hiểu, m kinh sch đạo học đu phải được viết về kiến thức hầu gip người hiểu biết đạt tới bằng ny cấp kia.
    - Thưa bc, c cu ni, "Ni khng suy nghĩ cũng như bắn sng khng mục tiu." Nếu khng c đủ kiến thức sao c thể truyền b hoặc gip người khc hiểu biết. Thm vo đ, cho d ai ni hay đến mấy, khng c bằng cấp đu ai tin tưởng.
    - Vấn đề anh nu ln người ta đ v đang p dụng nơi tn gio từ bao lu nay. Thử hỏi, sch vở hoặc những sự giảng thuyết kinh sch sao c thể ni ln được cảm nghiệm anh em vừa thực tập định tm? C ng tiến sĩ no giải thch cho anh em cảm được cu ni m anh Ty vừa rồi pht biểu, "Gọi l nghe chứ khng phải nghe, c m thanh no đ khng phải l m thanh nổi ln trong đầu mnh lc để nghe những m thanh chung quanh." Đu phải v l m đức Đạt Ma sư tổ ni "Lnh hội được Phật tnh nơi mnh khng thể học được" (GLTH; Tr.205). Như vậy, đ khng học được, khng phải kiến thức khoa bảng th đu cần bằng cấp. Đem so snh vấn đề ni năng, giảng giải cần suy nghĩ với mục đch truyền b kiến thức nh Phật đu ăn nhập g với hnh trnh nghiệm chứng. Anh em nn để , Lục tổ Huệ Năng đ ni, "Tất cả kinh điển v văn tự, đại tiểu nhị thừa, mười hai bộ kinh đều do người đặt ra v c tnh tr huệ mới được kiến lập; nếu chẳng c con người th vạn php vốn chẳng tự c. Nn biết vạn php vốn do tm người kiến tạo, tất cả kinh sch l v con người m ni. V trong con người kẻ ngu người tr, ngu l tiểu nhơn, tr l đại nhơn. Kẻ ngu hỏi php với người tr, người tr thuyết php cho kẻ ngu, kẻ ngu đốn ngộ tự tm th chẳng khc với người tr vậy" (PBĐK; Tr.35). Cc đạo học chỉ c một mục đch duy nhất, trnh by Thực Thể Tối Thượng đang hoạt động nơi mọi tạo vật m nh Phật gọi hnh trnh ny l nghiệm chứng; ni theo lối bnh dn tức l tu. Tu c nghĩa trở về với Php thn bất diệt của chng ta chứ khng vọng tưởng theo sự sống thn xc tạm bợ (KTTP). Đy cũng l hnh trnh giải thot sanh tử, nhận ra Tm bất sinh, bất diệt đang hoạt động nơi mnh, ngộ được Bản Tnh, tm Phật nơi mnh; nh Phật gọi l kiến tnh.
    - Thưa bc, nếu kiến tnh thnh Phật th tri với gio l của Thch Ca v ngi đ phải trải qua nhiều kiếp v sau khi ngi tịch diệt, mi lu sau mới c Phật Di Lặc ra đời (KTTP). Hưng chen lời cắt ngang.
    - Khi anh ni về kiến tnh, ti những tưởng anh khng nhận được điểm ny! Kể ra thời gian một thng đọc sch nh Phật của anh cũng khng uổng cng. Kiến tnh thnh Phật c nghĩa nhận ra Phật nhn, nhưng chưa thnh Phật quả v muốn thnh Phật quả phải tu hạnh bồ tt. Chẳng hạn người nng dn c la giống nhưng khng c gạo ăn ngay m phải gieo mạ, cấy mạ, chăm sc la, gặt hi. Như vậy, nhận ra Phật nhn vẫn cn phải trải qua nhiều kiếp tu hạnh bồ tt (KTTP). Tuy nhin, bởi khng biết thế no để thực hnh nghiệm chứng, đa số người c niềm tin nơi Phật gio thường dng quan niệm lun l để giải thch cc hạnh bồ tt, cố gắng sống tốt lnh, thực hiện ăn chay niệm Phật v cho đ l tu hầu mong được giải thot theo nghĩa trnh bị lun hồi vo cuộc đời khổ cực, đy ải kiếp tới. Đy c thể l l do khiến những người hiểu m mờ về Phật học đ quan niệm một cch sai lầm về chn l giải thot của đức Thch Ca. Thực ra, gio l nơi Phật học thm trầm lại đi điều kiện tm tr minh triết, dẫu cho những bộ c khoa bảng, danh vọng cao m khng nghiệm chứng vẫn chưa chắc hiểu được ngọn ngnh gio l ny. Theo nh Phật, dẫu cố p mnh giảm bớt tham sn si để được giải thot, v dẫu muốn tạo phước để cầu giải thot th vẫn cn bị rng buộc bởi chnh định muốn được giải thot. Kiến c nghĩa nhn thấy, nhưng nơi văn tự hay ngn từ nh Phật, kiến tức l nhận ra, nhận thực được. Kiến tnh thnh phật l nhận thực ra tm Phật đ ở nơi mọi người. Khi một người nhận thực ra được Bản Tnh, tm Phật nơi mnh khng nghi ngờ, khng lay chuyển th được gọi l kiến tnh. Chẳng hạn nếu c ai ni mặt trời đen th d cho ai ni thế no chng ta cũng khng bị lay chuyển bởi đ nhn thấy r rng, khng lệ thuộc vo bất cứ l luận, hiểu biết no m ảnh mnh (KTTP). Do đ, chẳng lạ g đ c quan niệm, cũng như Lo gio, Phật học cho rằng sự lầm lỡ căn bản v nguyn nhn của tất cả phiền no nằm trong sự xa la của nội tm con người đối với Tm Thể Tuyệt Đối (XDNSQ; Tr.46).
    - Thưa bc, tm Phật nơi mọi người v Tm Thể Tuyệt Đối l một th sao c thể ni được xa la hay khng.
    - Anh Sỹ hỏi như vậy chứng tỏ đ c tiến bộ. Ti dng ngn từ "xa la" chỉ c nghĩa khng nhận ra, hay v minh.
    - Thưa bc, vậy c phương php thực tiễn no p dụng trong hnh trnh tu chứng để đạt tới Tm Phật khng?
    - Chỉ c một phương php độc nhất nhưng thường bị những sự thng thi kiến thức nơi mọi người khuất lấp. Nh Phật giải thch phương php qua nhiều biểu tượng m định, v cng giải thch, kẻ tu chứng cng lọt vo mng lưới luẩn quẩn v minh. Phương php ny anh em đ được nghe mấy lần nhưng khng ai để nghiệm chứng m c thể lại cho l khng dẫu khng pht biểu thnh lời.
    - Thưa bc,
    - C phải anh muốn ni cu hỏi về phương php tu chứng thực tiễn mới được nu ln m vẫn chưa c cu trả lời trong khi ti ni anh em đ được nghe mấy lần, thực l phi l phải khng? Ti nhắc lại, "Khng lm g l lm tất cả." C phải ti đ ni với anh em mấy lần rồi khng? Đy l cu ni Lo học. Bất cứ ai nghe tới cu ny đều cho rằng người ni l khng, v chnh anh đ ni lc ny. Đy l phương php khng c phương php. Tm Phật, Tm Bất Sinh đ sẵn c nơi mọi người th đu phải lm g, ước muốn thế no để đạt tới. Vấn đề chỉ l nhận thực được hay khng. Nhận ra chưa đủ m nghiệm thực mới đng. Như vậy, anh em hiểu l do tại sao nh Phật đặt nặng vấn đề tu chứng hay nghiệm chứng, ngược lại coi thường những hnh động tốt lnh hữu vi. Bởi thế, định tm l cửa ng thực nghiệm đi vo tu chứng m tu chứng lại khng đi hỏi phải lm g, thế no. Ni như vậy c nghĩa vọng niệm hết sạch tức l tu thnh cng (NTGG; Tr.25). Anh em nn nhớ nằm lng, kiến tnh nơi nh Phật l mục đch tối thượng của thiền nhưng kiến tnh khng phải l cng trnh của sự khảo cứu, sưu tầm. Kiến tnh l trạng thi đạt đến sự chứng đắc Php thn. Bởi vậy, bản chất của thiền l tu chứng, nghiệm chứng, hnh trnh thực hiện kiến tnh chứ khng phải l suy tư triết học. Bồ Đề Đạt Ma ni: "Thiền do Phật truyền lại, n khng dnh lu g đến kho tng gio l v kinh điển m cc ng đang nghin cứu" (NVTH; Tr.29). Tiếng Trung Hoa dịch buddha l gic giả, người tỉnh thức, người gic ngộ (NVTH; Tr.31). Vậy Phật học l gio l hướng dẫn sự hiểu biết, gic ngộ. Sự hiểu biết ny khng phải do cng trnh nghin cứu, học hỏi v suy luận m chnh l tu chứng, nghiệm chứng. Như vậy, ngồi thiền khng phải l để suy tư, phiu lưu trong thế giới niệm phn biệt; v cn niệm, cn pht sinh vọng tưởng đối đi. Chứng nghiệm khng phải sự luẩn quẩn suy đon niệm m gieo mnh vo thực tại. Thực tại ở ngoi vng khi niệm v những g cn trong khi niệm, niệm th khng phải thực tại. niệm về bia khng phải l bia; niệm về ớt khng thể khiến mnh vội vng kiếm nước sc miệng v cay bỏng lưỡi. Ni cho cng, phương php đạt tới tm Phật tm lại chẳng c g đng ni v mnh chnh l tm Phật.
    - Thưa bc, nếu mnh đ l tm Phật đu cần phải định tm, tu chứng, nghiệm chứng,
    - Anh l ai?
    Cụ Ti chợt hỏi một cu thật đơn giản dường như chưa từng quen biết khiến mọi người cảm thấy lạ lng, khng hiểu cụ c định g, nhất l Phủ.
    - Bc biết r chu l Phủ.
    - Phủ chỉ l tn, khng phải l anh.
    - Chu...
    - D anh trả lời thế no chăng nữa cũng khng phải l anh. Như vậy chnh anh cũng khng nhận biết được anh l ai th sao ni tới tm Phật nơi anh. Định tm, tu chứng, nghiệm chứng cũng chỉ l những ngn từ chỉ về những trạng thi tm tưởng phải trải qua để nhận ra mnh thực sự l g. Tuy nhin, ai khng biết được, nghiệm được mnh l ai m khng ai c thể trả lời được. C chăng, một người chỉ c thể ni về những g khng phải l họ, v chẳng thể no ni được chnh họ l g. Kinh sch cc đạo học, những hệ thống gio l cũng chỉ l phương tiện cho con người thực sự nhận ra họ l ai m thi. Bởi thế, dẫu khng thể no diễn tả hay giải thch mnh l ai, anh em c cần phải dng phương php, đường lối no để nhận thực được mnh l ai khng? Như vậy, những suy tư, nghiệm chứng để nhận thực mnh l g khng lm mnh thay đổi g, thm, bớt, hao mn chi, v những hoạt động tm tưởng ấy chỉ l phương tiện; m một người khng thực hiện những hoạt động tm tưởng ny sẽ khng nhận được mnh thực sự l g. Ni cho đng, chng c cũng như khng; m khng c chng th khng thể no kiến tnh. Ti giải thch như thế hy vọng anh em nhờ đ nghiệm được thực thể căn bản nơi nh Phật, v đ l tất cả chng sanh đều c tnh gic linh minh khng tịch khng khc với Phật, chỉ do từ v thủy kiếp đến nay chưa từng liễu ngộ. Bởi vọng chấp thn l tướng của ta cho nn con người sanh tnh yu ght, theo tnh tạo nghiệp, theo nghiệp thọ bo, sanh, gi, bịnh, chết, lun hồi nhiều kiếp. Nhưng gic tnh, tm Phật trong thn chưa từng sanh tử (NTGG; Tr.17). Ni rằng tu chứng, nghiệm chứng nhưng thực ra khng gầy dựng, khng tạo lập do đ khng tạo tc vọng tưởng. Điều ny c nghĩa, tu m khng tu; đ l l do tại sao nh Phật c cu ni Tu v tu tu (NTGG; Tr.28). thức như vậy anh em mới c thể hiểu được cu ni của Lục Tổ Huệ Năng, "Chẳng nhận được bổn tm, học php v ch, nếu nhận được bổn tm, thấy được bổn tnh, tức gọi l trượng phu, thin nhơn, sư, Phật" (PBĐK; Tr.20).
    - Thưa bc, nếu như thế những kinh sch đều viết những điều v ch, chẳng những thế lại cn khiến tm tr con người lệ thuộc bởi đ gieo vo tm tr con người niềm tin nơi đạo gio v ước muốn giải thot?
    - Hỏi như vậy tất nhin anh tự đ c cu trả lời. Trước hết, ni theo nh Phật, niềm tin nơi đạo gio v ước muốn giải thot đều l vọng tưởng. Bởi v minh, con người khng nhận ra tm Phật nơi mnh chẳng khc g khng biết mnh l ai. Sự giảng dạy, cc gio l nơi kinh sch chỉ c mục đch cố xa bỏ v minh. Cũng như mặt trời, mặt trăng ln cao đều soi sng khắp nơi m người m khng thấy, chậu p khng biết, như vậy, khng phải mặt trời mặt trăng chẳng soi khắp m tại lỗi che đậy ngăn cch (NTGG; Tr.16). Kinh A Di Đ dạy rằng "Nhứt tm bất loạn th Phật hiện liền. Cũng như đi, đứng, ngồi, nằm, tm hằng thanh tịnh, khng cht vọng niệm khởi động th Phật tnh hiện liền (NTGG; Tr.26). Bởi đ, niệm Phật, tụng kinh, tr ch l dng phương tiện để đn p vọng tưởng. Phương php ny gọi l tu mật tng. Tu thiền th ngay nơi vọng tưởng biết vọng tưởng, khng theo tức l dng tr tuệ nhn (nhận ra) thẳng vọng tưởng, khng dng phương tiện để đn p hay kềm chế nn gọi l trực chỉ (NTGG; Tr.24). Chẳng hạn, khi anh em định tm, tức l dồn hết tm tr để tm hiểu mnh l ai, nhiều cu trả lời tự đến nơi tm tr, th dụ ti l đn ng, nhưng đn ng chỉ l phi tnh, khng phải l ti; ti l kỹ sư, m kỹ sư lại l mức độ định gi kiến thức hiểu biết, khng phải l ti. Anh em khng để tm tưởng đo su nơi những cu trả lời khng phải l mnh, khng để chng ảnh hưởng nhận định m nghiệm cho đến tận cng. Sự tận cng ny dồn tm tr anh em vo trạng thi bế tắc tm tưởng khng cch no trnh thot trong giai đoạn thời gian no đ ty thuộc tư chất, căn cơ của mỗi người. C người chợt đặt vấn đề đ nghiệm chứng được; c người cần đi ba thng, dăm bẩy năm; lại c người cả đời cũng khng thể no đạt tới được. Đy l hnh trnh trực chỉ nhn tm, đối diện với chnh tm hồn mnh để nhận ra mnh l ai. Hơn nữa, chẳng hạn khi cu trả lời "Ti l đn ng" đến nơi tm tr, chng ta thấy vẫn khng phải l mnh do đ bỏ qua khng để cũng khng dồn tm tr vo n. Thi độ ny được gọi l "Tm khng trụ," nhưng nếu cứ để nơi nghĩ mnh l đn ng, khng phải phi nữ, hay bất cứ niệm no th gọi l trụ. Lục Tổ Huệ Năng giải thch r về trường hợp ny, "Trụ tm qun tịnh l bệnh chứ chẳng phải thiền, ngồi mi l tri thn, với đạo c lợi ch g? Lc sống th ngồi chẳng nằm. Lc chết th nằm chẳng ngồi. Vốn l đống xương hi thi. Đu thể thnh lập cng phu" (PBĐK; Tr.117).

    - Thưa bc, như thế thiền đu cần phải c phương php hoặc phải ngồi một chỗ.
    - Anh ni đng. Thiền chỉ cần định tm, dồn tm tr nghiệm chứng chứ khng phải theo quy luật, nghi thức no. Qui luật, nghi thức chỉ c mục đch gip con người dễ định tm m thi. Tm Phật m mọi người bẩm sinh đều c th anh em muốn đọc kinh cứ việc đọc kinh, muốn ngồi thiền cứ việc ngồi thiền, muốn giữ giới cứ việc thọ giới, muốn niệm Phật cứ việc niệm, muốn tr ch cứ tr ch, hay cứ thi hnh phận sự hng ngy của anh em, d anh em l, nng dn, thợ thuyền; cng việc sẽ l php chnh định của mỗi người. Vấn đề chỉ l hy nhận ra tm Phật m mỗi người bẩm thụ từ lc chưa được sinh ra. Điều cốt yếu l nhận ra v an tr trong tm ấy với niềm tin tưởng v lng xc tn (TBS; Tr.110-111), lun lun nghĩ đến tm Phật bất sinh. Khng hm nấu những tư tưởng ny nọ trn ci nền bất sinh ấy, nghĩa l khng bm lấy những g tm tr chng ta nghĩ tới (TBS; Tr.113) khiến tm Phật phản ứng tạo thnh những tưởng. Khi tm tr khng bị lay chuyển th khng tư tưởng no cn khởi ln d tốt hay xấu v do đ cũng khng cần phải diệt. Như vậy chng ta khng tc tạo cũng khng hủy diệt.
    - Thưa bc, đ suy nghĩ tức l đ tc tạo niệm, vọng tưởng. Đng khc, sao c thể nghĩ tới tm Phật khi tm Phật khng thể tưởng tượng, khng thể nghĩ bn, v như vậy lấy g để an tr?
    - An tr c nghĩa để n l chnh n, đừng tm kiếm, khng nhận thức, chẳng cần hiểu biết. Thực ra, cng cố gắng tm hiểu, nhận biết chỉ cng tạo ra những niệm, tư tưởng ph phiếm, v tạo nn nhiều vọng tưởng khiến tm tr con người khng cn được giy pht no yn ổn, pht sinh thm lắm phản ảnh nơi tm Phật. Theo nh Phật, mong muốn được gic ngộ c vẻ l chuyện hon ton tốt đẹp đng khen, nhưng kỳ thực l si m. Sự mong muốn thnh Phật của con người trước hết l điều v ch bởi tm Phật nơi chng ta vốn c từ trước lc sơ sinh, vốn bất sinh nn chưa cần suy nghĩ, mọi sự đ được nhận ra r rng m khng cần đến một thứ khn lanh no, cũng khng cần đặt trn cơ sở những khi niệm m hay ngộ. Hy ở nguyn trong trạng thi đ tức l an tr nơi tm Phật th mọi sự đều được nhận ra v phn biệt r rng. Điều ny c nghĩa hy để cho mọi sự tự thu xếp lấy, bất cứ g xảy ra sẽ được giải quyết tri chảy d con người muốn hay khng. Đy chnh l sự vận hnh của tm Phật v diệu dụng chiếu sng của n. Tuy nhin, v khng hiểu điều ny, chng ta cứ tưởng chnh mnh dn xếp mọi sự nhờ ti khn lanh nn vẫn bị m mờ. Anh em nn hiểu rằng, khi đối diện với ngoại cảnh m khng tạo nn vọng tưởng, khng để ngoại cảnh gy phản ảnh nơi tm Phật th đấy chnh l căn bản tu chứng, nghiệm chứng (TBS; Tr.158-159). Những tưởng, niệm chnh l si m, thị dục, chng giống như rượu. Chng ta khng uống rượu, tất nhin khng thể say; thế nn, hnh giả khng theo đuổi tưởng sẽ khng bị n hnh hạ. Hy để yn cho n khởi v tự diệt v cn cố đn p, dẹp bỏ vọng tưởng vẫn l m muội (TBS; Tr.166).
    - Thưa bc, thật kh m cứ để cho những vọng tưởng khởi v diệt một cch tự nhin.
    - Sở dĩ chng ta gặp kh khăn v đ bị ảnh hưởng qu nặng nề từ kinh nghiệm sống. Mọi người đều biết, muốn c g, được g, chng ta phải lm g. Từ đ, v tưởng rằng c một phương php đặc biệt no đ mới c thể để mặc cho những vọng tưởng khởi v diệt nn chng ta thay v để chng tự khởi, tự diệt, lại lo tm kiếm phương php v tưởng no đ (TBS; Tr.168). Chẳng hạn những phương php tọa thiền v tất cả cc php đều l những phương tiện của cc bậc thầy dng để đối ph với những tnh huống đặc biệt v đp ứng những nhu cầu của từng c nhn trong hnh trnh tu chứng. Thực ra, ngay từ đầu đ khng c những quy luật cố định. Thế nn, nếu chng ta xem những phương tiện tạm thời ấy như những lời dạy bất di dịch th cũng như tự bịt mắt mnh (TBS; Tr.178). Ngay cả việc muốn thnh Phật liền by giờ cũng l một điều giả tạo. Chỉ cần nhận thức rằng mnh đang tạo những ước nguyện, rồi cứ sống tự nhin, đừng vướng mắc bất cứ sự g, th bản lai diện mục của chng ta sẽ được hiển lộ (TBS; Tr.179).
    - Thưa cụ, ng Thung ln tiếng, ni như vậy phỏng c nghĩa khng cần cố gắng, phấn đấu hay thực hiện tu chứng?
    - ng ni đng, khng cần phấn đấu chng ta vẫn c thể đạt được ton gic ngay tại chỗ nhưng đ chẳng ai tin hoặc nghĩ thế l đng bởi họ cn đang muốn đạt tới ton gic. Sở dĩ cc phương thức thiền cn đang được phổ biến ngy nay cũng v khng hiểu nn người ta bắt chước một cch m qung với hy vọng sai lầm bởi cho rằng cứ thực hiện cng một nguyn tắc sẽ pht sinh cng một hậu quả (TBS; Tr.244). Thực ra, khng c hnh thức chỉ gio đặc biệt no về php tu, cũng khng c phương php đặc biệt no. Nguyn nhn chnh chỉ v người ta khng nhận ra ngay trong chnh mnh đ sẵn c tm Phật từ thuở sơ sinh, ni cho đng, trước khi được sinh ra, nn họ tưởng khng c sự tự do giải thot thnh ra kiếm tm những phương thức giải thot bn ngoi hoặc tưởng rằng những sự hiểu biết gip họ đạt tới kiến tnh. Như vậy, tm tưởng cố theo đuổi nhận thức, ước muốn, được gọi l v minh, do ngoi việc tu tm chẳng c hạnh mn ring (NTGG; Tr.14). Bởi thế, gọi l tu chỉ c nghĩa đừng cố gắng thực hiện g, đừng nghĩ g, v chỉ để cho Tnh Phật hiển lộ m thi. Suy luận cch khc, Phật tnh l tm thanh tịnh trm khắp, v vọng tưởng che lấp lm mờ đi. Thế nn, chỉ cần bung vọng tưởng, v khi vọng tưởng sạch hết th tm thanh tịnh hiện nn được gọi tạm l thnh cng chứ thực ra chẳng c g thnh đạt cả. Bởi vậy, khi tu, chng ta khng cần cầu Phật, chẳng theo php để được chứng minh hay điểm đạo chi hết; v nếu người ngồi thiền m cn mong Phật tới, bồ tt gip, th vẫn cn theo đuổi vọng tưởng, do đ vẫn cn m lầm, vẫn theo dục (NTGG; Tr.25). Anh em nn ngẫm cu ni, Khng lm g l lm tất cả.
    - Thưa bc, như vậy chẳng khc g v tm.
    - V tm l khng vọng tưởng chứ khng c nghĩa khng c tm. Khi hết vọng niệm Chn Như thể hiện, nếu cn vọng niệm tất nhin cn chướng ngại. Đ l l do tại sao Ngũ Tổ Hong Nhẫn dạy bảo cc mn đồ, "Sanh tử l việc lớn, cc ngươi suốt ngy chỉ cầu phước điền, chẳng cầu la khỏi biển khổ sanh tử. Tự tnh nếu m, phước lm sao c thể cứu được?" (PBĐK; Tr.13), v hễ lọt vo suy lường th chẳng dng được (PBĐK; Tr.13). Suy lường chnh l dụng tm phn biệt do nhận định đối đi. Thế nn, ngộ được diệu l của Tm th tội phc đều khng, m cn m lầm th thiện c đều c, bởi tất cả chỉ l hiện thể của tm (KTTP). Anh em đ thử nhn những bức tranh người Mỹ gọi l "Magic pictures" chưa? Muốn nhn thấy hnh ảnh thực sự ẩn dấu nơi những bức tranh ny, người nhn phải chỉnh đốn mắt của mnh sao cho khng để đến những nt tiểu tiết của bức tranh m mắt phải nha đi th mới thấy được. Kiểu nhn thực nghiệm ny c thể so snh với lối ni v tm nơi nh Phật, khng để đến những tiểu tiết vọng tưởng, niệm m nghiệm ci gốc, cội nguồn của những niệm. Nh Phật gọi thực thể pht xuất niệm l Tm Hư, Tm V, hay tm Phật. Hiểu như vậy anh em mới nhận ra cu trả lời của Lục Tổ Huệ Năng, "Truyền thọ th khng, chỉ cần kiến tnh, chẳng cần thiền định giải thot" (PBĐK; Tr.27) mang nghĩa chi, khi Ấn Tng hỏi ngi đ được Ngũ Tổ truyền thọ g.
    - Thưa bc, nếu đ l Tm Hư, Tm V, chẳng cần thiền định giải thot th đu cần định tm, trụ tm.
    - Anh lại bị lệ thuộc vo ngn từ nh Phật. Tm Hư, Tm V đu phải v tm m chnh l tm Phật, khng thể nghĩ bn được. Khng thiền định giải thot tức l khng ch tm, khng ước muốn giải thot v cn ước muốn vẫn l vọng tưởng. Thế nn, tm chẳng trụ c nghĩa khng đặt tm tr vo bất cứ php no hay niệm no. Lục tổ c ni, "Tm chẳng trụ php th đạo được linh động; tm nếu trụ php, gọi l tự tri. Lại c kẻ dạy người lấy ngồi lm cng phu, khn tm qun tịnh, chẳng khởi chẳng động, kẻ m chẳng hiểu, bn chấp ngồi thnh bệnh, nhiều người truyền nhau vậy, thật l lầm lỗi lớn (PBĐK; Tr.58). Tu chứng nh Phật chẳng trụ bất cứ g, khng cầu đạt tới mực độ no nn gọi l v trụ, v niệm. L do, tm Phật, Tm bất sinh đ sẵn nơi mọi người nn đu cần chứng, đắc, đu phải theo phương php no để nhận ra v dẫu khng nhận ra cũng đ sẵn c. Bởi vậy tm tr nhiều người bị mờ mịt khi suy nghĩ về cu ni của Lục Tổ Huệ Năng, "Người m đời sau nếu nhận được chng sanh, tức Phật tnh. Nếu chẳng nhận được chng sanh, dẫu cho mun kiếp tm Phật cũng kh gặp. Chẳng phải Phật tnh lm m chng sanh, tự tnh nếu ngộ, chng sanh l Phật, tự tnh nếu m, Phật l chng sanh. Tự tnh bnh đẳng, chng sanh l Phật, tự tnh t hiểm, Phật l chng sanh. Nếu tm hạnh quanh co th Phật ở nơi chng sanh, nếu được nhất niệm bnh đẳng ngay thẳng th chng sanh thnh Phật. Tự tm l Phật, chớ hồ nghi nữa. Vạn php đều tự tm sanh khởi, chẳng phải vật bn ngoi c thể kiến lập; nn kinh ni, 'Tm sanh th mọi php sanh, tm diệt th mọi php diệt'" (PBĐK; Tr.145). Thế nn cng tm kiếm, cng ước muốn, cng năng động th lại cng chm su nơi trạng thi nh Phật gọi l dục. Ni cch khc, những g chng ta cố cng thực hiện, dẫu chỉ l ước muốn, đều v ch v ngăn cản sự hiển lộ Tm Phật. V như vậy, khng ước muốn g, khng thực hiện g, khng lm g l lm tất cả, v phương php nghiệm chứng chỉ cần định tm chứ khng trụ tm.
    - Thưa bc, ni rằng nhận được chng sanh tức Phật tnh th đu cần g phải ni, v ai m khng nhận được mọi người, mọi vật chung quanh.
    - Anh c biết anh ni g khng?
    - Chu muốn ni nếu Phật l chng sanh th đu cần tu chứng.
    - Ni ci g? Ci g ni?
    . . .
    V thế l Sỹ nh con im tịt. Mọi người cảm thấy lạ lng v cu hỏi bng quơ, đầy vẻ ngy ng của cụ Ti. Cu hỏi mang tnh chất kỳ cục v Sỹ vừa mới ni, cụ đ hỏi "Ni ci g" v lật ngược cu hỏi biến thnh "Ci g ni." B mỉm cười, nt mặt lộ vẻ hứng th, chậm ri nng chai bia tu một hơi coi bộ thoải mi lắm, khng ni g nhưng thi độ tỉnh to ngược lại nt trầm ngm đang đ nặng trn gương mặt mọi người. Mấy ngn tay hắn tiếp tục xoay nhẹ chai bia sau khi đặt xuống bn. Cụ Ti nng ly rượu hớp một ngụm, từ từ đưa mắt nhn rảo quanh mọi người, bắt gặp đi mắt B đang nhn mnh; cụ cũng mỉm cười chừng như hội điều g. B bỗng ln tiếng,
    - Cho chừa ni dại.
    Thế l Sỹ nh con vội cướp lời,
    - Ch ni dại nghĩa l sao?
    - Tự tnh nếu ngộ, dại l Phật, tự tnh nếu m, Phật l dại. B dng cu ni của Lục Tổ đổi "chng sanh" thnh "dại" khiến người nghe cảm thấy cu ni trở nn cng ngớ ngẩn.
    - Ti nghĩ anh B nn giải thch cu ni của lục tổ. Cụ Ti đề nghị ngắn gọn c thử xem B nghĩ g.
    - Thưa bc, giải thch cũng như khng m khng giải thch c lẽ tốt hơn bởi c thể cng giải thch chỉ cng lm cu ni kh cảm nhận. Điểm chnh yếu nơi cu ni của lục tổ Huệ Năng chỉ l, "Người m đời sau nếu nhận được chng sanh, tức Phật tnh." Đ cũng l cu trả lời cho cu hỏi c vẻ kỳ cục bc nu ln, "Ni ci g? Ci g ni? Theo nh Phật, "Tm sanh th mọi php sanh, tm diệt th mọi php diệt." Tm ni, Tm chứng, do đ chẳng c g để ni, để chứng bởi Tm bất khả tư nghị. Như vậy, Lục Tổ giải thch thm, "Nếu chẳng nhận được chng sanh, dẫu cho mun kiếp tm Phật cũng kh gặp" th c giải thch cũng bằng thừa, nếu đ chẳng nhận được chng sanh.
    - Anh ni c l. Điểm khc mắc người ta thường gặp nơi cu ni của lục tổ chỉ l lời ngắn gọn, "tức Phật tnh." Khi cn thấy người, thấy ta, thấy chng sanh, thấy tm Phật th cn phn chia nhĩ, ng, vẫn cn m. Cn nhận ra "Ni ci g" th vẫn khng nhận ra "Ci g ni."
    - Ồ, sao bc diễn tả dễ dng như thế m đối với chu th lại qu khc mắc.
    - C lẽ v anh cn suy nghĩ.
    - Hn chi bc ni điểm khc mắc "tức Phật tnh, C điều, khi đặt vấn đề về tịnh v động của nh Phật, chu cứ bị rối m ln, m cng nghe giải thch, cng tm ti kinh sch th lại cng khng hiểu g, no l thiền ci khng, rồi chớ chấp khng, no tịnh, động, no l chẳng động, lại cn tm hư khng. Ối cho, tịnh cũng chẳng được m động cũng chẳng được, chu chẳng biết sao nn cứ luẩn quẩn v chưa nghiệm ra được thế no để chẳng tịnh v cũng chẳng động.
    - Ngn từ nh Phật được hiểu ty theo trường hợp. Nếu ni chứng ci V, ci Khng, th c nghĩa định tm chứng tm Phật. Đng khc, theo ngn từ giải thch bnh thường, "V" l khng tm sai biệt, khng phn chia đng sai, phải tri v tất cả đều pht sinh tự tm Phật. Lục tổ ni, "Chớ nghe ta ni khng m liền chấp "khng." Trước nhất chớ chấp khng, nếu để tm khng tĩnh tọa l lọt vo "v k khng" (PBĐK; Tr.30). Đồng thời ngi lại cũng ni, "Tm lượng l việc lớn, miệng chớ trọn ngy ni "Khng" m trong tm chẳng tu hạnh ny giống như thường dn tự xưng l vua th khng được" (PBĐK; Tr.31). "Chấp khng" c nghĩa lệ thuộc niệm cho rằng khng c g; "Tu hạnh khng" l nghiệm chứng mọi vật mọi sự pht sinh từ tm Phật khng phn chia đng sai. Bởi vậy, chng ta nn nghiệm cho r, trong hnh trnh tu chứng, "Bn ngoi la tướng l thiền. Bn trong chẳng loạn l định. Nếu ngoi chấp tướng, tm trong liền loạn. Bản tnh tự thanh tịnh m chỉ v chấp nn thnh loạn. Thấy mọi cảnh m tm khng loạn gọi l chơn định" (PBĐK; Tr.63). Đ l nghĩa thực nghiệm của thiền. "Thiền chẳng chấp tm, chẳng chấp tịnh, cũng chẳng phải l chẳng động. Nếu ni chấp tịnh, tự tnh vốn tịnh, chỉ do vọng niệm che khuất Chơn Như. Khởi tm chấp tịnh lại sanh vọng tịnh. Vọng chẳng xứ sở; kẻ chấp l vọng; tịnh chẳng hnh tướng, lại lập tướng tịnh m cho l cng phu tạo chướng tự bản tnh nn lại bị tri vo niệm tịnh" (PBĐK; Tr.62). Bởi vậy lục tổ ni, "Con người ngu m miệng ni bt nh m tm chấp nhất; miệng ni khng m chẳng biết "Chơn Khng" (PBĐK; Tr.32). "Người đời ngoi m chấp tướng, trong m chấp khng. Nếu được ở nơi tướng m la tướng, nơi khng m la khng, tức l trong ngoi chẳng m" (PBĐK; Tr.81-82).

    - Ah, chu đ hiểu được điểm gic ngộ nơi cu chuyện Hương Nham.
    - Hiểu, chưa chắc đem lại lợi ch g. Anh nn chứng cu ni của Lục Tổ, "Người hễ tm như hư khng, chẳng chấp vo khng, ứng dụng v ngại, động tịnh v tm (chẳng tc ), thnh phm đều qun, năng sở đều diệt, tnh tướng như như th khng lc no chẳng phải định vậy" (PBĐK; Tr.108).
    - Chu cảm ơn bc, nhưng chu chỉ mới hiểu được l do tại sao bc chỉ cch định tm lại cn nhấn mạnh thực nghiệm cu ni nơi Lo học. Tuy nhin, định tm để nghiệm th phải qun; m khi qun nếu khng nghi lại sinh chấp, v đ chấp tất nhin m, muốn khỏi m th phải nghi v đ nghi tm khng định.
    - Cu ni "Nghi lớn th gic ngộ lớn; nghi nhỏ th gic ngộ nhỏ; chẳng nghi th chẳng bao giờ gic ngộ (PHTH; Tr.59) mang nghĩa khng chấp để nghiệm chứ khng phải chấp nghi. Người ngy nay đặt nặng vấn đề hoi nghi chỉ v họ học theo bậc thầy ngy xưa. Bởi thế, họ đ tạo ra một thứ hoi nghi bắt chước. Sự hoi nghi ny khng chn thật nn họ sẽ khng c ngy no gic ngộ (TBS; Tr.185). "Lại c những thiền sư dạy đệ tử rằng họ sẽ khng được ci g nếu khng gom thnh một khối nghi lớn để ph vỡ. Họ khng dạy người ta an tr trong tm Phật m cứ bắt người khng c hoi nghi cũng phải nặn cho ra một khối nghi, thế l khiến họ đổi ci tm Phật thnh một khối nghi; quả l việc lầm lẫn" (TBS; Tr.125). Thử hỏi, nghi để lm g nếu khng chấp. Đy chnh l sự thực hiện cu ni, "Gặp Phật giết Phật, gặp tổ giết tổ" (NVTH; Tr.63) m anh Hưng nhắc lại lời nơi Lm Tế Lục. Trong hnh trnh nghiệm chứng, nếu chấp nghi để rồi cố rng vạch vi cho đến tận cng những cảm nghiệm nơi kinh sch, hiểu được cu ny lại tiếp tục thắc mắc về cu khc, cứ thế khng bao giờ dứt; phỏng cuộc đời một người đ thấm tha g với mun vn thứ cần phải nghi. Hơn nữa, đọc kinh sch lại quanh quẩn chấp kinh th những chữ nghĩa ấy c ch g cho sự học đạo (TBS; Tr.226). Rn sức tu hnh, chấp php, cố tọa thiền để được gic ngộ đều sai. "Khng c g khc nhau giữa tm của chư Phật với tm Phật nơi mỗi người. Mong cầu đạt gic ngộ l tạo ra một sự phn hai, thnh ra c người gic ngộ v chn l được gic ngộ (năng chứng, sở chứng). Khi cn đeo đẳng một cht no ước muốn gic ngộ th lập tức đ gi từ tm bất sinh. Tm Phật m con người c từ thuở sơ sinh với Chn Như chỉ l một, khng c hai hay ba" (TBS; Tr.145).
    - Bc muốn ni khng cần hiểu?.
    - Hiểu tm Phật bất sinh bằng tri thức th chỉ l tư duy trống rỗng. Khng thể ni người no hiểu biết về một vấn đề no l đ thực chứng được một cch triệt để. Ni đng ra, sự hiểu biết về tm Phật v gi trị, d c đem giảng dạy cho người khc họ cũng khng nhận ra được v thiếu nghiệm chứng chẳng khc g nghe ni về một mn ăn m khng bao giờ được nếm thử. Tự bản thn khng thực hnh m chỉ dạy những g chng ta biết bằng tri thức th khng cch g người khc c thể nhận ra được tm Phật. Hiểu l chuyện dễ, hnh mới l kh (TBS; Tr.134).
    - Thưa bc, phỏng thiền l hnh hay nghiệm?
    - Anh kh thng minh! Hnh nơi nh Phật chnh l nghiệm nhưng thường đ được hiểu lm một việc g hoặc dụng cng sức thực hiện chuyện g chẳng hạn ngồi bất động, thường được gọi l thiền. Thiền l hnh trnh kiến tnh, hnh trnh tu chứng, nghiệm chứng, để nhận ra được tnh gic, linh gic, chn tm nội tại của mnh. Như vậy, lm cng việc g th cứ lm, ni th cứ ni miễn khng theo vọng tưởng, khng c chủ đch, đ l thiền. Chnh tm mnh l Phật chứ khng phải g khc, nhưng khng phải tm vọng tưởng, ước muốn. Tm vọng tưởng gọi l m, v minh. Tm khng vọng tưởng l tm gic. Như vậy, bỏ vọng tưởng tức khng cn m, bỏ m để sống với gic tức minh triết, tức thiền, tức tu chứng, nghiệm chứng. La vọng tnh phn biệt tất nhin trở lại Phật tnh linh gic đ c sẵn nơi mnh (KTTP).
    - Thưa bc, nếu Phật tnh đ sẵn nơi mnh th sự kiếm tm, ước muốn đạt tới sao c thể ni l vọng tưởng?
    - Thực ra, những vấn đề chng ta bn luận chỉ một phần no dng nhận thức tm hiểu về hnh trnh chứng ngộ Tm thể của mnh; nh Phật gọi l tri kiến hay tu chứng, nghiệm chứng. Đng khc, d suy tư thế no, gii by ra sao, chng ta cũng khng thể no ni g về tm Phật nơi mnh m ngược lại, chỉ ni những g khng phải tm Phật bởi tri kiến Phật phải tự nơi tm. Phật tm chẳng ở bn ngoi. Do niệm, vọng tưởng che khuất tạo thnh tham i nn pht sinh nhiễu loạn tm tưởng; bởi thế, cn muốn tri kiến Phật vẫn cn tạo vọng tưởng. Suy như vậy, tu chứng, nghiệm chứng khng cần phải đi đu, tm kiếm nơi no hoặc thực hnh điều g m bất cứ ở đu. Php thn khng vọng niệm th đ l tu (KTTP). Việc chnh yếu l lun cẩn thận đừng khuấy động tư tưởng để rồi chuyển tm Phật thnh ra quỷ chiến đấu (TBS; Tr.137). Sự định tm ngăn ngừa vọng động, niệm đ được Lục Tổ nhắc nhở r rng, "V niệm, niệm tức chnh; hữu niệm, niệm thnh t. Hữu v đều chẳng chấp, Tự Tnh lun lun hiện" (PBĐK; Tr.84-85).
    - Thưa bc, dẫu sao, bộ c con người tự mang năng lực tc động niệm cho d định tm cch no dẫu ngay cả lc ngủ.
    - Ti hiểu anh muốn ni g. Tuy nhin, nếu v mong mỏi nhận cho ra Tm Phật m chng ta rn ngăn chặn những tưởng giận dữ hoặc thm kht bất cứ g, khng cho chng khởi ln th khi lm như vậy chng ta đ phn chia tm duy nhất nơi mnh ra lm hai. Khi ta cn cố ngăn tư tưởng khởi ln, ci ấy chống lại với những khc đang khởi ln lin tục, v như vậy diễn trnh đuổi bắt hay ngăn chặn tư tưởng sẽ khng bao giờ c sự chấm dứt. Thế nn, đừng bận tm ngăn chặn hay khng ngăn chặn tư tưởng, nhận định, chỉ cần để tự n th n khng thể lm g khc hơn l tan biến. Chng ta khng thể tranh ci với vch tường nếu chỉ đứng ni một mnh. Khi khng c ai ở đ để chiến đấu th mọi việc tự động đi đến chấm dứt (TBS; Tr.111-112). Vấn đề cn lại phải l chng ta nhận ra mnh cảm thấy thế no, c đang bm vu vo một vấn đề hay tư tưởng no khng. Khi chng ta khng bm vu một tư tưởng no đặc biệt như vui hay buồn, khng nghĩ tới chuyện chấm dứt hay khng chấm dứt n, trạng thi ny gọi l an tr trong Tm bất sinh, tức l giữ tm duy nhất lun lun duy nhất d cho điều tốt điều xấu g khởi ln; chng cũng tự động chấm dứt m khng cần phải cố nghĩ hay khng nghĩ. Sự thể m chng ta gọi l cơn giận hay niềm vui đều do chng ta sản xuất với mnh lực của tnh chấp ng, hậu quả của dục vọng, ch kỷ (TBS; Tr.112). Khi vượt ra ngoi khuynh hướng bm vu th những tư tưởng kia sẽ tự động tan biến. Sự biến mất ấy hiển lộ tm bất diệt, v đ l tri kiến tm Phật.
    - Thưa bc, ni như thế, Sỹ nh con hăm hở, nếu giữ tm định, đnh tm, bắt c, ăn nhậu, hoặc lm bất cứ việc g, miễn sao khng niệm, khng định, ước muốn, vọng tưởng, tức l đang thiền, đều l tu v đang an tr nơi tm Phật?
    - Đng, chng ta chỉ cần an tr trong tm Phật, ngoi ra khng cần lm g khc. An tr nơi tm Phật khng lệ thuộc điều kiện g hoặc hnh động no nơi cuộc sống m l tự tm. Những php, hnh, bn ngoi, ngay cả niệm Phật hay tụng kinh cũng chỉ l phương tiện gip tm định. Bởi vậy, tm định mới thực sự được gọi l hnh cn vấn đề đi cha th cứ đi, hnh thiền th cứ hnh; mỗi ngy hnh thiền, tụng niệm, vi Phật năm, ba giờ, hoặc thời gian đốt hết mười, hay hai mươi que hương cũng khng sao, nhưng tm Phật bất sinh khng phải l chuyện những que hương, cha lớn hay nhỏ, thing hay khng. Khi chng ta an tr trong tm Phật th khng cần tm gic ngộ ở bn ngoi m mọi sinh hoạt hng ngy của chng ta chnh l sinh hoạt của Tm Phật (TBS; Tr.124). Bởi đ, Lục Tổ cũng đ dạy, "Ma Ha Bt Nh Ba La Mật dịch l đại tr huệ đến bờ bn kia. Đy cần phải tm hnh, chẳng ở miệng niệm. Miệng niệm tm chẳng hnh th cũng như huyễn ha. Miệng niệm tm hnh th tm v miệng tương ưng. Bản tnh l Phật, la tnh chẳng c Phật" (PBĐK; Tr.30). La tnh tức l chấp, theo đuổi những niệm, vọng tưởng, hoặc cc php.
    - Thưa bc, phỏng đy l nghĩa của "tự tại" nơi nh Phật, nhưng sao n c vẻ..., Hưng chợt ln tiếng hỏi.
    - Anh muốn ni c vẻ ngy ng, kh khờ, thiếu khn lanh như người đời thường hm mộ phải khng? Người no để cho Tm vận hnh một cch tự nhin để giải quyết mọi sự th người ấy sẽ mở được con mắt sng thấy r tm người, v nhận ra một cch rốt ro rằng mọi người đều l những vị Phật đang sống. Đy chnh l tuệ nhn. Chnh v khng nhận ra sự qu bu của tm Phật nn chng ta nổi tham sn si v những chuyện vụn vặt, v do đ vẫn chỉ l những con người m muội (TBS; Tr.123). Bởi vậy, chưa chứng được Tm bất sinh th người ta chỉ đứng trn bnh diện kiến văn gic tri (giới hạn trong ci biết của gic quan), đổi tm Phật thnh những khi niệm. Đy gọi l vọng tưởng. Sự giảng dạy về kiến tnh cũng thế, người no chưa thực chứng về tm Phật nơi mnh th chỉ c thể nhai lại những l thuyết Phật học, chẳng gip ch g được cho ai nếu khng muốn ni l chỉ tạo thm phiền nhiễu nơi tm tưởng người khc.
    - Như vậy, thưa bc, kinh sch cũng chỉ l mớ kiến thức.
    - Dẫu kinh sch được viết do chứng nghiệm nhưng kết quả đem lại ty thuộc định cũng như nhận thức của người đọc. Hoặc l họ đọc để nhận định những g họ đ nghiệm nơi hnh trnh tu chứng, hoặc đọc để biết thm kiến thức; hai thi độ ny khc nhau một trời một vực. Bởi vậy, người no đọc để nghiệm th khng lệ thuộc nơi kinh sch, nhưng kẻ no đọc với chủ đch trau dồi kiến thức th chẳng khc g con quạ cố bắt chước con cng cọc như trong tục ngữ Nhật c ni. Khi con quạ cố bắt chước con cng cọc th mu đen của n c giống, nhưng lc thả vo nước, quạ lại khng lội được như cng cọc (TBS; Tr.135). Người nghiệm chứng, đọc kinh sch chẳng khc g uống nước, nng lạnh tự biết. Kẻ đọc kinh sch m khng nghiệm chứng no khc chi lc kht kh cổ m chỉ được nghe giải thch về lợi ch của nước đối với sự sống, cng nghe chỉ cng kht thm.
    - Thưa bc, an tr nơi tm Phật tức l sống theo tự nhin với tm bất sinh sẵn c, v như vậy c vẻ ngược đời, hoặc ni cho đng, xin lỗi bc, sẽ bị gọi l đin, Phủ ngập ngừng.
    - Anh em đ bao giờ nghe cu ni, "Bn Ty phương khng đủ nh t để nhốt kẻ đin; ngược lại bn Đng phương c ai đin th lại được mọi người knh trọng" (L.N.Đường). Sự nghịch đời, thi độ nhận thức khng giống người chung quanh của bậc thức ngộ l cơ hội cho kẻ khc tm về Chn Thể nơi chnh họ dẫu họ nhận ra hay khng. Tuy nhin, vẻ đin của bậc thức ngộ khng nghịch m vượt ln trn lun l người đời do đ họ bị cho l kỳ dị bởi lng họ khng hợp với người đời m hợp với thin l (TTvNHK; Tr.224). Ni cho đng, bậc chn nhơn giải thot l người đ nhận chn được Tm Thể, Tự Tnh, ci sống thật của mnh, ci sống đồng với Trời Đất v thủy v chung, tự sinh tự ha, cho nn khng cn ci bụng đo bồng, tham muốn những g ngoi tnh phận của mnh nữa, v nhờ vậy m tuyệt được lng tham dục nn khng vướng mắc. Bởi vậy, họ khng tự tn m cũng chẳng tự ty, cũng khng bao giờ c mặc cảm tội lỗi g cả v tm hồn họ đ thot khỏi những gọng kềm của lun l, x hội, tn gio, học thuyết, một cch rất sng suốt (TTTT; Tr.194). Bề ngoi của họ th c vẻ ha nh với mọi người, m kỳ thực, lng họ cch xa với thế nhn (TTTT; Tr.195), nghĩa l họ ha m khng đồng, v như vậy l vừa khng đụng chạm với đời m cũng vừa được thnh thực với lng mnh (TTNHK; Tr.404). Người đ thch nghi với Đạo, với Tự Tnh, th khng lm g, m thin tnh của họ vẫn được an định. Cho nn bảo "C ở trong sng, hồ, vui thch m qun mnh, người ở trong đạo v thuật, vui thch m qun mnh" (TTvNHK; Tr.224). Nghiệm chứng Phật học, khng ai trnh thot đối đầu với cu ni của Trang Tử, "Người ta cho ci hnh hi tạm thời của mnh l ci ta, nhưng lm sao biết được ci ta đ thực l ta khng" (TTvNHK; Tr.225).
    - Thưa bc, B nhận định, theo những g bc giải thch, gic ngộ chỉ l sự nhận thực hay cảm nghiệm một cch rốt ro rằng tm Phật ở nơi mnh từ trước khi được sinh ra, mọi sự nơi mnh, từ tư tưởng, nghĩ, ước muốn, ước mơ, ngay cả thn xc mnh đều l hiện thể của tm Phật như một hiện thể. Thế nn, sự thiếu nhận thức thực tại ny được gọi l si m hay v minh. Ni như vậy, tư tưởng l nguồn gốc của v minh, v dĩ nhin, khi hết tư tưởng th v minh cũng bị diệt để Tự Tnh, tm Phật hiển lộ. Tm Phật, Tự Tnh hiển lộ đ l kiến tnh, thnh Phật. Ni l thnh nhưng khng c nghĩa trở thnh m lại l như như, ha nhập, tự như vậy, thanh tịnh, khng vướng mắc. Phỏng đy c phải l nghĩa của qun khng, qun v, v sanh v diệt, định tm, an trụ tm, ni cho cng, gọi l g cũng được nhưng tốt nhất chẳng nn gọi l g v dẫu dng ngn từ no cũng khng diễn tả được m trở thnh ngơ ngơ v vẫn khng biết được ci ta c thực hay khng!
    - Anh ni khng sai, ngơ ngơ, hay kỳ dị, hoặc đin cũng được v ci ta vừa c, vừa khng. Trạng thi ny lục tổ đ giải thch rất r nhưng khng nghiệm chứng chẳng thể no hiểu được đ l, "Phm phu tức Phật, phiền no tức Bồ Đề; niệm trước m tức phm phu, niệm sau ngộ tức Phật. Niệm trước chấp cảnh tức phm phu, niệm sau la cảnh tức Bồ Đề" (PBĐK; Tr.31-32). Nơi khc ngi cũng ni, "Ở mọi nơi m chẳng trụ tướng, nơi mọi tướng chẳng sanh yu ght, cũng chẳng lấy bỏ, chẳng nghĩ việc lợi ch thnh bại, trong tm trống rỗng dung ha, an nhn đạm bạc, đy gọi l nhất tướng tam muội. Ở mọi nơi đi đứng nằm ngồi, duy nhất hnh theo trực tm, nơi no cũng l bất động đạo trng, như vậy mới thnh chơn tịnh độ; đy gọi l nhất hạnh tam muội" (PBĐK; Tr.140). Đ l l do tại sao ni v niệm, v php v kiến tnh do tm ngộ, chẳng tại thực hnh theo những cch thức ngoại thiền no bởi Tự tnh chẳng c chỗ đến, cũng chẳng c chỗ đi, chẳng sanh chẳng diệt nn gọi l như lai. Như vậy, cứu cnh chẳng c một php để chứng đắc huống chi nằm, ngồi (PBĐK; Tr.128). Thế nn, người kiến tnh lập l thuyết, lập giới, lập định v.v.. cũng được, chẳng lập cũng được, đi lại tự do, chẳng trệ chẳng ngại, cần dng liền lm, cần ni liền đp chẳng tc ; khắp hiện ha thn chẳng la tự tnh, tức được thần thng tự tại, du h tam muội (PBĐK; Tr.120) no khc g anh ni ngơ ngơ.
    - Thưa bc, nếu tm Phật nơi mnh tự sống động v nếu để mọi sự vận hnh tự nhin, sử dụng tm Phật ty theo hon cảnh, vượt thiện c, tất nhin cần lm g th lm, khng cần, khng lm, khng ước muốn lm thiện, chẳng ght điều được cho l c, th no khc g người ngơ ngơ.
    - Anh em nn nhận r điều ny, thuở ban đầu khng c g được gọi l gic ngộ hoặc m si. Tất cả l thuyết đều l tưởng lượm lặt v bẩm sinh no c chi (TBS; Tr.213). Dng l luận cht t thi chng ta sẽ nghiệm được điều nghịch thường, nghe c vẻ kỳ cục, v đ l mọi người đề cao gic ngộ nhưng ai may mắn bỏ chuyện gic ngộ qua một bn th lại l người hon ton giải thot. Ai cũng c sẵn tm Phật; bởi vậy khng l g by giờ lần đầu tin chng ta mới sống ph hợp với tm ấy. Lm những cng việc cần thiết cho cuộc sống của chng ta một cch chuyn nhất tm , đ l thực hnh tm Phật, Tm bất sinh (TBS; Tr.161). Thực tại chứng minh, gic ngộ được đặt thnh vấn đề hoặc cần thiết chỉ khi si m. Mọi người đều sẵn c bản chất gic ngộ hay tm Phật nn một cht m lầm cũng khng hiện hữu. Bởi vậy, chng ta khng cần phải đạt đến bất cứ g (TBS; Tr.170). Theo ngn từ nh Phật được gọi l v chứng đắc. Anh em nn nghiệm cho r, thường th chng ta tưởng rằng điều thiện nghĩa l ght c, nhưng chnh tm ght mới l khng lnh. Chng ta thường cho rằng thiện nghĩa l lm lnh, nhưng chnh điều ny mới thật tội lỗi v xấu xa. Sự xấu xa chnh l đ lấy nghĩ lm phiền ci Tm (TBS; Tr.212); ngược lại, chng ta qu bị lệ thuộc chiều hướng lun l hữu vi, khng phn biệt thiện c th bị cho l kỳ cục. C điều, chng ta ngưỡng mộ những bậc thức ngộ m rất t khi nghiệm chứng đến tận cng những cu ni của cc ngi. Chẳng hạn, ti nu thử một cu ni của lục tổ trả lời khi Thần Hội hỏi về thấy v biết nơi cảm nghiệm tu chứng, "Ta thấy tự ta biết, chẳng dnh dng ci m của ngươi. Ngươi nếu tự thấy cũng chẳng dnh dng ci m của ta. Sao chẳng tự thấy tự biết m lại hỏi thấy hay chẳng thấy? (PBĐK; Tr.110). Tm lại, phỏng chng ta c thể ni được g đối với những người cố tnh khng nghiệm chứng v bất cứ l do g!
    - Thưa bc, Ty con ln tiếng, nếu ni rằng tự nghiệm m c thể giải thot no đu cần gio l, đạo học, tn gio. Phỏng như vậy, chnh Phật học đ đả ph Phật gio cũng như cc tn gio hoặc cc đạo học khc? C thể ni, Ty ngập ngừng, tm trạng ny được gọi l v thần?
    - Anh em nn nghiệm cho kỹ, nếu đ l thần v đ nghiệm được, sao c thể gọi l v thần. Thế nn, kẻ khng nghiệm được thần mới l v thần; nh Phật dng ngn từ "v minh". Đng khc, ngay danh hiệu thần tự n đ khng phải l thần, m v thần, v thực thể tạm gọi l thần sao c thể ni ra được. Người hữu thần nghiệm chứ khng ni v ni ra khng được v cng ni cng chẳng ni được g. Người hữu thần chỉ c thể ni được những g khng phải l thần tức l v thần; ni cho đng, chỉ ni về sản phẩm của tư duy hay ngẫu tượng. Do đ, những kẻ tự cho mnh l hữu thần, to lao thin tướng giảng thuyết về v thần, về ngẫu tượng. Họ đang cổ v cho điều m họ khng ngờ v đ chẳng nghiệm chứng. Nhận định như thế, ti nghĩ anh em cảm nghiệm được những cu ni nghịch thường nơi kinh sch nh Phật. Chẳng hạn, "Ni l Phật php đ tức chẳng phải Phật php" (KCGL; Tr.70). Đến php đạt tới Phật cn khng ni g được th sao c thể ni về Phật, về thần. Nh Phật cn nghiệm chứng thm trầm hơn trong cu ni, "Như Lai ni cc tm đều khng phải tm, ấy gọi l tm" (KCGL; Tr.188). Chng ta chỉ c thể nghiệm chứng những thực thể tm linh chứ khng thể no ni được g, v những g tạm dng như phương tiện để diễn giải th khng phải cảm nghiệm, v lại cng khng phải thực thể đ. Thế nn, anh em đừng ngạc nhin khi nghe ai đ ni, "Người hữu thần v thần, kẻ v thần hữu thần." Xt về tm linh, nghiệm chứng cũng giống như cảm nghiệm uống nước; ai uống người ấy biết. Sự rao giảng đạo học chẳng khc chi giải thch ch lợi của nước cho kẻ đang kht bỏng cổ; dẫu ni rụng cả răng th kẻ kht cũng khng thể cảm được g. Anh em lm ơn nhận định r điều ny; đ l chn l chỉ c một. Đấng thing ling tuyệt đối cũng chỉ c một (PG; Tr.29), nhưng những lối trnh by về cảm nghiệm sự lin hệ của con người với Thực Thể Tuyệt Đối khc nhau ty quan niệm, thời đại, xứ sở, nn đ pht sinh những tn gio khc biệt nhiều khi tạo thnh xung khắc, nhất l trong những trường hợp v tnh bị lạm dụng đến nỗi gy nn chiến tranh tn gio.
    - Thưa bc, nếu ni rằng mọi sự, mọi vật đều do Tm Thể phản ảnh th mọi sự kiện hữu hnh hay v hnh xảy ra cũng khng ngoi Tm Thể tuyệt đối ny. Như vậy, đu cần phải đặt vấn đề giảng giải, thiện c, đng sai, hoặc kiến tnh hay v minh! Đng khc, phỏng suy cho cng th ngay cả đến tm bồ đề hoặc bất cứ những điều chi được coi l lợi ch cho con người cũng chẳng c g đng ni. Nếu thế, th đừng suy nghĩ, đừng tu, đừng thiền, đừng biết, đừng ham muốn, v đ được sinh ra để sống th cứ sống th đu cần l ny, thuyết kia, tn gio ny, tổ chức nọ, v sao c thể bị bất cứ điều g lm m qung, v minh.
    - Đ l trạng thi kiến tnh, huyền đồng, gic ngộ, thức ngộ, chn sư, như như, minh triết, kỳ dị, đin, bồ tt, nhưng những danh hiệu ny phải được hiểu trong giới hạn đạo học hay tm linh m thi. Như ti đ ni, anh em c cần phải qun, phải định, phải thức, gic hay ngộ hoặc tin, rằng mnh l người hay khng? D c những kẻ cho rằng họ khng phải l người th họ vẫn l người. Xt theo phương diện tm linh, d c bị lầm lạc, u tối, v minh thế no chăng nữa, chng ta khng phải chỉ l những xc thn ny m cn c một thực thể tm linh tuyệt đối nơi mỗi người d nhận ra hay khng. Tuy nhin, nhận ra thực thể tm linh tuyệt đối nơi mnh phải l hnh trnh quay về nội tm chứ khng thể chạy theo những g bn ngoi. Điều ny trước nhất c nghĩa chng ta cần biết thinh lặng, cần biết qu trọng những giy pht c đơn, cần biết định tm, v cần c một tm hồn rộng mở khng lệ thuộc giới hạn nơi bất cứ thnh kiến, kinh nghiệm, hay chủ thuyết no.
    - Thưa bc, vậy sự thực tập định tm bc mới trnh by được dng để lm g. Ty con ngập ngừng, chu muốn ni nhưng khng biết sao m ni.
    R rng Ty con đang ni nhưng lại ni "khng biết sao m ni" khiến vi người bật tiếng cười nhẹ. Nt mặt cụ Ti lộ vẻ tươi vui, khng muốn anh ta bị cảm nghĩ lng tng lm phiền h, cụ ln tiếng,
    - Anh muốn ni đến sự p dụng định tm vo sự nghiệm chứng Thực Thể Tuyệt Đối, Ci Khng?
    - Thưa bc, vng, chu thấy hơi phi l. Ty lại ngập ngừng, thế nn cụ Ti ni lun,
    - Cng ni chuyện với anh em, ti cảm thấy cng th vị. Xưa nay ti rất ngại bn thảo về đạo học v đ nhiều lần ti bị hiểu lầm nhất l trong khoảng thời gian ti cỡ năm mươi tới su mươi tuổi, bởi mnh ni một đng, người nghe hiểu một nẻo. Giọng cụ mang vẻ chậm ri, đắn đo. Tuy nhin, tối nay, những nhận xt của anh em đ khiến ti v cng ngạc nhin. Ti nghĩ, đ đến thời điểm cho hnh trnh tm linh con người được pht hiện. Bao thế kỷ tri qua, đu ai đặt vấn đề chứng ci khng th sao m chứng! Thường th cu ni "chứng ci khng" được chấp nhận như một cng n cho cc thiền gia đến nỗi chnh lục tổ phải ln tiếng về chấp khng. Thực ra, nếu đặt vấn đề Thực Thể Tuyệt Đối, Phật Tnh, Tự Tnh, Tự Thể, khng thể nghĩ bn m lại đi chứng th tất nhin sẽ rơi vo v k khng. Thế nn, đặt vấn đề về chứng ci khng th hnh trnh lại l chứng ci khng phải l khng để loại bỏ. Bất cứ những g pht sinh nơi tm tr, thức đều khng phải Ci Khng. Ni cch khc, chứng Ci Khng nơi nh Phật phải l chứng vọng tưởng v nhận ra đ l vọng tưởng, những g c thể nghĩ tới, để ha nhập tm hồn vo ci khng thể nghĩ tới v bởi vậy cần phải định tm. Như thế, chứng ci khng vẫn c nghĩa nghịch lại thnh ra chứng ci c để đạt tới ci khng. Tuy nhin, vấn đề khng phải chỉ l sự hiểu biết m cần điều kiện thực hnh. Thực hnh lại cũng cần những điều kiện khng thể thiếu...
    - Bc muốn ni điều kiện minh triết?...
    - Điều kiện ti muốn ni cũng l căn bản để đạt tới minh triết. Nh bc học Marconi đ th nhận sự bất lực của khoa học trong việc tm hiểu nguyn nhn cng tột của vạn vật. ng ni, "Khoa học hon ton khng thể giải đp những b quyết của sự sống. Đ l một điều tuyệt vọng đng sợ nếu người ta khng c đức tin. Sự b mật của đời sống con người v vạn vật l một bi ton kh khăn vĩ đại nhất m người ta cn phải tm ra sự giải đp" (XPHB; Tr.26). Tuy nhin, người Ty Tạng c thnh ngữ, "Kẻ no thức được sự sống sẽ thức được cả sự chết." Lm sao thức được sự sống? Người Ty Tạng c cu trả lời qua một thnh ngữ khc, "Biết cch thức sự sống l một cng phu v nếu n l một cng phu, người ta c thể tập luyện được." (HTTT; Tr.29). Những nh nghin cứu về Đng Phương học thường cho rằng, nền tư tưởng Đng Phương hay c tnh chất trừu tượng, siu hnh v t thực tiễn. Ngược lại, những bậc chn sư hoặc chim nghiệm Đng Phương quả quyết con đường siu thot của Đng phương khng mơ hồ, ảo tưởng, m l một con đường đ được trắc nghiệm kỹ cng từ nhiều thế hệ. Mỗi chặng đường đều c những cảnh giới thực tại của n, v một số chn sư đ trải qua để lại những chứng ngn tương tự đ được xc định thnh những phương php tu luyện. Tuy nhin, những bậc hiền giả hoặc cao nhn khi thuật lại những nghiệm chứng đ thường chỉ dng lối m chỉ bng bẩy, kh hiểu đối với những ai khng thực nghiệm, m ngược lại chỉ muốn dng l tr suy luận hầu mong đạt tới (TTĐ; Tr.238). Ti nghĩ, sau khi hiểu sơ qua về Tm Bất sinh, anh em c thể nhận thức r hơn về Tm Phật m đi khi được gọi l Tnh Linh Gic. Bản tnh ny ứng cơ, tiếp vật, thể hiện nơi mọi vật. Sự nhy mắt, giơ tay, cử động chn tay, ni năng, ăn uống, suy nghĩ đều l sự thể hiện của tnh linh gic. Đy l hoạt động ứng hiện của Phật tnh hay Php Thn. Thường chng ta t để đến sự thể hiện ny của tnh linh gic nhưng chỉ để đến sự vật mnh đang suy nghĩ. Như vậy, khi mnh hoạt động khng suy nghĩ, tất nhin đ l hoạt động của tnh linh gic, của Chn Như nơi mnh. Nghịch lại với tnh linh gic, những suy tư, niệm được tạo ra chnh l vọng tưởng. Do đ, khi mnh khng suy nghĩ tức l đang sống thuận theo với tnh linh gic; đy l trạng thi niết bn bởi khng suy nghĩ th khng pht sinh vọng tưởng c nghĩa l khng sinh nn khng diệt. (KTTP).
    - Thưa bc, con người như thế no khc g mộng du.
    - Mộng du l một bệnh tật thể xc; sống thuận với tnh linh gic vượt hẳn lối sống thức. Nếu để , khi ngủ, con người bước vo trạng thi mộng mơ v tm thức thot khỏi những giới hạn chật hẹp của phm ng thường ngy vẫn tri buộc tm hồn trong vng luẩn quẩn xc thn. Trong giấc ngủ, con người phần no thể hiện tr lực ton năng của mnh. Trong giấc mơ, c thể người ta thấy xuất hiện những bạn b thn thuộc đ chết từ lu, hoặc những xứ lạ mi đu đu chưa hề quen biết, hay cảnh tượng của những hồi xa xưa thời ấu thơ ti diễn trở lại. Tm thức tự do khong đạt v chướng ngại đ, m tất cả mọi người đi khi c kinh nghiệm trong giy lt nơi những giấc mộng của mnh, vốn l tm trạng thường xuyn của những vị đạo sư đ c sự giao cảm tm linh với Thực Thể Tuyệt Đối thường được mệnh danh l Đấng Tạo Ha. Trạng thi giấc mơ khi ngủ của mọi người tương tự trạng thi hon ton v dục, v cầu, v sử dụng ch sng tạo nơi cc vị đạo sư. Một vị đạo sĩ khi đ tu luyện để biết cch sử dụng năng lực tự nhin nơi mnh c thể phối hợp những nguyn tử năng lượng của vũ trụ để thỏa mn mọi lời cầu nguyện thnh thật của cc tn đồ (XPHB; Tr.30-31). Bởi vậy, con người mang bản thể thực thụ của Thực Thể Tuyệt Đối nn cần vươn mnh tiến ln để chinh phục ci bản ng v minh, trọng trược v y cần được nhận biết rằng tự bản thể, y mang quyền năng ngự trị nơi vũ trụ.
    - Thưa bc, đi khi chu được nghe ni về những vị đạo sĩ thần kỳ, c ti năng v bin, h my hon gi v lm những php lạ chẳng khc g những đấng linh thing. Tuy nhin, khi hỏi c phải người kể lại được chnh mắt trng thấy hay khng th lại vẫn l chuyện nghe những người khc đồn thổi.
    - Những vị đ rất t xuất hiện nơi cng chng bởi quyền năng họ đạt được khng phải để by tỏ oai phong mua vui cho những kẻ hiếu kỳ. Đng khc, qua sự hiểu biết của ti, họ khng quan niệm đ l quyền năng m chỉ l sự hiển nhin c sẵn nơi mọi người, v ai cũng c thể pht triển được nếu tu luyện đng phương php. Đối với những đạo sĩ Ty Tạng, con người l một linh hồn, c tiềm năng sinh hoạt ở một ci giới khc hơn ci trần. Một khi đ giải thot khỏi sự tri buộc của thể xc, y c thể đi chu du khắp nơi trong vũ trụ cn khn v gip đời bằng sức mạnh tư tưởng. Phi Mật Tng Ty Tạng giải thch r, tư tưởng l những m ba rung động của tinh lực. Vật chất chỉ l tinh lực đng đặc lại. Một tư tưởng, nếu biết điều khiển đng cch v kết tinh lại, c thể lm di chuyển một đồ vật. Nếu p dụng tư tưởng vo phương php thần giao cch cảm, ta c thể lm cho một người khc ở cch xa cảm nhận được nghĩ của mnh v hnh động một cch thch nghi theo mnh muốn (TTHB; Tr.114). Tất nhin, những vị đạo sĩ sử dụng được những khả năng ny đều phải trải qua thời gian di nhập thất, v thường th cả đời, nn rất t xuất hiện chốn cng cộng.
    - Như vậy, thưa bc, gi trả cho sự pht triển quyền năng qu mắc.
    - Cuộc đời nhập thất khng phải l kh khan hay v ch như chng ta thường tưởng tượng. B Alexandra D. Neel ghi lại lời giải thch của một vị đạo sĩ Gomchen, "Trong yn tĩnh, con người mới c thể lắng nghe được những m thanh huyền diệu v tất cả mọi m thanh trn thế gian ny đều l những diệu m của chư Phật, từ m thanh của những con suối, tiếng gi thổi qua khe ni, tiếng chim ku từ xa vọng lại, chỉ cần tĩnh tm lắng nghe th sẽ hiểu được sự mầu nhiệm của tạo ha. Tất cả mọi sự xảy ra quanh mnh đều ni php cho mnh nghe, nhưng v khng thức được tnh nghe ny nn con người c tai m như điếc, c mắt m như m, cứ để cho dục vọng li cuốn, chỉ nghe những g mnh muốn nghe, chỉ thấy điều g mnh muốn thấy, v rồi cứ hnh động theo quan niệm sai lầm đ. Nếu biết tĩnh tm quan st th mu sắc của ni, của cy cỏ, của đất đ cũng đều l mu sắc của php thn chư Phật. Tiếng gi thổi, tiếng r ro của cy cối cũng đều l tiếng chư Phật thuyết php, v chỉ cần hiểu được điều ny để sống theo đ th người ta đ c thể tiến bộ rất xa rồi" (HTTT; Tr.80). Đng khc, chẳng hạn như ở Ty Tạng, người ta tin tưởng mạnh mẽ nơi sự lun hồi. Họ cho rằng một người đ đạt tới một trnh độ tm linh no đ, c thể chọn lựa sống trn một ci giới khc, hoặc trở lại thế gian để học hỏi thm hay để gip đỡ nhn loại. C khi một hiền giả phải thực hiện một sứ mạng nhất định trong đời mnh, nhưng lại qua đời trước khi hon thnh sứ mạng. Trong trường hợp đ, nh hiền giả c thể ti sinh trở lại thế gian để hon tất cng việc cn dở dang trong kiếp trước, dưới điều kiện l cng việc ấy sẽ hữu ch cho nhn loại (TTHB; Tr.78). Xt như vậy, trả gi một đời cho mục đch siu việt v từ đ đem lại lợi lạc cho chng sinh no c chi mắc mỏ. L người, ai cũng muốn c cơ may để thực hiện những ước mơ cao cả; tuy nhin, cơ may lại l những g bị coi l khốn khổ; t ai đủ nhận thức dm thử. Hơn nữa, cuộc sống minh chứng, khng ai thch trường học thế gian, nhưng người ta vẫn phải sống để học hỏi. Cuộc đời nơi thế gian l g nếu khng phải l một trường học? V đ l một trường học rất gian khổ (TTHB; Tr.151). Bởi vậy đối với con người, đ chắc g thời gian nhập thất trả gi mắc hơn sống cuộc đời bnh thường, m c thể ngược lại bởi chng ta đ chưa bao giờ dm thử.
    - Thưa bc, sống cuộc đời bnh thường no đu thiếu những lc tm tr thảnh thơi. Hơn nữa, nếu ni cho đng, cuộc đời nhập thất hoặc xa lnh lin hệ với loi người chỉ phải đối diện với lối sống thiếu tiện nghi chứ đu phải chịu đựng những điều ngoi muốn nhiều khi cố trnh cũng khng được. Xt theo kha cạnh khc, hầu hết con người được sinh ra với khuynh hướng c biệt, đồng thời mang sẵn bản năng sinh tồn th lối sống tốt nhất l sao cho hợp với tự nhin. Những người nhập thất được sinh ra với khuynh hướng ấy th hy đi theo con đường đơn độc, v như vậy, chỉ một số nhỏ cuộc đời nhập thất mới hợp với họ.
    - Cảm gic an nhin tự tại c được nơi tm hồn do hon cảnh tĩnh lặng bn ngoi chỉ gip người ta qun đi hoặc lấy lại sự qun bnh do cuộc đời mun mặt ảnh hưởng khiến con người mất bnh tm m thi. Mục đch con đường tu đạo hay nhập thất l lm sao hnh giả c thể giữ được tm trạng ung dung tự tại trong mọi hon cảnh, từ chốn c tịch, vắng lặng cũng như nơi ồn o no nhiệt. Đy l thời gian thực tập gip tm khng rung động trước cảnh vui cũng như buồn, thuận duyn cũng như nghịch duyn; do đ đi khi người tu phải chấp nhận thử thch, nghĩa l bước chn trở lại sống nơi thế giới đầy phiền toi bn ngoi để xem khả năng chịu đựng v hnh trnh nhẫn nhục của mnh thế no (HTTT; Tr.81-82). Hơn nữa, sống theo những con đường m i dễ dng khng phải lun lun l một điều tốt. Những ai tin ở định luật lun hồi cần thức rằng; người ta sinh ra nơi ci trần để học hỏi kinh nghiệm. Cuộc đời trần gian c thể l đắng cay, đau khổ, nhưng những bi học m chng ta phải học hỏi, kinh nghiệm chỉ c một mục đch duy nhất l trui rn v thử thch để cho ta trở nn tinh luyện, khn ngoan v minh triết hơn (TTHB; Tr.140). Nếu ci đời ny chỉ l một niềm vui v tận th c bao giờ loi người mong muốn một ci giới khc? Nếu khng c đau khổ, con người sẽ khng bao giờ thức tỉnh để tự tm hiểu mục đch cuộc đời của mnh v như thế lm sao tm được cơ hội tự nhận thức bản thể uyn nguyn. Khổ đau l những cơ hội nhắc nhở con người đừng qun bản thể chnh mnh v cũng đồng thời kiến tạo nỗi kht khao tm linh, nhận biết chnh mnh. Chnh những thăng trầm, khốn khổ nơi cuộc đời đẩy con người tới nhận thức r rng, v đ l chỉ c sự minh triết, gic ngộ mới đch thực l con đường giải thot. Ci chết chỉ l hư ảo; người sợ chết cũng giống như một diễn vin dốt nt hoảng sợ điếng hồn trn sn khấu, khi một ti tử đồng nghiệp bắn y bằng một pht sng giả. Những đứa con của Thượng Đế đều l con của nh sng; họ sẽ khng mi ngủ m trong vng tối tăm ảo gic (XPHB; Tr.35). Sống nơi trạng thi thinh lặng của tm hồn, được tương trợ bởi cuộc đời c lập khỏi sự ồn o, quấy ph ngoi muốn, người tu học được rất nhiều, v quan trọng nhất, họ đ hiểu được chnh họ, biết r về họ, v biết cch sống thoải mi với chnh họ. Điều ny khng ai c thể giải thch được v chỉ những người thực hnh mới c thể nghiệm chứng m thi; bởi v sự thể nghiệm bản thn th khng thể no thuyết minh hay luận l được. No hay đi chỉ c người tự ăn mới biết. Do đ, sự thực tu, thực hnh, l điều kiện tin quyết để thể nghiệm chn l (ĐTPG; Tr.257). Chẳng những thế, chỉ những ai thực hiện nhập thất để tu chứng mới cảm nhận được nghĩa lời khuyn "Hy tm kiếm sự phong ph tm linh thay v những của cải vật chất nơi trần gian." Khi anh em sở đắc được kho tng tm linh, anh em sẽ thấy rằng những lợi lộc vật chất tự nhin sẽ đến (XPHB; Tr.41). Ti nghĩ, mấy anh em theo Thin Cha gio thường được nghe cu ni, "Tin vn hy tm kiếm nước Thin Cha v sự cng chnh của Người rồi mọi sự khc sẽ được ban thm cho cc ngươi" (Mt. 6:33).
    - Thưa bc, bc muốn ni nước Thin Cha c nghĩa sự gic ngộ. B ngắt lời cụ Ti.
    - Nếu so snh Thực Thể Tối Thượng với Phật Tnh, Tự Thể, với Thin Cha theo quan niệm nơi Phc m v dnh giờ suy nghĩ chn chắn, v tư, anh em sẽ tự nhận thức được. Xt về Thực Thể Uyn Nguyn của vạn vật, cho tới lc ny nơi ngn ngữ trnh by suy tư, ti chỉ c thể gii by được rằng bản chất thật sự của vạn vật l năng lượng, đi khi được quan niệm như nh sng nguyn thủy của Thượng Đế. Giải thch sự tổng hợp năng lượng cch no hay theo nguyn l, nguyn tắc no vẫn chưa một nh bc học hay chuyn khảo no c thể ni đng được; m những lời giải thch vẫn l những giả thuyết. Đ l l do tại sao nhiều nh đạo sĩ Ấn Độ cho rằng nguyn thủy của vạn vật l nh sng. Điều ny cũng được chứng minh nơi những kinh nghiệm của những người trở về từ ci chết; họ nhn thấy nh sng lạ kỳ cuốn ht họ v trong suốt thời gian sau ny cn tiếp tục sống ở dương thế; tất cả tm thức họ chỉ dồn vo nỗi mong muốn được trở lại với nguồn sng vĩnh cửu họ đ gặp được nơi kinh nghiệm của lần chết đ qua. Qua những bi phng sự, bin khảo hay phỏng vấn m chng ta c thể đọc được nơi cc tạp ch hay sch bo, quan niệm của những người trở về từ ci sng, lối nhn của họ về cuộc đời hon ton đổi thay. V họ khng thể no trnh by cảm nghiệm nơi kinh nghiệm chết ny nn thật kh cho chng ta đạt tới cảm nghiệm như họ; hy vọng với lng kht khao thực sự, may mắn no đ sẽ dẫn đưa tm thức chng ta đạt tới ci đ. Bởi vậy, khi ti dng ngn từ "nh sng" hay "năng lượng," anh em khng nn phn biệt v dẫu sao chng chỉ l ngn từ để chỉ về cng một thực thể. Khoa học ni rằng nh sng mang năng lượng. Tại sao họ khng ni rằng nh sng chnh l năng lượng cũng như mọi vật đều l sự tổng hợp kết cấu phức tạp của năng lượng. Bnh thường, chng ta cho rằng năng lượng tạo sức nng. Chng ta đ v thức tch biệt năng lượng khỏi sức nng nn bỏ rơi thực thể năng lượng chnh l sức nng cũng như tch rời năng lượng từ cơ cấu tạo thnh vật thể. Khoa học minh chứng r rng điều ny, l bất cứ vật thể g đều c thể biến thnh năng lượng. Muốn biến cy củi thnh năng lượng, chng ta dng lửa để đốt. Đng khc, cy củi, nơi một sức p hay ma st no đ sẽ bị nổ tung để biến thnh năng lượng, một lịch trnh đột biến ngược chiều qua phương tiện hay điều kiện thuận lợi. Như vậy, nghiệm chứng, thực chứng chnh l hnh trnh ngược chiều sinh ha của con người trn phương diện tm thức. Tuy nhin, cn dng ngn từ, văn tự, chng ta vẫn cn bị ngn từ hay văn tự tri buộc. Ni như vậy, ti chỉ c định khuyến khch anh em cảm nghiệm về thực thể, điều được gọi l chnh mnh, ci ta nơi anh em như thế no. Suy rộng hơn, đ l hnh trnh đi ngược để kiếm về nguyn ủy con người. Ni theo l thuyết Cng gio tức l tm về Thin Cha, tm về nước Trời. Bởi vậy, anh em chẳng nn ngạc nhin khi thấy giới "New Age" ngy nay gọi Thượng Đế l Energy, Năng Lượng. Tm lại, ti muốn nhắc nhở anh em hy biết qu trọng những giy pht c tịch, v đ l những cơ hội tuyệt vời nhất để anh em cầu nguyện, suy tư, cũng như cảm nghiệm trực tiếp với Thực Thể Tuyệt Đối chan ha v bao trm mọi loi, mọi vật từ những g anh em c thể tiếp xc bằng ngũ quan tới những cảm nghiệm thm kn nhất nơi tm tr.
    - Bc muốn ni sự suy tư trong c tịch cần thiết hơn sự hiểu biết, học hỏi? B ln tiếng.
    - Anh ni đng. Tất cả những sự hiểu biết được ghi trong sch vở ni cho cng chỉ l cơ hội gy cảm ứng nội tm nơi người đọc dẫu những điều được gii by pht xuất từ cảm nghiệm của tc giả. Kinh sch nh Phật nhắc đi nhắc lại rất nhiều về điểm ny; chẳng hạn, ngn tay chỉ mặt trăng nhưng ngn tay khng phải mặt trăng; lời ta ni như chiếc b; người uống nước nng lạnh tự biết; php v dụ như chiếc b; khng biết tự tm th học đạo v ch, v.v... Đng khc, sự hiểu biết nơi kinh sch mang hai ảnh hưởng đối nghịch ty chiều hướng người đọc. Nếu người đọc chủ đch kiếm tm kiến thức, trong giới hạn no đ họ được gọi l học giả, học thức. Nếu người đọc nghĩ rằng chỉ cần hiểu về những điều đ đọc l đủ, những kiến thức sẽ trở thnh hng ro ngăn cản cảm nghiệm. Ti muốn nhắc lại, những kiến thức nơi kinh sch khng khc g bia rượu trước mặt anh em. D c giải thch đến mấy, hiểu biết đến mấy m khng uống, anh em cũng khng cảm nhận thực sự bia, rượu như thế no. Tuy nhin, uống bia, uống rượu th lc no cũng được nhưng suy tư cảm nghiệm tuyệt đối đi hỏi sự yn tĩnh tm hồn. Những ai chưa đạt tới trạng thi ny tất nhin cần sự c tịch, những thời giờ sống c đơn.
    - Thưa bc, nếu đ c tm hồn yn tĩnh th sao ni đến suy tư?
    - Anh hỏi do kinh nghiệm hay do kiến thức? Sự tĩnh lặng của tm hồn khng c nghĩa l sự bất động của tm thức hay ngăn giữ n đứng yn nhưng l một trạng thi tm thức thực sự tự do khng bm vu, rng buộc hay vướng mắc vo bất cứ điều g. Sự chuyển vận của tm thức cũng giống như sự ha hợp của một cung nhạc giao ha với những cung nhạc khc. Chỉ khi tm thức khng bị ảnh hưởng hoặc lệ thuộc bất cứ giềng mối no, tự thể mới hiển lộ. Thế nn, ngay trong giy pht bắt đầu phn tch hoặc sắp đặt dữ kiện nơi tm thức thnh hệ thống kinh nghiệm tm linh, chng ta đ bp mo thực thể nội tm của chng ta. Bởi thế, chnh trong sự yn lặng m đầu c con người trở thnh v cng mẫn cảm. Chỉ trong sự tĩnh lặng, con người mới c thể cảm nghiệm, pht triển, v đạt được những quyền năng nội tại m chng ta vẫn cho l đặc biệt, khc thường. Sự yn lặng của c tịch loại bỏ những chi phối nơi ngoại cảnh v tạo ra một cơ hội m tư tưởng c thể tập trung. Khi tinh thần lc no cũng tập trung, bất cứ một tư tưởng no nẩy sinh cũng đều được khuếch đại ln, v với một sự tập luyện cẩn thận, người ta c thể pht triển được nhiều khả năng phi thường. Như vậy, thời giờ sống trong yn lặng v cng cần thiết cho những người hoạt động bằng tr c, v đy cũng l nghĩa tch cực của sự nhập thất của cc tu sĩ mật tng.
    - Thưa bc, mới chỉ nghe đến sống một mnh lẻ loi nơi khung cảnh rừng r hoang vắng, sao chu đ cảm thấy nỗi c đơn no đ dội ln trong lng.
    - Sự c đơn thường được cảm nhận như một điều bất hạnh v ni chung, con người đ qu quen với cảnh ồn o no động; tuy nhin, nếu ai đ từng để những cơ hội sống trong thinh lặng, họ sẽ thấy n như một n huệ. Chng ta cần sống vượt bn trn những cảnh sống bnh thường trong đ con người lun lun đua đi, chạy theo mun ngn mơ ước; hy tập quen sống trong c đơn. Bởi v nếu muốn tm thấy sự sống tm linh giữa đm đng người, phỏng ta sẽ thấy g? Tm tư chng ta đ chắc g ở đ. Nếu muốn tm chn l hay sự thật, ta chỉ thấy c sự hư giả, dối tr được che lấp dưới những bộ mặt hnh thức. Điều anh em c thể nhận thấy nơi kinh nghiệm đ l khi những m thanh ồn o, những danh từ ho nhong của ngn ngữ chấm dứt, người ta mới c thể cảm thng với hon cảnh chung quanh một cch r rệt, chnh xc hơn. Nếu anh em để , cứ mỗi lần suy tư về những chuyện hay lời ni đ xảy ra nơi một vi bữa nhậu, anh em c thể biết thm được một vi điều bổ ch cho nhận thức. Chẳng hạn anh em c nhận định về một vi trường hợp mnh nn thế ny hoặc khng nn thế kia. Từ đ, thật dễ dng nhận thấy sự suy tư trầm lặng hằng ngy đem đến những kết quả dồi do của sự sinh hoạt tm linh. V cũng từ đ chng ta c được sự cương nghị trong những giờ pht quyết định, sự can đảm dm sống một cuộc đời độc lập khng ty thuộc vo dư luận của một số đng người, v sự ổn định tinh thần giữa tất cả những cơn loạn động ồn o của cuộc đời thế tục.
    - Như vậy, thưa bc, đ chỉ l tự nhận biết để hi ha với chnh mnh.
    - Anh cn muốn đi hỏi g hơn nữa! Biết chnh mnh mới kh v đ l biết tất cả, biết mục đch sống để lm g, biết mnh l ai, mnh từ đu tới, v mnh sẽ đi về đu. Từ đ anh sẽ tm thấy nơi anh một thứ hạnh phc khng lệ thuộc ngoại vật cũng khng lệ thuộc tha nhn. Một tm trạng giải thot khng ai c thể cướp được, đ l tm trạng tn gio kết tinh bởi sự nẩy nở, thăng hoa cc thức su knh trong nội tm. Anh sẽ tự tm thấy mọi cu giải đp khi thức thực chất của chnh anh v sự cao cả của Thượng Đế nơi anh. Chỉ khi đ, mọi sự tm kiếm ở ngoại cảnh tự động sẽ chấm dứt. Anh khng nhớ cu "Lng buồn cảnh c vui đu bao giờ" sao! Sự ấm p vốn ngự bn trong tm hồn. Anh em chắc c thừa kinh nghiệm nơi những buổi dạ hội hay văn nghệ, chung quanh mnh cả mấy trăm người m vẫn thấy mnh c độc như ở trn bi sa mạc hoang vắng. Những thể xc con người c thể ngồi lại gần nhau, nhưng tm tr chng ta cch biệt mun trng, v mỗi người vẫn thấy mnh c độc.

    Những lời pht biểu từ miệng một cụ gi gần chn chục tuổi về Phật học đ khiến nhm thanh nin xồn xồn tm phục khẩu phục. Đng một ci, cũng những lời ni từ cửa miệng ấy vượt hng ro phn biệt tn gio mở rộng tầm nhn quan cho mọi người. Xưa nay, ai khng cảm thấy ngại ngng khi ni chuyện hoặc bn ci về tn gio chỉ v e ngại đụng chạm tới những niềm tin khc biệt của người đối thoại. Chnh cụ Ti lc đầu cũng đ ni ln mối e ngại ny; thế m giờ đy cụ đem quan niệm nh Phật, Ấn, Thin Cha gio quấy trộn lẫn lộn một cch thuận l hợp tnh lm mọi người ngạc nhin, chẳng ngờ. Xưa nay ai khng nhận thấy c tnh cụ gi dễ di, cảm thng, ăn ni chừng mực, đắn đo. Cụ khng theo một tn gio no; ai d, mấy tiếng đồng hồ tri qua, những cảm nghiệm nhận thức về Phật học tuần tự được trnh by nhiều lc khiến nhm người trẻ vẫn tự ho đang ở thời điểm sng suốt cũng phải tối tăm mặt my. Từ đ, nơi đầu c họ nổi ln sự khắc khoải thầm kn kh diễn tả. C sự tương đồng no đ nơi những nguyn l đạo học đ bị cc nghi thức hay niềm tin tn gio che khuất v đ tạo nn những hng ro ngăn cch được thể hiện qua những danh hiệu khc biệt. Hnh như cu ni bnh dn "Đạo no cũng l đạo" mang đầy tnh chất hi ước, diễu cợt, thm trầm nhưng được phổ biến một cch cung knh. Cụ lột trần bộ mặt tri của những kẻ dựa hơi trn danh hiệu niềm tin "m đ chẳng biết mnh tin điều g," thế no. Ngược lại, cụ nu ln động lực kht khao tm linh tận đy lng những người dm vỗ ngực xưng danh v thần để chứng minh sự thể người ta thường nghĩ vậy nhưng khng phải vậy. Người ru rao điều m chnh họ khng cảm nghiệm được th phỏng ai c thể hiểu họ muốn ni g. Cuối cng, cụ nhấn mạnh v khuyến khch sự pht triển sức sống nội tm bằng cch sử dụng những giy pht c độc để nhận ra chnh mnh.

    Bnh thường, khi rượu bia thấm vo cơ thể khuyến khch những đi pht thanh ăn ni phng mạng, no ai ngăn cản được cảnh ồn o thường xảy đến nơi nhm bạn b quen thuộc. Họ đu khc chi chốn loạn qun loạn quan, người no cũng c quyền pht biểu chẳng cht e d, nhiều lc lạm dụng tnh chất rượu vo lời ra tạo lắm cảnh điếc tai, ngoại trừ những kẻ lng mang đồ thầm kn. Thế m tối nay, cũng những "ci đi" v trật tự ấy tự rp vo khun php, v lỡ khi ngựa quen đường cũ, "đi" no bung lơi những lời ni to lao, liền bị chặn họng khp vo kỷ cương. Cụ Ti cảm thấy niềm vui dng dng. Những e ngại "ngy xưa" đ bao năm thng dy v tm hồn cụ chợt tan biến. Chẳng lẽ con người cứ mi bị mn v minh che lấp; chẳng lẽ cng đức những bậc hiền nhn rơi vo hư v bởi nghiệp chướng chng sinh qu nặng nề bịt kn mọi kẽ hở khng cn đường lối cho nh sng thức ngộ trn tới. Cụ thầm nghĩ, cũng c l khi một số người đ ph bỏ cả cuộc đời kiếm thuốc trường sinh. Thuốc no c thể gip thn xc trường sinh v dẫu l đất đ vẫn bị hao mn theo năm thng. Người ta kiếm tm ha chất nơi cy cỏ kch thch bộ c lm việc nng cao sự nhận diện đch thực bản thể con người. nghĩ ny chợt đến nơi tm tr cụ khi nhận ra men bia đ khng gy được phản ứng thường tnh nơi đầu c những người trẻ m hnh như tạo tc dụng ngược lại, khuyến khch họ sử dụng tối đa khả năng suy tư đồng thời gạt bỏ những lề lối quen thi nhận định xưa nay dẫu vẫn cn bị nặng nề ảnh hưởng.

    Đm đ qu khuya nhưng những con ma men chưa tỏ vẻ g mệt mỏi khc hẳn mọi bữa nhậu. Nỗi khắc khoải no đ hiện r trn những khun mặt nhm nhậu dẫu kh diễn tả thnh lời ni. Thn xc họ ngồi đ, vng quanh chiếc bn ngổn ngang những chn đĩa v vỏ bia; kẻ ăn, người uống trong giy pht chợt bặt tiếng người ni. Dường như sự nhận thức về thức ngộ trộn lẫn với niệm nước Thin Cha dẫn tm tr họ tới cảnh giới no đ vượt khỏi thực tại hữu hnh được nhận biết qua cc quan năng. Cử điệu ăn uống của họ chậm chạp mang vẻ thận trọng, thức hơn. Cụ Ti cảm thấy hơi mệt nn đứng dậy định v phng nghỉ.
    - Thưa bc, ni như vậy th cc đạo học đều quy về một thực thể tối thượng nhưng sao khng thấy c được đường hướng trnh by nguyn tắc căn bản đồng nhất hầu giảm bớt phần no dị biệt ngăn cch tạo nn những khc biệt quan niệm niềm tin? Phủ ln tiếng một cch đắn đo.


    MBVN 06

    - Ni về niềm tin tất nhin anh đ v tnh chấp nhận sự khc biệt v những con người th khc biệt, sống nơi những mi trường v thời đại khc biệt. Bất cứ đạo học no cũng đều nhấn mạnh đến sự xc tn, một trạng thi tm thức vượt hẳn niềm tin dẫu khng được hoặc rất t khi nhấn mạnh. Tuy nhin, đem niệm xc tn đặt vo Phật học sẽ bị trở thnh vọng tưởng. D ty thuộc khuynh hướng nghiệm chứng khc nhau như Phật học, Mật Tng Ty Tạng, Ấn học, Lo học, huyền mn Ai Cập, v Kinh Thnh, xc tn mang vị thế tuyệt đối. Tri qua nhiều năm thng cảm nghiệm, ti thấy điều hơi lạ đ l quyền lực xc tn v tưởng tượng giữ vị thế căn bản nơi hnh trnh thực nghiệm pht triển năng lực tối thượng nơi con người, nhưng khi bước qua ngưỡng cửa thức ngộ, năng lực tưởng tượng v xc tn tự động tan biến nhường chỗ cho cảm nghiệm, nhiều khi được nhắc đến để chỉ trạng thi ha nhập với Tm Thể Tuyệt Đối khng thể diễn tả. Trạng thi ny thường xảy đến nơi nhận thức cảm nhận của con người nhưng t được để ; chẳng hạn đi lc no đ nơi tm trạng c tịch, chng ta cảm thấy mnh l một thực thể no đ, khng phải l những g c thể nghĩ tới để xc định. Trạng thi ny rất ngắn ngủi, chng qua nn chng ta dễ lng qun hay coi thường. Ti định ni với anh em khi đề cập tới cuộc đời nhập thất của cc vị đạo sĩ nhưng thấy chưa đng lc. Nhn tiện nhắc tới những giy pht hiếm hoi cảm nhận trạng thi cảm nghiệm thực thể khng thể xc định về bản thn nơi mỗi người, ti muốn đề nghị anh em, từ nay về sau, nn để đến tm trạng cảm nhận qu bu ny. Thm vo đ, tm trạng ny chỉ xuất hiện những khi anh em cảm thấy c tịch. Như vậy, điều tin quyết, anh em nn biết coi trọng những giy pht c đơn, v trong nỗi c đơn, vắng lặng, tm hồn chm su nơi trạng thi c tịch, mở rộng nhường lối cho Tự Thể pht hiện. Những giy pht ny no khc chi sự nhập thất của cc vị đạo sĩ.

    Giọng ni cụ Ti nhẹ nhng, trầm ấm, truyền tới mọi người lng cảm nhận sự xc tn vững vng được phụ họa bởi kinh nghiệm t được để nơi mọi người. Chỉ vi lời đơn sơ, cụ đ chứng minh tầm quan trọng của những thời điểm c đơn nơi kiếp người m xưa nay ai nấy đều v tnh khng để , c chăng ngược lại, lun lun tm cch trnh thot bằng những hnh vi no động hoặc chiều theo tm tư hướng ngoại hầu che lấp. Sự giải thch v đề nghị của cụ hnh như minh chứng c cả một kho tng bao gồm nhiều điều b ẩn chẳng ngờ chất chứa nơi con người lo thnh, dẫu nhiều lần mọi người c cơ hội giao tiếp nhưng đ chẳng biết để đo bới.
    - Bc giải thch sự xc tn bị đồng ha với vọng tưởng nhưng sao c được vị thế tối quan trọng nơi hnh trnh thực nghiệm nh Phật?
    - Trong giới hạn thực nghiệm được p dụng từ Phật học, c nhiều phương cch thường được gọi l php để đạt tới thực thể gic ngộ dẫu cc php nơi nh Phật cũng chỉ l huyễn v tất cả đều quy về một Phật php duy nhất l kiến tnh. Trn bnh diện chung của cc ngnh đạo học, c ba đường lối tu tr. Con đường thứ nhất được p dụng nơi tn gio gọi l thờ phượng bao gồm niệm ch, cầu nguyện, tun giữ nghi thức, giới luật. Con đường thứ hai chnh l minh triết được p dụng bằng cch sử dụng khả năng l tr nng cao nhận thức v thức để tiến đến trạng thi tm thức, tự thể ha nhập thực thể tuyệt đối. Con đường thứ ba gọi l thiền bao gồm qun tưởng v hnh định thường được p dụng nơi cc phi mật tng v huyền mn để đạt tới những cảnh giới đại định hay điểm đạo. Trong ba lối tu, phương php minh triết l con đường nhanh nhất dẫn tới gic ngộ. Tuy nhin, mật tng của thiền hay điểm đạo của huyền mn l lối tu luyện để c thể sử dụng năng lực tự nhin sẵn c nơi con người đi hỏi ch, sự chịu đựng xc thn, v lng kin tr cũng như một tm hồn xả kỷ. Thực ra, nguyn tắc chung để pht huy năng lực nội tại chỉ l biết cch sử dụng định luật thin nhin hay định luật php lạ.
    - Bc ni sao, đ gọi l php lạ th sao c định luật?
    - C lẽ anh em qu quen với cảm nghĩ những g xảy ra ngoi tầm hiểu biết của mnh được gọi l php lạ nn khng bao giờ dm tự đặt vấn đề về l do hay nguyn nhn tại sao sự việc xảy ra mang đầy tnh chất bất ngờ. Sự bất ngờ chỉ xảy đến với những ai khng biết nguyn nhn. Giả sử anh em no đ đem my truyền hnh chạy bằng pin km theo đĩa nhận hnh (satellite) tới một đm dn chưa bao giờ biết truyền thanh truyền hnh l g th họ sẽ cho rằng đ l my lm php lạ. Anh em đ nghe truyền thuyết đy đ từ lu về thần giao cch cảm v cho đ l sự lạ. Ti thử hỏi, vậy điện thoại anh em thường dng khng phải l phương tiện thần giao cch cảm ư? Những g mnh vừa nghĩ tới trong lc ni truyện, người đầu giy bn kia nhận được ngay lập tức nếu ni cho họ biết, khng phải l cch cảm sao? Thế nn, được gọi l php lạ tất cả những g xảy ra ngoi tầm hiểu biết của người quan st. Những sự kiện ny dựa trn quyền lực nội tại của người thực hiện, qua định, ước muốn, ni chung, đ l quyền lực tư tưởng. Tương tự như thế, định luật php lạ chỉ c thể thực hiện được bởi bất cứ người no đ nhận thức rằng tinh hoa của vũ trụ l năng lượng. Một người c thể sử dụng sự hiểu biết siu đẳng của mnh về hiện tượng năng lượng để phng pht ra trong khoảnh khắc trước mắt người khc những nguyn tử năng lượng vốn trn ngập khắp nơi trong khng gian. Ci hnh thức của sự phng pht ấy, d đ l một ci cy, một thể xc con người, hay bất cứ một vật g, đều l kết quả của quyết định bởi muốn, mnh lực ch v sức tưởng tượng của con người. Đy chnh l nghĩa cu ni nơi nh Phật, niệm tạo chng sanh. Nơi Phc m dng danh hiệu Ngi Lời hoặc ngn từ Cha phn cũng đồng nghĩa như thế. Tuy nhin, v dng ngn từ hữu vi theo nhận thức Ty phương nn cc dịch giả đ phần no thiếu tế nhị trong sự diễn tả nhận thức suy nghiệm v trước khi được pht xuất thnh lời ni hay lệnh truyền phải l định, nghĩ, gọi chung l niệm. Ngừng một cht, cụ Ti quyết định, thi, tối nay ni thế qu đủ, để khi khc v anh em cần nghỉ lấy sức lo cng việc của ngy mai. Nếu anh em muốn hiểu thm, cho ti biết khi no thuận tiện.
    - Tuần tới mời bc qu bộ đến nh con. Phủ nhanh nhẩu, chu sẽ đi bc hai mn, tiết canh v vịt nấu chao nhng cải cay non ăn với bn.

    Đi lời vừa thot khỏi cửa miệng Phủ đ khiến những cặp mắt sng ln chừng như hương vị thịt ra chưa kịp tiu tan m lng ruột họ đ cảm thấy xốn xang bởi no bụng nhưng đi thi quen tụ tập, đn đm. C..ạ..p, c..ạ..p, c..ạ..p,... cuối dy ghế, Tam, hai ci chỏ chống ln mặt bn gom đi tay lm loa giả giọng loi c cnh, mỏ vng, biết bơi, nhưng bước đi lạch bạch, được mọi người mệnh danh con vật bắc kỳ v tiếng ku nhắc nhở kiểu ni tục nếp miền qu Bắc Việt.
    - Khng được, khng được, lm như thế l bất knh với bậc trưởng thượng. B dng dạc,
    - Ch ni bất knh như thế no?
    - Bc đ trọng tuổi, B ln giọng c vẻ đứng đắn, m đi bằng tiết canh vịt với bia th bụng dạ chịu sao nổi. Đ l bất knh.
    - Thằng con rể mới biếu tớ một bnh Hennessy to tổ bố, sao dm ni tiết canh vịt với bia. Ah, ch dm đnh lừa tớ.
    - Ti chỉ ngỏ lời với lng thnh ngăn ngừa sự v tnh c thể tạo thnh nghiệp chướng tạm gọi l tn trọng bậc đn anh v ng lớn tuổi hơn. C thể ni đy l chiu "Knh lo đắc thọ, cho lo vo rọ" m thi. Nhn tiện, ti cũng xin php được đại diện bc Ti chấp nhận lời mời, qu bộ tới thăm cc chu. Ring vấn đề đại diện cho ti v qu bậc trưởng thượng trong nhm, yu cầu chủ tịch đp ứng lời mời.
    - Tửu bất khả p nhưng đ p tất nhin bất khả từ. Chng ta chẳng lẽ tỏ thi độ khinh ch anh em bằng cch khng thm tới khi đ được trang trọng by tỏ lời mời. Bởi vậy, nhn danh trọng ti, ti tuyn bố anh em trong nhm chấp nhận lời mời, phần no chứng tỏ lng tn trọng v đp ứng sự quảng đại của chủ gia. Yu cầu anh em cho kiến.
    - Đồng , đồng , nn chấp thuận.
    C lẽ khng cuộc trưng cầu dn no đem lại kết quả hợp nhất nhanh hơn hương vị mời gọi của thnh Hennessy đối với đm hũ chm!

    * * *

    Đoạn đường 110, băng ngang thnh phố D'Iberville, dẫn du khch từ xa lộ 10 vo Biloxi, từ ngy được mở rộng thnh bốn hng li xe hai chiều, đ trở nn phương tiện thay đổi bộ mặt kiến trc phố nhỏ, đo heo ht gi, bao năm buồn chn với tiếng go tht gh rợn của những ma ging bo, đua nhau nổi cơn thịnh nộ đem theo mun vn lớp sng dữ dội, hằn học đập vo bờ biển, chứng tỏ uy quyền v biểu lộ sự th hận cng đm dn, chẳng c khu kỹ nghệ no thu mướn lm cng nhn hoặc những phương tiện khc để mưu sinh, đnh liều mạng với ngnh nghề "đm h b." Những cơ sở mua bn tm c cng chứng tỏ đậm nt tang thương, nhẫn nhục nơi con người chịu đựng nỗi đe dọa, giận dữ phũ phng của trời đất. Hai hng mua tm, c, ghẹ, s, ốc, v một hng c tu "đnh c phn" biến chế thnh thực phẩm nui ch, mo, cảnh sắc Biloxi dọc theo bờ biển ngy ấy chỉ c thế.

    Được thiết lập li hẳn ra ngoi bờ nước, ngự trn những cy cọc gỗ thng nhuộm hắc n đng su xuống lng biển, từ xa nhn tới, hng mua tm c mang hnh dng chẳng khc g con tru đen đủi với ln da bẩn thỉu, mốc meo v bn đất, đang chực rơi xuống vng nước mặn bởi đuối sức, cố gượng trườn tới đm cỏ cằn cỗi, nằm dọc con lộ m phu qut đường qun cắt, mong được gặm mấy miếng cầm hơi, ko di ngy thng tn tạ được lc no hay lc ấy. Những cy cọc đỡ pha dưới, dẫu cho h bm hết lớp ny tới lớp khc tăng dần theo ngy thng, đ trở thnh chốn bất khả xm phạm e rằng cột pha trong đ bị ăn mn gần hết, lỡ ph sạch h th hng cũng phải sập m tri theo ln nước chăng. Cầu vn sn nh khập khễnh, lồi lm khng thua đồ phế thải, chừng như bị những gt giầy ngư phủ bo mn theo nhịp chn bước nặng nề quen thi của những người suốt đời trầm mnh với cng việc cần nhiều sức lực. Để nhn kỹ, nước sơn nhạt mu da trời tươi đẹp bao bọc phần gin ghp chung quanh tường pha ngoi, theo dng thời gian đ bị nắng mưa, bo tố huấn luyện, tạo thm sức chai lỳ chịu đựng lu ngy trở thnh mu đen bụi mốc của đm bn hanh kh nơi vng hạn hn. Hnh như ngư dn mộc mạc Biloxi khng cảm thấy phiền h mỗi lần tấp ghe v hng bn tm c; c chăng, qut tho nhn vin hng mau mau ln tm, trả tiền, rồi vội v đậu tầu, ginh giật thời giờ nghỉ ngơi kiếm lại sức cho những ngy mệt nhọc sắp tới. Đng khc, họ đu cần biết hng xưởng sang hay hn. N chỉ l một trong những phương tiện cho họ kiếm tiền sinh nhai, ko di những ngy thng đ lỡ được sinh ra th phải sống.

    Nối dọc theo hai hướng Đng, Ty, tri di những bi ct tiếp nối những bi ct, trơ trọi v hừng hực dưới nh nắng thiu đốt của mặt trời vo những ma nng bức, ci nng ẩm thấp nơi l nấu muối, len lỏi, rt rng, rn rịt bm vo ln da kẽ tc, lỳ lợm cố tn ph nt người của đm ngư nhn gan gc tạo nn mu chy nắng đen đủi, gn guốc, khiến những ai mới gặp lần đầu mang cảm tưởng dn chi c lẽ từ địa ngục mới được trở về dương thế. Những ngy cuối tuần, đon tầu đnh tm, bắt c, nối đui nhau xng vo cc hng chẳng khc g đại hội, đại hội hung thần. Tiếng động cơ nổ ầm ỳ phun ln khi đen ngm từ những ống khi my dầu, v trật tự thổi bung vo khng kh chừng như cố tạo thm my mưa đe dọa. Những chiếc ghe với cặp cng dựng đứng, tủa ln trời, chẳng khc mun ngn vũ kh thời tiền sử sẵn sng thch đố tai họa để chống chọi. Dẫu mới được sơn sửa, chỉ sau một tuần co tm c, thần biển, đ bằng cch no đ, sai m binh tn ph cng trnh kiến tạo của con người được chừng no hay chừng nấy khiến những con tu mang đậm vết tang thương hơn hnh dng chủ của chng.

    Ni về ngư nhn, khng nn đếm xỉa đến những hạng lm biển thy ch theo kiểu dn bản xứ. Họ lm biển cho c lm, lm lấy lệ, sng bảnh mắt, mặt trời gần đứng bng mới khệnh khạng nổ my chạy quanh quẩn trong vng vịnh để rồi đng năm giờ chiều, d đụng nước tm cũng cất co trở về đn vợ, đ sẵn sng đng bộ, đang chờ tấm ngn phiếu để cng nhau h h đm đầu vo mấy qun rượu qun bẵng những ngy di trong tương lai c thể mưa gi bo bng v cng lắm đ c tiền giấy an sinh x hội. Ngư nhn Việt tay khng tạo dựng cơ đồ, cố vay quanh, mượn quẩn lm vốn đặt cọc sao cho c được con ghe. Tất nhin, đ tay khng đnh chấp nhận nợ trong nợ ngoi nn ai ai cũng phải miệt mi kiếm tm hơn kiếm vợ trnh cảnh chủ nợ xỉa xi hoặc nh băng cọc tu. Chủ đ quyết, tu phải theo, thế nn, khi đụng nước tm, con tu đnh gồng mnh nhả khi. Ngnh nghề biển rả giữa trời nước bao la, no ai đon được lc no gặp may hoặc nơi no hạn xui. Nếu ma mng bnh thường, tương đối chủ tu nhn nh, chẳng may gi chướng đổi thay, d đau xt cho con ghe nhưng lỡ lm thn chủ mang nợ th cũng đnh chấp nhận cạo my kiếm tiền. Tuy nhin, dẫu vậy no đ được yn, những cơn ging c bao giờ bo trước khiến nhiều khi chủ tớ tot mồ hi giữa vng trời nước bao la.

    Ầm , chậm chạp, thế m sự đụng chạm cho d nhẹ nhng cch mấy của con tu cũng đẩy nghing bất cứ cy cọc thng to lớn no được đng su xuống đy biển để bảo vệ cầu ln tm hay nơi bến đỗ, ngăn cản sự xng ph quen thi ở ngoi khơi hầu cột thn xc hao mn theo năm thng của chng, kết quả của những ngy tung honh vật lộn cng sng nước ginh giật với H B từng con c, mớ tm, bắt chng phải ngưng hoạt động, cho chủ cũng như thợ bạn c thời gian dưỡng sức, chu ton bổn phận của con người với con người v với thần thnh.

    Phố x Biloxi ngy ấy cn tang thương gấp bội. Vỏn vẹn dăm ngi nh xy, vch tường loang lở ghi đậm vết hằn tn ph của năm thng, chụm lại với nhau ph trương những cửa knh ngục t, khung gỗ, trơ trẽn trưng by chẳng biết bao nhiu lớp sơn chồng chất tự thuở no. nh nắng pha hơi nước muối dường như mang năng lực nhuộm mu, thấm nhập cửa knh, v biến chng thnh mờ mờ tựa nh mắt đờ đẫn cc cụ gi gần đất xa trời bởi đ qu mệt mỏi với kiếp lm người. Bn trong những lớp kiếng, ngho nn ph diễn vi bộ đồ kiểu thời khai quốc, những chiếc vy thuộc loại cổ xưa, thịnh hnh nơi phim ảnh trnh chiếu gia cảnh qu tộc u Chu. Ci th qu kn đo, người ngắm c thể tưởng tượng kẻ mang mặc chng đoan trang, nề nếp đến độ thừa thi, qut dăm bẩy đoạn phố vẫn chưa cần phải đụng tới viền gấu. Ci lại thiếu thốn, tỏ lộ đầy đủ đường nt hấp dẫn, khu gợi của những thn hnh nẩy lửa, cố đập thẳng vo nh mắt kẻ qua lại, rồi nu ko, sẵn sng mua vui cho khch lng chơi. Đ l hng vải, trung tm trnh by lối ăn mặc thời trang.

    Những cửa tiệm khc ph by nt khim tốn chẳng thua chi. Ở chốn m mức kinh tế đ xuống đến tận cng x hội loi người th sao c được những qun ăn tương đối hoặc chợ ba đầy đủ hng ha cho dn chng mua bn. Thực ra, gọi l mua bn cho c vẻ thanh lịch, chứ giữa đm dn t tiền, qu ma, vi chục nc nh, sao c thể thiết lập những cửa hng sang trọng. Bạn dư cht tiền, muốn đưa vợ đi tiệm kiếm bữa ăn ngon thay v nấu bếp, mau cũng một tiếng li xe tới New Orleans hoặc Mobile. Đ l hai nơi gần nhất. Bạn nổi hứng c nịnh vợ, muốn đưa b x may sắm vi chiếc vy di, vy ngắn, dăm ba bộ đồ thời trang mặc cho c vẻ đẹp lo khng những trong nh m cả ngoi đường, hoặc phấn son, quần trong, o ngoi, hn cũng phải ba tiếng rưỡi tới Memphis, Tennessee, cn khng, su tiếng li xe đến mi Atlanta, Georgia. Ngoại trừ b x của bạn khng thch đua đi, hiền ha, mẫm cảm, dịu dng, tất cả l tưởng cuộc đời của nng chỉ l cưng chiều chồng v chăm sc con ci, thn xc cằn cỗi với sng biển, nước mặn của bạn mới được để thương xt, c cơ hội an nhn những ngy cuối tuần đa vui với đn trẻ hoặc say sưa cng nhm bạn b cố qun nỗi cực nhọc đm hm lnh đnh ngoi khơi bo tố giữa trời nước mnh mng.

    May mắn biến thnh chẳng may, nếu mụ vợ của bạn xinh tươi, mặn m, hấp dẫn, thm cht mu văn nghệ, văn gừng, đua đi, thm kht gia nhập giới ng nọ, b kia, th cuộc đời bạn sống ở Biloxi chẳng khc g kẻ bị treo n tử bởi c thể mất vợ bất cứ lc no. C người mới đề my tu ra khơi buổi tối, sng hm sau nghe lm trn CB mụ vợ lỉnh mất để lại mớ con bơ vơ đang tản mt nơi mấy nh hng xm ăn nhờ. Thế l con tu bất chấp sự thiệt thi của thợ đi phần, quay ngược chiều 180 độ trở về bến đỗ nghỉ ngơi di hạn cho chủ c đủ thời giờ sắp xếp mảnh đời tan hoang cn st lại, dẫu chẳng muốn, cũng đnh cắn răng chịu đựng cho qua v tương lai đang chờ đợi điểm trn những nt mặt ngy thơ của đn con trẻ. Cũng c kẻ, sau bao ngy giờ gắng sức tranh đua cng sng nước, h hửng mang tấm ngn phiếu thể hiện cng lao sức lực ginh giật cng H B, mới li xe về tới ng đ chợt nhận ra cảnh vắng lặng điu tn của căn nh thiếu sức sống giống người. Lng y chng xuống nhường chỗ cho nỗi đau bất tận. Y đ mồ ci vợ con từ thời điểm ấy. Những lon bia, những chai rượu sao c thể phần no xa mờ nt hằn thương đau khi nếp sống rơi vo một trong những cảnh trớ tru kiếp người: giầu non, trung nin mất vợ, về gi ph sản, v c độc khng con chu gip đỡ ở thời điểm bng xế chiều hm cuộc đời.

    Những nc nh lợp thiếc loang lổ mu nu rỉ st chnh vnh đy đ hoặc chm xm lại từng đm ph by cảnh thảm no v tiu điều lm sao! Cũng như con người, điều lạ lng t khi được để , cng những kẻ c thn hnh đẹp đẽ, thanh bai, nt ăn diện của họ cng hấp dẫn, lịch sự hơn đm dn bnh thường nhan nhản chung quanh. Cũng c thể bởi họ đ được trời ban cho nt thanh lịch sẵn c nn dẫu những quần o, giầy dp phụ thuộc, v l do no đ khng xứng hợp với mn qu thin ph hấp dẫn tự bản thn, cũng hưởng nhờ nt đẹp tự nhin hầu được thăng hoa, tăng thm vẻ qu phi cho chủ nhn mang mặc chng. Chẳng thế m giới thanh thiếu nin đ một giai đoạn đua đi theo mốt thời trang, đeo trn mnh những manh quần tấm o rch rưới gần như tả tơi, đi khi để li cả những phần thn thể cần được che kn, ngược lại, gi bn mắc cắt cổ nơi những tiệm may mặc. Điều tri nghịch mọi người đều dễ cảm nhận, đ l kẻ đ xấu x th c mang son phấn sơn phết đầy mnh, lồng thm những bộ v thời trang mắc mỏ, mới mẻ nhất, cũng chỉ khiến thin hạ dễ nhận thm tnh chất chẳng ra g nơi mnh. Những mi thiếc loang lổ nơi thnh phố nhỏ nhoi cổ lỗ xĩ, Biloxi, ngy ấy ph by cảnh tượng điu tn hết sinh lực chẳng khc g cc cụ gi ăn my gần ngy xuống lỗ, cầu xin được chết m trời vẫn lm ngơ bắt buộc phải vất vưởng sống trong nỗi khắc khoải hầu x xa phần no nghiệp chướng từ mun kiếp dồn đọng lại v may mắn c cơ hội được lm người. Mi che đ tn tạ chỉ chờ ngy sập xuống m vẫn khng được sửa sang, phỏng những vch gỗ bm hờ chung quanh cn chịu đựng được bao nhiu năm thng chống chọi với mưa nắng, bo tố cuồng phong từng đợt theo ma từ tắp tt m khơi nơi vng vịnh trn tới?

    Nhiều người gi lo u cho số phận của thnh phố nhỏ b hầu như khng c tn trn bản đồ tiểu bang. Họ thương tiếc chốn chn nhau cắt rốn ngy no đ, khi cuộc đời họ đ qua đi, giới trẻ chẳng cn tm thấy cơ hội vươn ln cho thế hệ tiếp nối, sẽ rời bỏ qu cũ chọn kế sinh nhai; Biloxi chắc chắn biến thnh bi ct mồ mả, m ấp trong lng những nắm xương kh tn, hoang phế v gi trị. Những người trẻ c thức lại khng nghĩ như vậy. Họ cho rằng, vận số đ xuống đến tận cng x hội, xuống khng cn chỗ xuống nữa th chỉ cn một lối duy nhất l phải đi ln. Trời chiều lng người trẻ. Biloxi đ dợm bước đi ln từ khi dn chng cho n quyền hnh mời gọi những kẻ tiền nhiều, bạc lắm về mở sng bi. Thế l từ lc c mảnh giấy chnh thức được ủng hộ bằng những l phiếu, bộ mặt thnh phố ngho nn, nhỏ nhoi, thay đổi mau chng chẳng khc g đứa b gi lem luốc con kẻ ăn xin may mắn chạm phải đũa thần b tin dịu hiền hữu tnh v lng thương xt. Dĩ nhin, bước nhảy vọt no khng để lại lắm tn tch của những g đ qua v đồng thời khng kiến tạo nhiều cảnh tri ngang tựa phản ứng nh qu ln tỉnh.

    Ngy nay, chỉ mới mấy năm m c b lem luốc Biloxi đ c thể lm cho du khch sững sờ đến độ ngộp thở. Nng pht triển ngồn ngộn khiến nhiều kẻ m đắm gặp lắm cảnh đắng cay. Nng hấp dẫn khng những đối với hầu hết nam giới m cn cuốn ht chẳng thiếu g mệnh phụ phu nhn; người no người nấy đ bao phen chy ti v m đắm. Sự quyến rũ của nng tot ra bao phủ từng l cy, ngọn cỏ mọc vương vất chung quanh, cho đến những phng ốc xa hoa trng lệ, được phụ họa bởi mi vị nhiều mn thực phẩm nhập cảng từ cc vng xa lạ trn thế giới, nhất l mầu rượu cnh gin sng snh nơi những chiếc ly thủy tinh trắng nuốt, đẩy hương vị ma men đong đưa nơi ci khng gian lẻn vo ging mu, thi thc nặng nề giy pht đam m, tăng p lực tạo ngy ngất lng người. Mới hai năm sau khi b em Biloxi bắt đầu trổ m, hai người đn ng nhảy xuống sng tự tử v nng; anh thanh nin cỡ 37, 38 tuổi, một vợ bốn con; người khc l một ng thuộc tuổi xồn xồn, gieo mnh cố qun tnh đời đen bạc lm bạn với H B.

    Đn ng đam m nng cng lắm thiệt mạng khng mấy phiền h tới người khc; m c lẽ lắm kẻ mừng v bớt đi t nhất được một đối thủ. Đn b m nng mới r gớm gh, phũ phng. Một chị mặn m dễ thương ở Mobile, gh qua thăm hỏi v lm bạn với nng. Khng hiểu tnh cảm gi trăng my mưa ra sao, chuyện kn đo tm tnh no ai dại dột thố lộ, v chỉ trong một tuần, bẩy tiệm "Nail" đang pht triển, hốt của ngn ngụt, cũng đ vội v sang tay người khc để gom thnh những tờ giấy mu xanh chứa hnh ngi sao mười ba cnh theo chị nọ dng hiến cho nng qun bẵng cả đường tnh nghĩa chồng con. B khc, mượn cớ chồng c những lời ni th tục, nặng nề theo thi những kẻ vũ phu, ku cảnh st lấy chứng cớ ly dị, chia của, để rồi đem tất cả ti sản c được cung phụng nng. Thực thể, chồng của b c xấu x g cho cam; ng ta đẹp trai, thanh lịch, chủ nhn hai hng tm c hng năm hốt bạc triệu. Hai người ăn ở với nhau đ ba mươi hai năm v được bốn người con, ai nấy đ trở thnh kỹ sư nọ, bc sĩ kia. Ci tội của ng chồng phải mang chnh l nt quyến rũ của nng Biloxi lm m đắm lng b vợ.


    Last edited by ttvl123; 12-05-2017 at 09:04 AM.

  11. The Following 2 Users Say Thank You to ttvl123 For This Useful Post:

    aovang (02-09-2012), saolinh (02-07-2012)

  12. #7
    Join Date
    Jun 2009
    Posts
    367
    Thanks
    1
    Thanked 535 Times in 215 Posts

    Default Re: My Bay Về Ngn

    tiếp theo
    .
    Sự thật khng thể bỏ qua, đ l ngay cả giới tu sĩ đạo ny, phi kia, một số cũng khng thể đ nn lng ham m, mơ ước do nng Biloxi quyến rũ. C những vị theo đuổi nng thu đm tới sng, bốn giờ ban mai hy cn đang luẩn quẩn chưa thể dứt lng trở về với bổn phận chăm sc con chin. Thế nn đ c những người liệt danh c b lọ lem ngho nn ngy xưa, nay l con quỷ thu ht lng người. Ni cho đng, khng hiểu nng thu ht lng người hay lng người thu ht nng. Tuy nhin, hầu hết mọi người thuộc mọi giới quy phục nng, từ lo ng, lo b, tụt dần xuống vị thnh nin, dẫu mới nứt mắt, chỉ vừa đủ tuổi đi bầu. C lẽ, bởi ghen tức với tuổi trẻ dư thừa nhựa sống, liều lĩnh nn dễ đạt cơ may, mấy cụ gi thc đẩy con chu lm luật treo những bảng yết thị to tổ bố ngay nơi cổng vo: Cấm vị thnh nin dưới 21 tuổi bn mảng, bất tun sẽ bị nhốt v khm.

    Nng hấp dẫn, ăn khch hơn bất cứ ca sĩ, nghệ sĩ ti danh no. Đ khng thiếu danh ca người Việt xưa nay nổi tiếng từ California đi ht, nhn tiện gh thăm nng để rồi cng chung số phận với mun ngn kẻ đắm say. Tất nhin nghệ sĩ no lỡ bước hứng khởi thăm nng, rốt cuộc rồi cũng chy ti do đi pht thiu đốt ti năng v cng sức v đu ai thot được sức cuốn ht bởi ba m, thuốc l nơi nng Biloxi, kỹ nữ khng hồn, khng biết thương xt m thẳng tay vi dập những ai rơi vo phận số lm nhn tnh hờ d chỉ trong đi giờ ngắn ngủi. C điều lạ, kẻ hận nng th t m người m đắm nng lại nhiều, v cho d hận th cch mấy, chỉ thong qua đi giy pht, bởi nếu c tiền nắm sẵn trong tay, chnh kẻ hận th lại hng hục, cắm đầu cắm cổ kiếm nng dng hiến. C b lọ lem mấy năm trước xấu x khiến bao tm hồn người gi nua tỏ niềm thất vọng, giờ l con ma hấp dẫn, cuốn ht lng người.

    Du khch từ khắp phương đổ về mong chiếm hữu nng hoặc t nhất cũng được đi pht thoải mi, qun lng thực tại cuộc đời bon chen ma mnh. Họ đến rồi đi, người giầu nhiều, kẻ ngho cũng lắm. C điều, cng những ai giầu c, tiền rừng bạc bể, cng m nng bấy nhiu. Nhưng nếu để , nng vẫn như ngy ng, v tnh lc tiễn chn, mặn nồng đn người đến, đi khi thn thiết, nhiều lc hững hờ đng điệu "m tnh, tnh lẫn, trốn tnh, tnh theo." Trong số những khch giang hồ tứ chiếng rnh rập bắn sẻ ấy, khng ai c thể d thấu lng ruột của nng Biloxi đối với họ ra sao. Chỉ tội cho đm ngư nhn bao bọc quanh nng, kht khao từng cơ hội, đặc biệt giới độc thn. Bao nhiu cng sức chịu đựng sương gi nơi ngnh nghề biển rả, cc ngư phủ trai trẻ, đa số m say tranh nhau thể hiện tnh cch ho hoa vung tay đi đằng dầu chỉ trong đi pht mong được may mắn, nh mắt m đắm liếc qua, để rồi khi đon tầu lao mnh vo mn sương v định của biển khơi, những thn thể cường trng dẻo dai ấy lại rn sức gồng mnh đnh đổi năng lực thin bẩm lấy mn qu nhỏ mọn mua vui người tnh Biloxi khi trở lại. Con ma lem luốc ngy no, giờ cuốn ht cng sức ngư nhn. Phỏng c ai run rủi được phần chiếm hữu, hay tất cả chỉ l hy vọng mờ ảo, nghiệp chướng tự mun đời dn liền nơi số phận con người bắt phải trả.

    Tuy nhin, đi trường hợp do tnh chất cố hữu khc thường của nng Biloxi, độc hại, mặn nồng, lạnh lng, v v tnh v nghĩa, những kẻ đam m nng c cơ may thức tỉnh hầu kiếm được niềm vui an ủi giữa đi kẻ thất tnh đắng cay. Chn chường do mn mỏi theo đuổi trong v vọng, c những cặp đ tm đến nhau chia sẻ nỗi thất bại thương đau để kết thnh vợ chồng, cặp vợ chồng rch nt từ thể xc tới tm hồn, c được tnh nghĩa keo sơn phải l do sự chn chường gắn b, kết quả của đi lng đồng bệnh tương ln. Khng những thế, nng Biloxi quyến rũ nhưng cay nghiệt cũng phần no thức tỉnh một số tm hồn lỳ, ỷ lại xưa nay đ quen thi "ăn cơm mớm" như bản chất bẩm sinh cố hữu của những đầu c thủ cựu, sợ sai lầm, đ trở thnh n lệ cho những gio điều một cch ngu si, chỉ biết v thức tun theo những g người khc cho l phải với đồ gắng sức moi mc tm kẽ hở lề luật hầu hồ hởi vấp phạm trong niềm vui tm tưởng c được nỗi an bnh giả tạo. Nng Biloxi đ lột sạch những mặt nạ lun l giả hnh từng người, từng đon thể, từng lề luật. Tri qua cc thời đại, biết bao kẻ cao giọng h hống, tuyn truyền "đnh bạc c tội." Ngy nay, đnh bạc c php luật bảo vệ khiến chnh những kẻ ngy nao lạm dụng danh xưng tội lỗi đ đầu đ cổ tn đồ cũng phải gang mồm bo chữa cho tnh chất đam m nng Biloxi nơi mnh. Xt theo phương diện ny, t nhất nng Biloxi đ phần no điều chỉnh được ảo vọng lạm dụng của một số thy đời lng ruột trống rỗng m tham vọng chnh l đồ sống bm trn lưng những tm hồn lỳ, dốt nt, con đẻ của tnh chất lười lĩnh suy tư. C lẽ đ đến thời điểm lng người phải được thức tỉnh cho niềm kht vọng tm linh khơi nguồn pht triển. V thế, c thể nng Biloxi chnh l ngọn roi Thượng Đế dng để cng phạt những thnh phần v thức, bắt họ phải suy tư, nghiệm chứng, tự quay về với lương tm chnh trực hằng tiềm ẩn nơi tm thức con người; đồng thời vạch mặt những kẻ thy đời lạm dụng cng sức con ci Ngi bằng cch ngu dn, phỉnh gạt những tm hồn non dại, ngờ nghệch, e sợ suy tư sai lầm.

    Nếu những chim non suốt đời được cha mẹ đm bọc, cng mồi, gp mớm cho ăn, chng sẽ khng bao giờ cảm nhận được nỗi sướng vui tuyệt vời khi giang đi cnh lm bạn với trời my, đa vui mun ln gi hoặc thch đố của những trận mưa dồn dập đuổi theo hăm dọa thấm ướt đi cnh khi rn sức thu ngắn khoảnh trời my tm về tổ ấm. Nng Biloxi cung ứng cơ hội chia duyn rẽ thy nơi những tm hồn non nớt đ v tnh hay bị p buộc nhắm mắt đưa chn lao vo cuộc tnh m tối m khng chịu hay chưa kịp thực sự tm hiểu nghĩa v bổn phận lm người. Dẫu hn nhn l cơ hội tuyệt vời cho đi lứa pht triển tm thức, cng du dắt nhau dần tiến đến mức thiện hảo th đối với những người chưa đủ thức n lại trở thnh khung cảnh ngục t khốn khổ, đau thương bậc nhất chốn trần gian. Phỏng cn hnh phạt tm tưởng no tn c hơn cảnh chung sống coi bộ thơ mộng, uyn ương, mặt đối mặt, vai kề vai, m lng chừng như ngn dặm xa cch? Phỏng c chốn đọa đy no khổ ải hơn lng kht khao nỗi an bnh tm tưởng trong khi lun phải chiến đấu với nỗi dằn vặt nội tm. Con tim mỗi người vừa kỳ cục, vừa huyền nhiệm. N mang tần số ring v chỉ ha hợp với tần số đặc biệt n khao kht kiếm tm. N được sinh ra để kiếm tm v dường như hon cảnh x hội c bổn phận v l phương tiện cho sự tm kiếm nhiệm mầu dẫu kh ai hiểu tại sao. Thế nn, nếu gia đnh thực sự l tổ ấm, l chốn con người lnh nhận được niềm vui tm tưởng, l nơi gip họ cảm nhận được sự bao bọc, chở che, ươm mt tm hồn, lời mời gọi no bn ngoi c thể thi thc hay khuyến dụ đi chn họ cất bước ra đi. Dẫu nng Biloxi c năng lực m hoặc cch mấy cũng chỉ c thể gạt gẫm những tm hồn tự tại hướng ngoại một thời ngắn ngủi; bởi chỉ những kẻ khng cảm nhận được niềm hứng khởi hi ha nội tm mới để lng hoang đng đuổi theo ngoại vật. Bởi vậy, những con thiu thn dầu cn đang c thể bay vng vng, thn xc chưa chết th cũng như đ chết do tự căn bản hiện hữu, nguồn sinh lực của chng đ bắt đầu tn tạ. Mi ấm đầy thơ mộng ấp ủ những tm hồn v thức trở thnh đng lạnh chỉ l vấn đề thời gian. B em Biloxi chnh l mụ ph thủy biến sự thơ mộng giả hnh thnh tảng băng gi buốt nơi những mi ấm v tm, thiếu thức.

    Từ xa lộ 10 bắt xuống hướng Nam nơi ng rẽ mang số 46, t nhất người ta c thể thấy hnh ảnh nng Biloxi vượt ln trn mặt biển, tựa lưng chn trời từ đng xa khi hy cn bn ngoi cầu 110 nơi lối xuống D'Iberville. Nếu li xe trn con lộ 90 dọc theo bờ biển từ Mobile về hướng Ty, cũng vừa chạm đầu cầu cuối phần đất Ocean Springs, nng ngồn ngộn ph by nt tươi thắm bấp bnh bn bờ nước. Ngược lại, đi từ đng Ty dọc theo bờ biển nổi tiếng Long Beach, MS, về hướng Đng v khi chạm tới lnh thổ Biloxi, người ta c cảm tưởng lao vo vng ph hoa tin cảnh. Tm tr họ khng thể thot khỏi sự đam m cm dỗ tot ra từ khung cảnh thanh lịch, hiển hiện nơi từng nh đn chớp nhy cho tới những nt dễ thương mời mọc ph by r rệt ở dng điệu thanh bai, chm chm bờ mi mấp my ngỏ lời đn tiếp km theo sng mắt đong đưa khuyến khch con người trỗi lng mong ước. Nng Biloxi thực sự hiện thn tất cả sức lực ham muốn tiềm tng nơi con người tự thuở ngn xưa, ẩn trong huyết quản, ha tan từng thớ thịt, giờ đy gom hết năng lực, dội ln gip bạn thỏa mn tnh chất đam m. Thế l du khch mờ mắt, chỉ tỉnh tr khi no chy ti, nhưng mắt vẫn mờ. Kẻ no m đắm qu nặng, nh cửa, tầu b, tiệm ny, xưởng nọ, đều bị chủ nhn khng cưỡng lại được lng ham muốn, bn sạch, tiếp tục dng hiến cho nng. Vợ đẹp cch mấy, con xinh thế no, cũng thua nt mơ say đầy hấp dẫn của c b lọ lem Biloxi mấy năm xưa, giờ đy biến thnh con ma khng hồn quyến rũ những ai lng cn vấn vương nặng nề ham muốn chiếm hữu nng lm của ring. Thot khỏi nt khuyến dụ của nng phải chăng chỉ những bậc thnh nhn?

    * * *

    Nh Phủ ở thnh phố D'Iberville cch Biloxi một con cầu. Tri di mười bẩy năm ngoi ngp dnh sống trn đồng đất nước người, vợ chồng con ci tổng cộng mười ba mạng chui rc nơi căn nh tồi tn, cửa long đng cửa, tường vnh đng tường, đứa ny chẳng chịu ha hợp với đứa kia khiến hnh dng vốn dĩ đ bệ rạc, bn trong lại cng thm thảm no. Mười hai năm trước, căn nh trị gi mười chn ngn đối với dn tị nạn kể đ kh nặng nề chi ph. Sở dĩ Phủ mua được v đa số dn chng t con, no ai cần đến căn nh su phng cửa nẻo luồn lạch rối tung cả ln; rồi no ma nng my lạnh, ma rt my sưởi; tiền của đu chịu cho thấu chi ph điện đm, hơi đốt. Cũng may, nhn c người chỉ ng ngch để xin chương trnh chnh phủ cho vay mua nh khng tiền lời, gip dn ngho c nơi ăn chốn ở, vợ chồng Phủ bn tnh hơn thiệt cả tuần lễ v quyết định mua căn nh. Căn nh ngy ấy kể cũng qu rộng đối với gia đnh hai vợ chồng v năm đứa con, đứa lớn nhất mới mười bốn tuổi. Thế nhưng su năm sau, d nhiều phng, lắm buồng, n đ chẳng khc g hộp c khổng lồ. Số l chị Phủ, khng hiểu v e thiếu người xi, hơi nng hơi lạnh hao tốn một cch uổng ph chăng, hoặc v "quen dạ đẻ cch năm đi" (T Xương) m liền t t su năm, nh thm su nhc. Đứa ny chưa biết chạy, đứa kia đ sẵn sng tham gia cuộc thi đua. Gia đnh thm người, đồng thời d con nh ngho, bố mẹ no c to lớn g, m xấp nhỏ, đứa no đứa nấy cứ như được uống sữa voi. Bốn thằng con trai cao hơn bố, thn xc coi chừng hm ăn bẩy ngy khng hết thịt. Mấy đứa con gi dẫu dng dấp thanh bai nhưng chẳng khc g sếu vng. Ấy, may m chị Phủ phải lun miệng h ht chng n bớt ăn bớt uống mới được vậy, cn nếu khng, cứ nhn mấy trẻ nh hng xm th biết. Vừa đng mười hai tuổi m con b mập rụt đầu rụt cổ, đi đu cứ như tri trứng lăn.

    Vợ chồng Phủ đ t lu bn luận kiếm cng việc g thm cặp hầu dnh dụm cht tiền đặt cọc lm lại căn nh th đng một ci, nội trong tuần lễ, hết người ny đến kẻ khc đi rước mớ khung gỗ ẩn dưới mi che tồi tn m bnh thường ln tiếng biếu khng vẫn e bị ăn đn, phương chi đi bn. Khng, viện bảo tng đu c chỗ để chứa thứ của nợ ấy, người ta nhăm nhe v miếng đất lọt vo địa giới mở sng bi. Tạ ơn trời, thăm gi hơn, dm gi km, cuối cng Phủ bn được một trăm rưỡi ngn. Thế l vợ chồng, con ci đn đm nhau thếch sang D'Iberville ngự hẳn vo căn nh gạch su phng tươm tất, hai gian đậu xe, r tiện bề nấu phở, kho c những khi cần thiết.

    Cuộc đời no khng thế, mỗi ci may mắn lại hm chứa bi học mắc mỏ phải trả. C được nỗi an tm khng phải lo lắng nơi chốn cho con ci chui rc trnh nắng mưa, Phủ sinh tật m b em Biloxi. Gần một năm trời tầu b được đồng no, Phủ đem nướng sạch nơi sng bi. Tất cả gnh nặng chồng ln vai chị Phủ; gia đnh đng con, tiền bạc chi ph như đốt hng m, đến nỗi nợ nần đ qu nhiều, khng cn nơi no c thể vay chạy. Van lơn kiểu no Phủ cũng khng chịu từ bỏ, y lại cn học được ở đu cu ni mới thoạt nghe đ muốn lộn ruột: "Bỏ vợ th được chứ bỏ đnh bi khng được." Y chưa dm c định bỏ vợ nn hy cn may thot được cảnh bị vợ bỏ. Số l đ bao nhiu lần to nhỏ, ni xa ni gần m Phủ vẫn cứ chứng no tật nấy, chị Phủ đnh quyết định một mnh. Chị hiền lnh, nh nhặn, chịu đựng, v lịch sự nhưng lại rất cương quyết. Đng khc, sức chịu đựng nơi con người dẫu sao cũng chỉ c hạn; thm vo đ, người no lịch sự, tự trọng bao nhiu th tự i lại cao bấy nhiu. Bởi thế, sự tng bấn đến độ khng thể vay chạy vo đu được th mặc cảm bị khinh khi do hon cảnh dồn p khng lối thot đ đẩy chị vo đường cng. Chị đ tnh đến chuyện xin việc lm tại cc cng sở nhưng tiền gửi chăm nom mấy đứa nhỏ cn non dại lại qu cả tiền lương, chỉ cn hng s.

    Hai giờ sng d trời quang tạnh, ấm p hay mưa bo, gi lạnh, mấy đứa lớn cũng bị li cổ dậy, đứa chở mẹ đi lm, đứa canh chừng cc em nếu c chuyện cần thiết, v khi tới giờ, lo nấu nướng ăn sng, sắp xếp bữa trưa cho xấp nhỏ mang theo, v chở cc em đi học. Cũng may, con nh kh quăng đầu đường khng chết, con ci chị ngoan ngon, biết vng lời v chăm sc nh cửa. Đng bẩy giờ sng, thằng lớn tới hng chở chị về nh đoạn li xe tới trường học.

    Con tu thn thiết ngy nao l phương tiện cung cấp những giy pht m đắm em Biloxi, từ khi ma tm chấm dứt, cũng đ vội bỏ chủ sang tay người khc, thế l Phủ hết đường đeo đuổi những giy pht đam m st mồ hi hột với mấy hột xc xắc xanh xanh đỏ đỏ hoặc mặt ngửa mặt p của những cy bi, đnh chấp nhận theo vợ phục vụ hng s hầu c đủ ngy giờ thấm tha hương thừa nỗi vui say bi bạc cn st lại trong thời hạn trắng tay. Cũng may, con tu ra đi ko theo mọi sự lin hệ để lại nơi Phủ bộ lng ruột trống vắng, nhường cả thng trời cho y c cơ hội ngậm đắng nuốt cay với nỗi ti t đ lỡ dại dột nn cảm nhận được lng hy sinh của vợ. Phủ sợ nng Biloxi từ dạo ấy nn quyết định khng lấy d chỉ một đồng bỏ ti, m để vợ ton quyền quyết định tất cả chếch chiếc do cng sức đm hm khuya khoắt lần m lm thu. Bi học mắc mỏ đam m ấy giờ ny trở thnh cơ may, vợ chồng Phủ sau những thng ngy gồng sức chịu đựng đ tậu được gian hng bn thực phẩm v nhu yếu lặt vặt đem lại nguồn lợi tức tương đối dễ thở. Con ci, đứa lớn dẫn dắt đứa b học hnh, chăm nom nh cửa, do đ, ci thn "gi," Phủ hay ni thế, c quyền đn đm, ba hoa trở lại, nhưng vẫn e ngại quyền lực bất bại của "đền thnh casino."

    * * *

    Ba giờ chiều thứ bẩy, nh Phủ, người đng như mở hội. Xe pho hơn chục chiếc, đậu ngang, dọc khng thứ tự nơi sn cỏ hơn ba mươi mt bề ngang v hai mươi lăm mt từ con đường trước mặt tới mi hin khiến ng đi qua b đi lại tưởng nh c đnh đm lớn. Trẻ con khng hiểu đu ra m lắm thế, gần hai chục em, trai gi tụm năm, tụm ba thảy bng rổ hoặc tranh nhau đ bng. Trẻ con ở Mỹ khng phn biệt tr chơi nam nữ, lắm đứa con gi thch thể thao hơn con trai khiến chị Phủ đi khi la ln chi li răn đe, cc tướng coi chừng đ bng bể kiếng xe. Ấy, nam nữ bnh quyền, cc b cc chị dn mắt xanh, mũi l truyền lại cho con chu như thế; m c thể cn hơn v với mức tiến triển của đ văn minh, người ta đ tạo nn chủ thuyết "Lady first." Khng hiểu họ "first" v nguyn nhn hay l do no, nhưng đối với những gia đnh Việt ăn nhờ ở đậu, dẫu đ l cng dn của đất nước tự do nhất thế giới, truyền thống nội tướng vẫn lun lun ngự trị dưới mi ấm mũi tẹt da vng. Khng hiểu Phủ mồi chi thế no m chị vợ đồng để con coi cửa tiệm nửa ngy cuối tuần, ở nh chỉ huy cng cuộc bếp nc đn tiếp cụ Ti v nhm nhậu. Chẳng biết y muốn tỏ sự cả sng căn nh tọa lạc giữa hơn mẫu đất hay v định tạo cơ hội cho những người quen biết gặp gỡ kết tnh thn i bạn b, Phủ ku gọi cc tướng đem vợ con theo bởi nh c phng lớn cho cc chu dn qun ph phch, đồng thời cũng hứa cung cấp những thực phẩm đặc biệt theo thch của bọn trẻ.

    Nơi phng khch hai mươi bộ (feet) vung vức, hai chiếc bn di chen giữa bốn hng ghế trang trọng nng đỡ bốn cho điện chứa vịt nấu chao tỏa hương vị hấp dẫn k k tm đĩa rau cải xanh được xếp đặt ngay ngắn. Những đĩa tiết canh dậy mu đỏ tươi, đĩa no đĩa nấy vươn cao ln bởi chiếc t lớn đặt pha dưới, sẵn sng chờ đợi thực khch san sẻ. Bnh Hennessy, lt rưỡi, thấp thong ẩn hiện mu cnh gin chất rượu chẳng khc g vị tướng lnh đứng sừng sững một đầu bn, dường như cố nghển cổ canh chừng hai dy ly thủy tinh nơi bn bn giữ nghim lệnh đợi thời điểm cng xuất qun dẫn độ cc mn ăn tranh thủ đua nhau xm nhập lng ruột thực khch.

    Mọi sự đ sẵn sng khi cụ Ti với Hưng tới, v cc tướng trong hội coi bộ sẵn sng hơn. Chạm phải mu sắc điềm đạm của Hennessy như kết quả cộng hưởng do nt đỏ thắm tiết canh với mu rau cải xanh non tươi mt, nh mắt cc tướng dường như chợt le ln ha với nh đn điện gip cho phng khch thm rực rỡ. Khng đợi ai giục d, Phủ vo đề tuyn bố l do,
    - Thưa bc, thưa qu anh, qu chị, chẳng ni giấu g, hm nọ lỡ hứng khởi mời bc v mọi người qun chưa xin php b x nn nh chu đ phải năn nỉ muốn chết mới c được sự tốt lnh của chiều nay để đn tiếp bc v qu anh chị chiếu cố. V vậy, để khỏi phụ tấm lng độ lượng của mợ n, cũng như b cng sức tốn nước miếng dụ khị của nh chu, xin bc cng qu anh chị nể tnh đưa cay. Đng khc, đon qun Heineken đang sẵn sng chầu chực giải nhiệt. Ấy l kết quả tu chứng nh chu cảm nghiệm được; ring điều g thiếu st do cng phu non nớt, nh chu xin bc cng qu anh chị thng qua cho lần ny để lần sau vẫn cứ như vậy, amen. Nh chu tạm hết lời, v knh mời bc thực nghiệm khai mở bch hội huyệt giải tỏa p lực nơi vng lun xa của thnh Hennessy.

    Cụ Ti với thi độ chừng mực, trang trọng, cụ vẫn thế nơi bất cứ trường hợp no, mở nắp chai rượu trong khi nhẹ nhng ln tiếng,
    - Thế cn bch hội huyệt v vng lun xa của anh?
    - Chu th cng biết thm, cng sinh lắm điều phiền no, v, Phủ ngập ngừng, sự thức ngộ vẫn như cn xa lắc, xa lơ, nhiều khi cảm thấy nản lng nếu khng muốn ni l bực bội với chnh mnh.
    - Chuyện đ phải xảy ra đối với những ai c lng kht khao muốn thăng tiến trn đường tm linh. Cụ ni với giọng điệu bnh thường mang r tnh chất xc quyết khiến người nghe c cảm tưởng cụ đang tm sự đương khi rt rượu vo ly đoạn chuyền chai rượu cho ng Thung ngồi kế bn tay phải. Điều hiển nhin theo kinh nghiệm, kẻ no khng dm chấp nhận chnh mnh m tự dối lng hoặc e sợ đối diện với bộ mặt thật của mnh sẽ kiếm đủ mọi phương tiện lấp liếm hng chạy trốn chnh họ dưới mọi hnh thức, phương diện, được thể hiện ngay nơi thi độ thường th hướng ngoại. Đng khc, con người tự bản chất dẫu tuyệt vời huyền nhiệm, nhưng cũng c thể ni, rất kh cho chng ta c được nhận định chnh xc về thực thể nơi mnh v đ được sinh trưởng nơi vng v minh qu nặng. Thế nn, bước đầu của hnh trnh thức ngộ phải l lng sm hối, một hiện trạng hữu ch để nhận chn v chấp nhận những g v v minh mnh đ v tnh vấp phạm. Lng sm hối ny chỉ c thể xảy đến nơi những tm hồn thao thức kiếm tm thế giới tm linh.
    - Bc muốn ni người no cng cảm thấy mnh xấu xa, khng ra g, cng c cơ may thức ngộ?
    - Hỏi như vậy c phải suốt tuần qua anh đ mang nặng mặc cảm mnh chẳng ra g?
    - Bc ni đng. Chu thấy mnh xưa nay qu tệ v qu ngu, ngu khng thể tưởng, m... Phủ ngập ngừng chừng như kh diễn tả. Khng biết bao nhiu lần đ khng nhận ra, ngược lại, phải ni l cố chạy trốn con người của mnh. Hn, chu nghĩ, phải dng tiếng "hn" mới đng.
    - Ti c lời chc mừng anh Phủ, v những anh em no c đồng tm trạng. Ring những ai khng cảm thấy thế, ti muốn ni, ti khng biết tm trạng anh em ra sao. Những ai chưa nhận thực được những sự hn mạt nơi mnh th thật đng thương v thời điểm vẫn chưa tới với họ. Qua nghiệm chứng, ti c thể ni với anh em, người no cng thực sự nhận ra mnh hn hạ, đốn mạt bao nhiu, thời điểm thức ngộ của họ gần kề bấy nhiu, ngoại trừ kẻ no bị tự ty mặc cảm. Cảm nghiệm được tnh chất hn nơi mnh chnh l thực trạng đối diện vọng tưởng, v minh. Ni theo nh Phật, khng c cch no chứng được Chn Như hay Phật Tnh m chỉ c thể chứng vọng tưởng để nhận ra Tự Tnh bất khả tư nghị nơi mnh. Ti muốn chứng minh điều ny bằng cu ni nghịch của anh Hưng, "Người minh triết v minh, kẻ v minh, minh triết." Người no cng nhận ra trạng thi v minh nơi họ xưa nay bao nhiu, cng l người minh triết bấy nhiu.
    - Nhưng thưa bc, dẫu cho minh triết bao nhiu th cũng chỉ l sự hiểu biết, chưa phải chứng nghiệm.
    - Chng ta l những c nhn khc nhau từ tinh thần đến thể chất do đ c nhiều phương cch để đạt tới gic ngộ cho những con người khc nhau. Nhận định như vậy, ti muốn ni, cn c nhiều bậc thức ngộ khng bao giờ tỏ lộ nn khng ai biết tới. Tuy nhin nếu xt về những phương thức thực nghiệm đạt tới thức ngộ được đại đa số p dụng như ti đ ni lần trước, chng ta c thể chia ra ba đường lối tu tr; đ l thờ phượng, minh triết, v thiền tng. Đa số quần chng theo con đường thờ phượng. Con đường ny đặt nền tảng trn niềm xc tn, dng niệm ch dẫn tới định tm. Cc tn gio l một trong những hnh thức của lối thờ phượng nhưng qu ch trọng về tnh chất cổ v, pht triển, cũng như lệ thuộc luật lệ tổ thức thế tục. Dẫu những nghi thức sng bi mang tnh cch lớn lao, đồng nhất cho những nhm tn đồ cng niềm tin, phỏng nơi đại đa số quần chng tham dự, mấy ai thức được những hnh thức cử hnh nơi nghi thức chỉ phần no diễn tả thực thể tm linh đang diễn tiến ngay nơi thờ phượng cng cộng. Thử nhn về thực thể nơi sự thờ phượng hay cng bi anh em c thể nhận định r rng hơn. Chẳng hạn nơi Phật gio hay Thin Cha gio, tn đồ bi, lạy, cng, dng đồ vật hay tiền ti trong những nghi thức của họ. Anh em đ bao giờ đặt vấn đề đấng no sẽ nhận lnh những ti vật ấy? Cu trả lời đng đắn nhất tất nhin phải l họ dng những phẩm vật hoặc tiền ti ấy cho lợi ch của họ chứ khng cho đức Phật hay đức Cha; bởi đức Phật hay đức Cha no hưởng được cht g! Qua lần trước đm luận, chỉ c một php độc nhất l Phật php, tức kiến tnh, hoặc gọi l g, phương cch no, hoặc dưới hnh thức chi, miễn sao đạt tới gic ngộ. Đến ngay như nghiệm chứng m cũng chỉ c thể nghiệm vọng tưởng th tn gọi đu quan trọng g. Như vậy, theo con đường thờ phượng, ti vật chỉ biểu hiệu lng xc tn, tm thnh. Thực tế cần được nhận định r rng, đ l những ti vật được dng để bảo tr nơi chốn cho con người tụ họp để c cơ hội by tỏ lng thnh qua hnh thức minh xc với chnh mnh bằng cử điệu v nghi thức. Đồng thời, những tổ chức tn gio cũng cần c ngn quỹ để gip cho những vị đặc trch hướng dẫn hnh trnh tm linh cho tn đồ thuộc tổ chức tn gio v đồng thời tiếp tục đo tạo những vị hướng dẫn tm linh trong tương lai. Sự thực hnh đơn giản nhất ai cũng c thể nghiệm được chẳng hạn đốt hương. Khng thần thnh no ăn hay ngửi được hương; m chng ta vẫn đốt; chng ta vẫn xng hương. Đốt hương chỉ chứng tỏ lng thnh; bởi vậy, nếu c tm ngay th đốt hương hay khng chẳng thnh vấn đề, m khng c lng thnh th đốt cả hng lm hương coi chừng sẽ bị nhốt vo khm m thi. Tụng niệm nơi nghi thức thờ phượng đng vai tr định hướng tm thức con người, dồn tm thnh, niềm xc tn để nghiệm chứng. Nếu để thi độ, cử điệu của cc vị cử hnh lễ bi, anh em sẽ cảm nhận được ngay vị đ đang cử hnh một nghi thức tm linh hay đang thng qua những cử điệu hnh thức tn gio. Cũng như thiền, nếu miệng tụng niệm m đầu c bay tt m khơi nơi đu no được ch chi! Cử hnh nghi thức thờ phượng, lễ bi m tm hồn đang vướng mắc nơi ci đu đu chẳng khc g những tn b nhn giang tay giang chn, bạt bn ny, lật bn kia theo gi v để chim đậu trn chnh cnh tay đang giang. Bởi vậy, dẫu nơi hnh trnh tm linh no th động lực cốt cn vẫn l tm thnh với lng xc tn.
    - Thưa bc, nếu thế đu cần minh triết, đu cần thiền tng, mật tng.
    - Thi! thi! ng ơi, để bc nng ly. Chưa được cht cho th đ chết bởi ni kh cả cổ họng trong khi chng ti cũng đang ngấp ngoi v kht. Xin mời bc, mời qu vị. Sỹ nh con oang oang phn b.

    Những hũ chm đang thời kỳ kh cạn m cứ phải chịu trận với mi nước thnh xng ln ngo ngạt th cn nỗi khổ chi cay c hơn. Dẫu ba hoa chch che lắm lc coi trời bằng vung nhưng vẫn chưa ai dm tợp hớp no khi cụ Ti chưa nng ly. Quả l điều lạ! Cc tướng hy cn biết cht t php tắc.
    - Đ đợi th đừng ku, v đ ku tại sao lại đợi, đng l vừa đnh trống vừa ăn cướp. Đu ai mượn qu ng hnh thức dổm! Vậy từ xưa tới nay chưa bao giờ được hưởng những giọt cam lồ của vị thnh to lớn ny th cc ng đang l những con ma đi kht khng hồn hay sao? Ừ th uống, thế mới biết ẩn sau cc khun php lịch sự lại chnh l những thm thuồng thối nt, con đẻ của v minh; cũng như lng ruột của một thn xc đẹp đẽ, oai phong, khng mang được vẻ hấp dẫn cht no nếu đem so snh với lng ruột loi heo loi b. Bao năm nay, người ta ca tụng, khm phục nh danh họa Picaso, nhưng đ m muội ha theo kẻ khc hầu chứng tỏ ta đy hay giỏi m tm hồn thực sự trống rỗng, uổng cng sức cầm cọ của ng. B ngồi cuối gc bn, nhỏ nhẹ như ni với chnh mnh nhưng ai nấy để nghe khiến sự ồn o đng lẽ phải xảy ra khi hoạt cảnh nng ly đầu tin của mỗi bữa nhậu lại trở nn im lặng khc thường.
    - Ti c lời chc mừng anh B v anh Phủ, cụ Ti nng cao ly rượu, mời anh em.
    Chẳng đợi g hơn, thế l một phần ba chất rượu của bnh lt rưỡi vừa được rt vo những ly thủy tinh vội biến tan nơi cc thn xc của thnh vin nhm nhậu như chưa từng bao giờ hiện hữu trn ci đời ny. Rượu vo, lời ra, trong lc bnh Hennessy được tiếp tục chuyền tay san qua cc ly. ng Thung dạo ny coi bộ cũng ngon cơ dẫu phải nhắm mắt nhăn mũi chịu đựng những giọt rượu thơm ngon v mi cay xốc ln tới c đến độ muốn bị sặc. Qua bao lần đn đm với nhm nhậu, ng đ tự nghiệm được phương thức đẩy rượu qua cổ họng m hơi men cay khng lm ngộp buồng phổi pht sinh "chết sặc." Mấy lần đầu, mn khai ly đ lm ng khốn khổ, thở khng được, ho khng xong m cứ sặc sụa chảy cả nước mắt nước mũi chẳng khc g kẻ chết đuối. Tệ hơn nữa, ng bị ngộp rượu v đ ht đầy phổi luồng men cay nồng nặc. Tự đặt cu hỏi tại sao người khc cũng uống như ng nhưng khng sao, chợt c lần ng hớp rượu một ngụm nhỏ, nuốt xuống. th ra thế, ng thầm nghĩ. Nguyn tắc đơn sơ chỉ l khi uống rượu, bia phải nn hơi, ngưng thở trong khi nuốt, cng lắm chỉ cảm thấy cay x cần cổ nhưng khng thể bị sặc. Đợi cụ Ti san miếng tiết canh v ăn xong, ng ni,
    - Theo như cụ giải thch về Phật học lần trước nơi nh anh Hưng, nghiệm chứng mới l hnh trnh thiết yếu v kiến thức hay minh triết đu phải điều thực sự biết!
    - Minh triết khng những bao gồm kiến thức, thức m cn đi hỏi lng thực sự kht khao thăng tiến tm linh hầu đạt tới giải thot, gic ngộ. Bởi vậy, Phật học được gọi đạo minh triết. Dng tiếng đạo khng c nghĩa tn gio m l hnh trnh, con đường hnh giả hay một người thực tm muốn kiếm tm để đạt tới Thực Thể Tuyệt Đối. Xt theo phương diện tm linh, minh triết l hnh trnh nhanh nhất cho con người gic ngộ, t bị phiền h hay lệ thuộc bởi ảnh hưởng thi quen hoặc truyền thống, đồng thời cũng khng nguy hiểm như thiền mật tng hay điểm đạo nếu người theo đường ny biết mở rộng ci lng sử dụng tự do suy tư tuyệt đối.
    - C phải cụ muốn ni đến nghiệm xt mọi sự?
    - Đng, điều kiện ắt c v đủ cho một người muốn đạt đạo nơi hnh trnh minh triết phải l nghiệm chứng bất cứ sự g ngay cả những vấn đề hoặc sự việc xưa nay được đề cao l tốt lnh thnh thiện.
    - Như vậy, thưa cụ, phải giải thch thế no đối với những sự tốt lnh đ được mọi người cng nhận xưa nay?
    - C cu chuyện dụ ngn về một con khỉ khi lội ngang qua khe suối cạn. Hắn vớt ngay con c bỏ ln bờ. Hỏi tại sao, con khỉ trả lời v muốn gip con c khỏi bị chết đuối. Con khỉ c lng tốt v hnh động đng khen nhưng khng ph hợp đối với con c. Nơi trường hợp của một b gi năm tuổi, bẻ ngay miếng pizza bỏ vo miệng đứa em của n mới được hai thng lm đứa nhỏ chết hc gần ngất xỉu. Như vậy, những sự tốt lnh thiếu suy xt hay nghiệm chứng chẳng những đi khi m thường th trở thnh độc hại. Hiểu như thế, người minh triết lắm lc hnh động khng thể ha theo quan niệm phiếm diện bởi chẳng thực tại no c thể lm khun mẫu cho mọi trường hợp, v những kinh nghiệm cũng khng thể được p dụng một cch my mc, thiếu thức. Chng ta tn trọng đức Thch Ca, đức Gisu nhưng khng chịu suy tư, cảm nghiệm về những lời cc ngi để lại m chỉ cố tnh ha theo sự giải thch hạn hẹp của một số người dm cả gan tuyn dương họ đ nắm được chn l rồi lấy những điều đ lm khun mẫu để tự lừa dối mnh nơi cảm nghĩ chỉ cần hiểu được những điều họ giải thch sẽ thnh Phật thnh thnh. Nếu thực sự đối diện với lng mnh, ti dm ni, bất cứ ai suy nghĩ về những lời dạy của cc bậc đạt đạo, chắc chắn sẽ nhận ra mnh l con người bết bt, tệ hại khn cng th sao dm c ước mơ trở thnh thế nọ thế kia.
    - Thưa, cụ ni như vậy c g?
    - Thử đem một đi cu ni của nh Phật hay nơi Phc m p dụng vo thực tại ng sẽ thấy. Chẳng hạn lời của Lục tổ, "Tu hnh m chẳng vọng động, nghĩa l lc thấy cả thảy mọi người m chẳng thấy cc điều phải quấy lnh dữ, tội lỗi của người, tức l tnh mnh chẳng động" (KPBĐ; Tr.96). Nguyn cu ni tự n đ minh chứng vọng động v nếu đ khng vọng động sao phải đặt vấn đề vọng động. Nơi Phc m c những cu, "Kẻ yu cha mẹ hơn ta, ắt khng xứng với ta. Kẻ yu con trai con gi hơn ta, ắt khng xứng với ta" (Mt. 10:37), hoặc, "Nếu ngươi muốn được trọn lnh, th hy bn những g ngươi c m cho kẻ kh, v ngươi sẽ c một kho tng trn trời, đoạn hy đến theo ta" (Mt. 19:21). C phải cứ theo nghĩa từ chương m khng suy nghiệm sao cho hợp tnh hợp l nơi cuộc đời mnh, chng ta tự tạo mặc cảm tội lỗi khng cch no xa bỏ được. Đối diện với con người thực của mnh, suy tư, nghiệm xt mọi sự, dng nghịch luận, thch đố chnh mnh sống ph hợp nghĩa thực chứng thm trầm của những lời khn ngoan đạo học, đ l hnh trnh minh triết để đạt đạo, v đy l con đường nhanh nhất v dẫu theo thiền tng hay mật tng, dẫu thờ phượng đấng no rồi cũng phải trải qua đoạn đường minh triết trước khi khai ngộ. Chẳng hạn Ramakrishna, một tu sĩ mật tng Ấn Độ. Thuở ban đầu ng theo con đường Bhakti, thờ phượng đức thnh mẫu Kali. Tuy nhin, để vượt qua chặng đường cuối cng của đại định, ng đ phải nhờ một tu sĩ v một nữ tn đồ thng hiểu kinh sch chỉ điểm cho ng về lối tu bằng tr tuệ.

    - Thưa cụ, nếu thế th thiền tng hay mật tng chỉ dnh ring cho một số người đặc biệt.
    - Thiền tng đặt căn bản trn nền tảng minh triết v dng một số phương thức thiền định thc đẩy hnh giả đạt tới sự thức ngộ mau hơn. Bnh thường, thiền được hiểu chỉ l định tm qun tưởng v điểm cuối cng đưa hnh giả vo giai đoạn đại định. Thực ra, thiền tng bao gồm qun tưởng v mật tng. Mật tng dng định v những phương thức vận chuyển kh huyết pht triển năng lực tự nhin nơi con người. Nguyn tắc chnh của mật tng khng khc g căn bản luyện kh của hiệp kh đạo bắt nguồn từ năng lực của ch, tư tưởng, định theo l thuyết dẫn kh, kh dẫn huyết, v huyết được chuyển tới để đả thng kinh mạch. Đ l l do tại sao người ta ni đến mật tng, huyền thuật Ty Tạng, Zen bn Nhật Bổn, Yoga ở Ấn Độ, Điểm Đạo tại Ai Cập.

    Mấy người ngồi gần cụ Ti nghe cụ nhắc tới mật tng, huyền thuật, Yoga, Điểm Đạo, lộ vẻ ch . Đối với họ, những danh hiệu ny bao hm mun sự huyền b xưa nay long thong nghe ni đu đ hoặc đọc nơi sch vở về những quyền năng cả thể cứ như l php lạ chẳng hạn đi trn lửa, hoặc chn dưới đất bốn mươi tm ngy khng chết, hay chỉ cần một đụng chạm nhẹ của người tu Yoga hay mật tng, huyền thuật đ c thể chữa lnh những bệnh bất trị hoặc c những người sau thời gian tu luyện khng phải ăn m vẫn sống. Đầu bn bn kia, chị Sỹ chợt ln tiếng ni với qua,
    - Thưa bc, con nghe người ta ni tu Yoga sẽ lm được nhiều sự lạ lắm phải khng bc?
    - Đu phải chỉ thực hnh Yoga mới đạt được kết quả sử dụng được năng lực thần thng, cc bậc gic ngộ đều c thể thực hiện được những điều m chị gọi l sự lạ. Ngay chnh chng ta, bất cứ ai cũng hm chứa sẵn năng lực ấy; vấn đề chỉ l lm thế no để pht huy năng lực nội tại nơi mnh theo muốn. Tuy nhin, hnh trnh pht triển năng lực nội tại ny đi hỏi nhiều điều kiện tm linh v thể xc đồng thời cũng c nhiều đường lối luyện tập. Đ l l do tại sao c nhiều cấp bậc cũng như thnh quả nơi hnh trnh thực hnh huyền thuật, yoga, mật tng, hay điểm đạo. Ngay cả cc php sư đều l những người tu luyện một trong những phương php pht triển năng lực nội tại nơi con người để sử dụng quyền lực tự nhin. C điều, sự khc biệt được phn chia r rệt. Những bậc đạt đạo khng sử dụng quyền lực ny ngoại trừ những trường hợp tối cần thiết. Dẫu họ biết cch v c thể sử dụng nhưng thực ra đ l quyền lực vũ trụ, quyền lực của Thượng Đế khng phải để lạm dụng kiếm kế sinh nhai hay khoe khoang ti năng v bất cứ hnh động no cũng đều mang năng lực ảnh hưởng ngược lại chnh bản thn chủ thể thực hiện.
    - Thưa bc, nếu ni theo hnh trnh thức ngộ nơi nh Phật th bất cứ ai cũng c thể theo con đường tiệm ngộ. V nếu đng no cũng ngộ tất nhin cuối cng cũng đạt được những quyền năng khng sớm th chầy. Như vậy, ngoi điều kiện minh triết để bước vo mật tng hay Yoga, huyền thuật, người muốn theo con đường ny cần c những điều kiện no khc? Phủ ln tiếng trong khi những cu chuyện ring tư nơi bữa nhậu chợt ngưng ngang v mọi người cảm thấy ho hức khi nghe cụ Ti ni ai cũng hm chứa sẵn năng lực thần thng.
    - Minh triết khng phải l điều kiện v ai cũng c thể đạt tới được nếu họ thực sự muốn; tuy nhin, điều kiện khng thể thiếu nơi mọi hnh giả được trnh by qua nhiều nhận định đ l tm thnh rộng mở v lng kht vọng, c thể gọi sự sm hối, c thể l nhận biết v chấp nhận chnh mnh. Ti tạm đưa ra trường hợp điển hnh để anh em tự nghiệm. Nếu ti khng lầm, suốt tuần qua sau khi nghe quan điểm về hnh trnh kiến tnh nh Phật, một số anh em phần no đ bị nỗi tự ty mặc cảm dy v. t nhất như anh Phủ đ ni, "Qu tệ v qu ngu, ngu khng thể tưởng, phải dng tiếng "hn" mới đng." Hoặc anh B nhận ra mặt tri của thi quen, "Đ đợi th đừng ku v đ ku tại sao lại đợi." Chỉ những tm hồn chn thnh dm đối diện với lng, ni theo nh Phật, dm nhận định đng đắn về ứng thn, mới thực sự sm hối để dứt khot với con người cũ v bắt đầu cho cuộc sống thức tiến dần đến trạng thi minh triết. Kẻ no khng thực lng cảm thấy mnh đ qu hn, qu ngu để chết cho con người cũ, khng thể no chạm tới ngưỡng cửa minh triết, lẽ dĩ nhin, khng hng g gic ngộ. Anh em nn để điều ny, đ l tất cả cc đạo học khng dạy chng ta bất cứ điều g m chỉ nu ln trạng thi đạt tới Chn Thể nơi con người. Nhận biết hay khng ty c nhn. Cc bậc gic ngộ khng ni đến những sự việc bn ngoi m nội tại. Dnh thời gian nghiệm chứng sẽ thấy, đức Thch Ca rao giảng Phật tnh bao trm vũ trụ ở mọi chng sinh. Một Đạt Ma sư tổ h ln, "Cả thế giới được nghĩ trong tm. Tất cả chư Phật, qu khứ v vị lai đ v sẽ được tạo thnh trong tm" (KCGL; Tr.201). Lục tổ Huệ Năng bảo, "Trực chỉ nhn tm, kiến tnh thnh Phật." Đối với Trang Tử, nhận chn được ci sống thật của mnh tức ha đồng với nguyn l của vũ trụ được gọi l To. Ấn học trnh by Đại Ng ngay trong chnh tiểu ng của con người (CTC; 13:24). Đức Gisu cng bố chỉ một tin mừng v đ l Thin Cha ở cng chng ta. Ngi cn to bạo hơn bất cứ bậc đạo gia no khi ni, "Quả thật, Ta bảo cc ngươi, kẻ no bảo ni ny: X đi m nho xuống biển, m trong lng khng nghi ngại, nhưng tin rằng điều mnh ni sẽ xảy ra, th n sẽ thấy thnh sự. Bởi thế Ta bảo cc ngươi, mọi điều cc ngươi cầu nguyện ku xin, cc ngươi hy tin l đ được, v cc ngươi sẽ thấy thnh sự (Mc. 11:23-24).

    Mấy tướng con nh Cng gio cảm thấy ngạc nhin đến độ chỉ biết giương mắt ếch ngỡ ngng nhn cụ gi. Tuần trước thuyết về Tm Phật, giờ ny đang thao thao về năng lực nội tại v đem lời ni của cc bậc thức ngộ minh chứng, thế m cụ nu ngay cu Kinh Thnh khng ng cha nh thờ no c thể dng để giải nghĩa về quyền lực sẵn c nơi con người. Điều khiến cc tướng phải dặn lng từ nay cần thay đổi nhận định đ l ẩn nơi vẻ hiền ha với thn xc về chiều của cụ, cả một tm thức xc tn vững vng minh chứng quyền lực đức tin. C lẽ từ nay cc tướng sẽ nhụt bớt nhuệ kh tự cao hằng ấp ủ. Dẫu mang thn tị nạn nhưng những mảnh bằng BS, BA, M ny, M kia, cũng tạm khch lệ cc tướng nghểnh mặt nhn đời nhiều khi coi rẻ dn bản xứ, vc sức vc lm thu mướn, thế m cu Kinh Thnh đ bao nhiu lần nghe đến độ nhm tai, khng cần để , giờ ny xuất pht từ cửa miệng cụ Ti chẳng khc g ngọn roi quất vo mặt, thức tỉnh cc tướng nn đặt lại vấn đề nhận thức.
    - Thưa bc, bc muốn ni mọi người đều đ c sẵn quyền lực nội tại? Sỹ nh con nho v hỏi.
    - Ti đợi anh ni thm, tại sao chng ta khng thể sử dụng được để yu cầu mọi người phạt thm một chầu nhậu. Cụ Ti nhn hắn chừng vi giy chờ đợi đoạn ln tiếng. Sở dĩ chng ta khng sử dụng được v khng biết cch sử dụng. Những phương php thiền tng, mật tng, huyền thuật, yoga, điểm đạo, chỉ l hnh trnh pht triển cc phương thức sử dụng năng lực nơi con người chứ khng c g được gọi l b mật. Ti muốn nu ln bằng chứng hiển nhin, đ nhiều lần khi ngủ, chng ta mơ. Vậy con mắt no để chng ta nhn trong giấc mơ mặc dầu khi ngủ chng ta khng nhận biết ngay chnh bản thn mnh? Sự kiện nhn thấy trong giấc mơ minh chứng r rng bất cứ ai cũng c khả năng no đ v đ chẳng bao giờ để pht triển. C những người m mờ giải thch đ l hiện trạng tm l chứa đựng những ảnh hưởng đ được chm su nơi tm thức bất chợt gợi lại khi hệ thống thần kinh bị kch thch cch no đ do ảnh hưởng sinh l, thực phẩm, hoặc trạng thi lưu thng của cc mạch mu. Tuy nhin, vấn đề được đặt ra khng đơn giản theo lối nhn hạn hẹp nhn danh khoa học v c những giấc mơ mi sau ny mới xảy đến khiến chng ta ngỡ ngng, tưởng như đ gặp sự kiện hoặc sự việc bao giờ rồi. Anh em hy để tm kiếm v sử dụng con mắt nhn thấy sự việc trong giấc mơ trước khi chng xảy ra. Đy chnh l khởi điểm nhận thức về hnh trnh tu chứng, nghiệm chứng cc quyền lực nội tại. Mỗi người chng ta mang một thực thể huyền nhiệm nhưng khng được để tm hiểu. Cc đạo học ni về hnh trnh pht triển năng lực huyền nhiệm ny, v thiền tng, mật tng, yoga, điểm đạo, huyền thuật l cc phương php thực hnh. Tuy nhin, muốn thực hnh lại cần nhiều điều kiện.
    - Thưa bc,
    - Anh Ty muốn hỏi điều kiện no phải khng?
    - Dạ, thưa bc.
    - Anh em biết hết rồi nhưng khng để nghiệm chứng m thi. Điểm căn bản ai cũng thấy r, chng ta khng phải chỉ l những thn xc tri nổi theo ging đời m cn c một thực thể tm linh, c con mắt nhn trong giấc mơ. Ai cũng cảm nghiệm được thn xc khng đơn giản g đồng thời cũng l điểm đứng cho bước tới đầu tin theo bất cứ chiều hướng no. Hoạt động của tm thức để tm kiếm thực thể tm linh được cấu tạo ra sao, gốc gc ở đu, lm thế no lin lạc, đ l hnh trnh tm linh, hnh trnh nhận biết bản thể thực con người của mnh. Tuy nhin, dẫu c nhiều quan niệm về cơ cấu tm linh của con người, tất cả mọi quan niệm cũng chỉ quy về một mục đch nhận thực ra bản thể chủ thể suy tư v quan niệm phải nhờ đến ngn từ m ngn từ th giới hạn. Đy l nguyn nhn khiến chng ta cảm thấy như rợ vo rừng khi tm kiếm hnh trnh thực dụng nơi cc kinh sch v chẳng những văn tự được dng m định khc nhau m quan niệm cũng như chiều hướng khc nhau. Kỳ mới ln lon đại y được hai năm, ti bị trường hợp kch ngất v mấy người lnh đ vội đưa ti vo nh thương cấp cứu. C điều lạ, ti khng theo đạo no nhưng đa số những người lm việc với ti lại l Cng gio hay Phật tử. Ở phng cấp cứu, ti thấy mnh lơ lửng nơi trần nh, nhn r rng cc y t, bc sĩ giật điện đnh thức con tim nơi thn xc ti đập trở lại. Những anh em Cng gio, người th cầu nguyện, người lần chuỗi ku cầu Cha cứu ti. Mấy anh em Phật tử cũng niệm Nam M A Di Đ cầu cho ti. Biết họ đang cầu nguyện cho mnh, biết lng họ tha thiết, yu mến mnh trong khi ti khng cảm thấy thiết tha g đến thn xc đang nằm trn giường. Ni đến đy cụ Ti chợt ngưng, nhắm mắt dường như tưởng nhớ lại cảm nhận đ bao năm tri qua, đoạn tiếp,
    - Mi về sau ti mới để đ l khi hồn ti lơ lửng nơi trần nh với đầy đủ nhận thức những diễn tiến nơi phng cấp cứu, bộ c trong thn xc đang nằm bất tỉnh trước mặt mọi người đ khng cảm nhận được bất cứ g. Sau ny coi trn truyền hnh, người ta trnh chiếu cc hoạt động của bộ c về cảm ứng, tạo lập những sng kiến, hoặc ban pht cc mệnh lệnh truyền qua hệ thống thần kinh nơi băng tần Disovery. Những phim ảnh ny đ gip ti nhận thức một điều thật tri nghịch với sự nghin cứu của khoa học. Khoa học gia, bc sĩ cho rằng no bộ l trung tm điều hnh v pht xuất cc hoạt động thể xc cũng như tm linh. Nơi kinh nghiệm kch ngất, hồn la khỏi xc, ti lại thấy bộ c hay những hệ thống thần kinh chỉ l phương tiện cho linh hồn cảm ứng. Mọi mệnh lệnh, nghĩ, suy tư, sng kiến, nhận thức đều do linh hồn pht xuất. Trong khi hồn ti vẫn lơ lửng phất phơ pha trn ci thể xc trống rỗng, ti đ kinh nghiệm sự tồn tại của linh hồn bằng minh chứng hiệu quả nhất đ l n đ di chuyển thật sự ra khỏi thể xc! Ti tiếp tục nhn ci xc phm cn bỏ st lại. Phải chăng ci xc bất động kia m đ bao nhiu năm ti vẫn gọi l ci ti? Một đống nhục thể, v tri gic, chỉ c thế thi! Chnh lc ấy ti mới khm ph, với bằng chứng r rng, ci ti linh thing hon ton khc biệt với thn xc. Ci ti linh thing hay linh hồn mới thực sự l chủ thể con người của ti. Bởi vậy, gọi l ti c nghĩa linh hồn chứ khng phải thn xc đang nằm bất động nơi đ. Nhn vo đi mắt nhắm tịt khng cn thấy g nữa, cơ thể khng cn cảm ứng với ngoại cảnh, no y t, bc sĩ, p ngực cho thở trở lại, giật điện tạo h hấp, ti mới nhận thấy r tất cả sự khc biệt nơi thực thể tm linh với sự hiểu biết lầm lạc về sự sống của con người bao lu nay. Ci thể xc vật chất mấy chục năm từ ngy sinh vẫn giam hm lấy ti, ci ti thật, nhưng by giờ th ti đ thot khỏi ch thống trị của thn xc. Trước kia, ti vẫn hiện hữu nhưng khng biết m tưởng mnh chnh l mảnh hnh hi được gom gp bằng tứ chi, thn thể nn vẫn lầm lẫn. Ci cơ thể năng động bằng xương thịt chẳng khc g nh t biết di chuyển m hồn ti l t nhn. Sự nhận thức ny lm ti bng hong pha lẫn niềm thư thi an lạc như vừa thot ch ngục t.
    Vậy l ti đang lơ lửng nơi trần căn phng cấp cứu, linh hồn ti đ tch rời khỏi xc phm, v con người ti gồm c hai phần khc nhau, linh hồn v thn xc. Ti đ rời bỏ ci thế gian m ti vẫn ở bấy lu nay. Ti c cảm gic như trở nn một vật tinh anh thanh nhẹ v cng, trong một trạng thi mới kể từ đ. Nhn chiếc băng ca trn đ xc thể ti đang nằm, nghĩ giản dị thầm lặng đến với ti; ti đ bước vo trạng thi của sự chết. Lc ấy ti nhận biết r rng ti l một linh hồn, v ti c sự hiện hữu v hnh ngoi xc thn.
    - Ti chỉ cn l một bng ma, chẳng hiểu sao lc đ ti bnh tĩnh lặp lại nơi nghĩ theo thi quen giống mọi người như thế, một vong linh khng thể xc đang vẩn vơ trn khng gian. Ti đ hiểu tại sao cc nh hiền triết cổ Ai Cập dng con chim lm biểu tượng của linh hồn trong những m tự cổ xưa. Với cảm gic bay lơ lưng trn khng chẳng khc no như ti c mọc hai cnh v bay lướt trn ci thể xc đ bỏ rơi giống như con chim bay lượn trn một vật g ở dưới đất (ACHB; Tr.63). Giống như biến cố của b mẹ sinh một đứa con v hằng ngy nhn n lớn ln, sự gic ngộ tm linh nơi ti xảy đến do trạng thi kch ngất l một biến cố quan trọng trong đời khiến ti khng bao giờ c thể qun được; v n lm cho ti hon ton thay đổi v trở nn một người mới. Lc ấy ti cảm thấy trn đầy một nguồn hạnh phc v bin v an lạc tuyệt vời khng thể tả; đồng thời một tnh yu bao la rộng lớn v nồng nn đối với ton thể những anh em bạn lnh, y t, bc sĩ, kẻ lo u, người cấp cứu đang vy quanh thn xc ti. Họ cũng như ti, đều nhn thấy xc thn của ti dường như đ chết, v mọi sự sinh hoạt đều ngừng hẳn, hơi thở cũng ngừng lun. Từ đ ti mới c được sự nhận định chnh xc về con người. Một c nhn thường được định nghĩa gồm c hai phần tm l v sinh l hay tm v thn. Thn l phần vật chất được cấu tạo bởi cc yếu tố m khoa học c thể giải thch v chứng minh nhưng vẫn cn nhiều chứng minh đầy dự tưởng. Tm l linh hồn, chủ thể của những tri gic, suy tưởng, quan niệm v tnh cảm của con người m khoa tm l học đang cố gắng giải thch dầu vẫn cn nhiều thiếu st.
    - Khng một ngn ngữ no c thể diễn tả những nỗi sung sướng sự giải thot của ti lc ấy. Ti thực sự l một thực thể tm linh, một linh thể cấu tạo bằng tư tưởng v tnh cảm, khng cn bị tri buộc bởi những chướng ngại của ngục t thn xc vẫn giam hm ti, tức l nhục thể nặng nề bằng xương thịt ny. Thot ly ra khỏi ci gnh nặng của thể xc, ti giống như một vong linh, như một người chết vừa chui ra khỏi mồ, nhưng tuyệt nhin khng hề mất đi ci thức của mnh. Thời điểm ấy, thức về sự hiện hữu của ti lại cn đậm đ nồng nhiệt hơn trước. Ti cảm nhận được rằng việc thot ln một ci giới thanh cao hơn đem cho ti ci cảm gic tự do, một sự tự do sung sướng, tốt lnh của ci giới thuộc về chiều đo thứ tư cc nh đạo sĩ đi khi ni đến. Niềm an tịnh v bin no đ đ xm chiếm lấy ti cũng như đang trn ngập bầu khng kh nơi phng cấp cứu dẫu mọi người pha dưới lo u cuống cuồng. Tm hồn ti, tr no ti, từ lu bị dy v bởi phiền muộn, căng thẳng do sự độc đon của tư tưởng, suy tư, biện luận, nhận định hạn hẹp, lc ấy hon ton đ được giải thot. Ti tự thả tri theo sự nghỉ ngơi v an tịnh một cch tuyệt diệu khng đếm xỉa g đến ci xc thn dưới đ.
    - Đọc nơi sch vở, nh Phật gọi l bản ng v thn; Ấn học cho rằng đ l tiểu ng v xc phm; Kinh Thnh, đặt tn linh hồn v thể xc; Lo học cũng ni đến bản ng v con người. Ti suy nghĩ nhiều về sự lin hệ giữa thực thể v hnh, bản ng đch thực khng ai c thể nhn thấy của ti tạm gọi l linh hồn v xc thn trong cuộc sống. Cứ theo cảm nghiệm nhận được, những g chng ta gọi l tm l, lương tm, l tr, tr khn, nhận thức, thức đều thuộc về linh hồn. Những hnh động, nghĩ, suy tư trong cuộc sống khng một cht no dnh bn tới xc thn m ngược lại; xc thn chỉ l cng cụ thể hiện hoạt động của linh hồn. Trong khi linh hồn ti lơ lửng nơi trần nh, định luật hấp lực đ khng cn ảnh hưởng. Hồn ti phất phơ trn khng trung đồng thời nhận thực được rằng thực thể được gọi l ti khng lệ thuộc bất cứ g nơi trần gian v n bất diệt dẫu khng ai nhận ra, ngay cả chnh ti từ bao năm qua. Lc ấy ti mới c cu trả lời chnh xc cho nỗi thao thức từ lu v nội tm đ cảm thấy thiếu thốn một thứ g khng thể diễn tả được. Ti l một thực thể tm linh bất diệt, khng thể no chết. Cũng như mọi người, ai cũng l một thực thể tm linh m kinh sch gọi bằng nhiều danh hiệu khc nhau ty thuộc quan niệm nhận thức. Thực thể ny hon ton độc lập v l chủ thể chịu trch nhiệm tất cả mọi hnh vi, nghĩ nơi con người. Như vậy, phần thn xc khng phải l chnh phạm hay chủ động của cc hnh vi, suy tưởng, định, m linh hồn, tm v hnh, mới thực sự l chủ phạm. Xc thn, tr c của ti khng thể khởi niệm nếu ni theo nh Phật. N cũng khng thể c vọng niệm v n đang bất động, sng xoi dưới những bn tay y t, bc sĩ, v những vật dụng y khoa giữa đm bạn lnh của ti m chưa c được lấy một phản ứng no trong khi hồn ti nhận thức cũng như cảm nhận r rng nỗi lng, muốn từng người pha dưới. Xc thn ti như thế tuyệt đối yn lặng chẳng khc g dụng cụ y khoa hay những đồ nghề nơi tay người thợ. N chẳng qua chỉ l cng cụ cho tm, linh hồn bất diệt được gọi l "ti." Một điều khng thể chối ci đ l tm thức của ti khng hề kết hợp với ci nhục thể được gọi l thn ny. Dẫu xc phm của ti tăng trưởng v thay đổi theo ging thời gian nhưng linh hồn ti trước khi sinh ra đ như thế. N dng thn xc lin hệ với cuộc sống hầu pht triển tm thức cho trưởng thnh hơn m vẫn biệt lập, hon ton khng một cht kết hợp chẳng khc g những bộ o quần dẫu đẹp đẽ đến mấy, được ưa thch đến mấy đối với mọi người.

    - Suy rộng hơn, ti nhận ra thực thể tm linh, cn được gọi l sự sống, sự hiện hữu, l gốc gc, căn bản, mặc lấy xc phm. Sự hiện hữu được thể hiện qua mọi hnh thức sống động nơi con người, động vật, hay bất động vật nơi cy cối, gỗ đ, cũng như nơi ci v hnh m linh hồn ti hiện hữu. Sự sống, sự hiện hữu hiện diện trn ngập qua mọi hnh thức, trạng thi. Từ hữu thể v tri gic, bất động đến thực thể tm linh thức ngộ v sự hiện hữu khng phải l một ci g bất động. Dẫu sự hiện hữu nơi thế giới hữu hnh tun theo cc định luật khoa học nhưng mang tnh chất huyền nhiệm sống động v biến chuyển trong thn thể, tư tưởng, tnh cảm, thức con người. Từ sự nhận thức ny, tm tr ti đ hon ton thay đổi v trở thnh mẫn cảm hơn, cảm nhận được sự mầu nhiệm của sự hiện hữu thường được gọi trong ngn ngữ hạn hẹp hơn đ l sự sống. Đối với ti, sự hiện hữu, cội nguồn hiện hữu hay quyền lực hiện hữu hoặc bản thể hiện hữu chnh l Thực Thể Tối Thượng đang hiện diện v hoạt động nơi mọi người, mọi vật hữu hnh hay v hnh. Như vậy, ci đời l mi trường, cơ hội, hay phương tiện cho thực thể tm linh của mỗi người rn luyện, một trường học hay giai đoạn để ci "ta" đch thực hay linh hồn thăng tiến. C điều, ti vẫn chưa cảm nghiệm đch thực được sự lin hệ giữa linh hồn với Thực Thể Tuyệt Đối thế no dẫu linh hồn cũng như mọi sự mang Thực Thể Hiện Hữu Tuyệt Đối. Thế nn chẳng lạ g, cc kinh sch đều khuyến khch chng ta nhận thức về điểm quan trọng đầu tin, phải biết mnh l g v được sinh ra để lm g.
    - Xt như vậy, sự chết xc thn l một điều hiển nhin v cần thiết v nhờ c sự chết người ta mới thức được sự sống. Chết l một điều hiển nhin v thn thể, hao mn theo năm thng, hư hoại do ảnh hưởng của gi lo, bệnh hoạn cần phải được thay thế bằng một thn thể khc mới mẻ v tốt đẹp hơn để linh hồn tiếp tục cc kinh nghiệm đ được học hỏi hầu pht triển hơn nữa. Đng khc, sự học hỏi sắp đặt cc kinh nghiệm cấu tạo nn tr thng minh. Nhưng thng minh khng phải l nấc tiến cuối cng trong mức tiến ha như nhiều người lầm tưởng bởi tm thức cn phải vượt ln từ v thức đến thức v từ thức đến trạng thi thức tuyệt đối nơi tất cả mọi hnh động, lời ni đến tư tưởng của mnh. Từ kinh nghiệm kch ngất ti nhận r rng sự thể v đ l những nghĩ, ước muốn, tham vọng cho đến lời ni, hnh động đều pht xuất từ thực thể tm linh, linh hồn, chứ khng phải do thn xc. Ngay như bộ c, hệ thống thần kinh vẫn chỉ l cng cụ th thn xc cũng khng hơn được chi. Thể xc con người chỉ l một lớp vỏ, ci vỏ nhục thể bn ngoi bao bọc nếu khng muốn ni l giam hm linh hồn bất diệt. Một tử thi khng c gi trị g nếu khng muốn ni l chỉ lm phiền người sống. Như vậy, trong trường hợp chết tự nhin, nghĩa l khng phải do tai nạn bất đắc kỳ tử, th đy l diễn biến của sự chết xc thn. Ci thể xc mệt mỏi, gi cỗi đ trở nn bất tiện cho linh hồn đến mức khng cn c thể gip cho linh hồn tiến ha nữa; đ l lc cần phải loại bỏ lớp vỏ bn ngoi v xuất ra khỏi thể xc vật chất (TTHB; Tr.181). Ngy no người ta thức được sự sống bao la mầu nhiệm v khi hiểu được gi trị sự sống th sự chết chỉ l một hiện tượng tự nhin, một trạng thi cần thiết khng c g đng phải e ngại nhưng lại l cơ hội khng thể thiếu cho hnh trnh thăng tiến tm thức của con người. Từ đ, ti thực sự nhận được rằng ti khng phải chỉ l ci xc thn theo ngy thng trở nn gi lo, sắp qua đi ny m l linh hồn, một thực thể tm linh bất diệt.


    MBVN 07

    - Sau ny, cng suy luận về thực thể linh hồn, ti cng nhận ra chng ta khng thể kết luận bừa bi một cch ngu dốt về nghĩa của sự sống qua ci nhn phiếm diện v giới hạn của một kiếp sống ngắn ngủi m cần kinh nghiệm n như một sự tiếp diễn lin tục. Chết khng phải l chấm dứt sự sống m chỉ l một giai đoạn biến chuyển của sự sống cũng như ngy v đm, sng v tối. Hơn thế nữa, chết thực sự l cơ hội thăng tiến tm linh. Xt qua hnh trnh lịch sử nhn loại hay của vạn vật, sự sống vẫn tồn tại giữa những cơn tn ph, hủy diệt. Bởi vậy, hẳn l phải c một định luật cao cả hơn định luật hủy hoại trong thin nhin. Chỉ c định luật ấy mới đem đến một x hội c trật tự, điều ha v mới ni ln được nghĩa của cuộc đời. Nếu sự biến chuyển l định luật của đời sống, chng ta phải thể hiện n trong cuộc đời hằng ngy. Trong mọi cuộc tranh chấp xung đột, mỗi khi chng ta phải đương đầu với một địch thủ, hy chinh phục họ bằng thức sự sống vĩnh cửu nơi mnh cũng như nơi người. Nhận ra như thế, cuộc đời chnh l cơ hội v cũng l ng thầy tm linh của chng ta.
    - Dng kinh nghiệm khi kch ngất để nhận định những tiến triển khảo st tm l, ti thấy cc nh bc học về tm l chưa dm cng khai nhn nhận một cch thẳng thắn rằng cn nhiều điều mới lạ m họ chưa thể hiểu nổi, hoặc đ v thiếu lương tm nghề nghiệp khng dm bỏ giờ nghiệm chứng, hoặc đi khi v tnh cảm nhận được th cũng khng dm tuyn bố những điều khng ph hợp với quan niệm thng thường bởi khng cch no chứng minh, hay do nỗi e ngại bị đồng nghiệp phản đối ảnh hưởng đến miếng cơm manh o nn cũng khng dm ln tiếng về những điều chưa được đa số quần chng chấp nhận. D tự do tư tưởng được tn trọng, cc khoa học gia vẫn khng dm vượt qua bức mn thin kiến cố hữu con đẻ của tự ti mặc cảm hoặc qu cao ngạo thnh ra tự đng khung tr tuệ chẳng khc g kẻ m bẩm sinh cho rằng khng c mặt trời. Họ khng dm đả ph cc thnh kiến cố hữu c thể v e sợ khng được chấp nhận thuộc về hng ngũ no đ. Họ e sợ dư luận v bm vu một cch lạm dụng l thuyết cho rằng những g chưa được kiểm chứng bởi khoa học th sẽ khng xẩy ra. C lẽ cũng v thế m quan niệm của đa số quần chng với đời sống vẫn cn l một ci g m mờ, khng r rệt, khng mục đch, v cũng khng biết sống để lm g. Người ta chỉ ch trọng đến những lợi lộc ph du, những gi trị vụn vặt nhỏ nhen vật chất ngắn hạn trong thế giới đầy rẫy những thay đổi v thường, bỏ tiền mua đi giy pht vui vẻ tạm bợ hầu tạo thm khoảng trống tm tư để rồi cng ngy cng chịu gnh nặng c độc lầm lẫn m ảnh.

    Lời cụ Ti điềm đạm, trầm trầm, mang thm tnh chất xt thương khi ni tới nhận thức của những tm l v khoa học gia nhận định về sự sống nhưng mang năng lực cuốn ht v thức động thực thể no đ nơi lng tr mọi người.
    - Thưa bc, Tam ph bầu kh nghim trọng nặng nề, thế lc hồn bc lơ lửng trn trần nh, bc c thấy hnh dng ra sao khng?
    - Lc đ ti khng để chuyện ny m chỉ cảm thấy vui sướng đồng thời thm cảm tm tnh anh em bạn lnh đang cầu nguyện cho ti nơi phng cấp cứu. Sau ny, ti cố tra cứu sch vở ni về hnh dng của hồn th hầu hết những sch bo tra cứu về kinh nghiệm ny, đặc biệt nơi những cuốn sch tự thuật nơi hnh trnh thiền định mật tng đều cho rằng hồn c hnh dng như thn xc của một người nhưng mắt trần khng thể nhn thấy. Ti c biết một người Mỹ, Cng gio, tn l Bob, bị kch ngất bởi đứng tim v ng ta được cứu sống. Tuy nhin theo như lời vợ ng ta kể, ngay khi được cứu sống lại, ng ta rất bực bội v cho rằng họ đ cướp mất sự hạnh phc m ng ta vừa đạt tới. Hiện giờ, ng ta rất sng đạo, tham gia cc sinh hoạt của nh thờ Cng gio nhưng đi khi phn nn về những lời giảng của linh mục l khng hợp với kinh nghiệm về tm linh đ xảy đến với ng.
    - Thưa bc, ng ấy phn nn thế no? Ty con chen v.
    - Hy để bc ni tự nhin! Đang khng chen v mất hứng.
    - Để ti trả lời anh Ty rồi ni tiếp về vụ ng Bob. Thm vo đ, những g cảm thấy cần được biết, anh em cứ việc hỏi bởi đi khi vấn đề được đặt ra khng quan trọng với người ny lại c thể cần thiết cho người khc. ng Bob ni rằng c lẽ v khng c cảm nghiệm về thực thể linh hồn một cch r rng, hầu hết cc linh mục hoặc mục sư đ khng c cảm nghiệm thực sự về Thượng Đế thế no m c chăng ni đến Thin Cha như một thực thể được nhn cch ha, duy l theo suy luận nhn sinh, ngự trị nơi ci xa xăm no đ cch biệt với con người, v đặc biệt khng ph hợp Phc m. ng Bob ni với ti, kể từ ngy ng c cảm nghiệm qua kinh nghiệm chết, đọc Phc m, ng ta hiểu hon ton khc với những g được giảng dạy. ng c nỗi thao thức rất mạnh mẽ sao cho mọi người nhận thực được thnh phần tm linh nơi họ. Theo ng, Phc m viết về hnh trnh của thực thể tm linh được gọi l linh hồn trong khi người ta cứ hiểu Phc m qua nhn quan lun l hoặc tm tưởng đạo đức. Ti nghĩ, l do m ng ni những điều ny với ti v khi gặp ng lần thứ hai, ti kể về chuyện được cứu sống nơi lần kch ngất. Hơn nữa, những g ng kể về kinh nghiệm chết khng c g đối nghịch với kinh nghiệm của ti; sự thng cảm c lẽ pht xuất từ điểm ny...
    - ng Bob ni rằng ng gặp bố v ng nội của ng ta. Người bố đ chết chn năm trước v ng nội đ chết hai mươi bẩy năm. Lc ấy, ng cảm thấy nỗi an bnh tuyệt vời, một trạng thi chưa từng c trong suốt cuộc sống của thn xc ng. Đồng thời ng nhn thấy một nguồn sng lạ kỳ, khng thể diễn tả m ng gọi l nh sng của đức Kit ko ng tới. Cứ theo sự kể lại ny th linh hồn c hnh dng của một người khi cn sống. Anh em c thể đọc thấy nhiều mẫu truyện hay phỏng vấn ghi lại nơi cuốn sch B Ẩn về Tiền Kiếp Hậu Kiếp do Đon Văn Thng bin soạn. Điểm khc biệt giữa kinh nghiệm của ti v của ng Bob đ l ti đ khng gặp hồn những người đ chết m nhận biết r rng mọi biến chuyển nơi phng cấp cứu khi bc sĩ v y t gip tim ti đập lại cũng như cảm nhận những tấm thịnh tnh của anh em bạn lnh nhưng khng để về hnh dng thực thể v hnh của mnh. ng Bob nhận ra bố v ng nội nhưng khng biết g về hoạt cảnh xảy ra nơi phng cấp cứu. Dẫu cảm nghiệm khc biệt nhưng tựu trung cả hai trường hợp của ti v ng Bob đều chứng tỏ chng ta thực sự l những hữu thể v hnh m thn xc chỉ l cng cụ nơi cơ hội c cuộc sống hữu hnh để tiếp tục học hỏi v thăng tiến. Đy chnh l l do tại sao ti khng theo bất cứ một tn gio no m chỉ tm hiểu về đạo học. Ni chuyện với kh nhiều người, điều khiến ti ngạc nhin l sự hiểu biết của họ rất m mờ về tn gio. hoặc chỉ hiểu đại khi về tn gio như tổ chức họ phải ty thuộc nơi cuộc đời ny chẳng khc g một loại bảo hiểm m gi phải trả l tun theo luật lệ tn gio để hưởng phc sau khi chết hoặc v lo sợ bị luận phạt nn cố gắng p mnh p xc chấp nhận chịu sự khổ đời ny hầu trnh phải chịu nơi cuộc sống kế tiếp. C thể do khng muốn hiểu biết nn t người chịu tm hiểu về cc đạo học do đ thi độ về tm linh mang phần no tnh chất khon trắng sự tm hiểu cho những vị tu sĩ trong khi nghĩ rằng cứ tun theo những g cc vị đ ni l đ chu ton trch nhiệm hay bổn phận. Phỏng thi độ ny do bởi khng c hoặc khng muốn biết cảm nghiệm tm linh chăng. Hơn nữa, cc vị giảng thuyết tn gio dẫu hiểu l thuyết nhưng chưa chắc đ thực sự c được những cảm nghiệm tm linh th sao họ c thể rao giảng hoặc chỉ bảo cho tn đồ. Ai khng biết muốn hết kht phải uống nước; tuy nhin, l thuyết về lợi ch của nước v hnh động uống nước l hai sự thể khc biệt. Tri qua những năm thng tm hiểu m vẫn cn nhiều điểm khc mắc, ti tự nhủ đnh chấp nhận; chẳng hạn l do g đ bao ngn năm con người vẫn chưa nhận ra hoặc khng muốn nhận ra mục đch v thực thể tm linh của mnh nơi cuộc sống. Nơi cơ hội cuộc sống, chng ta học hỏi được g v cần học hỏi những vấn đề no thật kh m phn tch được. Như anh em đ biết, nguyn tắc cốt yếu nơi nh Phật để nhận ra thực thể tm linh nơi mnh l kiến tnh, nhưng muốn kiến tnh no phải dễ dng chi, ngược lại, nếu ai đ đạt tới mới nhận ra tất cả những cng sức cho tiến trnh kiến tnh thật l v gi trị nhưng khng c chng khng được. Lo học đưa ln cu ni "Khng lm g m khng việc g l khng lm" (LTĐĐK; Tr.96), hay được ni một cch gọn ghẽ, khng lm g l lm tất cả. Nơi Kinh Thnh, Phc m khuyến khch hy tỉnh thức v cầu nguyện (Mt. 26:41; Mc. 14:38). Ấn học cho rằng xả kỷ l nhn đức quan yếu nhất (CTC; Tr.164). Anh em nhận thấy, d lối pht biểu thoạt nghe coi bộ khc biệt nhưng thực ra chỉ khc ngn từ m đồng một nghĩa. Kiến tnh chỉ l trực diện tm thể. Trực diện tm thể đu cần suy nghĩ, hoạt động g th đu cần lm g vẫn đạt tới mục đch tối thượng l nhận chn thực thể nội tại. Tỉnh thức để nhận ra tm thể, linh hồn, hon ton khc biệt thn xc nơi dng đời v trực diện tm th những g thuộc về vị kỷ đu cn thế đứng hay ảnh hưởng. Thế nn, d xả kỷ, tỉnh thức, khng lm g, hay kiến tnh cũng chỉ l một m được gọi khc nhau. Điều ny cũng giống như cng một vật thể bằng thủy tinh dng để uống nước, người miền Bắc gọi ci cốc, người miền Nam gọi ci ly. Ấy thế m ngy xưa vo thời di cư 1954 đ c kh nhiều chuyện rắc rối pht sinh phiền no bởi người gọi ci cốc th bảo ci ly sai, người gọi ci ly ni ci cốc khng đng! Ti nghĩ, gọi l ly hay cốc chẳng thnh vấn đề, miễn sao c thứ đựng nước uống l được; đy cũng c thể l một trong những l do gip ti tm hiểu đạo học.
    - Điểm thực dụng chung cc đạo học nu ln l lng thương xt, từ bi, bc i, phục vụ tha nhn. Tuy nhin, điểm chung ny cũng đi hỏi điều kiện hiểu biết đng đắn chứ khng phải cứ m mờ nghe sao biết vậy để rồi thực hiện một cch thiếu hiểu biết; coi chừng chẳng những hại người m hại cả chnh mnh. Ti nghĩ, cho d mục đch của cc đạo học chỉ l cố gắng khuyến khch con người nhận thức được thực thể tm linh m nơi thực tại cuộc sống rất t ai đạt tới điểm khởi đầu ny. C lẽ chưa tới thời điểm cho con người nhận ra chăng, hoặc cn c phương cch no khc m lc ny vẫn đang l thời gian chuẩn bị.
    - Bc lm ơn giải thch l do tại sao được gọi l thời gian chuẩn bị.
    - Thực ra, bất cứ nhận xt no được gọi l l do th cũng vẫn l suy tư phỏng đon bởi ngay qu anh chị đang hiện diện nơi đy vẫn chưa chứng nghiệm được thực thể tm linh nơi mnh m vẫn khng biết l do th ai c thể ni được l do chnh xc! Ti muốn nu ln một bằng chứng cụ thể, nghiệm được hay khng ty mỗi người, đ l nếu ai cảm nhận thực sự mnh l thực thể tm linh, hay linh hồn, tất nhin, nhn quan, thi độ, cch sống sẽ hon ton khc biệt với những người chung quanh, v thường bị người đồng thời c nhận xt qua hai chiều hướng thật đối nghịch, hoặc l thi độ tn trọng, knh phục nhưng cảm thấy rất kh hiểu, hoặc cho rằng đ l một người dị hợm. Thử hỏi, khi nhận ra mnh l một thực thể bất diệt, mọi hnh vi, thi độ, ngay cả tư tưởng đều ảnh hưởng trực tiếp tới cuộc sống tm linh, ai dm cả gan c những nghĩ hay lời ni dự đon tới người khc phương chi l thi độ hay hnh động. Hơn nữa, người thực sự cảm nghiệm được thực thể tm linh nơi mnh sẽ nhận ra d chỉ l nghĩ, tự n đ mang quyền lực tc thnh một thực thể v hnh; phỏng người đ dm khởi xướng bất cứ định no nữa khng? Ti muốn ni thm, chỉ ai đ đạt đến sự cảm nghiệm ny mới c thể hiểu được tại sao nh Phật nhấn mạnh về v niệm v đồng thời cũng mới c thể hiểu được gi trị của những cu thần ch, niệm ch, hoặc lời kinh Kim Cang, "Cc ng chớ bảo Như Lai khởi nghĩ thế nầy: Ta sẽ độ chng sanh..." (KCGL; Tr.241).
    V thế l bn dn thin hạ cảm thấy lng ruột giao động, ngay cả những người khng để g đến đạo Phật. Đạo Phật l đạo giải thot, đức Phật nhập niết bn để độ chng sanh thot khỏi những nỗi khổ ải; xưa nay ai khng hiểu như thế! Nếu đức Phật khng độ chng sanh th ai c thể được giải thot! Thế m cụ Ti nu ngay cu ni nghịch hẳn với quan niệm đạo Phật, chẳng khc g Hưng. Hnh như cảm nhận được điều g, đi mắt cụ Ti chợt nh ln, miệng nhẹ mỉm cười nhưng thi độ vẫn điềm đạm. Đưa mắt rảo qua cc gương mặt đang chăm chăm nhn mnh, cụ ln tiếng,
    - Nhắc tới nửa cu ni của đức Thch Ca nơi kinh Kim Cang, nếu ti khng lầm th hnh như mấy anh em Cng gio cũng c vẻ bất đồng !
    - Thưa bc, Sỹ nh con nhanh nhẩu, c lẽ v bc ni đức Phật khng độ chng sinh.
    - Anh ni rất hợp l với lối hiểu biết m mờ về nh Phật. Cu kinh ni về quyền lực của niệm, nghĩ, ước muốn, vọng tưởng, tham vọng, thuộc về tm linh chứ khng phải độ tr hay giải thot con người. Trước hết, kinh sch Phật học khng ni đức Thch Ca hay bồ tt giải thot hoặc cứu độ bất cứ ai m sự giải thot pht sinh tự hnh giả, do từng người nghiệm chứng ph vng v minh đạt tới thức ngộ. Anh em khng nhớ tuần trước anh Hưng đ giải thch rồi sao? Ti nhắc lại cu kinh, "Cc ng chớ bảo Như Lai khởi nghĩ thế nầy: Ta sẽ độ chng sanh. Nầy Tu Bồ Đề, chớ khởi nghĩ thế ấy. V cớ sao? Thật khng c chng sanh Như Lai độ đ. Nếu c chng sanh Như Lai độ đ th Như Lai ắt c ng, nhơn, chng sanh, thọ giả" (KCGL; Tr.241). Như vậy, cn niệm, cn khởi nghĩ th cn tạo chng sanh nn khng c niệm th khng c chng sanh. Bởi thế, v niệm tức l khng tạo chng sanh, khng tạo nghiệp, ni cch khc tức l độ. Cu kinh thoạt nghe mang nghĩa phiếm diện giải thch cứu độ hoặc giải thot người khc. Nếu qun tưởng chn chắn hơn, cu kinh ni về quyền lực kiến tạo của niệm.
    - Qu anh em Cng gio c lẽ đ được nghe hay đọc nhiều lần về cu Phc m, "Phm ai nhn người nữ để thỏa lng dục th đ ngoại tnh với n trong lng..." (Mt. 5:28), hoặc "Phm ai tức giận anh em mnh th sẽ can n..." (Mt. 5:22). C phải thoạt nghe ai cũng đều cho rằng những cu Phc m ny dạy về lun l phải khng? Ti thử đặt vấn đề, mắc mớ g Phc m phải răn dạy lun l trong khi dn tộc no m khng c nền văn ha, lun l, đạo đức ring? Nếu c dịp, qu anh chị thử đếm xem Phc m được bao nhiu chữ, Lo học bao nhiu, Trang Tử, kinh Kim Cang, Vin Gic, Php Bảo Đn Kinh, Ch Tn Ca, xem mỗi kinh di ngắn ra sao. Cc kinh sch đạo học được viết rất ngắn, rất gọn. Thế m cũng nơi Phc m, đ bao giờ anh em Cng gio tự đặt vấn đề tại sao cu ni kỳ cục "Ai c tai th hy nghe" (Mt. 11:15) lại được thm vo khiến người mới đọc hay nghe đều cảm thấy thừa thi, khng cần để ; m đu chỉ một lần, những tm lần lập đi lập lại đến độ chối tai. Hai ngn năm tri qua, ti nghĩ, chưa ai dm đặt vấn đề về cu ni thừa nhưng qu ư thm trầm, u mặc ny.
    - Qua kinh nghiệm thot chết, ti nhận thực được linh hồn con người hm chứa quyền lực v song. niệm, nghĩ, ước muốn, pht sinh từ linh hồn nn chng cũng mang quyền lực tc tạo. Nh Phật nu ln niệm tạo chng sanh, Phc m ni tức giận anh em th bị can n, nhn người nữ để thỏa lng dục th đ phạm tội ngoại tnh trong lng. Ti nghĩ, từ nghiệm chứng quyền lực tm linh ny pht sinh sự thực hnh thiền, mật tng, điểm đạo, Zen, v cc phương thuật m chng ta thường gọi l php lạ.
    - Thưa bc, B ln tiếng, con c mấy cu hỏi cng một lc, nếu được, xin bc giải thch thm.
    - Anh cứ việc hỏi.
    - C cu ni, chng ta chỉ c thể biết được những g đ c, đ được sinh ra với chng. Theo như kinh nghiệm trở về từ ci chết của bc, cu Phc m "Thần Kh mới tc sinh, xc thịt th khng ch g" (Gioan 6:63) c thể hiểu theo nghĩa no v cũng c cu khc ni, "Sự g sinh bởi xc thịt l xc thịt, v sự g sinh bởi Thần Kh l Thần Kh" (Gioan 3:6). Như vậy, nếu ni rằng xc thịt khng ch g th phương tiện no cho con người thức ngộ tm linh? Thm vo đ những vấn đề bc vừa nhắc tới, tức l sự lin hệ của quyền lực nơi nghĩ với thiền, zen, mật tng, điểm đạo, cc phương thuật, v nếu chu khng lầm th cả về thuốc trường sinh nữa.
    - Sau nhiều ngy thng suy gẫm về sự thể m anh gọi l trở về từ ci chết, ti nghiệm được một điều đ l linh hồn chịu ảnh hưởng giới hạn chứ khng lệ thuộc thn xc. Sự kiện ny khng khc g con người chịu ảnh hưởng văn ha dn tộc, địa dư sinh sống, hoặc nhn quan ty thuộc thời điểm tiến ha. Điển hnh hơn, hy v thn xc như những dụng cụ thường dng chẳng hạn chiếc ba đng đinh. Thay v đng đinh chng ta đập ngay vo ngn tay th tại ba hay tại người đng. Đng khc, ty đồ vật c thể sử dụng vo nhiều cng việc hay t, người sở hữu đồ vật ấy c nhiều cơ hội hon thnh những việc theo muốn hay khng. Tương tự như thế, thn xc chỉ l dụng cụ cho linh hồn trong hnh trnh tiến ha tm linh. Nơi mi trường hay thời điểm thiếu pht triển, tất nhin hnh trnh tm linh bị giới hạn. Ngược lại, anh em thường nghe cu, "Lng buồn cảnh c vui đu bao giờ." Điều ny ni ln thn xc lệ thuộc tm trạng linh hồn dẫu khi chiếc răng hay bộ phận no trong cơ thể đau yếu ảnh hưởng sự suy tư của linh hồn. Ni cho đng, sự ảnh hưởng ny chỉ giống như sự trục trặc của thnh phần no đ nơi bộ my xc thn ngăn cản sự thể hiện hoạt động của linh hồn nơi thế giới hữu hnh.
    - Xt về mối lin hệ giữa linh hồn v thn xc, tất nhin thn xc rất cần thiết cho sự thăng tiến tm linh, t nhất trong giới hạn con người c thể cảm nhận v nghiệm chứng được v khng c thn xc sao chng ta c thể ni tới tm linh. Tuy nhin, đem so snh hai thực thể, vĩnh cửu v giai đoạn, c lẽ khng chỉnh. Đng khc, dng biểu tượng hữu vi để bắc cầu nhận thức, thn xc chỉ giống như dụng cụ hoặc ti tớ của linh hồn nn chng ta khng thể đnh gi linh hồn qua gi trị thn xc. Lẽ đương nhin, người ta khng thể ln n một vị gim mục v ng ta c một tn lm vườn th lỗ! Cũng như người ta khng trng mong người lm vườn ấy sẽ trở nn một vị thnh chỉ v y lm ti tớ cho một vị gim mục (TTHB; Tr.82). Ni như vậy ti hy vọng c thể giải đp được phần no cu Phc m "Thần Kh mới tc sinh, xc thịt th khng ch g." Trong Phc m cn c cu khc ni về sự lin hệ giữa linh hồn v thn xc nhưng nếu khng để nhận thức chn chắn, chẳng dễ chi hiểu nổi. Đ l cu, "Điều tự trong lng người ta pht sinh ra, điều đ lm cho người ta nhơ uế" (Mc. 7:22). C lẽ v được viết nơi phần giải đp về quan niệm nhơ uế nơi x hội Do Thi ngy xưa nn cu Phc m chỉ được viết gọn như thế. Quyền lực tc sinh định, ước muốn, tham vọng, tự bản thể tm linh đ bị hiểu lầm l sản phẩm của bộ no, quả l thiếu st v thấp km. Cu Phc m "Sự g sinh bởi xc thịt l xc thịt, v sự g sinh bởi Thần Kh l Thần Kh" coi bộ rất thường nn khng mấy ai để nhưng thực ra khng đơn giản chi. N ni ln thực trạng phn biệt r rng giới hạn lin hệ giữa linh hồn v thn xc. Linh hồn bất tử nn khi nhục thể của chng ta gi yếu, khng gip ch g cho hồn thăng tiến được nữa phải bị bỏ đi; đ l sự chết để hồn tiếp tục cơ hội mới trong hnh trnh thăng tiến. Ti nghĩ, đy l căn bản cho sự lun hồi xưa nay vẫn bị hiểu một cch sai lầm nơi giới bnh dn về đạo học Đng Phương. C điều, qua sự hiểu biết về những phương php thực hnh p dụng quyền lực tm linh nơi thiền, mật tng, điểm đạo, dẫu ti khng thực hnh, ti xc tn rằng, linh hồn cũng mang quyền lực biến thi xc thn nếu người no biết sử dụng quyền lực ny đng cch. Phỏng đy l một phần tạo nn nguyn tắc cho sự tm kiếm thuốc trường sinh bất tử hay khng, ti chưa dm xc quyết. Anh em c thể thử nghiệm năng lực hội tụ của chiếc knh lp. Dng knh lp cho hội tụ nh sng mặt trời sẽ pht sinh lửa đốt miếng giấy. Cc phương php mật tng, thiền, điểm đạo, hay phương thuật sử dụng quyền lực định, v sự tưởng tượng hội tụ nơi phương diện no đ, tất nhin pht động biến chuyển. Nguyn tắc l thuyết chnh yếu chỉ c thế nhưng p dụng trong thực hnh lại cần rất nhiều điều kiện chẳng hạn thể chất xc thn, thức, sự hiểu biết, niềm xc tn của hnh giả, cũng như sự chỉ dẫn đng đắn của vị thầy đ dầy cng v hon thnh thực chứng. Nếu khng c đầy đủ những yếu tố quan thiết ny, người thử nghiệm v tnh tạo nn hậu quả khng thể đo lường được. C lẽ v những đặc tnh nguy hiểm kh lường của sự thực hnh m những vị chn sư hoặc đạo sĩ đạt đạo đ khng ai dm viết thnh sch chăng. Sau nhiều suy luận, ti nghĩ, đy khng phải vấn đề ch kỷ m lại l sự bảo vệ những người hiếu kỳ thiếu thức trnh khỏi lầm lỡ lớn lao đng tiếc. Chẳng hạn những cu thần ch, ai cũng c thể đọc m sao người th đạt ước nguyện, kẻ lại khng cảm thấy g; đồng thời c những người dng thần ch để đạt nguyện ước lại phải đối diện với gi trả khng muốn cht no.
    - Thưa bc, nếu người p dụng quyền lực tm linh vo thực hnh khng đng cch sẽ bị hậu quả thế no?
    - Ni về hậu quả pht sinh bởi sự thực hnh thiền, mật tng, hay điểm đạo, đi hỏi sự am hiểu quyền lực của định, nghĩ, ước muốn, nn giới hạn bao gồm nhiều phương diện. Chẳng hạn sự tế lễ hoặc cng bi, thiền, nếu khng c lng thnh, tạm gọi tm , đều trở nn v ch v đ chỉ l những hnh động của một thn xc v hồn. Những sự thực hnh cc phương thức thiền, mật tng, căn bản dựa trn sự sử dụng quyền lực tm . Sự qun tưởng trong mật tng chỉ l dồn mọi năng lực vo sự tưởng tượng. Anh em nn nhớ, nghĩ, ước muốn, ước mơ l hoạt động của linh hồn nn chng mang quyền lực chứ khng phải chng pht xuất từ bộ c v bộ c hay hệ thống thần kinh chỉ l phương tiện. Hnh giả khi thực hnh cc phương thức pht triển quyền lực nội tại sử dụng chnh quyền lực nghĩ, định hay ước muốn chứ khng c g được gọi l b mật. Chỉ một điểm khc biệt đ l họ dồn mọi nỗ lực vo một định, hoặc một niệm thay v những mơ ước khng đch xc như chng ta thường để tm tr ao ước mng lung, khng r rệt. Sự chỉ dẫn thực hnh ở cuốn Du Gi Lục Php của Naropa chứng tỏ r điều ny nơi những chương qun tnh khng của thn xc, qun cc kinh mạch chnh yếu, kiểm sot tinh chất (Tr.40-47). Sự qun tnh khng, cc huyệt đạo trung ương hoặc giọt tinh chất chỉ l dồn mọi năng lực tập trung để tưởng tượng cho tới khi nhn thấy r rng những hnh ảnh được đặt ra nơi mnh. Chẳng hạn qun về cc huyệt đạo chnh, hnh giả phải ngồi thiền để tưởng tượng đến khi no nhn thấy huyệt đạo trung ương ở trung tm của cơ thể từ đỉnh đầu nối qua điểm giữa hai lng my v chạy xuống tới đan điền. Chnh sự định tm tưởng tượng ny tạo nn hnh ảnh hon ton khc biệt với những g khoa học phn tch về con người. Tuy nhin, ni như vậy qu mơ hồ v chỉ ai thực hnh, người ấy mới c thể thực chứng quyền lực tưởng tượng đạt tới kết quả no.
    - Thưa bc, như thế, qun tưởng chỉ l tưởng tượng.
    - Khng phải chỉ l sự tưởng tượng sung m l sử dụng quyền lực tm linh p dụng nơi tưởng tượng. Ti đề nghị, chng ta khng nn bn thảo thm về điểm ny v đy l sự thực hnh chứ hiểu biết chẳng đem lại ch lợi g. Sở dĩ ti nhắc tới chỉ cốt để chứng minh sự tưởng tượng, nghĩ, định pht xuất từ linh hồn, thực thể tm linh nơi mỗi người, v như thế, chng đều mang sẵn quyền lực tm . Quyền lực ny l căn bản cho tất cả cc phương php thực hnh mật tng, thiền đại định, điểm đạo, php thuật, ph thủy, cũng như sự xuất hồn chu du nơi cc ci giới v hnh hoặc pht triển khả năng sử dụng thần nhn.
    Cụ Ti ni một cch xc quyết khiến lng dạ ai nấy cảm thấy ước muốn biết về phương php thực hnh để c được quyền năng thần thng no đ. Tm l chung ai khng thế, biết chỉ để được gọi l biết chứ khng thực biết thnh ra muốn biết hết mọi sự.
    - Thưa bc, Sỹ nh con nhanh nhẩu chừng như e khng ni vội, kẻ khc chuyển đề ti, bc ni thực hnh thế no?
    - Anh muốn thực hnh hay chỉ muốn biết phương php thực hnh? V nếu thực hnh, anh muốn biết phương php đạt tới tm thức giải thot, hoặc pht triển năng lực nội tại, hoặc mật tng hay Yoga, điểm đạo, hoặc muốn biết về phương thuật, ph thủy?
    Thế l chẳng những Sỹ nh con m mọi người tham dự bữa tiệc đều cảm thấy bối rối. Họ bối rối v khng biết mnh muốn g dẫu cảm thấy ước ao muốn biết. Đợi t giy cho mọi người tự cảm nhận, cụ Ti ni tiếp,
    - Ni chung, chng ta thường khng biết mnh muốn g nn khng định tm r rng nơi bất cứ vấn đề no. Ti thử nu ln một th dụ. Mọi người đều cần tiền bạc lm phương tiện gip cho cuộc sống, nhưng tm chng ta khng thực sự định nơi chủ đch kiếm tiền, v c tiền, nn đ bỏ lỡ rất nhiều cơ hội, đồng thời v ước muốn lung tung do đ đ nhiều khi hoang ph lm tiu hao biết bao cng sức. C thể ni, chng ta muốn tất cả mọi sự cng một lc. Chẳng hạn vừa c tiền, vừa c danh, lại muốn c xe đẹp, nh cao cửa rộng, v nhiều thứ phụ thuộc lắm khi đến độ khng cần thiết hay mang hại cho chnh bản thn. Lấy đặc tnh của tấm kiếng hội tụ để so snh, nếu chng ta dồn tm v tất cả năng lực vo một mục đch nơi giai đoạn no đ trong cuộc đời, c thể ni, mọi định sẽ được thực hiện một cch hon hảo. Ti đề nghị anh em nn tự nghiệm thử lng mnh bằng nhiều cch, nếu c thể, cho biết r thực sự mnh ra sao, muốn g, quyết tm thực hiện ước muốn no v nơi phương diện chi. Ti nghĩ mấy anh em Cng gio khng lạ g cu Phc m, "Hy xin th sẽ được; hy tm th sẽ gặp; hy g th sẽ mở cho. V phm ai xin th lĩnh; ai tm th gặp; v ai g th sẽ mở cho" (Mt. 7:7-8). Nếu chng ta khng biết mnh thực sự muốn g th sao c thể đặt tm tr vo điều mnh muốn. Anh em đ bao nhiu lần nghe cu "Kho tng của ngươi ở đu th lng ngươi cũng ở đ" (Mt. 6:21)! Chỉ cần t pht tự hỏi cu ni mang nghĩa g nơi cuộc đời mỗi người, chng ta nhận ra ngay kho tng tức l ước muốn, định, v như thế, ước muốn thực sự ở đu th lng dạ chng ta lun để về vấn đề đ. Chng ta đ khng hiểu gi trị của đời người, khng biết v khng chịu tm biết về chnh mnh, nn khng nhận ra năng lực huyền nhiệm nơi mnh. Chng ta đ chưa thực sự sống dẫu đang mang ơn huệ c được cuộc sống hữu hnh. Chng ta ph phạm dịp may hiếm c bằng cch theo đuổi những thch nhất thời, thiển cận, nn khng tự tm hiểu về bản thể chnh mnh. Ti thử hỏi anh em, l do g Kinh Thnh viết cu, "Kẻ no bảo ni ny: X đi m nho xuống biển, m trong lng khng nghi ngại, nhưng tin rằng điều mnh ni sẽ xảy ra, th n sẽ thấy thnh sự. Bởi thế, Ta bảo cc ngươi, mọi điều cc ngươi cầu nguyện ku xin, cc ngươi hy tin l đ được, v cc ngươi sẽ thấy thnh sự" (Mc. 11:23-24). Mỗi lần nghĩ đến cu ny ti vẫn cảm thấy nhột nhạt v mnh vẫn cn qu m muội dẫu ti khng theo đạo Cng gio.

    - Ti ni thật lng từ suy tư dựa trn những điều hiểu biết về đạo học; xin anh em Thin Cha gio đừng chấp nhất; đ l kỳ mới đọc Phc m, ti thường c nghĩ coi thường những người Cng gio bởi họ đ dng cc ngn từ "người ngoại gio" hay "kẻ ngoại đạo." Sở dĩ ti đ c nghĩ ny v Phc m của họ ni về quyền lực tm linh v song m khi ni chuyện với họ, ti thấy họ vẫn m mờ khng chịu hiểu biết, ngược lại chỉ nghe sao chấp nhận như vậy v lập lại chẳng khc g con vẹt rồi cho rằng những ai khng tin tưởng giống họ th sẽ bị phạt sa hỏa ngục. Ti thấy điều tin tưởng của họ mang nhiều điểm tri nghịch với Phc m; khng những thế, bởi chẳng hiểu g về thực thể được họ gọi l Thin Cha hay linh hồn nơi chnh họ, quan niệm tm linh của họ chứng tỏ họ qu coi thường Thin Cha m vẫn khng nhận biết. Thử hỏi, nếu con người chỉ c một kiếp sống duy nhất th mục đch của cuộc đời l g? Phải chăng chng ta sinh ra để rồi chết? Khng lẽ kiếp sống ngắn ngủi lại quan trọng đến nỗi chỉ phạm một lầm lỗi thi cũng bị đầy đọa xuống địa ngục vĩnh viễn? Khng lẽ một Thin Cha cng bnh v thương xt lại c thể khắc nghiệt như vậy sao?
    - Đng khc, nếu con người chỉ c một kiếp sống th tại sao họ lại khng giống nhau, người được sinh ra thng minh; kẻ lại kh khờ; người ny may mắn, kẻ khc bất hạnh? Ai đ quyết định về tnh nết con người? Ai đ ban cho người ny một sức lực khỏe mạnh v kẻ khc một thn thể tật nguyền? Nếu con người chỉ c một kiếp sống duy nhất th chng ta giải thch thế no về hiện tượng thần đồng (ĐMQXT; Tr.129)? L do g giải thch sự kiện văn ho Voltaire thuộc lng tất cả những bi ngụ ngn của La Fontaine từ năm ln ba, bắt đầu viết sch khi vừa ln trung học; Pascal chứng minh những bi ton phức tạp khi ln tm, v soạn sch gio khoa khi chưa đầy mười bốn tuổi (ĐMQXT; Tr.131). Về điểm ny, chỉ c một giải đp duy nhất m cc đạo học Đng Phương gọi l lun hồi, sự thay đổi thn xc qua nhiều kiếp sống của linh hồn m Phc m gọi l thần kh. Ti nghĩ chng ta phải nhận định r rng như thế mới c thể hiểu được nghĩa của cu "Thần Kh mới tc sinh, xc thịt th khng ch g." Thn xc thay đổi v l những cơ hội, mi trường cho linh hồn vĩnh cửu tiếp tục thăng tiến. Đy cũng l điểm m nh Phật ni, "Khng biết bổn tm học php v ch," hoặc "Khng biết tự thn cũng chẳng thể no học đạo" (VNVT; Tr.93). Hơn nữa, tất cả cc bằng chứng của cuộc sống đều đưa đến kết luận; c một yếu tố no đ sắp đặt sự cấu tạo nn con người, một yếu tố vượt xa sự suy luận của ton học, ra ngoi tầm phn đon của l luận, v khng thể giải thch bằng những cng thức, định luật của khoa học thực nghiệm (ĐMQXT; Tr.131).
    - Đọc sch bo, anh em thấy được viết về nhiều trường hợp c những người nhớ lại tiền kiếp, hay phục hồi cc kinh nghiệm học hỏi từ kiếp trước, vẫn xảy ra khắp nơi, khng phn biệt vị tr hay địa dư, phong tục, tập qun. Phật tnh, tm Phật, tm bất sinh, tnh linh gic, tự tnh, tiểu ng, linh hồn bất tử, Thượng Đế nội tại, hay thần kh đang hoạt động nơi những thn xc con người, v quyền lực nội tại cũng từ đy pht sinh v được thể hiện qua nhiều hnh thức. Những sự kiện ny, nếu đem so snh nơi kinh sch đạo học, minh chứng r rng chng ta thường hiểu lầm về thực thể con người của mnh. Ni cho đng, ti may mắn trải qua kinh nghiệm kch ngất nn nghiệm chứng được thnh phần tm linh l chủ thể cuộc đời một người.
    - Đến khi tm hiểu về khoa huyền mn v lễ điểm đạo Ai Cập ti mới mường tưởng được phần no. Quả thật, cũng tội nghiệp cho những người khng dm suy tư, khng dm sử dụng nguồn năng lực sẵn c nơi mnh để thăng tiến tm linh, nn đ trở thnh n lệ cho những gio điều một chiều khng sao thot ra được. Trước Cng Nguyn nơi thời đại cổ Ai Cập, đ c những vị chn sư nghiệm chứng được sự bất diệt v c một đời sống của linh hồn sau khi xc thn chết. Thế nn họ dạy dn chng, khi con người bắt đầu bước vo cuộc sống mới đ, những đấng thần minh phn xử linh hồn v duyệt xt lại những hnh động thiện c của y đ lm trong lc ở dương gian. Kẻ dữ sẽ bị trừng phạt thch đng, người hiền sẽ được vo cảnh thin đng hưởng hạnh phc v hợp nhứt với Osiris (ACHB; Tr.108), thủy tổ của Huyền mn Ai Cập. Những điều ny kh thch hợp với quần chng, v đem đến cho những tm hồn chất phc viễn ảnh m họ c thể quan niệm được dễ dng; đồng thời cũng phần no gip cho họ c được đời sống lun l tập thể kh hơn. Theo những g ti được biết, ngy xưa, với trnh độ dn chng đơn sơ, người ta khng giảng dạy những l thuyết hoặc tm l hay triết l thm su v c thể chỉ lm cho những đầu c đơn sơ thm bối rối. Nếu ti khng lầm, c lẽ quan niệm hưởng phc thin đng được phổ biến từ đ nn đ pht sinh những cu chuyện huyền thoại, vừa gợi cho những tm hồn muốn hiểu biết, lại vừa ngăn chặn những kẻ chưa đủ tm đức lạm dụng khoa huyền mn thỏa mn đồ thấp km. Đy cũng l l do nhắc nhở chng ta khng nn coi thường những huyền thoại mang đầy tnh chất hoang đường hoặc những cu chuyện ngụ ngn bnh dn v phần no chng hm xc một ẩn hợp l, v chứa đựng chn l thm su no đ.
    - Thưa bc, sở dĩ con người c tự do để quyết định hnh động nn phải chịu trch nhiệm của mnh. Nếu ni rằng mọi định, suy tư, hoặc quyết định đều do linh hồn, tm Phật, th thn xc đu phải chịu trch nhiệm g!
    - Anh kh thng minh! Anh muốn ni nếu hồn chịu trch nhiệm th thn xc khng bị t tội hoặc bất cứ ảnh hưởng lin hệ no phải khng? Cng đồng luận điệu ny, bởi con người khng thể kiến tạo nh t, hay bất cứ sự trừng phạt đối với linh hồn linh thing, nn con người tha hồ muốn lm g th lm hay sao? Hy xt về những mối lin hệ nhn sinh, những tnh cảm, niềm tin, ảnh hưởng thế no đến một người khi so snh với luật lệ nơi cuộc sống anh sẽ thấy. C những điều khng luật lệ no ni tới nhưng đ tri buộc anh bao nhiu năm thng; phỏng anh giải thch ra sao? Suy nghĩ một cht, chng ta sẽ nhận thấy, luật lệ được đặt ra v lợi ch cho con người trong lin hệ cuộc sống đồng thời ngăn cản những sự lạm dụng m thi. Anh em thử nhớ lại, chỉ một lời ni v tnh ai đ xc phạm đến mnh đ bao nhiu năm sao vẫn cn ảnh hưởng tới thi độ hay tm tnh của mnh đối với người ấy. Hoặc v v ni cu no đ khng kịp suy đụng chạm đến người khc, bao nhiu năm rồi mnh vẫn cảm thấy y ny, ăn năn th luật lệ no c quyền trn sự ăn năn ny? Luật lệ, lun l, phong ha, do con người kiến tạo v lợi ch của cuộc sống lin hệ nơi x hội, nhưng v nhận thức tm linh cn qu ấu trĩ, nn con người vẫn cn bị tri buộc trong vng v minh. Luật lệ, lun l chẳng khc g một loại kham đng hm v miếng da che phần no mắt con ngựa cho khỏi bạ đu gặm đ hoặc xng xo bất kham. Ti thử hỏi, nh t giam giữ thn xc nhưng lấy g giam giữ linh hồn bất diệt? Hơn nữa, đặt vấn đề v suy nghĩ chn chắn, chng ta thấy, ngay như cc lin hệ tnh cảm vợ chồng, con ci chỉ c tnh cch giới hạn trong một kiếp sống. Sợi dy thn i m chng ta tưởng bền vững lu di thật ra chỉ c tnh cch tương đối; bởi sự chết xa bỏ những lin hệ tnh cảm, kỷ niệm một kiếp người; v những điều đ chỉ c gi trị gip hồn con người học hỏi, kinh nghiệm m thi. Chng chỉ đng vai tr như một cuốn sch gip học sinh thu tập kiến thức, một ci đ đưa người ta qua sng, v khi hồn đ đạt được mục đch l kinh nghiệm v pht triển những khả năng no đ nơi cuộc sống, hoặc đ qua thời hạn m vẫn chưa đạt được g, những phương tiện ny khng cn gi trị g khc v phải được xa bỏ (ĐMQXT; Tr.128). Nhận định như thế mới c thể giải thch được hiện tượng thần đồng v thần đồng khng phải l người từ trn trời rơi xuống m chỉ l kết quả của nhiều kiếp sống khng ngừng học hỏi (ĐMQXT; Tr.130). Như vậy, dẫu trch nhiệm thuộc về linh hồn, tự tnh bất diệt th những luật lệ, lun l, nh t, chỉ l những phương tiện giới hạn; chẳng khc g cng cụ được thiết lập gip những tm hồn thiếu thức trnh lm phương hại khng những chnh họ m cn ảnh hưởng tới người khc. Tuy nhin, suy đi cũng phải nghĩ lại, lun l, hay luật lệ x hội thay đổi ty theo chiều hướng quan niệm ty thời v ty nơi. Anh em đ bao giờ nghe cu ni, "Thiết cu giả tru, thiết quốc giả hầu" (TTTH; Tr.93)? Ăn trộm một ci đai lưng th bị tội tử hnh, cn cướp cả nước của người ta th được lm vua một chư hầu (Trang Tử)! Thực thể cuộc đời minh chứng, biết đu những lỗi lầm, tai họa, hoặc bị vạ nọ, tật kia, lại l những cơ hội hay bi học phải xảy đến v phải như thế; người trong cuộc mới c thể học được những điều cần phải học nơi kiếp sống! Như vậy, con người chỉ c tự do thăng tiến một cch thức m thi. Nơi trường hợp vẫn cn luẩn quẩn trong vng v minh th thực thể được gọi l tự do lại chẳng tự do cht no, m chnh l n lệ, bởi vẫn cn bị ảnh hưởng qu nặng nề ham muốn thế tục khng thể no vượt thot được.
    - Thưa bc, tại sao khng thot được?
    - Chng ta thừa kinh nghiệm để nhận biết r rng khi một người đeo kiếng rm (kiếng mt), tất nhin họ nhn thấy mọi sự đều mang mu sắc tối hơn. Cũng đồng một thể như thế, những quan niệm, suy tư giới hạn ảnh hưởng nhận thức của con người tạo nn lối nhn chật hẹp một chiều nhất l đối với những ai e sợ hoặc lười lĩnh khng dm suy tư. Ti thử đề nghị anh em nhắm mắt lại vi giy xem thế no.
    - Thưa bc, nhắm mắt lẽ đương nhin sẽ thấy tối h.
    - Anh nhận thấy tối h hay anh ni theo ai đ đ bảo anh rằng nhắm mắt sẽ thấy tối h? Khi nhắm mắt, bởi khng nhn thấy sự vật chung quanh chng ta quen thi cho rằng tối h. Nhưng nếu để , đu phải tối h m c những điểm sng v tối lẫn lộn khng phn biệt được. Sự nhận thức hay nhận định thực thể con người cũng bị ảnh hưởng bởi những thi quen in tr tương tự như thế. Ai dm đặt lại mọi vấn đề v tm hiểu, nghiệm chứng chng như chưa từng bao giờ nghe ni hay chưa biết th sẽ nhận thức được nhiều điều mới lạ cả thể. Chẳng hạn, chng ta nghe cc nh học thức ni giấc mơ l một hiện tượng tm l v n lệ chấp nhận lời giải thch ấy để rồi khng bao giờ đặt vấn đề pht triển thực thể khả năng nhn trong giấc mơ. Thm vo đ, mượn thnh ngữ "nhn danh khoa học," nếu khng thể giải thch điều g, chng ta thường quen thi phủ nhận ngay rằng điều đ khng c thật. Nếu đầu c l luận dựa hơi khoa học hoặc khng thể chấp nhận hay lười suy tư về một vấn đề g, chng ta cũng vội ln n ngay rằng đ chỉ l một sự tưởng tượng, v nhiều khi tệ hơn nữa, dm cả gan chụp mũ người kht khao tm hiểu bằng những danh hiệu bất xứng, đ chẳng gip g cho họ m chỉ cng chứng tỏ bộ lng ruột tự khinh khi. Xt về giấc mơ, ti nhớ r mấy cu giải thch của lạt ma Lobsang Rampa nơi cuốn Ty Tạng Huyền B, "Nhiều người khng tin rằng sự xuất hồn như thế c thể thực hiện được, nhưng thật ra th tất cả mọi người đều xuất hồn để di chuyển trong ci v hnh bằng cch đ trong giấc ngủ. C điều khc l ở Phương Ty, người ta xuất hồn trong giấc ngủ m khng hề hay biết; cn cc nh đạo sĩ Ty Tạng c thể xuất hồn đi chu du khắp mọi nơi ty muốn; nhờ đ họ c thể nhớ r tất cả những g họ đ thấy v lm, cng những nơi no họ đ đến viếng. B thuật ny đ mất đi ở Phương Ty; bởi đ khi họ thức tỉnh, nhiều người tin rằng họ đ trải qua một giấc mộng (TTHB; Tr.171). Tất cả cc xứ đều biết về việc đi chu du bằng thể va. Ở Anh quốc, những nữ ph thủy đ từng nổi tiếng l biết bay. Ở khắp nơi trn thế giới, người ta đ từng biết về những vấn đề ny, dẫu rằng sự hiểu biết ny đ mai một với thời gian v đ mất đi trong k ức loi người. Người ta đ tập luyện "cho ti" c thể xuất hồn đi ngao du trn cc cảnh giới v hnh, như vậy th php ngao du bằng thể va cũng ở trong tầm tay của tất cả mọi người" (TTHB; Tr.171-172).
    - Thưa bc, nếu giấc mơ l thực thể của hồn thot ra khỏi thể xc trong giấc ngủ tại sao chu chưa bao giờ nhn thấy thn xc của chnh mnh trong lc hồn thot ra đi chu du hay khi về nhập trở lại.
    - Ti khng thể trả lời chnh xc cu hỏi ny. Tuy nhin, c thể bởi hồn chng ta đ qu quen với thn xc của mnh nn khng để chăng. V thực ra, ngoại trừ lần kch ngất, ti chưa bao giờ c nghĩ thử tưởng tượng hnh dng mnh thế no trong giấc ngủ. Theo lạt ma Lobsang Rampa, thot hồn chu du nơi ci v hnh v thức được diễn tiến của hnh trnh l một sự kiện vừa tầm khả năng của hầu hết mọi người với điều kiện phải c một sự luyện tập thch nghi. Tuy nhin, vo thời điểm mới bắt đầu luyện tập, họ cần phải sống biệt lập ở một nơi vắng vẻ khng bị ai lm phiền một cch bất ngờ. Thm vo đ, họ cũng cần được chỉ dẫn bởi một vị đạo sư lo luyện để trnh những sự hoang mang, sửng sốt. Sở dĩ ti khng luyện tập v tim ti bị yếu, lỡ bị xc động qu trong thời gian đầu hoặc ai đ v tnh no động lm ngưng trệ lc tập luyện, tim ti yếu c thể chết bất đắc kỳ tử. Đng khc, nếu chết bất đắc kỳ tử theo như những lời dặn bảo nơi sch vở, hồn ti sẽ bị đầu thai ngay lập tức để hon tất kiếp sống vừa bị gin đoạn trước khi bước qua giai đoạn kế tiếp nơi hnh trnh tiến ha. Ni về sự chu du của hồn con người khi ngủ, anh em c lẽ đ nghe ni khi một người ngủ mệt m kẻ khc lấy nhọ nồi bi vo mặt, lc thức dậy, người đ sẽ bị ớ vi giy trước khi thực sự thức giấc. C người giải thch đ l tnh trạng khi hồn trở về thấy khc lạ nn ngỡ ngng. Điều ny xảy ra nhưng đng hay khng ti chưa bao giờ để . C điều anh em nn biết, đ l chỉ những ai dnh thời giờ tu chứng mới thực sự nghiệm được r rng bản thể mnh thế no, v kết quả của sự nghiệm chứng lại ty thuộc căn cơ của chnh người tu chứng. Ti khng biết dng cch no hoặc diễn giải ra sao để c thể tổng hợp tất cả những quan niệm hay nhận định được viết nơi kinh sch v những cảm nghiệm tu chứng lại lệ thuộc quan niệm của chnh người tu chứng về bản thể tối thượng nơi mnh. Chẳng hạn, mặc dầu Phật học khng quan niệm sự hiện hữu của linh hồn hoặc một thể no trường tồn bất biến, nhưng đa số người Ty Tạng vẫn tin tưởng rằng c một bản ng di chuyển từ kiếp sống ny qua kiếp sống khc v như con người cởi bỏ cc bộ quần o cũ để mặc bộ đồ mới. Nếu giải thch giản dị như thế th tất cả mọi người đều l ha thn của chnh bản ng của họ, tri nổi từ kiếp ny qua kiếp khc (HTTT; Tr.119-120).
    - Thưa bc, nếu hồn tch biệt với thn xc hoặc l một với thn xc th cảm nghiệm của bất cứ ai đối với hồn cũng như nhau sao c thể bị lệ thuộc bởi quan niệm c nhn.
    - Ti đ giải thch nhưng c lẽ anh em khng để . Quan niệm ảnh hưởng con người chẳng khc g tấm kiếng mu ảnh hưởng đi mắt. Thế nn muốn nhn r rng mu sắc sự vật, chng ta khng nn dng kiếng mu. Tuy nhin, cũng c những người v l do vật l no đ ảnh hưởng cặp mắt hoặc mắt km khng nhận được mu sắc chnh xc như người khc. C thể đy cũng l l do đức Thch Ca đ phải ln tiếng khng chấp nhận những kẻ tin vo lời ngi ni m họ cần thực chứng (PHTH; Tr.56). Đu phải v l m cu "Lời ta ni như chiếc b" lại c thế gi dẫn đng nghiệm chứng nơi Phật học. Đọc nơi Phc m, mấy anh em Cng gio gọi l lời Cha, c những cu, "Người ta khng đổ rượu mới vo b cũ" (Mt. 9:17), "Khng lấy vải mới v o cũ" (Mt. 9:16), "Kẻ no vừa tra tay cầm cy vừa ng lui sau l người bất kham đối với nước Thin Cha" (Lc. 9:62), hoặc, "Kẻ no yu cha mẹ, con ci hơn ta ắt khng xứng với ta" (Mt. 10:37-38). Lời Cha mắc mớ g tới rượu, o cũ, o mới, chiếc cy. Đng khc, chẳng lẽ đức Gisu đến để ph bỏ tnh yu thương gia đnh, ruột thịt hay sao m muốn con người yu ngi hơn? Để suy nghiệm, nếu thay thế quan niệm hoặc những lời dẫn giải vo vị tr của chiếc b, rượu, vải, o, chiếc cy, hoặc cha mẹ, con ci, chng ta thấy r, cc đạo học đều đi hỏi con người cần bỏ quan niệm cũ để c lối nhận thức chnh xc chẳng khc g bỏ cặp kiếng mu khi mnh muốn nhn mu sắc sự vật r rng hơn. Bởi đ, ti nghĩ, những nhận định hay cc lối gii by cảm nghiệm tu chứng vẫn cn bị lệ thuộc nặng nề quan niệm c nhn hoặc tng phi đạo học. Điều ny đi hỏi chng ta cần c nhận định phn biệt sao cho khỏi bị vướng mắc nơi ngn từ hay văn tự của cc bậc tu chứng.
    - Xt về phương diện thăng tiến tm linh, dẫu cho con người noi theo đường tiến ha, chng ta cũng phải chịu lệ thuộc những định luật về vật chất hay tinh thần v chng ta c thn xc hữu hnh. Hơn nữa, hnh thi l cần thiết, v n l phương tiện nơi cơ hội, chứa đựng, v nối kết cc phẩm chất khc nhau. Tnh cảm cũng cần thiết, v n tạo ra sự ha hiệp giữa cc chiều hướng giống như độ nng của lửa nung chảy cc kim loại khc nhau, trộn lẫn chng thnh một bản vị mới thuần nhất, đồng đều. Trong lc ấy th niệm l chất liệu, năng lực nguyn sơ bị thức động bởi tất cả cc yếu tố trong tm người khi chng n ko cc lực tiềm ẩn ra khỏi vị thế của chng. Anh em nn hiểu, niệm ti muốn ni đ l định, ước muốn thực sự, một động lực sng tạo hoặc l một kinh nghiệm sống động mang quyền lực hiện hữu rất t khi chng ta nhận thực được bản thể quyền lực ny dẫu chng ta đ sẵn c. Chng ta c hnh hi, bản năng, cảm gic, tư tưởng, nghĩ. Tất cả lớp thể chất đ đều l những lớp bụi dầy khiến con người kh thể lm sng tỏ được ci nguồn tinh lực uyn nguyn của mnh. Vậy phải lm thế no để thức gic con người đạt tới chỗ vin gic đại ngộ (TTĐ; Tr.240) th chng ta sẽ sử dụng được nguồn quyền lực tiềm ẩn ny. Nhận định như vậy, anh em mới c thể hiểu, ti muốn ni hiểu chứ chưa dm ni đến thực hnh, đng mức cu ni của đức Gisu, "Kẻ no tin vo Ta th cc việc Ta lm kẻ ấy cũng sẽ lm, v sẽ lm được những việc lớn lao hơn thế nữa" (Gioan 14:12). Như vậy, thn xc chng ta mặc d dễ hư hoại nhưng lại l thnh điện của cc lực v đồng thời l phương tiện cũng như chốn tập trung cc sự thnh tựu tm linh cao siu nhất. Thế nn, một khi chng ta cn nhm chn thn thể, tức l chng ta chưa nhận thức cũng như ngự trị được n. Ni vậy c nghĩa chng ta chưa nhận ra được cuộc sống hữu hnh l cơ hội thức ngộ độc nhất v nhị.
    - Thưa bc, tại sao bc ni chng ta đ c sẵn quyền lực hiện hữu?
    - Hỏi như thế c lẽ anh Ty vẫn bị ảnh hưởng bởi quan niệm c một Đấng Sng Tạo hữu thể ban pht tất cả mọi sự hiện hữu, sự sống cho mun vật, mun loi. Điều ti muốn ni đ l trước khi chng ta c thể nghĩ tới sự hiện hữu th đ c sự hiện hữu v nếu chng ta khng hiện hữu sao c thể nhận biết sự hiện hữu. Thứ đến, phỏng nghĩ pht sinh cu hỏi của anh do đấng no ban cho? nghĩ, cu hỏi, l những sự hiện hữu. Từ kinh nghiệm kch ngất, ti nhận ra được nghĩ khng pht sinh từ no bộ m từ bản thể linh thing tạm gọi l hồn hay tự tnh. Anh em kinh nghiệm thường ngy nhưng khng để đ l nghĩ ảnh hưởng ton bộ con người. Chẳng hạn, khi nghe tin tức no đ, chng ta cảm thấy tm thần giao động, nhịp tim đập mạnh hơn v c thể khiến chng ta bối rối, khng ln. Nhận ra như thế, c thể ni, tất cả những g c tnh năng lực vận chuyển, c động lực, gy ra cc sự thay đổi v biến chuyển th n hiển lộ thực tnh của sinh lực. Tất cả cc đặc sắc về phương diện thể chất hay tinh thần, tất cả cc vật lực v tm lực, từ cc chức năng h hấp, tuần hon, hay thuộc hệ thần kinh cho đến cc chức năng của tm thức, của tư tưởng, v tất cả cc hoạt động cao siu của tinh thần đều l hnh thức biểu lộ của sinh lực (MGTT; Tr.186). Đy l một trong những nguyn tắc chnh yếu được p dụng nơi Yoga Ấn Độ, Mật Tng Ty Tạng. Nguyn tắc l thuyết rất đơn giản, đ l, cũng một sinh lực nhưng n khng những chỉ chịu sự biến đổi thường xuyn; m n cũng c thể dng nhiều cch lưu chuyển khc nhau, khng hề gin đoạn chẳng khc g ging điện c thể chạy trong dy dẫn v cũng c thể khng dy dẫn như những ln sng. Ging tm lực cũng vậy, n c thể dng hơi thở, mu, dy thần kinh, v trong trường hợp c cường độ đủ mạnh, n c thể khng cần cc phương tiện ấy, hay thot qua bn kia cc phương tiện ấy lan truyền ra ngoi khng gian v tc động qua những khoảng cch v hạn (MGTT; Tr.196). Phương tiện tm linh của ging sinh lực ny chnh l định, ước muốn, ước mơ, hoặc niềm tin, đức tin, ty trường hợp được sử dụng. Ni cch khc, đ l định sử dụng quyền lực tm linh, quyền lực sng tạo, quyền lực hiện hữu được p dụng nơi sự tưởng tượng khi tham thiền hoặc sử dụng phương thuật, huyền mn, mật tng, Yoga, Zen.
    - Thưa bc, Ty con ln tiếng.
    - Anh để ti ni hết rồi hy hỏi. Theo nhận định của những người Ty phương th no bộ l trung khu duy nhất của tm thức. Kinh nghiệm Yoga Ấn Độ lại chứng tỏ rằng tri thức thuộc no bộ của chng ta chỉ l một sự kiện ring biệt trong số nhiều hnh thi tri thức khả hữu. Cc hnh thi ny ty theo chức năng hay tnh cch của chng c thể được qui tụ hay tập trung tại nhiều cơ quan khc nhau của thn xc. Cc cơ quan ny ở dọc theo trục thẳng đứng của thn, tập hợp, biến đổi v phn phối cc ging năng lực. Những cơ quan ny được gọi l trung khu tm lực, từ đ tỏa ra nhiều dng sinh lực phụ, đồng thời lại đem trở về trung khu, giống như cc căm bnh xe hay cy ko d. Cc trung khu tm lực ny l cc điểm trong đ năng lực thuộc tm v năng lực thuộc thn giao ha v thm nhập nhau. Nơi cc điểm đ, tm v thn lực biến đổi thnh năng lực nội tại. Cc đạo sĩ Yoga cho rằng trung khu tm hồn ở tại nơi m ngoại giới v nội tm tiếp xc nhau. Khi chng xm nhập nhau th c những điểm tương xm ở mỗi bn. Vậy chng ta c thể ni rằng: ở mỗi điểm m chng ta thức được sự tương xm ấy l trung khu của tm hồn, v khi chng ta ku gọi cc trung khu khc nhau trở vo hoạt động, ấy l chng ta kch thch, linh tnh ha v biến đổi thn ta (MGTT; Tr.181). Bởi vậy, đối với quan niệm Yoga, thn thể l cng cụ hay phương tiện v cơ hội thực hiện trọn vẹn định luật chn thực về chơn tnh của con người. Anh Ty, anh muốn hỏi g?
    - Thưa bc, sao cc tn gio chỉ dạy con người gồm c thn xc v linh hồn, đại khi bao gồm phần thể chất v linh tnh.
    - Anh qun rằng đ mấy lần chng ta ni tới tn gio chỉ l phương thức gii by niềm kht vọng tm linh sao. Ni theo nghĩa bao qut v lấy tn gio lm chuẩn th tn gio no cũng được chia lm hai phần cng truyền v b truyền. Phần cng truyền hay hiển gio được đề cập r rệt trong cc kinh điển, sch vở, cc bộ luật v luận nhưng phần b truyền hay mật gio chỉ được truyền dạy cho một thiểu số chọn lọc trong vng b mật. Cc kinh điển chỉ đề cập đến phần b truyền một cch hết sức lờ mờ, khng r rệt nếu khng muốn ni l được viết theo ẩn nghiệm chứng. Bởi vậy, người ta chỉ c thể học hỏi qua hnh thức khẩu truyền với cc bậc thực sự tu chứng v nếu khng gặp được bậc thầy như thế chỉ cn cch tự nghiệm chứng. L do cc bậc đạt đạo khng truyền dạy cng khai v chn l khng phải điều để mang ra tuyn bố một cch ồn o, hời hợt trn đầu mi cht lưỡi, nhưng l một thứ m người ta chỉ c thể chứng nghiệm được m thi. Đy chnh l thực chứng của cu ni nơi Lo học, "Người biết khng ni, kẻ ni khng biết." Ngn ngữ khng thể diễn tả những sự kiện tuyệt đối ny, v khng phải ai cũng c kinh nghiệm như nhau. Thực ra, ty căn cơ nhận thức m người ta nghiệm được một cch khc nhau, đi lc điều người ta tưởng như l một chn l vĩnh cửu lại chỉ l một ảo ảnh, một hư vọng của tm thức, tưởng như thật nhưng chỉ thật một nửa. C khi đứng trước một sự thật, người ta đm ra bng hong sợ hi m khng dm nhn thẳng vo đ, khng dm đối đầu với n bởi khng dm đặt cu hỏi nghịch luận. Bnh thường, chng ta chỉ thch nghe, thch thấy những g hợp với điều mong ước của mnh hầu được an tm chứ khng muốn nhn thẳng vo thực thể sự việc. C phải vừa mới nghe ti lặp lại cu ni "Người biết khng ni, kẻ ni khng biết" anh em đ cảm thấy chướng tai rồi khng? Đ cũng l l do cc bậc tu chứng t xuất hiện v chỉ dậy dỗ cho một thiểu số người thiết tha cầu đạo, c căn cơ nhận thức vững chắc, sau khi đ vượt qua cc thử thch để xứng đng nhận lnh cc tinh hoa ny (ĐMQXT; Tr.85). Đng khc, điều kh nhất vẫn l những quan niệm khc biệt ngự trị v chi phối mạnh mẽ nhận thức hnh giả ty từng mức độ nn đ pht sinh nhiều tng phi khc nhau.
    - Thưa bc, tại sao người ni lại khng biết.
    - Chịu kh đọc kinh sch v suy nghĩ để nghiệm chứng, anh em sẽ gặp nhan nhản những cu ni nghịch l tương tự như thế. Để ti nu ln kinh nghiệm thực tế anh em đều biết thay v giải thch. Anh yu thương vợ con anh nhưng phỏng anh c thể giải thch bằng bất cứ cch no cho ai đ thực sự thương chị ấy v cc chu như anh được khng. Đy chnh l nghĩa cu "Người biết khng ni." Đng khc, giả sử anh cố giải thch, biện luận để minh chứng lng yu thương của anh ngay cả đối với chnh chị ấy th cng minh chứng, chỉ cng khiến chị ấy hiểu lầm chẳng khc g "Kẻ ni khng biết." Nơi cảm nghiệm thực chứng đạo học cũng thế. Nếu ti khng lầm th anh Hưng đ ni, "ng chứng, ng biết, v chỉ ng biết m thi. Ni ra khng được m cng diễn giải cng lộn tng pho" chẳng khc g anh diễn giải lng yu thương vợ con cho bất cứ ai.
    - Thưa bc, tại sao bc ni chng ta khng dm đặt cu hỏi nghịch luận cũng như khng dm đối đầu với sự thật. Chu nghĩ, ...
    - Ti thử nn ln một trường hợp với điều kiện những anh em theo Thin Cha gio nn bnh tĩnh nhận định trước khi c kiến. C phải tất cả những người theo Thin Cha gio, d Tin Lnh, Cng gio, Anh gio, đều thực sự tin tưởng v tuyn xưng rằng Đức Gisu xuống thế để chết v v cho tội lỗi con người khng? V ti thử hỏi đ anh em no dm đặt vấn đề về niềm tin tưởng ny bao giờ chưa? C ai tự cho rằng mnh cứ thực hiện những điều lỗi lầm rồi người khc c thể lnh đủ để mnh tự do sống khơi khơi l hợp l hợp tnh khng? Nếu suy tư đi cht, ni rằng Đức Gisu chết cho tội lỗi loi người phỏng c phải l lối khuyến khch con người phạm tội hữu hiệu nhất khng? Đng khc, nếu khng c luật c thể phạm luật được khng? Anh em thử nghĩ, luật lệ do con người đặt ra v lợi ch lin đới x hội. Chẳng lẽ Đức Gisu, như anh em tin tưởng, l Thin Cha quyền năng m l do chnh để Ngi nhập thể lại chỉ l chết để xa bỏ những kết quả do sự vi phạm lề luật được đặt ra bởi cũng chnh ging giống những người vi phạm? Ti thử hỏi, tại sao bao nhiu ngn năm qua, ở những nước chấp nhận đa hn người ta sống vui vẻ, đề huề, dẫu c những trường hợp ngoi muốn, như Trung Hoa v Ty Tạng; m nơi đất Mỹ ny th lại tuyệt đối cấm? Cũng như cc anh em Phật tử, chng ta thường được nghe ni rằng v thấy con người đau khổ trong vng sinh, bệnh, lo, tử, nn đức Thch Ca động lng thương xt đi tu kiếm đường giải thot chng sinh. Đ bao giờ anh em nghiệm chứng cu ni của đức Thch Ca, Đừng bảo Như Lai độ chng sanh? Chng ta đ bao giờ đặt vấn đề tự nghiệm chứng về những điều mnh tin tưởng hay chỉ ha theo những lời tuyn truyền của người khc để rồi đnh chấp nhận h hon giống như họ, tạm gọi c lng tin, mong c nỗi an bnh giả tạo? Tất cả cc đạo học đều nhắm vo điểm ny hầu ph tan những sự tin tưởng m mờ được gọi l v minh để dẫn dắt con người nhận chn sự thật. Thm vo đ, hnh trnh thức ngộ tm linh cũng l nguồn gốc pht sinh nhiều phương cch pht triển năng lực nội tại nếu ai đ thực sự muốn v gặp cơ hội.
    - Thưa bc, nếu như vậy th cc tn gio đ khng thực hiện được điều cc nh sng lập chủ trương?
    - Ti vừa mới ni xong m anh đ vội qun. Tn gio thuộc thnh phần cng truyền của đạo học v được thnh lập do lng kht khao tm kiếm cũng như by tỏ ước vọng thăng tiến tm linh. Đạo học khuyến khch v diễn giải thực thể tối thượng hiện hữu nơi mọi loi mọi vật, hữu hnh cũng như v hnh. Ni tm tắt, đạo học trnh by nghiệm chứng Quyền Lực Hiện Hữu đang hoạt động, biến chuyển nơi mọi hnh thi hiện hữu, đồng thời cũng chnh l nền tảng của mọi sự hiện hữu từ khng kh, nước, đất, đến những trạng thi cao hơn. Quyền lực ny thống trị mọi nguyn tố biến chuyển; n khiến vật chất tan r rồi lại kết hợp thnh cc hnh thi mới của sự sống như một nh điu khắc nhiệm mầu lun lun kiến tạo v t điểm cho vạn vật với mun ngn hương sắc khc nhau. Quyền Lực Hiện Hữu l nhạc sĩ dạy cho những con chim biết ht, tạo nn tiếng cn trng ngn nga, l nh ha học bo chế cc hương thơm của hoa, chất chua, chất ngọt, cht, đắng nơi quả. Quyền lực hiện hữu tổng hợp thnh cc loi thảo mộc thu ht thn kh biến đổi thnh dưỡng kh cung cấp cho mun loi (HTVPĐ; Tr.47). Đạo học trnh by nghiệm chứng thực thể Quyền Lực Hiện Hữu nơi chnh người tu chứng. Tuy nhin, ty trnh độ v căn cơ ảnh hưởng tạo nn những quan niệm cũng như những lối gii by khc biệt theo nhiều chiều hướng cảm nghiệm, chng ta thấy c nhiều đạo học khc nhau, v mỗi đạo học lại chia nhiều tng phi. Thực ra, khi ai đ đ thức ngộ, cho d cc chiều hướng cũng như lối trnh by ty thuộc cc tng phi đạo học lệ thuộc những hệ thống ngn từ khc nhau, họ sẽ dễ dng nhận ra tất cả cc ngnh đạo học đều qui về một mối đ l Quyền Lực Tối Thượng đang hoạt động nơi mọi sự, mọi vật.
    - Thưa bc, c cch no để thực chứng quyền lực nội tại nơi mnh hay khng? Chu nghĩ, tất nhin, ni c sch, mch phải c chứng. Thế nn, chu xin lỗi bc, t nhất phải c điểm no hay phương cch no căn bản hoặc th sơ nhất khả dĩ gip cho người tu chứng nghiệm chứng được hầu tạo niềm tin tưởng cho hnh trnh thực chứng tiếp theo. Im lặng hướng tm tư theo di những lời giải thch của cụ Ti, chợt B ln tiếng.
    - Ti đ dự đon khng lầm, thế no anh cũng hỏi cu ny. Cụ Ti dường như cảm hứng kh cao lộ nơi nt mặt hướng về pha B, nhưng giọng điệu vẫn trầm tĩnh. Cu trả lời bao gồm Yoga Ấn Độ, Mật Tng Ty Tạng, Điểm Đạo Ai Cập, qun tưởng khi tọa thiền, huyền thuật hay phương thuật v thần ch. Tuy nhin, trước khi ni về những php mn thực nghiệm ny, điểm thiết yếu cần được nhận định r rng đ l quyền lực nơi định, ước muốn, ước mơ m ti đ ni sơ qua khi đề cập tới quyền lực niệm. Tri qua những năm thng suy nghiệm, ti nhận thấy con người l một thực thể tm linh mang quyền lực v song lin hệ mật thiết với quyền lực tuyệt đối được gọi l Tm Phật, To, Đại Ng, Thin Cha. Thực thể ny biến chuyển, v thn xc l cng cụ nhất thời nơi hnh trnh thăng tiến tm linh. Sở dĩ ti c thể ni như thế, v so snh nghiệm chứng c nhn với những g được viết nơi một số kinh sch đạo học đ đọc qua, ti nhận ra điểm khc biệt chung giữa cc đạo học đ l mỗi đạo học gii by nghiệm chứng hoạt động của thực thể tuyệt đối qua những chiều hướng tm thức hay quan điểm nhận thức ring ty điều kiện nhận thức của con người nơi thời điểm những nền đạo học được pht sinh. Con người c sức mạnh tư tưởng, nhưng v họ đ khng biết sử dụng hoặc để cho n hao tn. Khi tập trung mọi sức mạnh tư tưởng vo một trung tm sinh lực duy nhất nghĩa l dồn mọi định, ước muốn vo một sự thể no, con người sử dụng quyền lực sẵn c nơi mnh tiếp xc với nguồn năng lực của Thượng Đế để vận chuyển hnh trnh biến đổi sự vật. Thực thể sự kiện ny được gọi l hợp nhất với Đấng Thing Ling, v khi đ chng ta hợp nhất với mọi quyền năng tm linh. Như vậy phương php duy nhất để ha hợp với quyền lực thing ling l tiếp xc với ngi một cch thức hay cn được gọi l định tm, loại bỏ ngoại cảnh để quay về nội giới v Đấng Thing Ling ẩn tng ton diện nơi con người.
    - Thưa bc, chu xin lỗi đ cắt ngang lời bc nhưng khng ni vội chu qun mất. Sỹ nh con ph ngang.
    - Anh cứ ni,
    - Nếu ni rằng Đấng Thing Ling ẩn tng ton diện nơi con người no khc g con người chnh l Đấng Thing Ling.
    - Anh ni cũng c l nhưng l c một nửa chẳng khc g một cộng một l hai.
    - Thưa bc,
    - C phải anh muốn ni chẳng lẽ một cộng một l ba hay l một phải khng? C g đu m vội! Nếu tư tưởng của anh thuộc về v hnh đ được pht sinh từ một thực thể hữu hnh l bộ c hay thn xc anh th tất nhin một cộng với một l bao nhiu m chẳng được đu cần g phải vội biện luận l hai hoặc một. Anh thử xt coi, tư tưởng, thn xc, dẫu l những thực thể hon ton khc biệt nhưng gốc của chng l g nếu khng phải l những hnh thức kết hợp khc nhau của năng lượng. Giới New Age ngy nay gọi Thượng Đế l năng lượng no c g sai tri đu. Xt như vậy, khi tập trung sức mạnh tư tưởng tất nhin cũng chỉ l sự sử dụng năng lượng tập trung vo một điểm no đ để biến đổi. Ni theo lối trnh by của tn gio hữu thể, kẻ no đến với Thượng Đế bằng tri tim, sng knh Ngi với tất cả lng ước muốn mến mộ trong c tịch, thinh lặng sẽ nhận biết quyền năng tối thượng qua sự hiện thể cc điều mong muốn của họ. Mấy anh em Thin Cha gio từ nay nn để lời Kinh Thnh đặt nơi miệng đức Gisu, "Cn ngươi khi cầu nguyện th hy vo buồng, kha cửa lại m cầu nguyện với Cha ngươi, c mặt cả nơi kn ẩn; v Cha ngươi, Đấng thấu suốt cả nơi kn ẩn sẽ hon trả lại cho ngươi" (Mt. 6:6). Bản Kinh Thnh tiếng Việt hnh như dịch chưa được hon chỉnh v nơi cuốn New American Bible cu ny được viết, "Go to your inner room." "Inner room" khng phải nội tm, nội tại nơi con người th l thứ g. Như vậy, khi cầu nguyện nếu ni theo nh Phật tất nhin cần dẹp sang bn tất cả lục căn, ngũ uẩn để ha nhập lm một với quyền lực tối thượng nơi mnh tức Phật tnh, Thượng Đế. Đy cũng l điều kiện khng thể thiếu nơi tm thức những người thực hnh thiền, yoga, phương thuật, huyền thuật, hay nghi thức lễ bi. Những nghi thức hnh lễ phải pht xuất từ nội tm, từ sự tha thiết của người chủ lễ, từ sự chn thnh của những người tham dự th mới được cảm ứng. Bất cứ nghi lễ no cũng đi hỏi một sự ch tm, ch thnh, knh cẩn trang nghim v nghi lễ l sự nối liền tm thức người hnh lễ với những động lực thing ling. Chỉ c sự xc tn v lng chn thnh mới c thể đem lại sự cảm ứng (ĐMQXT; Tr.256). Những động lực thing ling như luồng điện. Lng xc tn, chn thnh khng khc g dy dẫn điện được tạo bởi quyền lực tm thức pht sinh bởi định. Thế nn, ti đề nghị anh em chịu kh suy nghiệm cu "Vạn vật đồng nhất thể" nơi đạo học Đng Phương chắc chắn sẽ nhận thức thm được nhiều điều hữu ch.
    - Thưa bc, Sỹ nh con lại chen v, sao c thể đồng nhất.
    - Thi, thi, ng ơi, kha dm ci mỏ lại cho chng ti nhờ! Nghiệm th chẳng chịu nghiệm, chưa chi đ tơm tớp sao với giăng. Vạn vật đồng nhất thể c nghĩa ng v thằng cu thm, cu nếm cũng như nhau. Bố cũng như con, con như bố, ng no cũng "you" v thằng no cũng "you." Bc đang ni m cứ nhảy xổm vo cổ họng ph đm. Phủ oang oang ngắt lời Sỹ.
    - Tớ khng biết th tớ hỏi!
    - Biết mnh khng biết tức l đ biết nn cng hỏi chỉ cng lm cho mnh khng biết. B chen giọng, xin bc tiếp tục.
    - Đối với người Ty Tạng, huyền thuật chỉ l một khoa học nghin cứu sức mạnh của tm thức để sử dụng vo một mục đch nhất định no đ. B quyết của cc mn huyền thuật chỉ l sự tập trung tư tưởng để tạo ra một sức mạnh trong thin nhin. Sức mạnh của tư tưởng chnh l động năng thc đẩy, tạo tc ra mọi sự kiện. V tư tưởng con người thường bị hao tn, khng tập trung nn rất yếu, chỉ hiện diện phất phơ một lc rồi tan biến đi, khng đủ sức mạnh để tạo tc ra chuyện g. Một người biết cch tập trung v sử dụng tư tưởng, thu gp cc sức mạnh khc trong thin nhin để hỗ trợ cho tư tưởng của mnh gia tăng cường độ, họ c thể tạo ra được cc quyền năng v cng đặc biệt (HTTT; Tr.274).
    - Bc ni như thế th php lạ hay ba ngi cũng l quyền lực của sức mạnh tư tưởng?
    - Sch vở huyền mn Ty Tạng ni r rằng tất cả mọi quyền năng sẵn c trong mọi người, nhưng v khng biết cch pht triển nn rất t ai sử dụng một cch chnh xc. Tuy nhin, t người biết sử dụng khng c nghĩa l những điều đ khc thường hay c tnh cch tri tự nhin. Pht triển quyền năng tức l tập sử dụng những gic quan c sẵn của thể xc, thể va, v tm thể (HTTT; Tr.108). Anh em thử lật nơi Kinh Thnh phần bốn Phc m xem c cu no đức Gisu ni Ngi chữa hay Thin Cha chữa khng hay Ngi chỉ ni "Lng tin con chữa con, cứu con" (Mt. 9:22; Mc. 5:34; 10:52). Theo quan niệm tu chứng Ấn học anh em nn biết, lng tin, đức tin hay niềm tin vững chắc v quyền năng chữa bệnh, thường được gọi l sự lạ, lin hệ mật thiết với nhau. Đức tin l khả năng nhận lnh; quyền năng chữa bệnh l khả năng chuyển vận những luồng thần lực vo người khc để gip họ điều ha cơ thể. Người chữa bệnh chỉ l một con đường vận h, một chất xc tc, một động cơ để những luồng thần lực thin nhin tc động. Họ khng phải l người sở hữu quyền năng đ, một tu sĩ đ diệt ng khng bao giờ vỗ ngực xưng l đấng ny, đấng nọ hay khoe khoang một quyền năng no (ĐMQXT; Tr.75). Trong việc chữa bệnh, đức tin đng vai tr như một chất dẫn điện v luồng điện chỉ c thể được truyền đi nếu c chất dẫn điện m thi. Tm lại, quyền năng chữa bệnh chỉ hiệu lực khi c đức tin, d đ l đức tin vo một quyền năng no, một c nhn no hay một l tưởng trừu tượng no (ĐMQXT; Tr.76-77). Ni như vậy c nghĩa người đ đạt tới mức độ tm linh no đ c thể thực hiện bất cứ việc nhiệm mầu no do bởi nguồn thần lực v bin ẩn tng trong chn ng, hồn, hay tm lực của mnh. Một cục đ c tiềm năng chứa đựng cả một kho nguyn tử lực v tận. Chnh cũng bởi đ m một người phm c sẵn tiềm lực hm xc một quyền năng v bin: đ l nguồn gốc thing ling ẩn tng nơi mọi người (XPHB; Tr.77). Anh em nn nhận thức r rng, con người mang năng lực v bin pht xuất tự linh hồn hay tm lực được thể hiện bằng quyền lực tư tưởng. Sức mạnh của tư tưởng vốn l một năng lực hết sức lạ lng v mạnh mẽ. Nếu được đặt trong cc điều kiện thuận tiện, n c thể tạo ra cc hnh ảnh như thật m người ta gọi l ảo gic cũng được m gọi l ma quỷ th cũng khng sai (HTTT; Tr.145). Khi đạt đến trạng thi tm thức no đ anh em sẽ chứng thực r rng được ma quỷ vốn chỉ l phần hnh thức biến thi của tm lực nơi tư tưởng. Khng những chng c thể biến ha thnh nhiều hnh ảnh lạ lng m cn c thể gip ch hay lm hại những người no thờ phụng hay sợ hi chng. Chng ta khng thể phủ nhận sung qua cc l luận thng thường m phải thực sự hiểu r cc trạng thi của tm thức ở ngay nơi mnh.
    - Thưa bc, như vậy phỏng con người c quyền năng như Thượng Đế! Chu muốn ni, ước muốn, định tạo nn số phận của một người?
    - Ni theo nh Phật th luật nhn quả nhận định rằng mọi ước vọng của con người rốt cuộc sẽ được thực hiện. Bởi đ, mọi điều ham muốn, dục vọng l sợi dy tri buộc con người vo vng lun hồi sinh tử (XPHB; Tr.74). Như vậy, ty theo dục vọng, tư tưởng, ước muốn của mnh, con người sẽ phải trải qua những hnh trnh tm linh tương ứng. Lẽ đương nhin, nếu ni một cch hết sức khoa học, l luận, th con người c ton quyền định đoạt số phận của họ khi sống cũng như khi chết. Nhận thức như vậy, cc dục vọng, tư tưởng của một người khi cn sống tạo ra sẽ bay vẫn vơ tc động vong linh hay hồn của họ sau khi chết cho đến khi sinh lực chng hao mn, tan r mới thot được. Do đ, vấn đề chuẩn bị tư tưởng cũng như lối sống của một người hết sức cần thiết v quan trọng. Nếu cc tư tưởng, định chỉ hon ton nhắm về vật chất th dĩ nhin hon cảnh tm thức c nhn sau khi chết sẽ hết sức bi đt v vong linh khng cn thỏa mn chng được nữa m phải đợi cho tới khi thức được để c những tm nguyện hăng hi về tm linh hơn, chuẩn bị cho hnh trnh nơi một kiếp sống khc. Lật nơi Phc m, anh em sẽ thấy điều ny đ được ghi chp r rng nhưng t ai để suy nghĩ, "Ta sẽ trao cho ngươi cha kha nước trời, v điều g dưới đất ngươi cầm buộc, th cũng sẽ bị cầm buộc trn trời, v điều g dưới đất ngươi tho cởi th cũng sẽ được tho cởi trn trời" (Mt. 16:19). Nếu nhận định cuộc sống hữu hnh l dưới đất, cuộc sống v hnh l trời, anh em sẽ nhận ra quyền lực ảnh hưởng tc động của định nơi hồn một người sau khi chết.


    Last edited by ttvl123; 12-05-2017 at 09:09 AM.

  13. The Following 2 Users Say Thank You to ttvl123 For This Useful Post:

    aovang (05-15-2012), EpisodicMemory (05-15-2012)

  14. #8
    Join Date
    Jun 2009
    Posts
    367
    Thanks
    1
    Thanked 535 Times in 215 Posts

    Default Re: My Bay Về Ngn

    tiếp theo
    .
    - Thưa bc, c cch no gip những hồn cn đang vương vấn với ước muốn thế tục khng?
    - Hy cầu nguyện cho họ. Sự cầu nguyện hay cầu siu cho ai đ đ qua đời l một điều hết sức quan trọng v ch lợi v n chứa đựng một sức mạnh tư tưởng v cng mnh liệt. Oai lực lời kinh mang m hưởng v cng ở ci m nếu người tụng niệm ch tm, sử dụng hết cả năng lực tinh thần. Đy l b quyết mật tng Ty Tạng (HTVPĐ; Tr.184). Tuy nhin, thường th chng ta chỉ coi tụng niệm, cầu siu, cầu nguyện như những việc lm cho qua hoặc theo một hnh thức, lặp lại cc cu kinh, đoạn sch, nơi đầu mi cht lưỡi m qun tập trung tm nn đ tiu ph năng lực một cch v ch. Với lng chn thnh lồng trong định hay ước muốn r rng, sự cầu nguyện mang quyền lực rời ni lấp sng. Đừng bị phiền h bởi tự i vặt, ti nghĩ, mấy anh em Thin Cha gio chẳng hiểu g lời Kinh Thnh, hoặc c chăng chỉ hiểu theo nghĩa đen v cng lắm dưới nhn quan lun l, v nếu ti khng lầm, c thể ni anh em qu coi thường l đng khc. Thử đặt vấn đề, l do g Phc m viết, Kẻ no bảo ni ny: X đi m nho xuống biển, m trong lng khng nghi ngại, nhưng tin rằng điều mnh ni sẽ xảy ra, th n sẽ thấy thnh sự. (Mc. 11:23) Ti nghĩ, hai ngn năm qua, những người theo Thin Cha gio qu coi rẻ những lời Kinh Thnh. Ni đng hơn, c thể họ cho rằng Kinh Thnh chp những điều khng tưởng.

    Dẫu lời ni nhẹ nhng, đắn đo từ cửa miệng cụ Ti, nhưng chng chẳng khc g những bn tay gang thp tạt vo mặt mấy tướng, xưa nay vẫn cho rằng mnh "c đạo." Miếng ngon nhớ lu, điều đau nhớ đời! Hơn nữa, chẳng những mấy tướng c đạo m ngay cả nhm nhậu cng cc b vợ xồn xồn đang lắng tai nghe, ai nấy đều cảm thấy bng hong. Bng hong v thực thể khng ngờ nơi mọi người được cụ gi phanh phui sự thiếu st to lớn; xưa nay mnh đ v tnh khng để tm hiểu về chnh con người của mnh, về thực thể huyền nhiệm nơi mnh. Cảm nghĩ ny đồng thời tạo nn mối ăn năn ha lẫn nỗi lng nuối tiếc những thng ngy đ qua chỉ v thiếu thức nn bỏ lỡ biết bao lợi ch của tm , hn chi vẫn cn m mờ nơi hnh trnh thăng tiến tm linh. Mười mấy người im lặng, đượt mặt ngồi một đống, lộ r những nt trầm tư rng chừng suy nghĩ lung lắm. Cụ Ti cẩn trọng nng ly; vừa cạn miếng rượu th Sỹ nh con đ vội xch bnh lt rưỡi dốc hết phần cn lại khiến rượu v miệng ly gần ha thnh mặt phẳng. Vẫn chứng no tật nấy nhưng giọng mang đầy vẻ cảm nhận, hắn ph tan bầu khng kh nặng nề,
    - Bc ni ph qu.
    Lng cụ Ti chợt chng xuống! Dẫu sao, mấy người anh em ny cũng c học thức v cuộc sống tương đối dễ thở nhưng v đu suy tư nghiệm chứng tm linh vẫn cn như xa vời ngoi tầm tay với? Phỏng họ khng được sinh ra để chứng ngộ hoặc chưa đến thời điểm. Nếu ni rằng chưa đến thời điểm th c đi đu m đến, c tm đu m gặp! Hnh trnh no khng khởi đầu bằng một bước chn! Như vậy, điều g l chướng ngại ngăn chận những bước chn xuất pht bởi lng khao kht? Đu đ cu Kinh Thnh gợi về, "Khốn cho cc ngươi, luật sĩ, cc ngươi cất đi cha kha mở đng hiểu biết! Chnh cc ngươi đ khng vo m những kẻ muốn vo, cc ngươi lại ngăn cản" (Lc. 11:52; Mt. 23:13). Cụ khng "theo đạo" nhưng những lời Kinh Thnh khiến cụ say m. Đ nhiều lần cụ tham dự cc buổi giảng thuyết của mấy mục sư Tin Lnh hay đến nh thờ "đi lễ" với người Cng gio; nhưng sao m lời Kinh Thnh bị mấy ng cha nh thờ hoặc mục sư diễn giải qu nặng mi thế tục đến nỗi tạo nơi tm tr cụ nỗi ngỡ ngng pha lẫn tnh chất coi thường. Đi khi gặp được linh mục hay mục sư no đ đặt tm điểm vo "lời Cha" th chỉ thao thao lặp lại v giải thch theo nghĩa đen hay p dụng nơi lun l kh bề chấp nhận. Với tuổi gần đất xa trời ny mnh c thể lm được g, cụ thầm hỏi. Tại sao lng mnh mang mối xốn xang thương cảm. Những người anh em đang hiện diện sẽ c phản ứng nội tm thế no khi nghe mnh ni về đạo học? Lời Kinh Thnh chừng như giục gi cụ nn tiếp tục. Cụ tự nghĩ, đặt thm vấn đề no c ch lợi g; việc đến sẽ phải đến, thi th cứ coi như người gieo hạt giống. Nghĩ đến đy, lời Kinh Thnh lại hiện về nhắc nhở, "Người gieo giống ra đi gieo la, c những hạt rơi dọc đường, c hạt rớt vo đất đ, c hạt nơi bụi gai, những hạt khc được gieo nơi đất tốt. Ai c tai th hy nghe" (Mt. 13:4-9). Đ lỡ biết th phải ni! Cụ cảm thấy niềm vui pha lẫn nt diễu cợt nơi nghĩ "phải ni." Khng ni th lng dạ xốn xang; ni ln, tm tư thanh thản phần no, nn cho rằng phải ni, hay thch ni, hoặc muốn ni, cũng khng đng no đng. Mnh ni cho mnh hay ni cho họ, cụ tự hỏi! Bởi vậy, khi Sỹ nh con ln tiếng, cụ chợt buột miệng,
    - Ph cũng v ch v cho d ni cũng chưa chắc hơn g ai đ biếu cụ Nguyễn Khuyến bnh hoa tr.

    Lời cụ Ti điềm đạm nhưng tứ cay c đối với đm thnh giả xưa nay ồn o, "to miệng," đ quen thi coi trời bằng vung. Khổ nỗi, những g cụ ni đều qu ư tầm thường, ngay nơi lng ruột mọi người nhưng chứa đầy thch đố nghiệm chứng m bất cứ ai chưa bao giờ hay t khi để tm nghiệm xt đều khng thể no mở miệng. Qua l luận đặt căn bản nơi nền tảng nghiệm chứng lồng trong lối giải thch tm tnh, cụ muốn khuyến khch những người trẻ dấn bước vo hnh trnh nghiệm xt tm linh. Điều r rng, kinh nghiệm tm linh l một kết quả hiển nhin qua cng phu tu hnh chứ khng phải một điều trừu tượng dựa trn l thuyết hay một ci g cao xa m khng ai c thể đạt đến được (ĐMQXT; Tr.79). Đng khc, chỉ thng minh m thi th khng thể nắm bắt được thực thể siu linh thế nn hnh giả cần thực chứng, nghiệm chứng. Kinh nghiệm bản thn nơi cụ chứng tỏ r rng một điều đ l d theo con đường no, khuynh hướng no, chnh c nhn phải nỗ lực chứ khng thể ỷ lại vo một sức mạnh hay sự gip đỡ của ai khc. Thm vo đ, sự nhận thức tm linh lại ty thuộc căn cơ v thể chất hnh giả nn chẳng những khng ai c thể gip ai m đồng thời khng phương php hay đường lối no c thể l mẫu mực chung. C nhn phải tm vị thầy nội tại v chỉ c vị thầy ny mới ph hợp v thấu suốt hnh trnh no người đ phải trải qua. Khng những thế, khi quay vo bn trong để lắng nghe, người ta sẽ phải đối diện với những sự thật phũ phng m trong cuộc sống hng ngy t ai dm nghĩ đến (BRTS. Tr.31). Thế nn, dẫu biết rằng cay c m chỉ sự thật cần được phanh phui sẽ đem lại cảm nghĩ kh chịu nơi những người trẻ, cụ Ti đnh chấp nhận với hy vọng may ra sự nhức nhối do tự i bị va chạm phần no khuyến khch tri thức nơi họ thức động. Chủ đch của cụ đạt ngay điểm tới, lời cụ chưa dứt m vang, Hưng đ ln tiếng,
    - Thưa bc, cứ theo một số kinh sch giải thch sự thực nghiệm, kẻ no muốn thực tập cần c một vị thầy, nếu khng sẽ bị tẩu hỏa nhập ma thay v đạt tới được phần hỏa hầu no đ. Chu ni như thế bc biết chu muốn ni g.
    - Cu hỏi của anh phần no chứng tỏ sự hiểu lầm bao lu nay của những người nghin cứu, tu tập, v nghiệm chứng đạo học Đng Phương. Ti muốn ni ring về người Việt Nam m thi. Trước hết, sự hiểu lẫn lộn nghĩa của ngn từ hay văn từ "thiền" v "Yoga." Thiền hay thiền định của nh Phật đặt trọng tm vo định để tiến tới kiến tnh. Yoga pht xuất từ Ấn học; đ l phương php đo luyện thn xc, pht triển năng lực nội tại tiến dần tới trạng thi đại định, xả kỷ, gip tm thức ha nhập với thực thể tối thượng. Ty theo những tng phi v cc phương php thực nghiệm, thiền cũng như yoga được chia thnh nhiều giai đoạn hay cấp bậc kể chẳng xiết. Thm vo đ, c những phương php giao thoa giữa thiền định v yoga chẳng hạn như Mật Tng Ty Tạng, phương thuật hay tương tự như thế nơi huyền mn Ai Cập. Khi no ni đến Ấn học ti sẽ phn tch cc giai đoạn hoặc phương cch thực hnh yoga cho qu anh em hiểu r. Điều ti muốn nhấn mạnh trước khi ni về thnh quả thực chứng hay tu luyện đ l cho d ai đ pht triển được năng lực nội tại tới đu hoặc đạt được khả năng huyền mn no đ, khi sử dụng chng tất nhin đ bị chng m hoặc, ni cch khc, đ tự lao mnh vo cơn cm dỗ; như ti đ ni khi ny, đ l lạm dụng quyền lực thing ling ẩn tng nơi mọi người.
    - Thưa bc, nếu như thế đu cần g phải nghiệm chứng hay tu luyện lm chi, th rằng cứ chấp nhận đ được sinh ra để sống th cứ sống, chờ ngy chn vi cng cy cỏ v lm bạn với giun dế. Sỹ nh con thm lời xng xo.
    - Cần g phải chờ, v chưa bằng bụi đất sao dm đi lm bạn cng giun dế. Ni cho đng, trn răng dưới dế th c chứ giun chắc chắn khng. Xin ng lm ơn hnh thiền nn ni cho b con nhờ. B ngắt lời Sỹ đoạn tiếp, thưa bc, nếu thiền v yoga c thể giao thoa, c nguyn tắc hoặc điểm căn bản no lm đầu mối cho sự ha hợp cc phương thức thực nghiệm ny khng?


    MBVN 08

    - Như ti đ ni, nguyn tắc căn bản cho mọi sự thực hiện nghiệm chứng tm linh chỉ l sự sử dụng quyền lực nơi tư tưởng. Ty sự sử dụng ny m cc phương php thực nghiệm pht sinh. Nơi thiền định, qun tưởng chnh l dồn hết năng lực tư tưởng để chứng những vọng tưởng hay niệm hầu nhận thức năng lực hiện hữu hay Tm Phật, Php Thn, hoặc Tự Tnh, đang biến chuyển, hoạt động nơi mọi sự. Yoga dng năng lực nơi nghĩ, định p dụng nhận thức dẫn kh, kh dẫn huyết đả thng cc kinh mạch để pht triển năng lực nội tại m tiếng bnh dn gọi l nội lực. Tuy nhin, muốn sử dụng được năng lực tư tưởng, hnh giả cần thực chứng thực thể tuyệt đối nơi mnh, tức l hiểu biết v nhận chn chnh mnh bằng cch trả lời cho đến tận cng cu hỏi mnh l ai. Sự tm kiếm ny sẽ gip cho hnh giả khm ph, xuyn qua những hang ngch của tm thức những g ẩn dấu đng sau tm tr của con người. Khi một người giải quyết được vấn đề căn bản ny, họ sẽ giải quyết được tất cả những vấn đề khc. Dĩ nhin, những ai tu tr theo tng phi đều c những vị đ thực chứng hướng dẫn. Tuy nhin, cc vị tổ hay thầy chỉ l những người đi trước dẫn đường, những người gip đỡ, hướng dẫn trong một giai đoạn ngắn chứ khng phải l người c thể cứu gip hay đưa ai đến mục đch tối hậu l giải thot (HTTT; Tr.248). Nhận thực như thế, sự giải thot chỉ đến với sự tinh tấn ring của từng người. Người tu hnh chn chnh l kẻ tự biết mnh v trn đường đạo khng c vấn đề vinh hay nhục m chỉ c sự tiến bộ. Nếu chẳng may sa ng, hy đứng dậy v tiếp tục v chỉ cần lun định hướng để khỏi lầm đường lạc lối (HTVPĐ; Tr.143). Tương tự, kh cng bn yoga hay mật tng Ty Tạng chỉ l một phương php để định tm v dụng cng định tm mới l hnh trnh chnh yếu dẫn tới đại định. Hơi thở chỉ l một con ngựa tốt, nhưng tm con người mới l kẻ cưỡi ngựa. Một khi kiểm sot được tm th mới c định m chỉ c định rồi th tr huệ mới pht sinh (HTTT; Tr.260).
    - Thưa bc, nếu như vậy sao một người đm đề vợ con phải lo chạy ăn từng bữa c thể tu chứng nghiệm chứng? Chẳng lẽ sự nhận chn thực thể nội tại chỉ đến với một số người c trường hợp đặc biệt?
    - Ni rằng chỉ đến với một số người c trường hợp đặc biệt may ra đng được một phần nhưng cho rằng những người nơi cuộc sống gia đnh khng c cơ hội thức ngộ th hon ton khng c một l do no lm căn bản. Anh em nn tự nghiệm, thực thể su kn của thin nhin v của cuộc đời tức l b quyết của sự bất diệt khng thể no tiếp nhận được với sự lm việc gian khổ của tr c, hay với một hướng tm ch kỷ, m chnh l nhờ vo sự tiếp xc với cuộc sống trọn vẹn v khng ngụy tạo với trực gic tức thời (MGTT; Tr.72). Qua những kinh nghiệm tu chứng được viết nơi kinh sch, tnh đồng nhất của mun vật hiện diện nơi tổng thể đang yn ngủ trong mỗi vật chỉ được nhận thức qua nghiệm chứng chứ khng bằng suy luận. Tuy nhin, nghiệm chứng đu cần ngồi một chỗ m chỉ cần định tm. Định tm đu đi hỏi phải c thời gian hay khng gian no cố định. Dnh một thời giờ ring cho sự tham thiền l việc lm của kẻ sơ cơ. Người đ tiến bộ t nhiều trn đường tm chn l sẽ tm thấy sự an lạc l điều bnh thường dầu cho y đang bận rộn cng việc. Trong khi hai tay người ấy đang thực hiện cng việc th tr c hướng về ci giới siu hnh. Người nghiệm chứng cố gắng đưa tm tr của mnh tập trung nơi mục đch cũng v như kẻ điều khiển tay li khiến xe chạy trn đường thay v lọt v lề hay mương rnh hai bn.

    - Thưa bc, nếu người no lm việc bằng sự tnh ton đầu c sao c thể định tm? Sỹ nh con lại chen v.









    - Anh chưa thử sao dm đặt vấn đề đơn sơ như vậy! C lẽ anh khng biết cu "Ước muốn của ngươi ở đu, th lng dạ ngươi cũng ở đ." Giọng cụ Ti bỗng trở nn thương cảm sau tiếng thở di. Ti ni hơi qu v Kinh Thnh viết, "Kho tng ngươi ở đu th lng ngươi cũng ở đ" (Mt. 6:21). Khi một người thực sự ước muốn thực hiện việc g hay điều g tất nhin tm tr của họ lun lun suy nghĩ về điều đ bất cứ lc no. Cũng một lẽ đ Kinh Thnh viết thm, "Vậy nếu mắt ngươi đơn thuần, th ton thn ngươi sng lng. Nhưng nếu mắt ngươi vạy v th ton thn ngươi sẽ sầm tối" (Mt. 6:22-23). Cu ny c nghĩa sự tập trung tinh thần vo nhn quan tm linh gip cho người nghiệm chứng cảm ứng với thực thể tm linh nơi mnh. Tuy nhin, nếu khng thực nghiệm hoặc khng biết m để tm tr phiu diu lơ đng bất định hoặc trụ vo những ham muốn thế tục th suốt đời cũng chẳng đạt tới đu. Thế nn, sống trong bng tối l những kẻ chỉ hướng về cc tri kiến hữu hạn được gọi l những kẻ tn thờ thế gian.
    - Thưa bc, Hưng ngập ngừng, nhưng dầu sao chng ta cũng chỉ l người.
    - Lần trước anh đ lặp lại cu ni của Pascal, "Con người khng phải l thnh cũng chẳng l th, nhưng kẻ no muốn lm thnh lại biến thnh th" m vẫn chưa thng hiểu ng ta muốn ni g. Chng ta chớ nn phn biệt tm v thn như hai thnh phần khc biệt c thể tch rời nhau; m cần hiểu rằng tm v thn l một. Nơi ngn ngữ Việt c hai chữ thn v thần trng hợp về điểm ny ở hnh trnh tm linh. Dẫu được kiến tạo do sự v tnh no đ chng vẫn đem lại nghĩa thật tuyệt vời về sự hợp nhất căn bản của nghiệm chứng m những ai chối bỏ hay khng nhận biết thực tại ny đều chỉ đang theo đuổi những sự ph phiếm. Nghiệm chứng đạo học minh chứng, một người muốn thức ngộ, trước hết phải nhận biết mnh tức l nhận biết thực thể của thn, đ l thực thể chnh họ. Thần mang nghĩa người đ thức ngộ. Khng một đạo sư hay đấng gio chủ no bảo người đi theo con đường tinh thần phải đ nn mọi tnh cảm. Con người l một sinh vật hữu tnh, nghĩa l c tnh cảm, chứ đu phải trơ trơ như gỗ đ. Khng một phương php đạo học no chủ trương con người phải trở thnh trơ trơ bất động, khng cn tnh cảm nữa. Phải chăng đi theo con đường tinh thần th con người sẽ khng cn l người nữa hay sao? Đng khc, nếu đ khng phải l người đu cần thức ngộ. Tm chng ta đầy những bất an, vọng động c thể chỉ v chng ta qu ch trọng đến việc đ nn cảm xc hoặc theo đuổi những ước muốn nhất thời m khng hiểu rằng tm v thn đu phải l hai thực thể cch biệt. Thực tế chứng minh, nếu thn bệnh hoạn th lm sao tm c thể an được. Ni như vậy c nghĩa muốn thnh thần phải c thn, muốn đạt đạo phải l con người đng với nghĩa của n.
    - Thưa bc, sao trong kinh sch ni g đu những sự rn luyện cần phải từ bỏ hoặc tun theo nhiều thứ kỷ luật thn xc gắt gao, trong khi cuộc sống lại qu ư phức tạp.
    - Chỉ c những tm hồn cố chấp v lạm dụng mới dm mở miệng ni rằng đường dẫn đến chn l chỉ c một. C hng trăm ngn con đường cng đưa đến một mục đch. Người Ty Phương c cu thường bị hiểu lầm, "Đường no cũng dẫn tới La M." Ni cch khc, c bao nhiu người, sẽ c bằng ấy phương php hay hnh trnh nng cao tm thức con người. Thử xt về những tổ chức mang tnh chất truyền b đạo học, lịch sử cho thấy khng một đấng gio chủ chn chnh no lại lo thiết lập một tn gio khi cc ngi cn sống cả. Cc ngi đến với nhn loại để giảng dạy chn l chứ khng phải thnh lập một tổ chức hữu hnh no. Tổ chức chỉ được dựng ln sau khi cc ngi từ trần do tn đồ của cc ngi m thi (BRTS; Tr.180). Xt về cuộc đời, mỗi kiếp sống, mỗi giai đoạn hay sự việc nơi cuộc đời đều l chặng đường, những bi học quan trọng trong hnh trnh pht triển v tiến ha của mỗi người. Khi đ học xong một bi học, con người tiếp tục ln đường để học thm những bi học khc. Thế nn, chẳng c việc g hoặc sự kiện g nơi đời người trn thế gian ny l tầm thường cả, tất cả mọi việc đều c sự quan trọng ring của n. Đừng gn cho cng việc những gi trị ny nọ m qun rằng người ta chỉ đạt đến chn l bằng cch mở rộng tri tim v thức hnh động của mnh qua những cng việc dường như tầm thường nhỏ mọn (BRTS; Tr.158). Thực ra, nơi nghiệm chứng, vấn đề được đặt ra khng phải l việc lm của chng ta m l thi độ của chng ta đối với những việc lm đ. Chng ta đến cuộc đời ny một mnh th khi ra đi cũng vậy thi. Những sự việc đều l phương tiện cho chng ta hon thnh điều g đ cần phải học. L người đi trn đường tinh thần, chng ta đ biết r mục đch của cuộc đời l để học hỏi, kinh nghiệm nn cần biết tun theo cc định luật thin nhin. Luật thin nhin đ định như thế th cưỡng lại c ch g đu (BRTS; Tr.175). Cưỡng lại lối sống tự nhin tất nhin cn muốn trở thnh g nếu khng muốn ni l chống trời. Sống theo tự nhin của con người mới c thể thnh thần, mới c thể pht triển tm linh.
    - Thưa bc, chu nghĩ c điều g đ bc khng muốn ni đến khi cho rằng c những trường hợp đặc biệt. Vấn đề chu đặt ra đ l lm sao biết mnh c thuộc về trường hợp đặc biệt hay khng?
    - Ti khng ngờ anh qu thng minh. Sở dĩ ti khng muốn ni đến v sự tin tưởng nơi một l thuyết v sự nhận thức qua một kinh nghiệm khc nhau rất xa. Tự xt qu anh em sẽ nhận thấy, chng ta xưa nay đ qu quen thi muốn hiểu hết mọi sự để tưởng rằng mnh đ đạt được một ci g. Nơi trường học, những sự hiểu biết ny đến mức độ no đ được gọi l bằng cấp. Tuy nhin, nơi hnh trnh nghiệm chứng tm linh, sự hiểu biết thiếu nghiệm chứng kiến tạo trạng thi đối nghịch, n chỉ giết chết lng khao kht thức ngộ của con người m thi thay v bổ tc v hướng dẫn tu chứng. Điều m ti cho rằng "Sự nhận chn thực thể nội tại chỉ đến với một số người c trường hợp đặc biệt may ra đng được một phần" cũng v chng ta chỉ muốn hiểu m hiếm ai muốn nghiệm. Ti muốn chứng minh cho mọi người r. Suốt tuần qua, c ai trong anh em để tm suy nghĩ d chỉ một đi lần về l do hay nguyn căn nơi sự thức ngộ của ha thượng Hương Nham khng? Anh Ty nu ln cu hỏi nhưng ti đ khng trả lời, v thế l hết, ngay cả cu trả lời của tổ Huy Sơn cũng khng gy cht thắc mắc no nơi tm tr anh em. ti muốn ni, bất cứ ai cũng thuộc về trường hợp đặc biệt nếu dm đặt vấn đề hầu nghiệm cho sng tỏ nhưng rất t người để nhận thức.
    Cụ Ti ngưng lời, nhắp miếng rượu đoạn đưa mắt rảo qua mọi người. "Điều đau nhớ đời," nhưng đnh phải hạ mn luẩn quẩn, cụ nghĩ. V thiếu hiểu biết nn đa số con người đ lầm tưởng phương tiện sống l cứu cnh cho cuộc đời v lao đầu tm kiếm, nắm bắt. Dĩ nhin họ sẽ phải đối diện với mun vn thất vọng v ci m họ muốn lun lun hy cn ở ngoi tầm tay. Đạt được ci ny th lng ham muốn lại thc giục họ đi tm kiếm thm ci khc, v cứ thế, họ tm mi, trường kỳ đuổi theo vật chất m chẳng bao giờ toại nguyện. Thế rồi đau khổ, thất vọng chồng chất tạo nn mun vn gnh nặng ưu tư, chn chường. Dẫu đến lc no đ để tm tự nghiệm, họ sẽ nhận biết bi học, v đau khổ, thất vọng l những kinh nghiệm quan trọng gip họ thức r về mục đch của cuộc đời, th đ bao nhiu người chẳng bao giờ đạt được cơ hội thức ngộ. Về pha tướng t nhm nhậu, thin hạ thấm đn kh nặng. Cụ Ti li ngay con tẩy bạt của mọi người phơi by nơi nh sng khiến tn no tn nấy chẳng những ngọng miệng m cn cảm thấy tự xấu hổ v đ bỏ lỡ cơ hội thức. Lấy g để bo chữa, ni sao cho thật lng! Cụ gi coi bộ hiền ha, thi độ mang phần no hơi lẩm cẩm nhưng dễ mến, chỉ vi cu ni đ lột trần bộ lng ruột của những kẻ quen thi tự ho.
    - Thưa bc, ngay từ lc mới đọc cu chuyện đ trước khi bc ni, chu đ mấy lần tự hỏi ha thượng Hương Nham thức ngộ nhờ điểm no nhưng tm tr cứ tối như đm ba mươi nn đnh phải lờ đi. Thực ra, đến lc ny chu vẫn khng thể no hiểu được th biết lm sao hơn!
    - Anh sẽ c cơ hội, ti muốn ni anh sẽ thuộc về trường hợp đặc biệt nếu vẫn cn thấy tối m, với điều kiện cứ để tm tr luẩn quẩn nơi cu hỏi đ.
    Thế l khng những thot nạn m mọi người cn cảm thấy may mắn v đ học được bi học chẳng ngờ mặc dầu khng ai ni ln. Nt mặt họ chứng tỏ phần no niềm vui ngỡ ngng thay thế vẻ đăm chiu chỉ mấy pht trước. Cụ Ti cảm thấy lng rộn rng. Nước cờ giải thế b đạt thnh quả trng thấy nhưng cụ vẫn tỏ ra như khng hay biết. Nhớ lại thời buổi đầu tin, khng biết bao nhiu năm trời, cu ni nơi Kinh Thnh, "Nhưng c nhiều kẻ đầu hết sẽ nn cuối hết, v c những kẻ cuối hết sẽ nn đầu hết" (Mt. 19:30; 20:16) đ khiến cụ rối m khng sao c thể nhận thức được. Đọc nơi sch nh Phật, sự giải thch qua hnh ảnh những người ln đ sang sng khng thỏa mn. Cụ nghĩ, những cu ni đạo học tất nhin nghĩa khng giới hạn chứ đu chỉ dnh ring cho một vi trường hợp no. Năm thng dần tri, những cu khc chẳng hạn "Người biết khng ni, kẻ ni khng biết" hoặc "Khng lm g m khng sự việc no khng lm" nơi Lo học, hay "Lửa khng nng nhưng tại mnh cảm thấy n nng," hoặc "Người khn học người ngu," cho d đi ba năm hay một vi thng chng đ lần lượt được gii by nhờ nh sng suy nghiệm. Đng ny, cu hỏi "tại sao kẻ đầu hết sẽ trở nn cuối hết" cứ triền min m ảnh m khng c sự giải đp no c thể thỏa mn tm tr của cụ. Khoảng giữa năm 1990 đi với Hưng mua chiếc my giặt tại Sears, đang loanh quanh luẩn quẩn nơi quầy sch, cụ v tnh thấy cuốn "Tao of Leadership" nn cầm ln lật một đi trang ng qua. Ngay nơi bi viết thứ nh, ngắn gọn chỉ vi chục chữ, ni về sự ha hợp đối nghịch của thực thể sự vật, chẳng hiểu mắt qung g thế no m cụ đọc cu "Who would be first ends up last" trở thnh "What would be first ends up last." Chnh lc ấy cụ nhận biết cu Kinh Thnh mang nghĩa g! Bi học vỡ lng sẽ gip mấy anh em gặp nhiều điều th vị, cụ thầm nghĩ.
    - Thay v đi tm một ci g cao xa huy hong ở bn ngoi, người tu chứng tm cch lm sao cho nội tm được sung mn, dồi do, nghịch lại l sự hướng ngoại, theo đuổi đam m vật chất trong cuộc sống hữu vi. Nơi hnh trnh hướng nội, mọi hoạt động sẽ c tnh cch thoải mi, ung dung, tự tại v n xuất pht từ một nội tm phong ph, khng bị giới hạn hoặc g b; do đ tư tưởng được tập trung, chuyển ha v thăng hoa. Nếu hướng ngoại, mọi hoạt động thường c tnh cch lo u, tri buộc, sợ hi v n được xy dựng trn sự suy luận của l tr lun lun ảnh hưởng bởi ngoại cảnh. V như thế, tư tưởng hay sản phẩm của tm thức chỉ l những g lăng xăng, biến đổi, hao tn do ty thuộc những biến chuyển khng ngừng. Đy l l do tại sao nh Phật c những cng n, hoặc Phc m được viết kết hợp những cu ni nghịch thường đối với lun l hay thi quen suy nghĩ của con người. Như vậy, ti c thể tm tắt, bước đầu cho hnh trnh thức ngộ, anh em nn để suy tư những cng n hay những cu ni nơi kinh sch đạo học. Khng nn học hỏi nghĩa từ người khc m cần phải tự mnh suy nghiệm. Thật ra, đ chỉ l những cu ni khn ngoan đơn thuần nhưng thường th được ni hay viết theo lối m định gip tm tr con người ngưng đọng để nhận ra những biến chuyển về thực thể của sự vật, sự việc.
    - Nhưng thưa bc, như vậy cho d hướng nội hay hướng ngoại th vẫn l m.
    - Đy l hnh trnh khởi đầu của tu chứng để nhận biết điều m nh Phật gọi l v minh. Ti đề nghị anh em sau khi đ tự mnh nghiệm được một cng n hay bất cứ cu ni no nơi đạo học, hy suy tư về lời pht biểu nơi nh Phật, "Chứng ci khng." Ti ni nghe c vẻ khơi khơi như thế; tuy nhin, nếu anh em no thực sự muốn thăng tiến về đường tm linh, p dụng vo suy tư sẽ gặt hi được nhiều sự lạ lng. Thực ra, cuộc đời l mi trường cho con người học hỏi, kinh nghiệm dẫn đến sự tự biết mnh. Nhiều người sau một