Welcome to Một Góc Phố - Chúc các Bạn mọi chuyện vui vẻ & như ư ...
Results 1 to 7 of 7

Thread: CA DAO VIỆT NAM

  1. #1
    Join Date
    Jan 2008
    Posts
    10,139
    Thanks
    8,926
    Thanked 6,054 Times in 3,258 Posts

    Default Ca Dao, Thành Ngữ, Tục Ngữ - VIỆT NAM

    CA DAO VIỆT NAM

    A

    ăn lắm th́ hết miếng ngon
    nói lắm th́ hết, lời khôn, hóa rồ

    ăn rồi nằm ngả nằm nghiêng,
    có ai lấy tớ th́ khiêng tớ về

    ăn th́ ăn lấy miếng ngon
    làm th́ chọn việc cỏn-con mà làm

    ai mà nói dối cùng ai
    th́ trời giáng họa cây khoai giữa đồng

    ai mà phụ nghiă quên công
    th́ đeo trăm cánh hoa hồng chẳng thơm

    ai nhất th́ tôi thứ nh́
    ai mà hơn nữa tôi th́ thứ ba

    ai ơi, đă quyết th́ hành
    đă đốn th́ vác cả cành lẫn cây

    ai ơi, chớ vội cười nhau
    cây nào là chẳng có sâu chạm cành

    ai ơi, chớ vội cười nhau
    cười người hôm trứơc hôm sau người cười

    ai ơi, đừng chóng chớ chầy
    có công mài sắt có ngày nên kim

    ai ơi, giữ chí cho bền
    mặc ai xoay hướng đổi nền mặc ai

    ai ơi, hăy ở cho lành
    kiếp này chẳng gặp, đề dành kiếp sau

    ai về nhắn chị hàng cau
    chiều buồm dấp nước giữ màu cho tươi

    ai về, tôi gửi buồng cau
    buồng trước kính mẹ, buồng sau kính thầy

    ai về, tôi gửi đôi giầy
    pḥng khi mưa gió để thầy mẹ đi

    anh đánh th́ tôi chịu đ̣n
    tính tôi hoa-nguyệt, mười con chẳng chừa

    anh đi ba bữa anh về
    rừng sâu nước độc, chớ hề ở lâu

    anh đi đàng ấy xa xa
    để em ôm bóng trăng tà năm canh

    anh đi em ở lại nhà
    hai vai gánh nặng mẹ già con thơ

    anh đi lúa chửa chia vè
    anh về lúa đă đỏ hoe đầy đường

    anh kia có vợ hay chưa
    mà anh ăn nói gió đưa ngọt ngào?

    anh ơi phải lính th́ đi
    cửa nhà đơn chiếc đă th́ có em

    anh trông thân-thế tôi này
    có ăn có mặc nó bầy ra đây

    áo người mặc đoạn cởi ra
    chồng người ấp mượn, canh ba lại hoàn
    Last edited by hoangthymaithao; 05-26-2020 at 03:09 AM.

  2. The Following User Says Thank You to hoangthymaithao For This Useful Post:

    Kiến Hôi (10-20-2014)

  3. #2
    Join Date
    Mar 2009
    Location
    Ohio
    Posts
    4,778
    Thanks
    13,378
    Thanked 8,970 Times in 3,549 Posts

    Default Re: CA DAO VIỆT NAM

    Quote Originally Posted by hoangthymaithao View Post
    CA DAO VIỆT NAM

    A

    ăn lắm th́ hết miếng ngon
    nói lắm th́ hết, lời khôn, hóa rồ

    ăn rồi nằm ngả nằm nghiêng,
    có ai lấy tớ th́ khiêng tớ về

    ăn th́ ăn lấy miếng ngon
    làm th́ chọn việc cỏn-con mà làm

    ai mà nói dối cùng ai
    th́ trời giáng họa cây khoai giữa đồng

    ai mà phụ nghiă quên công
    th́ đeo trăm cánh hoa hồng chẳng thơm

    ai nhất th́ tôi thứ nh́
    ai mà hơn nữa tôi th́ thứ ba

    ai ơi, đă quyết th́ hành
    đă đốn th́ vác cả cành lẫn cây

    ai ơi, chớ vội cười nhau
    cây nào là chẳng có sâu chạm cành

    ai ơi, chớ vội cười nhau
    cười người hôm trứơc hôm sau người cười

    ai ơi, đừng chóng chớ chầy
    có công mài sắt có ngày nên kim

    ai ơi, giữ chí cho bền
    mặc ai xoay hướng đổi nền mặc ai

    ai ơi, hăy ở cho lành
    kiếp này chẳng gặp, đề dành kiếp sau

    ai về nhắn chị hàng cau
    chiều buồm dấp nước giữ màu cho tươi

    ai về, tôi gửi buồng cau
    buồng trước kính mẹ, buồng sau kính thầy

    ai về, tôi gửi đôi giầy
    pḥng khi mưa gió để thầy mẹ đi

    anh đánh th́ tôi chịu đ̣n
    tính tôi hoa-nguyệt, mười con chẳng chừa

    anh đi ba bữa anh về
    rừng sâu nước độc, chớ hề ở lâu

    anh đi đàng ấy xa xa
    để em ôm bóng trăng tà năm canh

    anh đi em ở lại nhà
    hai vai gánh nặng mẹ già con thơ

    anh đi lúa chửa chia vè
    anh về lúa đă đỏ hoe đầy đường

    anh kia có vợ hay chưa
    mà anh ăn nói gió đưa ngọt ngào?

    anh ơi phải lính th́ đi
    cửa nhà đơn chiếc đă th́ có em

    anh trông thân-thế tôi này
    có ăn có mặc nó bầy ra đây

    áo người mặc đoạn cởi ra
    chồng người ấp mượn, canh ba lại hoàn
    Ca Dao;ăn th́ ăn lấy miếng ngonlàm th́ chọn việc cỏn-con mà làm


    Thích! Thích! Thích lắm lắm! hehe

  4. The Following 2 Users Say Thank You to Kiến Hôi For This Useful Post:

    hoangthymaithao (05-18-2020), ltd (10-20-2014)

  5. #3
    Join Date
    Mar 2009
    Location
    Ohio
    Posts
    4,778
    Thanks
    13,378
    Thanked 8,970 Times in 3,549 Posts

    Default Re: CA DAO VIỆT NAM

    Quote Originally Posted by Kiến Hôi View Post
    Ca Dao;ăn th́ ăn lấy miếng ngonlàm th́ chọn việc cỏn-con mà làm


    Thích! Thích! Thích lắm lắm! hehe
    ăn rồi nằm ngả nằm nghiêng, có ai lấy tớ th́ khiêng tớ về
    Thích Thích ...hơn!

  6. The Following 2 Users Say Thank You to Kiến Hôi For This Useful Post:

    hoangthymaithao (05-18-2020), ltd (10-20-2014)

  7. #4
    Join Date
    Jan 2008
    Posts
    10,139
    Thanks
    8,926
    Thanked 6,054 Times in 3,258 Posts

    Default Re: CA DAO VIỆT NAM


    Nghĩ Về Hai Câu Ca Dao

    Trang Y Hạ
    (Nhớ Cha)

    PHẦN MỘT:

    Tôi sinh ra ở Quế Sơn, Quảng Nam. Vùng đất nầy từ mấy trăm năm về trước ông bà tổ tiên của tôi đă tới định cư và lập nghiệp cho tới tận bây chừ…! Là một người Quảng Nam tôi luôn tự hào mỗi khi đọc hai câu Ca Dao:

    Đất Quảng Nam chưa mưa đà thấm.
    Rượu Hồng Đào chưa nhấm đà say.

    Hai câu ca dao viết theo lối “biền ngẫu” có đối ư hoàn chỉnh. Đất vùng nào ca dao vùng đó; ca dao phản ảnh trung thực về mọi khía cạnh trong cuộc sống; ca dao là văn chương truyền khẩu đậm t́nh quê hương dân tộc - cho dù không ghi lại ngày tháng nhưng những sự kiện một khi đă trở thành ca dao th́ đó là sự thật. Không một ai có thể phủ nhận sự thật trong ca dao!

    Đất Quảng Nam là vùng đất có nhiều thổ sản nổi tiếng như: Ḿ Quảng (có khắp nơi ở Quảng Nam), Cao Lâu ở Hội An đă có từ rất lâu đời. Ngoài ra c̣n có cây quế ở Quế Sơn, lụa Mă Châu ở Duy Xuyên - Điện Bàn. Về khoáng sản th́ có vàng ở Bồng Miêu và c̣n nhiều khoáng sản khác nữa… Về lịch sử - Đất Quảng Nam là địa giới cuối cùng của nước Việt với Chiêm Thành sau khi hai châu Ô Lư thuộc về vua Việt. Đất Quảng Nam có nhiều thổ sản là vậy nhưng trong ca dao ít nhắc tới các thổ sản mà chỉ nhắc tới rượu. Quảng Nam không là mảnh đất của các “Danh Tửu” mà lại có rượu ngon với tên gọi “Hồng Đào” th́ kể ra cũng thiệt là lạ...! Ở B́nh Định có rượu Bàu Đá, nhưng ca dao ở B́nh Định không nhắc tới mà chỉ nhắc tới các thổ sản khác, như:

    Nón ngựa G̣ Găng
    Bún Song thần An Ngăi
    Xoài tượng chín Hưng Long
    Mặc ai mơ táo ước hồng
    Ḷng quê em giữ một ḷng trước sau.

    Ở Việt nam, nói tới rượu nổi tiếng lâu đời th́ có bốn loại rượu ở bốn địa danh. Và, cũng có thể gọi là “Việt Nam Tứ Tửu” gồm:

    -Rượu Làng Vân ở ngoài Bắc. Làng Vân thuộc xă Vân Hà, Việt Yên, tỉnh (Bắc Giang). Nguyên liệu để chưng cất rượu Làng Vân chủ yếu là khoai ḿ. Dù là chưng cất bằng nguyên liệu khoai ḿ, nhưng nhờ có loại men tốt và nguồn nước đặc biệt mà đă chưng cất ra được một loại rượu trứ danh.

    -Rượu Bàu Đá là thổ sản của xứ vơ B́nh Định. Rượu được chưng cất từ thôn Cù Lâm, xă Nhơn Lộc, huyện An Nhơn. Rượu Bàu Đá tạo ra mùi thơm và cay nồng cũng do bởi nguồn nước có vị đặc biệt tại đó.

    -Rượu G̣ Đen được nấu ở G̣ Đen, huyện Bến Lức và Huyện cần Đước, Tỉnh Long An. Trái nhàu khô ngâm rượu G̣ Đen uống rất thơm ngon và cũng rất nổi tiếng!

    -Rượu Kim Long ở tại làng Kim Long, xă Hải Quế, huyện Hải Lăng, tỉnh (Quảng Trị). Từ khi nước Pháp xâm chiếm nước Nam từ năm 1858. Họ cho lập công ty rượu Fontaine tại số 94 Ḷ Đúc Hà Nội năm 1898. Đây là nhà máy rượu lớn nhứt trong năm nhà máy rượu ở Đông Dương. Tại làng Kim Long, họ bắt dân chưng cất rượu ở làng Kim Long chuyển hết các ḷ rượu vào nhà máy của họ, đồng thời họ áp đặt lệnh cấm nấu rượu trong dân. Người Việt kêu rượu do người Pháp nấu là rượu “xi-ca”. Người Pháp cấm tiệt người Việt nấu rượu. Lính Pháp đi lùng sục bắt cũng như tịch thâu rượu và đồ nấu rượu... Người Việt chỉ được uống rượu do nhà máy rượu của Pháp sản xuất. Sách Đại Nam Nhất Thống Chí - quyển 8 mục (thổ sản) có nhận xét “Tửu của Kim Long ở Hải Lăng, Quảng Trị ngon hơn hết”. Vậy là rượu mang nhăn hiễu Kim Long có thể nói là rượu nổi tiếng chẳng những trong nước mà ra cả thế giới. Bốn loại rượu nổi tiếng đó dân gian cũng không nhắc tới bằng các câu ca dao nào cả.

    Cha tôi, ông sinh năm (1907) ở Quế Sơn (Quảng Nam) có kể cho tôi biết về nghề chưng cất rượu của ông rằng: Ông chưng cất rượu lậu, ở trong ruộng mía phía sau nhà. Một ngày nọ không biết ai đó đi báo cho lính Pháp biết… Vậy là Lính Pháp ùa vô bắt quả tang và tịch thâu mười hai lít rượu cùng tang vật để chưng cất rượu. Lính Pháp bắt ông cùng tang vật tống lên xe chở thẳng tới chợ Đàn… Lính Pháp đi ăn uống, bỏ cha tôi ngồi trên xe một ḿnh. Cha tôi nghĩ - trước sau ǵ th́ cũng bị ở tù và mất tiền chuộc... Ông đánh liều… khui hết mấy hủ rượu ra uống cho khoái cái đă, rồi tới đâu hay tới đó, khi đă uống rượu no bụng, số rượu c̣n lại ông đập đổ hết cho mất “tang chứng”. Lính Pháp ăn uống xong đi ra thấy cha tôi say nằm thẳng cẳng, tang chứng cũng chẳng c̣n nên chúng khiêng cha tôi quăng xuống bờ ruộng rồi lên xe chạy đi.

    Lớn lên tôi đọc sách và biết tên rượu Hồng Đào ở Quảng Nam. Tôi có hỏi cha tôi về thứ rượu đó ngâm bằng thứ chi để có màu hồng (đỏ), th́ cha tôi cho hay - Rượu chưng cất th́ trở thành rượu có màu trắng, trắng hơi đục, thơm mùi men và mùi gạo hay nếp, nồng độ rượu cao có thể tới năm mươi độ… Muốn rượu có màu th́ ngâm với các vị thuốc bắc, trái cây… - sau đó đem chôn dưới đất càng lâu rượu càng ngon. Cha tôi c̣n nói - ông có ngâm rượu bằng trái đào tiên để chữa bịnh. Trái đào tiên ngoài vỏ có màu hồng (đỏ), lấy ruột bên trong ngâm rượu - rượu cho ra màu đen. Ông nói ông c̣n ngâm rượu mít - tách múi mít ráo chín cây, bỏ hạt, lựa múi lớn đem phơi khô rồi sao cho vàng, ướp mật ong rừng, sau đó cho tất cả vô hủ sành khằn kín đem đi chôn…, cũng chôn càng lâu rượu càng ngon. Rượu mít cho màu hồng (đỏ) như rượu Tây. Ông c̣n nói - Trái dâu tằm ngâm rượu cũng cho màu hồng (đỏ) nhưng không thơm bằng múi mít. Tôi nhớ có lần cha tôi lấy rượu mít đó ra đăi ông Mục Sư người Anh, ông ta uống rồi khen ngon…! (khoảng năm 1970). Trái đào tiên có nhiều ở Quảng Nam, Quảng Ngăi, B́nh Định, Phú yên… Vậy th́ rượu có màu hồng đào (đỏ), có ở khắp xứ Quảng Nam, ai ai cũng biết ngâm để uống.

    Sau lần bị bắt v́ chưng cất rượu lậu. Cha tôi vẫn tiếp tục… chưng cất rượu, chưng cất xong là đem đi ngâm… cho có màu hồng (đỏ) rồi phân nhỏ ra từng b́nh sành - đem chôn giấu để bán cho người quen biết... Lỡ khi lính Pháp mà bắt được th́ cũng có lư do biện bạch rằng - rượu nầy là rượu ngâm thuốc để chữa bịnh… Một khi mà rượu đă có màu… th́ họ không thể phân biệt được rượu nào là rượu “xi-ca” của họ và loại rượu dân bản địa tự nấu… Vậy là họ hết lư do tịch thu rượu, chỉ tịch thu đồ chưng cất rượu hoặc đập bỏ nếu họ t́m thấy.

    Để có được rượu ngon th́ phải có men tốt. Người chưng cất rượu có câu nói: “Gạo là vua, men là hoàng hậu”. Muốn có men tốt th́ phải dùng các vị thuốc Bắc và gạo ngon mà làm ra men rượu. Ba mươi sáu vị thuốc Bắc đơn cử như: Đại hồi. Tiểu hồi. Nhục Đậu Khấu. Nhục Quế. Cam Thảo. Bạc Hà. Uất Kim. Thảo Quả, Bạch Truật... Các vị thuốc Bắc c̣n lại là tùy kinh nghiệm cũng như bí quyết gia truyền của người chưng cất rượu mà gia giảm theo ư muốn - hễ cho ra rượu ngon là được. Từ đó dân gian mới có câu: “Uống rượu cũng như ăn cơm”. Câu nói rất đúng bởi có gạo ngon mới làm ra được men rượu tốt, có gạo ngon mới chưng cất ra rượu ngon. Trung b́nh một kư gạo chưng cất ra chưa tới một lít rượu. Rượu rất quư, rượu là chất tinh túy kết hợp giữa gạo, các vị thuốc và nguồn nước tinh khiết… Người Việt đă biết dùng rượu trong “Quan Hôn Tang Tế” từ lâu đời… Người xưa nói “Vô tửu bất thành lễ” là vậy. Đạo Công Giáo đă dùng rượu nho trong các thánh lễ trong mấy ngh́n năm nay.

    Một khi đă có rượu ngon, người xưa liền nghĩ ngay tới dùng rượu dẫn các chất thuốc để chữa nhiều loại bịnh cũng như dùng rượu thuốc để bồi bổ cơ thể cho thêm tráng kiện.

    PHẦN HAI:

    Thử nghĩ xem loại rượu “Hồng Đào” ở Quảng Nam đó, có sự liên hệ nào với “cuộc hôn nhân ngoại giao” của Huyền Trân Công Chúa và vua Chế Mân hay không? Năm 1301, Thái thượng hoàng Trần Nhân Tông nhận được lời mời sang viếng thăm vương quốc Chiêm. Quốc Vương Chiêm Thành là Chế Mân tiếp đăi rất nồng hậu Thái Thượng Hoàng Trần Nhân Tông, nên Thái Thượng Hoàng ở lại trong cung điện Chiêm Thành chín tháng. Cảm khái tấm chân t́nh của Vua Chiêm, Thái Thượng Hoàng có hứa gả con gái cho vua Chiêm Thành là Chế Mân, mặc dù khi đó Chế Mân đă có Hoàng Hậu chính thất người Java. Tới năm 1306, Chế Mân dâng hai châu Ô, Rư (c̣n gọi là Lư) cho nước Việt làm của hồi môn để xin được “cưới vợ” là cô Công Chúa Huyền Trân! Vua Trần Anh Tông đồng ư gả Công chúa... Công chúa Huyền Trân về Chiêm Thành, được Vua Chiêm phong làm Vương Hậu thứ hai.

    Cuộc hôn nhân ngoại giao nầy có người chê, kẻ khen - như bài thơ của Hoàng Cao Khải:

    Đổi chác khôn ngoan khéo nực cười,
    Vốn đà không mất lại thêm lời,
    Hai châu Ô Lư vuông ngh́n dặm,
    Một gái Huyền Trân của mấy mươi !
    Ḷng đỏ khá khen lo việc nước,
    Môi son phải giống măi trên đời.
    Châu đi rồi lại châu về đó,
    Ngơ ngẩn nh́n nhau mấy đứa Hời.

    Hoặc trong dân gian có các câu:

    Tiếc thay cây quế giữa rừng,
    Để cho thằng Mán, thằng Mường nó leo.

    Tiếc thay hột gạo trắng ngần,
    Đă vo nước đục lại vần lửa rơm.

    Ngày “đưa dâu về nhà chồng”. Đoàn người xe ngựa cùng Công Chúa đi qua đèo Hải Vân, rồi tiến thẳng tới đường phân ranh địa lư giữa hai nước Việt và Chiêm Thành, đó là ḍng sông Tranh thuộc huyện Hiệp Đức. Ḍng sông Tranh chảy xuống Đại Lộc đổi tên là Vu Gia… Đoàn người đưa dâu dừng lại chờ vua Chế Mân tới đón về thánh địa Mỹ Sơn ra mắt…, rồi sau đó sẽ đưa Công Chúa về Kinh Đô Đồ Bàn làm lễ hợp cẩn - chàng rễ và cô dâu sẽ nâng chén rượu giao bôi - trong đêm tân hôn.

    Đứng trước cảnh núi non trùng trùng điệp điệp, sương khói phủ đầy… Người con gái sinh ra nơi hoàng cung cảm thấy vô cùng xa lạ và sợ hăi…, mà xót thương cho số phận của ḿnh lênh đênh bèo dạt hoa trôi…! Thân gái dặm trường lại thêm nỗi nhớ nhà; nỗi lạc lơng cho thân phận ḿnh trong những ngày tới, buồn và lẻ loi nơi đất khách...! Nàng công chúa khóc thầm... Tương truyền rằng: Chuyện thật là lạ, v́ có một giọt nước mắt tṛn trịa nóng hổi lăn xuống ḍng sông nhưng không tan theo ḍng nước chảy mà lại ch́m xuống đáy... Và, cứ mỗi đêm đêm, giọt nước mắt ấy đă hóa thành hạt ngọc, nổi lên soi sáng cả một vùng sơn lâm vắng lặng sương đầy... Bến sông ở nơi nầy được người đời sau đặt cho cái tên là Bến Giằng, nhằm ghi nhớ lại sự giằng xé tâm tư - nửa như muốn ở, nửa như buộc phải ra đi của cô công chúa xinh đẹp xót xa cho cuộc "hôn nhân ngoại giao". Xót xa cho phận gái - v́ nhà, v́ nước mà phải ưng chịu lấy ngoại nhân làm chồng. Nàng Công Chúa nước Việt đành ngậm ngùi bước chân xuống thuyền qua bên kia bờ sông là biên giới giữa nước Chiêm và nước Việt để làm Hoàng Hậu - vĩnh viễn rời xa tổ quốc! Bữa tiễn đưa phận má hồng đi "lấy chồng" tràn đầy nước mắt. Tương truyền c̣n ghi lại rằng: Cây quế ở vùng núi non Quế Sơn ngày xưa chỉ có vị cay nồng chứ không tỏa ra mùi thơm… Chính mùi hương từ mái tóc dài, đen tuyền, óng ả của nàng Công Chúa tỏa khắp núi rừng rồi thấm sâu vô vỏ cây Quế... Và, từ đó cây quế tiết ra mùi hương êm dịu của quế cho tới ngày hôm nay... Người ta dùng vỏ quế để ngâm rượu chữa bịnh, và các công dụng khác, thân cây quế đẽo làm guốc cũng để chữa bịnh... Câu nói truyền tụng trong vùng Quảng Nam - "Gạo châu củi quế" đă nói lên giá trị của cây quế.

    Công Chúa Huyền Trân là một vị Công Chúa nổi danh nhứt trong lịch sử Việt Nam từ xưa tới nay. Từ đó mà trong văn thơ, ca dao, sử kư và nhiều hơn là giả sử, giai thoại đă thêu dệt về Công Chúa rất đa dạng… Ngay cuộc đời của Công Chúa cũng không rơ ràng về lai lịch như: “Công chúa không rơ tên thật, theo dă sử trong Đền thờ Huyền Trân Công Chúa ở tại Huế, Công Chúa được sinh vào năm 1289, mẹ công chúa có thể là Khâm Từ Bảo Thánh Hoàng hậu - trưởng nữ của Hưng Đạo đại vương Trần Quốc Tuấn. Tuy nhiên, cũng có thể là con gái của Tuyên Từ Hoàng Hậu, em gái của Khâm Từ Hoàng Hậu”. Chuyện Công Chúa đưa lên giàn hỏa thiêu hay tư t́nh với Thương tướng Trần Khắc Chung… hoặc đi tu hay có con với vua Chế Mân… Tất cả đều là tưởng tượng và thêu dệt sau nầy mà thôi... Phải chăng Công Chúa Huyền Trân là một nàng Tiên?

    PHẦN BA:

    Câu ca dao thứ nhứt:

    Đất Quảng Nam chưa mưa đà thấm.

    (Người xứ Quảng không nói chữ đă). “…Chưa Mưa Đà Thấm”...? Chưa mưa đà thấm là thấm thứ nước chi rứa hỉ? (Câu ca dao nầy có thể được ra đời sau khi Công Chúa Huyền Trân về làm dâu xứ Chiêm Thành). Câu hỏi nầy xưa nay chẳng thấy ai đặt câu hỏi (?). Người xứ Quảng hễ đọc tới hai câu ca dao là tự hào về xứ Quảng Nam rồi! Là sướng rêm người rồi…! Chẳng cần suy nghĩ... phát xuất lúc nào cho thêm rắc rối…! Giả dụ cho rằng - đất Quảng Nam chưa mưa đà thấm, và có thể cho là, thấm - bởi mồ hôi, bởi nước mắt và bởi máu của người dân xứ Quảng Nam...? Nói vậy, th́ đất ở mấy vùng lân cận Quảng Nam, hoặc xa hơn là cả nước Việt, bộ đất người dân ở các nơi đó không thấm - bởi mồ hôi, bởi nước mắt và bởi máu hay sao…? Qua mấy cuộc xâm lăng từ Phương bắc cho tới Phương Tây... trước kia - đôi khi các vùng đó c̣n thấm nhiều - mồ hôi, nước mắt và máu c̣n hơn xứ Quảng Nam đó chứ!... Từ bao đời nay, dải đất miền Trung nắng hạn gió lào, đồng chua nước mặn, mỗi năm lại hứng chịu nhiều cơn mưa băo từ đại dương trong đó có Quảng Nam, vậy th́ cớ chi chỉ có một vùng đất Quảng Nam - chưa mưa đà thấm? Hơn nữa Quảng Nam là một vùng đất mới có được từ khi Vua Chế Mân Chiêm Thành dâng lên cho vua Trần để xin làm “sính lể” cưới Công Chúa Huyền Trân.

    Giọt nước mắt của Công Chúa Huyền Trân nhỏ xuống làm ướt đất vùng Hiệp Đức (Quảng Nam) là có thật trong sách sử... Giọt nước mắt đau buồn của Công Chúa chỉ là một phần, một phần cũng là giọt nước mắt đau buồn của người dân cả nước cho nàng Công Chúa

    “Tiếc thay cây quế giữa rừng,
    để cho thằng Mán, thằng Mường nó leo”.

    Và, có thể nghĩ xa hơn nữa đó là giọt nước mắt mừng vui cho quê hương được vui hưởng những năm tháng thái b́nh, được mở mang bờ cơi nước Việt bởi từ hai châu Ô, châu Lư mà không xăy ra chiến tranh... Đất Quảng Nam là ranh giới cuối cùng giữa hai nước thời đó! Đó là lư do chính đáng để mà hiểu ra câu ca dao: “Đất Quảng Nam chưa mưa đà thấm”. Nhưng đă thấm giọt nước mắt của nàng Công Chúa Huyền Trân!...

    C̣n câu thứ nh́:

    Rượu Hồng Đào chưa nhấm đà say.

    Rượu chi mà chưa nhấm đà say khướt như rứa hỉ…? Xưa nay chẳng có thứ rượu nào mà chưa nhấm đă say cả! Rượu trong ca dao có màu Hồng Đào (màu của giấy hồng (đỏ) bọc bên ngoài b́nh, hay màu rượu trong b́nh có màu hồng?). Đó chẳng qua là một thứ rượu (Tưởng Tượng) của ca dao (văn thơ); của người dân xứ Quảng thương nhớ tới nàng Công Chúa Huyền Trân, nàng đi lấy chồng v́ quê hương, đất nước..., nên thứ rượu đó, nàng ..."chưa nhấm đà say...", một loại rượu "Hồng Đào" trong đêm hợp cẩn giao bôi... Công Chúa Huyền Trân say bởi sự hy sinh; say bởi sự đau khổ, say bởi nhớ thương, say bởi nuối tiếc cho phận nữ nhi...! Nếu có thứ rượu Hồng Đào thật th́ cũng là do ngâm từ thuốc Bắc và các loại trái cây sau đó pha chế để cho ra màu Hồng Đào, hoặc gói bằng giấy có màu đỏ. Từ thuở xa xưa cho tới nay, trong chuyện cưới xin dù là thường dân cho tới vua quan, hễ là rượu lễ th́ đều được bao bọc bằng giấy màu hồng (đỏ). Thử nêu lư do rằng - thứ rượu Hồng Đào là loại rượu chưng cất để dành riêng cho việc cưới hỏi hoặc khi giao bôi hợp cẩn, hay lễ hội - nhằm đăi đằng cho các ông vua bà chúa thượng lưu quư tộc, c̣n với dân dă th́ uống rượu trắng, thường... Quả đúng có loại rượu dành riêng như vậy, th́ người dân dă làm chi mà thấy - chứ nói chi tới chuyện - "chưa nhấm đà say". Tóm lại, rượu Hồng Đào chẳng qua là thứ - (rượu t́nh, rượu nghĩa), chủ đích là thương tiếc cuộc hôn nhân “chính trị” của Công Chúa Huyền Trân mà thôi.

    Công Chúa Huyền Trân “đi lấy chồng”, hẳn nhiên sẽ được uống loại rượu Hồng Đào (nếu có) trong cung thất của vua Chiêm Thành trong đêm hợp cẩn... Rượu giao bôi mà chẳng có một chút t́nh yêu nào! Vậy, th́ liệu Công Chúa có thích uống loại rượu ấy không? Hay Công Chúa chỉ nghĩ tới thôi… là, trong ḷng dâng lên biết bao nỗi sợ hăi - Công Chúa chưa nhấm đà say lúy túy rồi…! Cuộc hôn nhân dị tộc bởi mưu đồ chính trị liệu có hạnh phúc chăng? Qua sự tŕnh bày ở trong nội dung bài văn đă chứng minh rằng: Hai câu ca dao đó có thể là do tưởng tượng qua thơ văn của người Quảng Nam để "tri ân" một vùng đất - địa danh cuối cùng của đất Việt..., hoặc nhớ về cuộc “hôn nhân ngoại giao” của Công Chúa Huyền Trân nơi “biên giới” Hiệp Đức. Quảng Nam, ngày mà nàng "sang sông" về với vua Chiêm thành...! Dẫu mà bài viết phân tích chưa được lư… Vậy th́ thử hỏi:

    “Đất Quảng Nam chưa mưa đà thấm.
    Rượu Hồng Đào chưa nhấm đà say”

    Hai câu ca dao đă có từ xưa và tồn tại cho tới hôm nay đă nói lên ư nghĩa chi vậy...?

    Trang Y Hạ - 1/1/2020

    Bài nầy tôi viết theo “quan điểm” cá nhân để tưởng nhớ cha tôi...! Và, cũng theo yêu cầu của kỹ sư Trương Quang Tân, bài văn đă đăng trong Website liên mạng toàn cầu (Saigonbao…). Vậy, quư anh chị em - đọc, cảm nhận nội dung không vừa ư, th́ viết nêu ra lư do…, chuyển qua email của tôi (trangyha@gmail.com)
    http://motgocpho.com/forums/image.php?u=247&type=sigpic&dateline=1327508112

  8. The Following User Says Thank You to hoangthymaithao For This Useful Post:

    Kiến Hôi (05-17-2020)

  9. #5
    Join Date
    Mar 2009
    Location
    Ohio
    Posts
    4,778
    Thanks
    13,378
    Thanked 8,970 Times in 3,549 Posts

    Default Re: CA DAO VIỆT NAM

    :a: Hoàng Thy về lại với ca dao, Mai Thảo, ngày càng phong phú,,,.
    như hoà vào non nước
    Last edited by Kiến Hôi; 05-17-2020 at 12:35 PM.

  10. The Following User Says Thank You to Kiến Hôi For This Useful Post:

    hoangthymaithao (05-18-2020)

  11. #6
    Join Date
    Mar 2009
    Location
    Ohio
    Posts
    4,778
    Thanks
    13,378
    Thanked 8,970 Times in 3,549 Posts

    Default Re: CA DAO VIỆT NAM

    Ca Dao [M] Mười Thương


    Tác giả: Ca Dao Nguồn: vườn thơ. com
    Một thương tóc bỏ đuôi gà
    Hai thương ăn nói mặn mà có duyên.
    Ba thương má lúm đồng tiền,
    Bốn thương răng nhánh hạt huyền kém thua.
    Năm thương cổ yếm đeo bùa,
    Sáu thương nón thượng quai tua dịu dàng.
    Bảy thương nết ở khôn ngoan,
    Tám thương ăn nói dịu dàng thêm xinh.
    Chín thương em ở một ḿnh,
    Mười thương con mắt có t́nh với ai.







  12. The Following User Says Thank You to Kiến Hôi For This Useful Post:

    hoangthymaithao (05-26-2020)

  13. #7
    Join Date
    Jan 2008
    Posts
    10,139
    Thanks
    8,926
    Thanked 6,054 Times in 3,258 Posts

    Default Thành Ngữ - Việt Nam


    Cua máy – Cáy Đào

    Trang Y Hạ

    Người nông dân Việt Nam có nhiều kinh nghiệm làm lúa nước từ mấy ngh́n năm trước và cho tới hôm nay, vẫn vậy… Được hưởng bốn mùa mưa thuận gió ḥa từ thiên nhiên ưu đăi… Do đó, đă tích lũy nhiều vốn sống… Thử bàn luận về câu thành ngữ:

    “Đời cua cua máy, đời cáy cáy đào”!

    Trước khi bàn luận về câu thành ngữ, thiết tưởng cũng nên biết sơ qua về ḍng họ cua, ghẹ… Ḍng họ của cua có hàng trăm loại cua… Con cua gắn liền với người nông dân, với ruộng đồng từ hàng ngh́n năm qua, không những ở Việt Nam mà c̣n ở cả các vùng miền trên thế giới… Ḍng họ nhà cua sống ở dưới biển, sống ở trong các ḍng sông, sống ở nước lợ hay c̣n gọi là - nước chè hai. Cua c̣n có thể sống - nửa cạn, nửa nước, hoặc sống hẳn trên cạn… Dù sống ở bất cứ nơi đâu, thuộc tính của loài cua là đào hang và ở trong hang.

    Ḍng họ cua cũng có: vua để, tung hô: “Vạn tuế! Vạn tuế! Vạn, Vạn tuế…!” chứ không phải tầm thường đâu…! Dưới biển có loài cua Hoàng Đế. Cua Hoàng đế là một loại cua khổng lồ, cua nặng tới hơn mười kư lô, cua có thân ḿnh dài hơn hai thước tây… Cua Hoàng Đế có ba loại: Cua xanh, Cua đỏ, Cua vàng - phần nhiều cua hoàng Đế sống ở vùng băng giá thuộc Tiểu Bang Alaska (Hoa Kỳ). Cua Hoàng Đế thích ở vùng nước sạch, độ sâu khoảng một trăm cho tới tới hai trăm thước dưới đáy biển. Giá tri dinh dưỡng cũng như giá trị kinh tế của cua Hoàng Đế khá đắt đỏ.

    Ngoài ra, ở trên đảo (Christmas) trong vùng biển Ấn Độ Dương c̣n có một loài cua lớn nữa - có thể gọi là cua “quái vật”, cua sống ở trên bờ nhiều hơn sống dưới nước... Người ta đặt tên cho cua, là: Cua Dừa. Bởi Cua Dừa biết leo lên cây dừa, dùng hai chân càng cứng như sắt thép - kẹp cho rớt những trái dừa xuống đất, sau đó cũng dùng hai chân càng khổng lồ tách vỏ và xẻ đôi sọ dừa để ăn… Cua Dừa được t́m thấy trên các ḥn đảo của Ấn Độ Dương, một phần ở Thái B́nh Dương - phía đông quần đảo Gambier. Cua Dừa ăn tạp. Chúng ăn sạch không chừa một thứ ǵ cả, Từ: - Lá, hoa, quả tươi, thối, trứng rùa, xác chết các loại, vỏ ṣ, vỏ hến... Loài rùa biển chậm chạp cũng trở thành miếng mồi ngon của Cua Dừa. Cua Dừa đă từng cắn đứt - ngón tay và cả bàn tay của con người.

    Cua Rạm, Cua đồng. Cua đồng sinh sản nhiều trong đầm ruộng, sông suối… Tuy không lớn bằng cua biển nhưng lớn gấp ba, gấp bốn lần con cáy, con c̣ng. Con cua đồng cũng góp phần “xóa đói giảm nghèo” cho một số đông - dân nghèo đi (ṃ cua bắt ốc) tạm sống qua ngày…!

    Cáy, trong Nam gọi là con c̣ng gió - cùng là họ hàng với cua. Cáy có nhiều loại: Cáy đỏ, Cáy gió, Cáy lông, Cáy đen... C̣ng gió, nghĩa là chạy nhanh như gió… Cua, cáy, c̣ng… sinh sống quen thuộc ở đồng ruộng. Cua, cáy, c̣ng - dùng làm thực phẩm - một món ăn dân dă lại bổ dưỡng… Không cầu kỳ, ai làm cũng được mà lại - (ngon, nhiều, bổ, rẻ), hấp dẫn... Nhưng cần phải nấu chín. Theo Đông Y: - “Con c̣ng, con cáy… gần giống con cua, có vị mặn, mùi tanh, tính hàn, tác dụng bổ khí huyết, liền gân xương, thông huyết mạch, trừ nhiệt tà, tan huyết ứ… Phụ nữ có thai kỵ ăn cua”. Tuy nhiên, loài giáp xác nầy mang trong thân ḿnh rất nhiều loại kư sinh trùng truyền nhiễm, như: Vắt, Dĩa, Giun, Sán, kể cả virus… Tuyệt đối không được uống nước giă cua sống chữa bịnh, v́ cua chứa ấu trùng sán lá phổi “Paragonimus”, một khi sán lá phổi vào tới ruột sẽ gây ra: đau bụng, tiêu chảy... Sau đó chuyển sang phổi, triệu chứng - ho, đau tức ngực, khó thở, nóng sốt…!

    Ở bên Trung Quốc, có một loại cua đồng h́nh dáng rất là quái dị - mai con cua có màu - xanh nhạt, xám xanh… Hai cái càng khá lớn, khỏe... Theo: “Wikipedia”. Trong thân cua, có cấy trứng đỉa và các loài kư sinh trùng… Cua được nuôi dưỡng và nhân rộng quy mô, sau đó bí mật đem thả vào - ao, đ́a… Hoặc ở trên đầu nguồn - sông, suối… Cua theo ḍng chảy di chuyển xuống hạ lưu…, tràn vào ruộng… Cua sinh sản rất nhanh - nhằm phá hoại mùa màng…! Do không biết, nên mọi người đi bắt loại cua đồng đó đem về làm thức ăn, chữa bịnh…, tất nhiên sẽ bị nhiễm vi khuẩn, sán các loại…! Ngày xưa ở bên Tàu, có - một đại tướng, - một quân sư, đó là các ông: Văn Chủng, - Phạm Lăi cũng đă âm thầm tiêu diệt nền nông nghiệp của nước Ngô (Ngô Phù Sai) - Bằng cách tráo thóc giống đă luộc sơ qua nước ấm rồi đem cho nông dân nước Ngô gieo sạ… Nước Ngô thất mùa liên miên, dân quân thiếu lương thực, dẫn tới mất nước về tay nước Việt (Việt Vương Câu Tiển).

    Ḍng họ cua, ngoài giá trị dinh dưỡng và kinh tế. Cua c̣n được dân gian cho vào văn học:

    Con cua lắm cẳng hai càng,
    Không đi mà lại ḅ ngang cả ngày.

    Cua thâm càng, nàng thâm môi. Cua thâm càng, giá rẻ!

    Chèo ghe xuống biển bắt cua, bắt cua cua kẹp, bắt rùa rùa bơi

    Hoặc:

    Nói ngang như cua.

    Có nghĩa là: Cố chấp, bảo thủ, căi chày, căi cối…., không ḥa đồng với mọi người.

    Khái quát sơ qua lịch sử lẫy lừng của ḍng họ nhà cua. Và cũng nên nói thêm - cua đă được ông bà ngày xưa cho vào "bộ tam sinh" hay c̣n gọi là tam sên, để cúng đất cúng trời... Bộ tam sinh, gồm: (Cua - Thịt heo - Trứng). Bây giờ thử phân tích hai câu thành ngữ mang ư nghĩa sâu xa như thế nào?

    Đời cua cua máy. Đời cáy cáy đào

    Ông bà ngày xưa có rất nhiều kinh nghiệm về nông nghiệp, tuy rằng không hay chữ cho lắm. Trái lại, vốn liếng chuyển tải vào trong kho văn hóa dân gian lại rất sâu sắc. Ai cũng biết ḍng họ cua, biết đào hang, ở hang. (Đi ṃ cua - cua nào cũng ṃ)…! “Đời cua cua máy…”. Vậy con cua mấp-máy ra sao? Theo: Dictionary: “Mấy máy là cữ động sẽ liên tiếp. Chim mới nở mấy máy mỏ đ̣i ăn”. Hay “Bật ngọn đèn lên thấy trắng phau. Con c̣ mấp máy suốt đêm thâu. (HxH)”. Mấy máy, chứ không… “táy máy” đâu nha! - (Bàn tay hay táy máy là bàn tay quỷ quái…!). Vậy có thể suy ra rằng: Câu thành ngữ nói lên ư nghĩa: Sống, là phải hoạt động… Sống, là phải có đáp ứng như cầu và hy vọng…! Đời cua (ám chỉ) đời cha - đời cha lo làm lụng cực khổ suốt cả cuộc đời, mà không cách ǵ vươn lên để thoát ra khỏi cảnh nghèo, đành chấp nhận cuộc sống, đang sống…! Dù vẫn biết rằng: “Cuộc sống của đời nào, th́ đời nấy lo”. Nhưng trong tâm người cha luôn có một niềm tin - đời con sẽ khá hơn… Bởi có câu: “Không ai giàu ba họ, mà cũng không ai khó tới ba đời”.

    Câu thành ngữ “Đời cua cua máy. Đời cáy cáy đào”. Đă nói lên triết lư nhân sinh quả là sâu sắc. Đời cha vốn là (cua). Tới đời con, dù con không hơn cha, th́ chí ít - đời con cũng bằng “cua” như cha, để c̣n hănh diện với tổ tông…! Đời con không thể rớt xuống làm… cáy, làm c̣ng và tiếp tục - “đào” đào...! Để thoát cảnh phải “đào” bới…, đời con phải loại bỏ ư nghĩ “tiểu nông” quanh quẩn trong lũy tre làng… Mạnh dạn thay đổi phương thức sản xuất bằng “Khoa học, kỹ thuật”…! Trong truyện Kiếm hiệp, nhà văn Kim Dung có câu:

    Trường giang hậu lăng thôi tiền lăng.
    Trần thế kim nhân quán cổ nhân.

    Nghĩa là: (Sông Trường giang sóng sau xô sóng trước. Cơi đời người nay hơn người xưa).

    Từ xưa cho tới nay các bậc cha mẹ, đă rơ - “Cơm ai nấy ăn. Việc ai nấy làm”. Biết vậy, nhưng vẫn dành dụm… cho con! Nhưng, đời con có khá hơn đời cha hay không lại là một chuyện khác… Từ nguyên do đó, mà không ít người ở tù, bởi tội - Tham ô - Tham những … Chủ đích cũng là “Hy sinh đời bố củng cố đời con” mà thân bại, danh liệt, tệ hơn nữa… mất mạng!

    Câu thành ngữ c̣n một ư nữa: Đời cha chịu trách nhiệm trước xă hội về luật pháp và lư tưởng…! Do đó, chuyện “quan trường, chính trị” của người cha đă làm, không liên quan ǵ tới lư lịch của đời con. Người nào làm, th́ người nấy chịu. Ở trong xă hội phong kiến, quân chủ. Một người phạm tội, ảnh hưởng tới cả ḍng tộc… Luật “Tru di - Tam tộc, Cửu tộc” ra đời, kéo dài suốt mấy ngh́n năm… Ḍng tộc ông Nguyễn Trăi - bị tru di tam tộc là một thảm kịch trong lịch sử Đại Việt. Ngày nay dù đă có Liên Hiệp Quốc và các luật lệ quốc tế khác, nhưng một vài nước độc tài vẫn c̣n áp dụng “lư lịch ba đời”, để chọn người đứng chung trong hàng ngũ… C̣n những người đă mang “lư lịch xấu” hoặc bị (hàm oan) bị ảnh hưởng tới: - đời con, đời cháu, đời chắt... Sách lượt dùng Lư lịch liên hệ huyết thống vô nhân đạo đó, như một cái gông, cái cùm làm chia cắt t́nh nghĩa đồng bào! Xă hội không phát triển được. Bởi vậy mới có câu: “Con vua th́ được làm vua, con săi ở chùa th́ quét lá đa”!

    Tuy nhiên, vẫn có trường hợp con săi làm vua. Đó là ông Lư Công Uẩn. Ông Lư Công uẩn thuở bé sống nhờ ở chùa Khánh Vân, được sư Nhất Hạnh dạy chữ… Tuy c̣n bé, nhưng trong ḷng ông đă nuôi một ư chí mănh liệt, chẳng những cho ông mà c̣n cho tổ quốc. Hai câu thơ của ông Lư Công Uẩn đă nói lên ư chí đó:

    Đêm nằm không dám duỗi chân
    Sợ e xă tắc xoay vần ngửa nghiêng.

    Ông bà xưa đă đúc kết kinh nghiệm thực tiễn, đă cho hậu nhân câu thành ngữ “Đời cua cua máy. Đời cáy cáy đào”, như một bài học làm người - thiết thực, triết lư và nhân ái!

    Trang Y Hạ - San Francisco

    PS. Bài văn đă đăng trong (huongduong… Liên mạng toàn cầu saigonbao….)




    Last edited by hoangthymaithao; 05-26-2020 at 03:10 AM.
    http://motgocpho.com/forums/image.php?u=247&type=sigpic&dateline=1327508112

  14. The Following User Says Thank You to hoangthymaithao For This Useful Post:

    Kiến Hôi (05-26-2020)

Posting Permissions

  • You may not post new threads
  • You may not post replies
  • You may not post attachments
  • You may not edit your posts
  •