Thời Đại của Những Vn Bi Lật Ngửa
TS. Nguyễn Hưng Quốc
Ngay lc đang viết bi "Thiếu lnh đạo", ti đ hnh dung trước một lời phản biện: Khng phải Việt Nam khng c chnh sch r rng v nhất qun trong việc đối ph với Trung Quốc. C. Nhưng người ta giấu. L do:
Chuyện chnh trị cần phải b mật!
Với lời phản biện ấy, nếu c thật, cu trả lời của ti l:
Ni dối!
Một hiện tượng như vậy, cch đy mấy chục năm, nhất l thời thế giới chia thnh hai khối, cộng sản v tư bản, c thể xảy ra. By giờ th bất khả. C nhiều nguyn nhn. Nhưng nguyn nhn quan trọng nhất l: khc với ngy xưa, thời đại chng ta đang sống hiện nay l một thời đại, ở đ, hầu hết cc vn cờ chnh trị, nhất l chnh trị đối ngoại, đặc biệt, lin quan đến cc cuộc tranh chấp lớn, đều l những vn cờ ngửa. Mọi nước cờ đều cng khai. Giữa thanh thin bạch nhật.
L do thứ nhất: Đ l nguyn tắc dn chủ. Dĩ nhin khng phải chnh phủ no cũng muốn thực hiện đầy đủ cc nguyn tắc dn chủ. Nhưng người ta lại khng thể cấm dn chng, nhất l giới truyền thng, thực hiện nguyn tắc ấy. Bằng nhiều cch khc nhau, với sự hỗ trợ của cả php l lẫn kỹ thuật, giới truyền thng thường lật tẩy hầu hết những hoạt động m chnh phủ muốn nhận chm vo bng tối. Cng việc ny cng dễ thực hiện trong những vấn đề lin quan đến quốc tế vốn cần sự hợp tc v tham dự của nhiều người thuộc nhiều quốc gia khc nhau. Con số ny cng lớn, cc khe hở của cc nguồn thng tin cng nhiều.
Thứ hai, trong quan hệ quốc tế, một nước c thể giấu thng tin đối với người dn nước mnh nhưng lại khng thể cấm việc dn chng cc nước khc biết thng tin về việc lm của chnh phủ nước họ. Thnh ra, thng tin nếu khng bị x ra ở nước ny th cũng bị x ra ở nước khc.
Thứ ba, sự chuyển động của cc chiến lược quốc phng, trong quan hệ với quốc tế, l một sự chuyển động lớn khng thể giấu giếm được. Tnh bo thế giới hiện nay tinh vi đến độ người ta biết r nhau đến từng chiếc my bay chiến đấu, từng đầu đạn nguyn tử, từng căn cứ đng qun, từng hợp đồng qun sự
Mỹ, chẳng hạn, về phương diện ngoại giao, lun lun tm cch trấn an Trung Quốc l họ khng xem Trung Quốc l kẻ th. L họ khng hề c định tấn cng Trung Quốc. L họ chỉ muốn duy tr quan hệ hữu nghị v hợp tc với Trung Quốc v bảo vệ một thế giới ha bnh v ổn định. Tuy nhin, trn thực tế, người ta vẫn thấy rất r chnh sch v chiến lược của họ trong việc đối ph với Trung Quốc, nguồn uy hiếp chnh đối với vị thế siu cường số một thế giới của họ trong tương lai. Thấy, v Mỹ khng thể giấu được. C muốn cũng khng được. Khng thể giấu việc di chuyển cc chiến hạm v tu ngầm sang vng chu Thi Bnh Dương. Khng thể giấu được việc k kết cc hiệp ước sử dụng bến cảng cho tu thủy v tu ngầm của Mỹ ở cc nước khc. Khng thể giấu được cc căn cứ qun sự cho cả mấy ngn qun trn lnh thổ của nước khc.
Mỹ muốn giấu, cc nước khc cũng khng thể giấu. c khng thể giấu việc cho lnh Mỹ sử dụng hải cảng cũng như tập trận trn lnh thổ của c.
Ngay cả những chuyện c thể giấu, người ta cũng khng muốn giấu. Thứ nhất, giấu, người ta khng thể tạo được sự tin tưởng ở cc nước đồng minh hay đối tc chiến lược v chiến thuật. Mỹ, chẳng hạn, phải ni r v ni lớn tiếng về chnh sch quay lại chu của mnh; nếu khng, khng c nước chu no c thể an tm về sự cam kết của Mỹ cả. Trường hợp của Việt Nam đối với Mỹ cũng vậy: Sẽ khng c người no tin cậy quyết tm đi với Mỹ của Việt Nam nếu Việt Nam chỉ dm hứa hẹn trn cc bn hội nghị nhưng lại phủ nhận hoặc trnh n ngoi cng luận. Thứ hai, nếu việc giấu giếm ấy bị pht hiện, ci gi người ta phải trả trước sự phẫn nộ của dn chng chắc chắn khng nhỏ: Nguy cơ bị thất cử l điều hiển hiện trước mắt.
Nếu Việt Nam thực sự c một chiến lược đối ph với sự đe dọa của Trung Quốc, để c hiệu quả, chiến lược ấy phải được sự hỗ trợ của t nhất hai yếu tố chnh: thế v lực.
Lực chủ yếu đến từ hai nguồn: Kinh tế v qun sự. Cả hai nguồn ấy đều rất mong manh so với Trung Quốc. Về qun sự th d c mua thm bao nhiu tu thủy hay bao nhiu phi cơ, c tăng bao nhiu qun số th cũng chỉ l hạt ct so với Trung Quốc. Về kinh tế, Việt Nam khng những nhỏ v yếu m cn lệ thuộc hẳn vo Trung Quốc. Sự lệ thuộc ấy khng phải chỉ ở quan hệ xuất nhập khẩu chnh thức giữa hai nước m cn, quan trọng hơn, ở sự thao tng của người Trung Quốc trn thị trường Việt Nam qua số dự n do Trung Quốc trng thầu, số cng nhn hợp php cũng như bất hợp php người Trung Quốc trn lan ở Việt Nam, số hng lậu khng ngừng trn vo Việt Nam trn mọi ngả đường bin giới, v số cc cng ty Trung Quốc tr hnh dưới nhn Việt Nam hiện diện ở khắp nơi.
Thua ở lực, Việt Nam chỉ cn một hy vọng duy nhất để xy dựng nền tảng cho một chiến lược hữu hiệu: Thế.
C ba loại thế chnh:

Bản đồ Trung Quốc năm 1904 khng c Hong Sa-Trường Sa
Thứ nhất l thế php l
Chng ta thường khoe với nhau l c nhiều bằng chứng lịch sử cho thấy chng ta c chủ quyền trn cc quần đảo Hong Sa v Trường Sa từ lu đời. Tuy nhin, ở đy, lại c hai vấn đề. Một, những bằng chứng ấy đ đủ chưa? Hai, những bằng chứng ấy c hiệu quả hay khng? Về vấn đề thứ nhất, ai cũng thấy l Việt Nam cn cần nhiều hơn nữa mới c thể gọi được l đủ. Nhưng cng việc ấy ai sẽ lm? Chắc chắn l giới nghin cứu chứ khng phải l cc nhn vin hnh chnh hay cc cn bộ tuyn huấn. Nhưng cho đến nay, nh cầm quyền Việt Nam vẫn khng hề khuyến khch, thậm ch, cn ngăn cấm cng cuộc tm ti ấy của giới nghin cứu. Cc nh nghin cứu muốn tổ chức hội nghị về vấn đề Hong Sa v Trường Sa ư? Cấm! Họ muốn ni chuyện về hai quần đảo ấy ư? Cũng cấm! Vậy chnh quyền sẽ tm ở đu ra thm cc bằng chứng lịch sử ủng hộ cho lập trường v quan điểm của mnh? Về vấn đề thứ hai, ai cũng biết, cho d cầm trong tay cả hng ngn hồ sơ chứng minh hai quần đảo Hong Sa v Trường Sa đ từng thuộc Việt Nam, Trung Quốc cũng sẽ chẳng xem điều đ ra g cả. Ty Tạng cũng từng c chủ quyền trn đất nước họ, một chủ quyền với nhiều bằng chứng lịch sử ko di cả hng ngn năm, nhưng Trung Quốc vẫn cứ chiếm đoạt v ch đạp ln Ty Tạng như thường. Ai lm được g họ? Bởi vậy, thế php l chỉ l ci thế khởi đầu. Nhưng khng phải l tất cả. Đ l chưa kể đảng Cộng sản Việt Nam từng tự lm suy yếu ci thế ấy bằng bức cng hm do Phạm Văn Đồng gửi Chu n Lai ngy 14 thng 9 năm 1958 trong đ thừa nhận chủ quyền của Trung Quốc trn quần đảo Hong Sa.

Biểu tnh chống Trung Quốc tại H NộiBiểu tnh chống Trung Quốc tại H Nội
Thứ hai l thế nhn dn
Đảng Cộng sản Việt Nam từng ni: thế mạnh của họ l ở nhn dn. Tất cả cc cuộc chiến tranh do họ lnh đạo đều được gọi l chiến tranh nhn dn. Nhưng by giờ, trong cuộc đương đầu với Trung Quốc, r rng l họ khng cần nhn dn. Ci gọi l khng cần ấy thể hiện ở hai kha cạnh: Một, họ khng thm ni g với nhn dn về cc chiến lược của họ cả. Họ cứ bảo: Đ l việc của đảng v nh nước, hy để đảng v nhn dn lo. Nhn dn hon ton trở thnh những kẻ ngoại cuộc. Cuộc tranh chấp với Trung Quốc, trn thực tế, trở thnh cuộc tranh chấp nếu c giữa đảng Cộng sản Việt Nam v cả nước Trung Quốc. Hai, khng những khng cần nhn dn, họ cn thẳng tay trấn p v ch đạp ln bất cứ người dn no muốn by tỏ sự phẫn nộ đối với Trung Quốc. Biểu tnh chống Trung Quốc? Bị cng tay hay đạp vo mặt! Viết bi đả kch Trung Quốc? Bị bắt v đẩy thẳng vo t! Trn đi truyền hnh, họ cn bịa đặt một cch trắng trợn l những người đi biểu tnh chống Trung Quốc chỉ l đm cn đồ nhận tiền của ai đ để xuống đường! Ni cch khc, họ khng những khng cần nhn dn m cn xem nhn dn l th nghịch. Đem 90 triệu người Việt Nam đối đầu với hơn một tỉ người Trung Quốc đ l chuyện chu chấu đ xe. Đằng ny, nh cầm quyền Việt Nam lại khng cần đến 90 triệu. Họ chỉ cần 3,6 triệu đảng vin. M họ cũng khng cần đến 3,6 triệu đảng vin ấy. Bất cứ đảng vin no cương quyết chống Trung Quốc cũng đều bị loại trừ. Nhiều đảng vin yu nước bị mang ra ta v bị nhốt vo t với những l do vu vơ như trốn thuế. Cuối cng, họ cn lại bao nhiu đảng vin để, nếu cần, đối diện với cuộc cn qut của Trung Quốc?
Thứ ba l thế quốc tế
C thể ni từ giữa thế kỷ 20, chưa bao giờ Việt Nam bị c thế như hiện nay. Ngy trước, sau lưng Việt Nam cn c khối x hội chủ nghĩa, chủ yếu l Lin x v Trung Quốc. Sau năm 1975, trong trận chiến giữa Việt Nam v Campuchia cũng như giữa Việt Nam v Trung Quốc, sau lưng Việt Nam cn c Lin x v khối Đng u. Cn by giờ? Chẳng c ai cả. Khối ASEAN ư? Hội nghị cc ngoại trưởng của Khối ở Campuchia vừa rồi cho thấy r: Ngay cả với một nước thn cận nhất của Việt Nam l Campuchia, Việt Nam cũng khng giữ nổi. Ni g đến cc nước khc. Sự hợp tc m một số người trong giới lnh đạo Việt Nam muốn tm kiếm, như Ấn Độ, Nga v Mỹ, đều chỉ ở giai đoạn phi thai. Trong số đ, trừ Mỹ, khng c nước no đủ sức để bảo vệ cho Việt Nam cả. Nhưng với Mỹ, Việt Nam cn c hai trở ngại chnh: một, về tnh cảm, chưa bn no thực sự tin cậy bn no; hai, về nguyn tắc, Việt Nam chưa đp ứng được một yu cầu cơ bản về pha Mỹ: tn trọng nhn quyền.
C thể phản biện: Việt Nam c thể tm cch vượt qua hai trở ngại ấy một cch m thầm, khng ai biết được cả. Nhưng ni vậy l ni đa. Khc với cc nước độc ti, Mỹ khng thể bất chấp dư luận của dn chng nước họ. Thuyết phục chnh phủ Mỹ, trừ phi c cả một mỏ dầu khổng lồ, người ta phải thuyết phục dn chng Mỹ trước. Nếu phần đng dn chng Mỹ vẫn thiếu tin cậy với Việt Nam v khng nghĩ Việt Nam thực sự tn trọng nhn quyền, khng c chnh phủ Mỹ no dm đưa tay ra nắm chặt bn tay đẫm mu của Việt Nam cả. Cuộc vận động chnh phủ Mỹ, do đ, phần lớn sẽ l những cuộc vận động cng khai. Chứ khng thể len ln ở đu đ được. Nếu c, đ chỉ l bước đầu. Chứ khng thể l cơ sở cho một sự hợp tc mang tnh chiến lược lu di.
Hơn nữa, thế quốc tế khng phải chỉ gắn liền với Mỹ. Trn trận chiến php l lin quan đến chủ quyền quốc gia, bất cứ sự ủng hộ của nước no, d nhỏ đến mấy, cũng cần thiết. Nhưng Việt Nam c đang tm kiếm những sự ủng hộ ấy khng? Cũng khng. Việt Nam vẫn khăng khăng chống lại chủ trương đa phương ha vấn đề Biển Đng. Philippines tm cch đa phương ha. Cc nước khc tm cch đa phương ha. Việt Nam th khng.
Với chủ trương "để đảng v nh nước lo", nh cầm quyền Việt Nam xua đuổi dn chng; với chủ trương song phương ha vấn đề Biển Đng, Việt Nam xua đuổi cả thế giới ra bn ngoi. Họ khng những khng cần thế nhn dn. Họ cũng khng cần cả thế quốc tế.
Nếu khng c dấu hiệu no cho thấy nh cầm quyền Việt Nam đang xy dựng thế cho chiến lược đối ph với Trung Quốc của họ, liệu một chiến lược như vậy c thể hiện hữu hay khng? Nếu hiện hữu, n c thực sự nghim tc hay khng?
Cu trả lời cho cả hai: Khng.
Trong thời đại của những vn bi lật ngửa như hiện nay, người ta chỉ c thể xy dựng những chiến lược thỏa hiệp v đầu hng một cch thầm lặng. Cn mọi chiến lược đương đầu đều để lại dấu vết. Khng chỗ ny th chỗ nọ.
TS Nguyễn Hưng Quốc