Quan điểm của Phật gio về vấn đề xem tử vi bi ton

C lẽ ai cũng biết rằng tử vi bi ton l một khoa giải đon tương lai đời người về vận mạng, tnh duyn, gia đạo, học hnh thi cử, thời vận thịnh suy, tốt xấu v chọn hướng nh đất thch hợp, bao gồm cả việc so đi tuổi v ha giải sự xung khắc vợ chồng, chọn ngy giờ tốt để khai trương, cưới hỏi, cng l giải hạn xấu, dựa theo một vi yếu tố như ngy, giờ, thng, năm sinh của người xin coi bi ton.

Trong thời đại ngy nay, v lo lắng cho tương lai nhiều bất trắc, rất nhiều người muốn biết hậu vận nn việc xem tử vi bi ton ngy cng phổ biến. Giới lm ăn bun bn cũng dựa vo chim tinh để quyết định cng việc đầu tư v lm ăn. Những người khc từ việc mua nh, đi xa, dựng vợ, gả chồng, cho đến việc tang mađều tm đến những người coi bi ton để tham vấn, hầu dựa vo những lời khuyn đ m lm theo. Tử vi, bi ton, đồng cốt đang lan rộng ra nhiều người, nhiều giới v nhiều nơi.

Khoa tm l học cho rằng, những người ny thường l những người c vấn đề hoặc l về gia đạo, hay cng danh sự nghiệp khng như , hay cũng c thể đang lo toan một điều g khng r nt. Họ cũng c thể l những người thường c tm mong cầu v tm sợ hi, cng l thiếu niềm tin nơi chnh mnh v lại hay tin vo việc bi ton hoặc tin vo một đấng thần linh, tin vo một định mệnh hay số mệnh đ an bi, v nếu l một Phật tử th họ xem ng Phật như một vị thần linh tối cao c thể ban vui ging họa.

C nhiều hnh thức bi ton, nhưng c ba loại phổ thng đối với người Đng chng ta. Đ l bi bi, xem l số tử vi v ln đồng nhập cốt. Việc coi l số tử vi l dựa trn sự tương tc của cc ngi sao vo lc người đ cho đời, những ngi sao ny mang một số đặc tnh nhất định do con người đặt ra, xem như l thần linh hoặc l cc thần linh trấn giữ cc ngi sao đ. Bi bi l dựa vo việc giải đon những dấu hiệu cũng do con người vẽ ra nơi những con bi. Cn bi qua việc ln đồng l để một vong linh người chết no đ nhập vo v lm trung gian truyền thng ban bảo cc lời khuyn hoặc hướng dẫn những ai đang cần gip đỡ.

Ngy nay ở Việt Nam cũng như ở cc nước phương Ty, sch bo về khoa bi ton nhiều v số. Hầu hết những lời tin đon đều c tnh chất chung chung, v thưởng v phạt, nhưng những người tin thường c tm l suy đon v p dụng cho trường hợp ring mnh, cho nn đi khi họ cảm thấy đng.

Vấn đề cần ni l chnh việc xem bi ton, tử vi hoặc trực tiếp đến với cc nh coi bi hoặc gin tiếp qua sch bo, th người tham dự cũng đều trực tiếp v tự nguyện tham gia vo những sinh hoạt thuộc lĩnh vực tm thần, v đ l một lời mời r rng, một cch mở cửa cho những tư tưởng vui buồn lo sợ xm nhập, dễ sinh ra cc p lực trong tm tr v trong đời sống, khiến cho một ngy kia người đ c thể rơi vo tnh trạng xo trộn tm l như c những nỗi sợ hi m ảnh trong cuộc sống v những nỗi buồn kinh nin. Ngay cả việc coi ngy tốt xấu cho việc quan hn tang tế cũng c những hậu quả tiu cực. Việc định ngy tốt xấu ghi trn lịch sch hon ton khng c cơ sở. V lợi ch kinh doanh, cc nh lm lịch sch đặt thm phần coi ngy tốt xấu vo. Họ tự đặt ra ngy ny nn lm việc ny, ngy kia khng nn lm việc nọ, rồi những người dễ tin tin theo. Việc tốt xấu l do nơi con người tạo tc. Một bằng chứng cụ thể l đa số người Ty phương khng cần coi ngy tốt xấu khai trương cửa hng, nhưng họ vẫn thịnh vượng pht đạt. Họ khng c thờ thần ti, thờ ng địa, nhưng họ vẫn lm ăn bun bn, pht ti như thường. Họ chỉ tnh ton ngy giờ theo dự n, theo kế hoạch lm việc, theo khả năng chuyn mn nghề nghiệp.

C thể khởi đầu chỉ l một cht t m muốn biết hậu vận mai ny ra sao nhưng sau đ người đ sẽ bị tc động khng chỉ về phương diện tm l m bị chnh quyền lực của sự u tối, của t linh, của m tn điều khiển, khiến cho người đ tưởng như khng thể thot ra khỏi số phận đ tin đon cho đời mnh, rồi c thể hnh động một cch v thức, dẫn đến một kết thc bi thảm. Như trường hợp một b mẹ đ bắn chết đứa con của mnh, v ng thầy coi l số tử vi của b tin đon đứa con đang bị bệnh tm thần của b, sẽ khng bao giờ lnh mạnh, v thế b đ hạ st con để cho n khỏi khổ! Người đn b ny đ bị bắt, bị kết n, trong khi nh coi bi tin đon cho b vẫn được tự do hnh nghề.

Cũng c thể do sự tin tưởng m qung, khiến con người mất hết sức phn đon v tr thng minh m người ta thường gọi l m tn. M tn đem lại những tai hại khng thể lường trước được. N c thể lm hại cuộc đời con người, c thể lm tan nt cả gia đnh, c thể lm suy sụp chuyện quốc gia đại sự.

Như trường hợp một người vợ ghen bng ghen gi, đi xem bi tử vi. Thầy bi ni chồng c nhn tnh, trong l số c sao đo hoa chiếu mệnh bn tin ngay, khng cần suy xt, khng chịu tm hiểu hư thực thế no, thế l b tức giận, ghen bng ghen gi với người tnh khng c thực của chồng. Thế l hai vợ chồng ci v nhau, đưa đến hậu quả l gia đnh tan nt do việc m tn coi bi của người vợ.

Hoặc c trường hợp đi trai gi yu nhau thắm thiết song chỉ v một lời của thầy m hai gia đnh kin quyết khng cho lấy bởi C lấy được th cũng sớm tan vỡ thi

Cho nn ca dao Việt Nam c cu:

Tay cầm tiền của bo bo
Đi coi thầy bi mang lo vo người


Vậy quan điểm của Phật gio đối với cc vấn đề bi ton tử vi như thế no?

Xin trả lời l đạo Phật l đạo gic ngộ giải thot. Việc coi bi ton tử vi, ln đồng nhập cốt khng c mặt trong gio l nh Phật. Ci m mọi người thường gọi l số mạng tức l nghiệp lực trong Phật gio. Nếu chng ta tin c nghiệp lực th tự nhin l phải c số mạng, nhưng đức Phật dạy mọi sự đều do tm tạo. Chỉ cần tm an ổn th chỗ no cũng yn.

Trong kinh Chuyển Php Lun ngay sau khi Phật gic ngộ v kinh Di Gio ngay trước khi Phật Niết-bn, Ngi khuyn cc đệ tử của Ngi l khng nn xem bi ton, xem quẻ, xem sao v xem tướng số. Trong năm mn học được giảng dạy ở cc trường đại học Phật gio trước đy ở Ấn Độ khng c mn tướng số v bi ton tử vi, tuy c dạy cc mn thế học như l Ngn Ngữ học, Thủ Cng Nghệ học, Y học v Luận L học.

Theo quan điểm Phật gio th vấn đề tai họa hay sung sướng, khổ đau hay bất hạnh, giu c hay ngho khổ đều do nhn thiện c m chng ta gieo trồng từ nhiều đời sống trước rồi đời ny hay đời sau chịu quả bo.

Lại cộng thm sự nỗ lực hay lười biếng trong đời sống hiện tại m c thể thay đổi hoặc ảnh hưởng đến vận mạng của đời ny hay đời sau.

Do việc gieo nhn khc nhau trong đời trước m tiếp nhận hon cảnh khc nhau trong đời ny. Ci gọi l hon cảnh cũng bao gồm cả di truyền của cha mẹ, bối cảnh văn ha, văn minh, nui dưỡng v gio dục, anh em, họ hng, thầy bạn v đồng nghiệp.

Tất cả đều ảnh hưởng đến vận mạng của cả một cuộc đời. D cho nhn tạo ra ở đời trước l xấu, dẫn tới hon cảnh hiện tại nhưng nếu c sự tu tập về mặt nội tm v luyện tập thn thể tốt, trau dồi thm thức mở mang tr tuệ th vận mạng cũng sẽ biến đổi theo chiều hướng tốt.

Phật gio quan niệm, con người khng phải do một đấng no đ tạo ra, c thể bị sai sử, bị thưởng phạt, cho sống hay cho chết. Người Phật gio khng tin vo ci gọi l định mệnh an bi. Phật gio cho rằng, sự vận hnh biến ha của vũ trụ v sự lưu chuyển của sinh mạng, l do nghiệp lực của chng sinh tạo nn.

Tiến trnh nhn v quả khng do một nhn vật ton năng no điều khiển v định đoạt m do hnh động qua thn, khẩu v của chng ta hằng ngy.

l một định luật tự nhin!

Chng ta trch nhiệm về những hnh động chng ta lm, th chng ta cũng phải gnh trch nhiệm về hậu quả của những hnh động ấy. Việc chấp nhận ở đy khng c nghĩa l tự mn hay cam chịu với ci gọi l Số mệnh an bi, bởi v chng ta c tự do lm thay đổi v khắc phục những sự việc hay kết quả m chng ta khng ưa thch. Như chng ta thi rớt, chng ta phải cố gắng luyện thi lại, thế no cũng đạt được. Chng ta lm chủ tạo nhn, chnh chng ta lm chủ thọ quả.

Chỉ cần sng suốt khi tạo nhn, chịu kh chăm sc tốt cho nhn tăng trưởng, th quả chn ngon ngọt sẽ đến tay chng ta một cch dễ dng. l l nhn quả, nếu chng ta tin su v tin chắc l ny, chắc chắn sẽ khng cn m tn m đi coi bi ton tử vi hay đi xin xăm cầu đảo.

Một nh sư người Trung Hoa l Tr Khải Đại sư, trong bi tựa cuốn Đồng Mng Chỉ Qun, kể trường hợp ch Sa-di trẻ đệ tử của vị trụ tr đ chứng quả A-la-hn. Vị trụ tr biết trong vng một tuần nữa đệ tử mnh sẽ chết, khng thể trnh khỏi, bn lẳng lặng cho đệ tử mnh về thăm nh. Ch Sa di trn đường về nh thấy một ổ kiến trn bờ đ đang bị một dng nước xoy đe dọa cuốn tri đi. Ch Sa-di trẻ động lng thương lũ kiến đang nho nhc, bn cởi quần o nhảy xuống sng, ra sức đắp lại chỗ đ c thể bị vỡ để cứu ổ kiến. Cứu được ổ kiến, ch Sa-di tiếp tục ln đường về thăm nh v sau một tuần trở lại cha. Vị thầy trụ tr thấy đệ tử trở lại cha bnh an, kh sắc lại cn hồng ho hơn xưa, rất lấy lm lạ, bn hỏi ch Sa di, tuần lễ vừa qua đ lm những g. Sau một hồi nhớ lại ch Sa di đ tường thuật cặn kẽ đầu đui chuyện cứu ổ kiến thot chết.

Vị trụ tr kết luận l do ch Sa-di pht tm từ bi rộng lớn cứu ổ kiến cho nn đ chuyển nghiệp, đng lẽ phải chết trong vng một tuần lại vẫn sống an ton v cn tiếp tục sống thọ trong nhiều năm nữa.

Do cu chuyện trn, chng ta thấy rằng khng c một ci g l cố định, khng c một ci g l định php hay định mệnh, tm thức chng ta biến chuyển từng st na v do đ nghiệp thức lẫn nghiệp quả cũng thay đổi từng st na. Nếu cc ng thầy bi ton tử vi tướng số ni những g xảy ra trong tương lai m chng ta tin, tức l chng ta tin rằng mun sự muộn việc l thường chứ khng phải l v thường v l định php chứ khng phải l bất định php, tức l chng ta m qung m phủ nhận định luật nhn quả v gio php v thường của Phật dạy.

Tm lại, đối với việc coi tử vi bi ton, cũng như việc xin xăm cầu đảo l những việc lm c tnh cch m tn, khng c chỗ đứng trong Phật gio.

Người Phật tử được khuyn bảo cẩn trọng đừng để rơi vo hố su m tn dị đoan khiến tm bị rối loạn bởi sự sợ hi khng cần thiết.

Một thời tọa thiền hay niệm Phật hằng ngy gip ch rất nhiều để tự thanh lọc tư tưởng bất thiện trong tm. Tm được thanh lọc tự động dẫn đến một thn thể trong sạch v khỏe mạnh.

Php Phật l liều thuốc chữa khỏi cc loại tm bệnh ny. Một pht giy tm được tịnh l ngưng tạo bao nhiu nghiệp, ngưng gieo bao nhiu nhn v xa bao nhiu dặm khổ ải.

Trong kinh Php C, đức Phật c dạy:

Khng trn trời, giữa biển,
Khng lnh vo động ni,
Khng chỗ no trn đời,
Trốn được quả c nghiệp
. (127)

Nếu như con người hng ngy khng lm cc việc lnh thiện, chỉ lo tạo tội, tạo nghiệp, trong cuộc sống đấu tranh ginh giựt, khi quả bo đến, khng ai c thể trnh được, d cho c ln non xuống biển hay trốn vo hang ni.

LHCT sưu t̀m